
Nguyễn Kim Lâm
Hà Nội tháng 03 năm 2026
Chúng ta cùng nhìn lại về lịch sử Việt nam với nhiều cuộc khởi nghĩa trước thời kỳ tự chủ của họ Khúc. Tuy có vẻ vang với một số thành công ban đầu.Nhưng cuối cùng Việt Nam vẫn chưa thoát ra được cái bóng của Bắc thuộc . Sự xuất hiện Khúc Thừa Dụ (830 – 907) được suy tôn là Khúc Tiên Chủ, là tiết độ sứ người bản địa đầu tiên của Tĩnh Hải quân đã tạo ra nền tảng thay đổi cơ bản. Còn với tôi ông là một ông vua lập ra một triều đại “ họ Khúc không ngai vàng”,với những đóng góp về giá trị to lớn cho nền độc lập của dân tộc Việt Nam sau những đêm dài Bắc thuộc. Ông vốn là một người hào phú ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bàng Giang và Ninh Giang ở Hải Dương cũ và nay là Hải Phòng) .
Thời kỳ ông nắm quyền quản lý đất nước tình hình có thể nói rất khó khăn và không thuận lợi cho nhưng cải cách của đất nước. Nhiều thế kỷ dưới ách Bắc thuộc,từ tinh thần rồi đến tính cố kết quốc gia dân tộc bị thách thức nghiêm trọng.Bên ngoài thì các thế lực phương Bắc luôn tìm đủ mọi cách từ chia rẽ tính đoàn kết dân tộc đến sức ép quân sự trực tiếp lên chính quyền của ông.Bên trong đất nước về nguồn lực kinh tế thì vô cùng hạn chế do chinh sách cống nạp, lao dịch của phương Bắc và về chính trị thì phân mảnh quền lực bởi các thế lực cát cứ ,hào môn ở các địa phương. Nhưng lịch sử lại đặt lên vai ông yêu cầu phải có những cải cách để có những thành công cho công cuộc giành độc lập của đất nước sau này như luôn mong muốn của biết bao thế hệ người Việt. Chúng ta không chỉ nhìn thấy ở ông một trí tuệ, tầm nhìn cao mà còn có một tấm lòng dũng cảm và rộng mở để có thể thực hiện những cải cách mang tính thay đổi căn bản đất nước ta thời bấy giờ. Những thành công đó đặt nền tảng vững chắc về nguồn lực và ý thức dân tộc cho những bước đi giành lại độc lập của đất nước sau này.
Trong muôn vàn hiểm nguy rình rập , Khúc Thùa Dụ dám đi trước lối mòn thường hay chọn quê gốc mà đã chọn dựng đô ở La Thành (Hà Nội), làm cho nâng cao tính đoàn kết dân tộc ,cơ sở cho dân yên, nước trị. Hiển nhiên đến nay Hà Nội vẫn giữ được vai trò là thủ đô của nước ta là minh chứng cho tầm nhìn của ông. Lịch sử đã ghi nhận không có cuộc tranh chấp hay binh biến của các hào trưởng cát cứ địa phương dưới thời hai cha con ông nắm quyền. Đối ngoại Khúc Thừa Dụ tuy đã giành quyên tự chủ nhưng ông vẫn chủ trương mềm mỏng với phương Bắc để nuôi dưỡng đầy đủ nguồn lực giành độc lập cho đât nước sau này. Nên với phương Bắc ông vẫn chỉ tự xưng và xin được công nhận là Giao Châu Tiết Độ Sứ,Tĩnh Hải Quân.
Cũng phải thấy điểm nổi bật khác là những nhân vật cha con ông sử dụng khi nắm chính quyền đều là những người sau này có vai trò quyết định trong công cuộc giành độc lập cho đất nước. Cùng nhau điểm qua vài nhân vật và tình hình hình nước ta sau thời kỳ họ Khúc chúng ta sẽ đễ dàng nhận ra vai trò mở đầu của họ Khúc. Dương Đình Nghệ ( 874 – 937) làm tướng cho Tiết độ sứ Khúc Hạo. Mùa thu năm 923 (theo sử của Trung Quốc là năm 930), vua Nam Hán Lưu Nghiễm sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh Giao Châu. Lý Khắc Chính bắt được Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ đem về.
Vua Nam Hán phong tước cho Dương Đình Nghệ, cho Lý Tiến làm Thứ sử Giao châu, cùng với Lý Khắc Chính giữ thành.Năm 931, Dương Đình Nghệ lúc này ở Ái châu (Thanh Hóa) tìm cách báo thù cho họ Khúc; theo Khâm định việt sử thông giám cương mục, Dương Đình Nghệ có ý chí khôi phục Giao Châu.Ông nuôi 3.000 giả tử (con nuôi), đặt ra trường đánh vật, chiêu tập các hào kiệt, lấy đại nghĩa khuyến khích họ. Lý Tiến lo sợ, sai người cấp báo cho vua Nam Hán, cùng năm ấy, Dương Đình Nghệ đem quân vây Lý Tiến. Vua Nam Hán sai Trần Bảo đem quân sang cứu, nhưng đến nơi thì Dương Đình Nghệ đã hạ được thành, Lý Khắc Chính bị giết, Lý Tiến trốn về nước, Trần Bảo vây thành, Dương Đình Nghệ đem quân ra đánh giết chết Trần Bảo. Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ cai quản đất nước.Với tầm nhìn chiến lược, sáng suốt trong 6 năm (931 – 937)
Dương Đình Nghệ đã tập trung sức lực xây dựng lực lượng kháng chiến về mọt mặt, tiếp tục thực hiện các cải cách dưới thời họ Khúc, vấn duy trì các cấp hành chính từ Trung ương xuống địa phương, vươn xuống tổ chức cơ sở của xã hội . Về chính trị theo đạo lý của họ Khúc: “Chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Bộ mặt đất nước bước đầu đã có chuyển biến thuận lợi, đời sống nhân dân dễ chịu hơn trước.Đặc biệt ông đã chọn đúng các nhân tài và trao cho họ trọng trách xây dựng, cai quản Châu Ái, Châu Hoan để tạo thành lực lượng lớn mạnh, mưu việc lâu dài của đất nước.
Nên khi Ông đã bị tên nha tướng Kiều Công Tiễn, người Châu Phong ám hại, Ngô Quyền – con rể của Dương Đình Nghệ ,cũng là tướng cũ của họ Khúc,trấn thủ Ái Châu, lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng, chính thức kết thúc đêm dài Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam .
Ngô Quyền (898 – 944), khi xưng vương gọi là Tiền Ngô Vương là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Ngô Quyền nằm trong danh sách mười bốn anh hùng dân tộc Việt Nam. Phan Bội Châu xem ông là vị Tổ Trung hưng của Việt Nam.
Trở lại khi con trai Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo(860 -917) lên thay đã lần đầu xếp đặt lại và cử người trông nom các khu vực hành chính từ trung ương đến tận xã,xem xét và định lại mức thuế, bãi bỏ các thứ lao dịch thời Bắc thuộc,cho lập sổ hộ khẩu đầu tiên ở nước ta… Cụ thể những cải cách dưới thời họ Khúc:
– Hành chính xã hội : củng cố chính quyền tự chủ của người Việt. Xây dựng được một chính quyền dân tộc thống nhất, vững mạnh từ trung ương đến các làng xã, khắc phục sự phân tán quyền lực.Chia, đặt lại các lộ, phủ, châu và xã ở các xứ. Khúc Hạo chia cả nước thành 5 cấp hành chính: Lộ, Phủ, Châu, Giáp, Xã và Xã là cấp hành chính cơ sở đầu tiên được đặt ra với Quản giáp và phó tri giáp (cấp giáp), Chánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởng (cấp xã). Cả nước có 314 giáp, suốt thời Bắc thuộc, chưa lúc nào bọn đô hộ nắm được các tổ chức cơ sở ấy. Có thể xem Khúc Hạo là người đầu tiên xây dựng hệ thống chính quyền thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên quê quán.
– Kinh tế: Khúc Hạo còn sửa đổi chế độ điền tô,thuế má và lực dịch nặng nề của thời Bắc thuộc bằng chính sách “Quân bình thuế ruộng” và “tha bỏ lực dịch”, những chính sách này còn đồng thời “chấp nhận và tôn trọng quyền sở hữu trên ruộng đất của các công xã, quyền phân phối ruộng đất bình đẳng của công xã cho các gia đình, và trên cơ sở đó, mỗi hội đóng một khoản thuế đồng đều cho nhà nước thông qua công xã. Nội dung thực sự của chính sách “Quân bình thuế ruộng” là ở chỗ đó. Bằng chính sách ấy chính quyền họ Khúc đã khôi phục lại vai trò và truyền thống công xã, thực hiện một phương thức bóc lột phù hợp với kết cấu kinh tế – xã hội thực sự của nước ta lúc bấy giờ, tạo nên sự dung hợp thỏa đáng giữa Nhà nước và Công xã, tức giữa Nước và Làng”.
Mặt khác, chính sách “Quân bình thuế ruộng” đã bước đầu xác lập quyền sở hữu trên danh nghĩa của nhà nước đối với ruộng đất của công xã. Những cải cách của Khúc Hạo đã tạo điều kiện cho chính quyền trung ương có khả năng kiểm soát tất cả các vùng trong địa phương, củng cố sự thống nhất về mặt lãnh thổ, xóa bỏ chế độ nô dịch hà khắc, mang lại sự yên vui cho nhân dân, thể hiện rõ tinh thần của một quốc gia độc lập và tự chủ.Hai chính sách bình quân thuế ruộng và tha bỏ lực dịch được các sử gia xem là tiền đề tạo ra thành công của cuộc cải cách, tác động tích cực tới chính trị, văn hóa, xã hội lúc đó
Những thành quả mọi mặt chính tri,kinh tế và xã hội từ nhưng cải cách mang tính bước ngoặt của Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo đến này đã chứng minh trí tuệ,tầm nhìn và tấm lòng với đất nước của các ông.Bài học và tính thời sự của những cải cách đó đến nay vẫn mang tính thời đại cho Việt Nam trên con đường cải cách với những ai vượt lên, dám nghĩ và dám làm. Giai đoạn từ năm 905, khi Khúc Thừa Dụ giành lấy quyền tự chủ cho đến năm 938 khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán và mở ra triều đại độc lập trung hưng đầu tiên là môt thời kỳ đấy biến động với nhiều sự kiện mang tính bước ngoặt. Nước ta sau bao nhiêu nhiêu mong mỏi và xương máu của các thế hệ đi trước đã giành lại được độc lập. Ngoài trí tuệ Việt,tinh thần đoàn kết và gìn giữ bản sắc dân tộc để không bị đồng hóa thì không thể không nhìn thấy những di sản có giá trị to lớn về tinh thần dân tộc cũng như con người, nguồn lực kinh tế ,xã hội mà nhưng cải cách của họ Khúc mang lại cho các thế hệ sau này. Lịch sử và các thế hệ sau này ghi ơn và kính phục những cải cách lớn lao,vượt lên tầm thời đại của họ Khúc.
Ghi chú:
Đề tài những tấm gương và nhưng nhân vất cải cách lớn trong lịch sử luôn là rất thú vị và mang tính thời đại.Vì thế nó giúp chúng ta thấy lịch sử là không khô khan. Rất mong có nhiều bài nghiên cứu liên quan đến đề tài này trên trang nghiên cưu lịch sử. Bài viết trên chỉ là quan điểm riêng của tác giả với mong muốn chúng ta cùng nhau biêt thêm nhiều về thời đại và nhân vật thời kỳ lịch sử này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/Khâm định Việt sử thông giám cương mục
2/ Ngô Sĩ Liên, Phan Phu Tiên, Phạm Công trứ, Lê Hy (2004), Đại Việt Sử ký toàn thư – tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3/Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam – từ nguồn gốc đến thế kỷ XX, Nxb Thế giới, Hà Nội.
4/Ngô Thì Sỹ (1991), Việt Sử tiêu án, Hội nghiên cứu văn hóa Á Châu dịch năm 1960, bản điện tử.
5/Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà Xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.
6/Đào Tố Uyên chủ biên (2008), Giáo trình lịch sử Việt Nam, tập 2, Nhà Xuất bản Đại học sư phạm.
7/Văn Tạo (2006), Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam, Nhà Xuất bản Đại học sư phạm.
8/Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội.
9/Nguyễn Khắc Thuần (2003), Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin.
10/Nhiều tác giả (2010), Thăng Long – Hà Nội tuyển tập công trình nghiên cứu lịch sử, Nhà Xuất bản Hà Nội.
11/Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin.