Việt Sử tạp luận (Tập 1)

Đặng Thanh Bình

TIỂU DẪN

* Cuốn sách gồm hai mươi ba mục thảo luận của người viết về những sự kiện lịch sử văn hóa mà cụ thể như sau:

Trong mục Âu Lạc Giao Chỉ (A.1) người viết dẫn các bằng chứng cho thấy đến sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40) vùng đồng bằng sông Hồng mới trở thành một bộ phận của lãnh thổ nhà Đông Hán, nói cách khác người viết cùng quan điểm với học giả Lê Mạnh Thát, phủ nhận sự tồn tại của thời kỳ bắc thuộc lần thứ nhất, còn trong mục Nhật Nam Cửu Chân (A.2) tác giả nhận định rằng nhà Đông Hán mới bắt đầu tiến sâu xuống phía nam xâm chiếm vùng lưu vực sông Gianh vào khoảng năm 100 nhưng khác với Giao Chỉ người phương bắc đã không thành công trong việc kiểm soát Nhật Nam. Trong mục Vạn Xuân Lý Thị (A.3) người viết giới thiệu về các nhân vật họ Lí giữ những chức vụ quan trọng trong hệ thống hành chính của phương bắc đặt tại Giao Châu trong đó đặc điểm chung nổi bật của những vị này là mang tư tưởng chia cắt với phương bắc, tạo lập vùng lãnh thổ riêng biệt, mà điển hình như anh em Lí Trường Nhân (468) nhận ra sự xuất hiện của tinh thần tự chủ nên người viết muốn hướng bạn đọc đặt cuộc khởi nghĩa của thổ hào Lí Bôn (541) trong bối cảnh đó. Trong mục An Nam Binh Loạn (A.4) người viết trình bày sơ lược về ba cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (722) Phùng Hưng (791) và Dương Thanh (819) trong đó người viết dẫn các bằng chứng phủ nhận việc Bố Cái Đại Vương là người đứng đầu cuộc khởi nghĩa, vị thủ lĩnh thực sự tên là Anh Hàn thuộc gia tộc họ Đỗ rất thế lực tại Trường Châu nhưng bị sách sử phương nam chép thành quân sư của Phùng Hưng.

Trong mục Tĩnh Hải Quân Khúc Thừa Dụ (B.5) người viết dẫn các bằng chứng cho thấy vào năm 880 nhân sự kiện Hoàng Sào chiếm cứ Quảng Châu, tại Giao Châu bộ tướng Khúc Thừa Dụ đã tổ chức cuộc binh biến, buộc Tiết độ sứ nhậm chức chưa lâu là Tăng Cổn bỏ phủ đô hộ chạy về Ung Châu, cũng từ thời điểm đó họ Khúc trải 3 đời coi trị phương nam. Nếu trong mục Ngô Gia Xưng Vương (B.6) tác giả xác định Ngô Quyền người Cát Lợi và tự xưng là Thuận vương thì trong hai mục Đại Cổ Việt Đinh Gia (B.7) và Đại Cổ Việt Lê Gia (B.8) người viết nhận định rằng Đinh Liễn giết Hạng Lang vào khoảng năm 972-973, Đinh Bộ Lĩnh với Nam Việt vương không chết cùng thời điểm và Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế năm 994 chứ không phải là năm 980. Trong các mục từ Cổ Pháp Lý Thái Tổ (C.9) đến Tông Đản Lê Thái Sư (C.12) người viết cố gắng dẫn các sử liệu nhằm bác bỏ nhận định Lý Thường Kiệt là hoạn quan, cũng như truy vấn thân thế của Tông Đản, hay tìm hiểu nguồn cơn khiến ông nội của Thái phó Khánh Đàm phải đổi từ họ Lê sang họ Lưu và đưa ra những bằng chứng để xác định không tồn tại vụ án cung Thượng Dương. Trong các mục từ Dự Tông Chính Hoàng (D.13) đến Thuận Lưu Chương Thành Hầu (D.16) người viết thảo luận về thân thế của Lý Thần Tông, cuộc binh biến tại cửa Việt Thành, cái chết của Thái úy Tô Trung Từ cùng các phần biên niên về những chuyển biến quân sự thời Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông.

Trong các mục từ Sách Sử Phương Nam (1F) đến Giả Thuyết Về Bộ Lịch Trên Trống Đồng Ngọc Lũ (7F) người viết trình bày về mối quan hệ giữa các cuốn sách sử của phương nam, giải thích vì sao Lê Long Đĩnh bị gọi là Ngọa Triều, quá trình tiếp biến của tín ngưỡng thờ thần Bạch Mã, sự hình thành của chùa Một Cột, Hồng Bàng truyện dưới cái nhìn chính trị tư tưởng và thảo luận về bộ lịch trên trống đồng Ngọc Lũ.

MỤC LỤC

                                                                                                                                                                                                                                                                                           Trang            

Tiểu dẫn                                                                                  3

(A.1) Âu Lạc Giao Chỉ                                                           5

(A.2) Nhật Nam Cửu Chân                                                     14

(A.3) Vạn Xuân Lý Thị                                                           21

(A.4) An Nam Binh Loạn                                                       35

(B.5) Tĩnh Hải Quân Khúc Thừa Dụ                                      48

(B.6) Ngô Gia Xưng Vương                                                   54

(B.7) Đại Cồ Việt Đinh Gia                                                    61

(B.8) Đại Cồ Việt Lê Gia                                                       68

(C.9) Cổ Pháp Lý Thái Tổ                                                      80

(C.10) Quảng Nguyên Châu Quách Thái Úy                         90

(C.11) Ngũ Huyện Giang Thượng Dương Cung                    101

(C.12) Tông Đản Lê Thái Sư                                                  112

(D.13) Dự Tông Chính Hoàng                                                128

(D.14) Trương Thái Sư Đỗ Thái Úy                                       135

(D.15) Cao Tông Thái Thượng Hoàng                                   151

(D.16) Thuận Lưu Chương Thành Hầu                                  164

(1F) Sách Sử Phương Nam                                                     172

(2F) Ngoạ Triều Hoàng Đế                                                    175

(3F) Thần Bạch Mã                                                                 176

(4F) Chùa Diên Hựu                                                               178

(5F) Thượng Lâm Văn Miếu                                                  182

(6F) Lịch Sử Hóa                                                                    184

(7F) Giả Thuyết Về Bộ Lịch Trên Trống Đồng Ngọc Lũ      186

Phụ Lục 01: Trích Lược Lục Độ Tập Kinh Và Lịch Sử Khởi Nguyên Dân Tộc Ta Của Tác Giả Lê Mạnh Thát                        202         

Tài Liệu Tham Khảo Và Viết Tắt                                           205

 

 

 

  

 * Người viết xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Tích Dã đã cung cấp sử liệu cũng như những phản biện và bổ sung.

(A.1) ÂU LẠC GIAO CHỈ

* Hoài Nam Tử – Nhân Gian huấn chép: “Sai úy Đồ Thư phát 50 vạn binh (…) để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống, nhưng người Việt đều vào trong rừng (…) ban đêm ra đánh, đại phá quân Tần” (Lscđvn, tr.370)

Sử ký – Chủ Phụ Yển liệt truyện chép: “Người Việt ra đánh, quân Tần đại bại, bèn sai úy Đà đem binh đóng giữ đất Việt (…) Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được thoái cũng không được” (Lscđvn, tr.370)

Theo như ghi chép của Hoài Nam Tử – Nhân Gian huấn – quyển 18 thì nhà Tần lại ham sừng tê, ngà voi, ngọc châu nên sai quan úy là  Đồ Thư phát 50 vạn quân (chia làm 5 đạo) đi xâm chiếm các bộ tộc Việt, tuy giết được quân trưởng nhưng người của bộ tộc (Việt) Tây Âu không chịu qui hàng, bèn cùng nhau chạy trốn vào rừng, rồi cử đặt người kiệt tuấn lên làm tướng, để đến đêm thì ra đánh, lâu ngày như thế, quân Tần thua lớn, Đồ Thư bị giết và theo ghi chép của Sử ký – Chủ Phụ Yển liệt truyện – quyển 112 thì nhà Tần được tin bèn sai quan úy là Triệu Đà đem binh đến Tây Âu kế nhiệm Đồ Thư, nhưng cũng chỉ là đóng giữ ở đất vô dụng, chẳng thể tiến lại không được lui, thế thì rõ ràng là quân Tần bị sa lầy tại Tây Âu, do đó không có cơ sở[1] để khẳng định người phương bắc đã tiến đánh đến vùng đất phía nam Lưỡng Quảng, lại thêm

Sử ký – Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: “Lâm Lư hầu ngại khí thấp bệnh dịch, không đi đánh nên Úy Đà càng được thể kiêu căng. Âu Lạc đánh nhau làm rung động nước Nam Việt. Quân Hán tới cõi, Anh Tề vào chầu” (Sk, t.2, tr.275)

Sử ký – Đông Việt liệt truyện chép: “Kiến nguyên thứ ba (138Tcn) Mân Việt đưa quân vây Đông Âu (…) Kiến nguyên thứ sáu (135Tcn) Mân Việt đánh Nam Việt” (Lđtk, tr.265-266)

Đối chiếu ghi chép giữa hai liệt truyện thì thấy rằng cụm từ “Âu Lạc đánh nhau làm rung động nước Nam Việt” được dùng để mô tả sự kiện Mân Việt đánh Đông Âu (hoặc Nam Việt) do đó Âu Lạc mà Tư Mã Thiên sử dụng trong ngữ cảnh trên (ít nhất) là để chỉ Mân Việt, và

Hán thư – Tây Nam Di, Lưỡng Việt, Triều Tiên truyện chép: “Thư Triệu Đà trình Hán Văn đế: phía tây có Tây Âu, dân chúng một nửa là yếu ớt, mà cũng ngoảnh mặt về phía nam xưng vương; phía đông có Mân Việt, dân chỉ ngàn người cũng xưng vương” (Ant, tr.185)

Sử ký – Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: “Nam Việt vương sợ hãi, làm giấy tạ tội rằng: ở phía đông có đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn ngàn người, cũng xưng hiệu là vương, ở phía tây có nước Âu Lạc là nước của dân cởi trần mà cũng xưng vương” (Sk, t.2, tr.270)

Nhận thấy rằng Sử ký đã chép đổi Tây Âu trong tấu thư của Triệu Đà thành Âu Lạc, như vậy thì rõ ràng là tên gọi của những vùng đất phía nam rặng Ngũ Lĩnh đã tồn tại[2], nhưng trong một vài trường hợp cụ thể, Tư Mã Thiên lại dùng Âu Lạc để thay thế cho các địa danh ấy, nên

Sử ký – Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: “Hơn một năm Cao Hậu mất (180Tcn) liền bãi binh. Đà nhân đó dùng quân, uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải trao tặng cho các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc, để bắt họ lệ thuộc theo mình (…) Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu (111Tcn) Quan giám quận Quế Lâm của Việt tên là Cư Ông dụ dân Âu Lạc đi theo nhà Hán” (Sk, t.2, tr.269,275)

Cụm từ Tây Âu Lạc trong ngữ cảnh trên cần hiểu là Âu Lạc ở phía tây (thuộc quận Quế Lâm) do đó cũng chính là Tây Âu, mà theo như Sử ký chép thì vị thế của Tây Âu Lạc cũng tương tự như Mân Việt và hoàn toàn độc lập với Nam Việt, vì sau thời điểm dùng tiền của trao tặng thì đến năm 135Tcn Mân Việt đem binh đánh Nam Việt, cũng như năm 111Tcn quan giám quận của Nam Việt phải dụ dỗ người Tây Âu quy thuận nhà Hán chứ không thể tự quyết.

Lịch sử cổ đại Việt Nam viết: “Ở nước Âu Lạc cũ thì có lạc tướng đất Tây Vu tức là Tây Vu vương, toan nhân lúc nước Nam Việt suy vong mà nổi lên khôi phục nền độc lập, nhưng Tây Vu vương bị ngay Hoàng Đồng là Tả tướng của nhà Triệu đặt ở quận Giao Chỉ đánh giết được” (Lscđvn, tr.457-458)

Ghi chú số (1) viết: “Chúng tôi ngờ rằng vị lạc tướng Tây Vu này là con cháu An Dương vương” (Lscđvn, tr.458)

Học giả Đào Duy Anh cho rằng nhân lúc nước Nam Việt bị nhà Hán tấn công thì ở Giao Chỉ có vị lạc tướng đất Tây Vu là con cháu An Dương vương đã dấy binh toan khôi phục nền độc lập của nước Âu Lạc, nhưng bị Tả tướng nhà Triệu là Hoàng Đồng đánh giết vào năm 111Tcn, thế nhưng tồn tại nghi vấn như sau

Sử ký – Kiến Nguyên dĩ lai hầu giả niên biểu chép: “Hạ Li vì làm Tả tướng của Âu Lạc cũ chém Tây Vu vương có công được phong hầu” (Quyển 20)

Hán thư – Cảnh Vũ Chiêu Tuyên Nguyên Thành công thần biểu chép: “Hạ Phu hầu Tả tướng Hoàng Đồng. Làm Tả tướng của Âu Lạc cũ, chém Tây Vu vương có công, phong tước hầu, thực ấp 700 hộ. Phong ngày đinh dậu tháng 4 (năm 110Tcn)” (Quyển 17)

Hán thư – Tây Nam Di, Lưỡng Việt, Triều Tiên truyện chép: “Tướng của Đông Việt là Đa Quân, nghe tin quân Hán đến, bèn bỏ quân hàng, được phong làm Vô Tích hầu. Tướng của Âu Lạc cũ là Tả Hoàng Đồng chém Tây Vu vương, được phong làm Hạ Phu hầu” (Lđtk, tr.282)

Thấy rằng Sử ký – Nam Việt Úy Đà liệt truyện không chép sự kiện Tả tướng Hoàng Đồng chém Tây Vu vương, nhưng Kiến Nguyên dĩ lai hầu giả niên biểu thì có chép. Lại thấy, không những Cảnh Vũ Chiêu Tuyên Nguyên Thành công thần biểu trong Hán thư có chép, mà Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện cũng có chép, nhưng sự kiện ấy lại được chép trong Mân Việt truyện, chứ không phải trong Nam Việt truyện, rồi

Hán thư – Cảnh Vũ Chiêu Tuyên Nguyên Thành công thần biểu chép: “Tương Thành hầu Giám Cư Ông (…) dụ dân Âu Lạc hơn 40 vạn hàng phục, ban tước hầu, thực ấp 830 hộ. Phong ngày nhâm thân tháng 5 (năm 111Tcn)” (Quyển 17)

Lại thêm khi nhà Hán diệt nước Nam Việt, Cư Ông dụ dân Âu Lạc hàng phục, được phong tước hầu vào năm 111Tcn, nhưng năm phong tước hầu của Tả tướng Hoàng Đồng lại là năm 110Tcn, cùng thời gian với việc nhà Hán diệt nước Mân Việt, nên rõ ràng là có cơ sở để khẳng định sự kiện Hoàng Đồng chém Tây Vu vương xảy ra tại Mân Việt vào năm 110Tcn.

* Sử ký – Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: “Quân của Qua thuyền, Hạ lệ tướng quân cùng quân của Dạ Lang mà Trì Nghĩa hầu đem đi, chưa xuống đến nơi thì Nam Việt đã dẹp yên rồi. Bèn đặt thành chín quận” (Sk, t.2, tr.275)

Hán thư – Vũ Đế kỷ chép: “Năm thứ sáu (111Tcn) Chia đất Việt thành quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai và Đàm Nhĩ. Bình định mọi tây nam, lấy làm quận Vũ Đô, Tường Kha, Việt Tuấn, Trầm Lê và Văn Sơn” (Lđtk, tr.256)

Thấy rằng Tư Mã Thiên soạn Sử ký từ năm 109Tcn đến năm 91Tcn, mà theo sách ấy thì nhà Hán chia nước Nam Việt thành 9 quận nhưng không liệt kê cụ thể, trong khi Hán thư được Ban Cố soạn từ năm 58 đến năm 62, dẫu có nêu rõ tên 9 quận nhưng lại sau thời điểm nam chinh của Mã Viện (kết thúc năm 43, đã ghi nhận trên thực tế Việt Thường thị thuộc nhà Hán) vì thế mà đặt nghi vấn rằng tên 9 quận có phải là của thời điểm năm 111Tcn không?

Sử ký – Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: “Năm thứ ba mươi ba (214Tcn) đánh lấy đất Lục Lương, đặt thành Quế Lâm, Tượng, Nam Hải” (Sk, t.1, tr.41)

Hán thư – Chiêu Đế kỷ chép: “Năm thứ năm (76Tcn) Mùa thu, bỏ quận Tượng, chia gộp vào Uất Lâm, Tang Kha” (Lđtk, tr.256)

Như vậy là sau khi Tư Mã Thiên soạn hoàn thành cuốn Sử ký được 16 năm quận Tượng vẫn tồn tại, trong khi 9 quận mà Hán thư chép đến không có tên quận này[3], điều đó chứng tỏ rằng tên 9 quận mà Hán thư đã nêu không phải ở thời điểm năm 111Tcn.

Sử ký – Hóa thực liệt truyện chép: “Cửu Nghi, Thương Ngô về phía nam cho tới Đam Nhĩ, dân tục tương đồng với Giang Nam, nhưng lại xen lẫn với dân tục của Dương Việt. Phiên Ngu cũng là một nơi đô hội, có nhiều châu báu, sừng tê, hoa quả” (Skph, tr.886)

Cứ vào Sử ký – Nam Việt Úy Đà liệt truyện chúng ta biết nhà Hán diệt nước Nam Việt và quan giám quận Quế Lâm dụ dân Tây Âu qui thuận, bèn chia thành 9 quận, thế rõ rằng 9 quận đó không thể rộng hơn lãnh thổ của nước Nam Việt (cũ) và của người Tây Âu (Âu Lạc). Lại cứ vào Sử ký – Hóa thực liệt truyện chúng ta thấy chép đến Thương Ngô, Nam Hải, Đam Nhĩ nhưng không chép về Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nên rõ ràng là có cơ sở để nghi ngờ vùng đất phía nam Lưỡng Quảng bị bắc thuộc[4].

Giao châu ngoại vực ký chép: “Việt vương sai hai sứ giả coi quản dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Sau, nhà Hán sai Phục ba tướng quân là Lộ Bác Đức đánh Việt vương, Lộ tướng quân đến Hợp Phố, Việt vương sai hai sứ giả đem (…) sổ hộ khẩu dân hai quận dâng cho Lộ tướng quân, bèn bái hai sứ giả làm Thái thú quận Giao Chỉ, Cửu Chân” (Thủy Kinh chú, quyển 37).

Sử ký – Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: “Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu (111Tcn) Quân của Lâu thuyền tướng quân đi trước đến Phiên Ngu. Kiến Đức cùng Lữ Gia đều giữ thành (…) Gặp lúc trời tối, Lâu thuyền tướng quân đánh bại người Việt, phóng lửa đốt thành” (Sk, t.2, tr.275)

Theo như Sử ký thì vua Việt là Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia từ đầu đã chống lại nhà Hán, quyết giữ thành và giao chiến với Lộ tướng quân, không hề có chuyện sai sứ giả trông coi hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân tới gặp Lộ Bác Đức (Đoạn khác trong Giao châu ngoại vực kí chép là Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, nhưng có ruộng Lạc lên xuống theo thủy triều, dân khai khẩn thức ăn từ ruộng ấy, nhân đó gọi là Lạc dân, đặt (thiết) Lạc vương, Lạc hầu làm chủ các quận huyện. Như thế thì rõ ràng là Giao Chỉ được mô tả tại 2 thời điểm chưa có quận huyện và đã có quận huyện, nhưng hẳn sự tò mò nằm ở chỗ quận huyện được hình thành như thế nào).

Sử ký – Bình chuẩn thư chép: “Nhà Hán đánh nhau trong 3 năm liền diệt Khương, tiêu diệt Nam Việt, lần đầu tiên đặt 17 quận từ Phiên Ngu tới phía tây đến phía nam đất Thục. Lại theo tục cũ của họ mà cai trị, không bắt nộp các thứ thuế” (Sk, t.1, tr.161)

Tam quốc chí – Tiết Tống truyện chép: “Vũ Đế của nhà Hán giết Lữ Gia, lập chín quận, đặt quan Thứ sử Giao Chỉ để trông coi chỗ ấy. Sông sâu núi cao, phong tục không lành, tiếng nói đều khác (…) dẫu đặt quan lại, dẫu có như không” (Tqc)

Theo đó, giả như vùng đất phía nam Lưỡng Quảng có bị Tây Hán thôn tính năm 111Tcn, thì ở Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam vẫn sử dụng tục cũ của người Việt, đồng thời cũng không thu tô thuế (có sự khác nhau tương đối giữa hai hình thức tô thuế và cống nạp, mà cụ thể là nếu như hình thức tô thuế, mang tính phổ quát trong toàn xã hội, chính quyền tại địa phương, cấp quận huyện chỉ là cơ quan trung gian, thực hiện mối quan hệ giữa triều đình và dân chúng, nó khẳng định sự tồn tại của quan hệ quản lí, thì hình thức cống nạp mang tính cục bộ, thể hiện mối quan hệ mà chủ đạo là giữa triều đình với chính quyền địa phương do vậy chưa thể nói gì về mối quan hệ giữa triều đình với người dân, khi chưa xác định được nguồn gốc của đồ cống nạp). Ngoài ra, nếu ghi chép của Giao Châu ngoại vực ký có phần nào sự thực thì hiển nhiên vai trò của hai viên sứ giả chỉ tương đương với Lãnh sự quán mà thôi nên câu “đặt quan lại, dẫu có như không” đã mô tả chính xác mức độ cai trị của phương bắc đối với phương nam.

Hậu Hán thư – Quang Vũ Đế kỷ chép: “Kiến Võ thứ 5 (29) Mùa đông tháng 12, quan Mục bộ Giao Chỉ là Đặng Nhượng dẫn đầu các Thái thú của bảy quận sai sứ đến nạp cống” (Quyển 1 thượng)

Hậu Hán thư – Sầm Bành truyện chép: “Đặng Nhượng cùng bọn Thái thú Giang Hạ là Hầu Đăng, Thái thú Võ Lăng là Vương Đường, Thừa tướng Tràng Sa là Hàn Phúc, Thái thú Quế Dương là Trương Long, Thái thú Linh Lăng là Điền Hấp, Thái thú Thương Ngô là Đỗ Mục, Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang cùng nhau sai sứ nạp cống, đều được phong làm liệt hầu” (Quyển 17)

Căn cứ vào các tài liệu trên thì Tích Quang thôi giữ chức Thái thú quận Giao Chỉ khoảng năm 29, như vậy tới khi Tô Định kế nhiệm năm 34 thì cũng khoảng 4 năm Giao Chỉ không có Thái thú. Người viết cho rằng nơi đặt trị sở của Giao Chỉ bộ phải là trung tâm đô hội và người Hán có thể dễ dàng cai trị, lại thêm 7 quận mà các vị Thái thú xin nội phụ Đông Hán đều có vị trí liền kề với quận Nam Hải, vì thế ngờ rằng trị sở của bộ đặt ở Phiên Ngung (hoặc Thương Ngô). Ngoài ra, các quận xung quanh của Giao Chỉ không thấy cử sứ giả tới xin nội phụ, do vậy người viết cho rằng tuy Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ nhưng không đến trị sở của quận, mà lưu sống ở Lưỡng Quảng.

Hậu Hán thư – Nhâm Diên truyện chép: “Nhâm Diên tự Trường Tôn, người huyện Uyển, quận Nam Dương (…) Đầu niên hiệu Kiến Vũ [25-56] Xuống chiếu trưng dụng Diên làm Thái thú Cửu Chân” (Ant, tr.193-194)

Chúng ta thấy, trong các quận cử sứ đi cống nạp, không có quận Cửu Chân và Nhật Nam, cùng với đó là việc Nhâm Diên sang làm Thái thú quận Cửu Chân, sau khi nhóm Đặng Nhượng quy thuận năm 29, thì rõ ràng Cửu Chân không có Thái thú ít nhất là suốt thời kỳ nhà Tân.

Hậu Hán thư – Nam Man truyện chép: “Kiến Vũ thứ mười hai (36) Trương Du là người man Lái ở ngoại biên Cửu Chân mộ giáo hóa, đem người trong bộ tộc theo quy phụ” (Ant, tr.188)

Hậu Hán thư – Nhâm Diên truyện chép: “Diên coi việc được bốn năm, thì được vời về Lạc Dương, vì ốm bệnh nên lưu lại ở đó, chuyển xuống làm Huyện lệnh Tuy Dương” (Ant, tr.195)

Vào năm 36 thủ lĩnh Man Lái ở ngoại biên quận Cửu Chân xin được nội thuộc, cũng có nghĩa là trước đó vùng ngoại biên quận Cửu Chân tự chủ, nói cách khác Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân được 4 năm, đến khoảng năm 33, thì bị thủ lĩnh Man Lái là Trương Du chống lại, nên đành bỏ về phương bắc vì thế mà năm 34 nhà Đông Hán cử võ tướng Tô Định sang (dưới áp lực quân sự 2 năm sau Trương Du phải xin nội thuộc) như vậy rõ ràng là các Thái thú (trước Tô Định) không có vai trò gì đối với các quận Giao Chỉ, Cửu Chân.

Hậu Hán thư – Nhâm Diên truyện chép: “Thời Bình Đế (1Tcn-5) Tích Quang người quận Hán Trung làm Thái thú Giao Chỉ, dạy dỗ dân di, dần theo lễ nghĩa, tiếng tăm giáo hóa cũng ngang với Diên (…) Đầu niên hiệu Kiến Vũ, lại sai sứ sang tiến cống, được phong làm Diêm Thủy hầu. Phong tục Hoa Hạ ở Lĩnh Nam bắt đầu từ hai viên quận thú này” (Ant, tr.195)

Như vậy là phong tục Hán được truyền bá đầu tiên ở đất Lĩnh Nam bởi hai viên quan Thái thú là Tích Quang và Nhâm Diên nhưng đến năm 34, thì

Hậu Hán thư – Nam Man truyện chép: “Trưng Trắc là con gái của Lạc tướng Mi Linh (…) Thái thú Giao Chỉ là Tô Định đem pháp luật để ràng buộc, Trắc phẫn nộ bèn chống lại” (Ant, tr.188)

Theo đó, Tô Định đã áp dụng luật Hán ở vùng đất phía nam Lưỡng Quảng, thay thế cho tục Việt, nên dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, để rồi nhà Hán cử Mã Viện dẫn quân xuống phương nam và như Viện tâu

Hậu Hán thư – Mã Viện truyện chép: “Tấu rõ luật Việt so với luật Hán trái ngược hơn 10 điểm và nói rõ với người Việt phép tắc cũ để ràng buộc, từ đó về sau Lạc Việt vâng theo phép tắc cũ của Mã tướng quân” (Quyển 24)

Như vậy thì ít nhất là sau năm 43, người Việt Thường thị mới chịu tuân theo luật của người Hán, còn trước đó họ vẫn sử dụng luật của mình.

Tiểu kết: Cho tới những năm 34 vùng đất phía nam Lưỡng Quảng vẫn độc lập, nhưng các chính sách của Tô Định đã tác động đến xã hội, làm cho nhận thức về sự xâm lược[5] của người bản địa trở nên rõ ràng, cho đến năm 40 thì được cụ thể hóa bằng cuộc khởi nghĩa.

Hậu Hán thư – Nam Man truyện chép: “Năm thứ 16 [40] có người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị làm phản, tiến đánh quận thành” (Ant, tr.188)

Tam quốc chí – Tiết Tống truyện chép: “Từ thời trước thần làm khách đến đấy, người (…) ở hai huyện Mi Linh quận Giao Chỉ, huyện Đô Lung quận Cửu Chân, có tục anh chết thì em lấy chị dâu, nhiều đời cho đấy là thói thường, quan lại nghe biết cũng không ngăn được” (Tqc)

Theo như lời của Tiết Tống thì chính ngài là người đã tận mắt thấy những phong tục rất khác của phương nam tại hai huyện Mi Linh thuộc quận Giao Chỉ và huyện Đô Lung thuộc quận Cửu Chân. Thứ nhất là qua chi tiết “quan lại nghe biết cũng không ngăn được” đã thêm một lần nữa xác nhận các vị thái thú không có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Thường thị. Thứ hai là tục anh chết thì em lấy chị dâu thường được gọi là nối dây, sự hiện diện của tục này cho thấy tính chất mẫu hệ của xã hội, lại thêm huyện Mi Linh là vùng lãnh địa của Trưng Trắc và rất trùng hợp khi mà người có vị trí quan trọng thứ hai trong cuộc bạo loạn lại chính là người em gái Trưng Nhị chứ không phải là một người đàn ông, rõ ràng là có cơ sở để tin rằng vùng đồng bằng sông Hồng thời điểm Hai Bà có xã hội mẫu quyền. Chấp nhận giả thuyết này sẽ trực tiếp mâu thuẫn với hai thông tin khác gồm: một các Hùng Vương đều là đàn ông, thực vậy thật khó để nghĩ rằng chế độ nam quyền đã thiết lập được dưới triều Hùng Vương, nhưng khi đến thời Hai Bà thì xã hội lại thiết lập chế độ mẫu quyền và hai là vị quân trưởng của người Tây Âu là đàn ông, lại thêm trong thư của Triệu Đà có nói rằng người Tây Âu ở trần mà cũng xưng vương, nó cho thấy người Tây Âu đã tổ chức xã hội gần giống với người Hán hơn người ở vùng đồng bằng sông Hồng, vì thế mà có vẻ như người Việt Thường thị khác tộc với người Tây Âu Lạc.

Cương mục chép: “Mã Viện về nước. Từ đấy về sau, trải qua các đời Minh đế (58-75) Chương đế (76-88) Hòa đế (89-105) Thương đế (106) An đế (107-125) gồm 5 đời vua, cộng tám mươi hai năm, mà chỉ thấy về đời Minh đế có Lý Thiện, người huyện Nam Dương, làm thái thú Nhật Nam có lòng yêu dân, làm chính sự có ơn huệ với dân, hấp dẫn được người phương xa. Về sau, Lý Thiện đổi đi làm thái thú Cửu Giang” (Cm, tr.118)

Có sự thiếu hụt rất lớn các quan lại phương bắc tại Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và vì thế nó khiến chúng ta đặt ra sự nghi ngờ về tính chất cai trị của nhà Hán đối với vùng đất phía nam này. Theo học giả Đào Duy Anh thì quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện là Liên Lâu, An Định, Câu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên và Chu Diên.

(A.2) NHẬT NAM CỬU CHÂN

Hậu Hán thư – Nam Man truyện chép: “Vĩnh Hòa thứ 2 [137] người man di ở ngoại biên huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam là bọn Khu Liên mấy nghìn người đánh huyện Tượng Lâm (…) Năm sau [138] Đại tướng quân Tòng sự Trung lang Lí Cố nói: Hiện giờ Nhật Nam quân mỏng lương hết, giữ còn không đủ, đánh lại không được. Nên trước hết cho dời tất cả lại dân lên phía bắc dựa vào Giao Chỉ, sau khi việc đã yên, lại sai trở về đất cũ. Lại chiêu mộ người man di, sai chúng tự đánh nhau” (Ant, tr.189-190)

Theo học giả Đào Duy Anh thì quận Nhật Nam gồm 5 huyện có thứ tự từ nam ra bắc như sau: Tượng Lâm, Lô Dung, Chu Ngô, Tỷ Ảnh, Tây Quyển. Theo ghi chép của Hậu Hán thư – Nam Man truyện thì vào năm Nguyên Hòa nguyên niên (84) tộc man di Cứu Bất Sự Nhân ở ngoài biên quận Nhật Nam dâng tê giác, đến năm Vĩnh Nguyên thứ mười hai (100) người man di thuộc Tượng Lâm tấn công quan nha, chính sau sự kiện này mà triều đình đặt tướng sĩ và trưởng lại ở huyện đó để đề phòng, nhưng vào năm Vĩnh Hòa thứ hai (137) người man di ở ngoại biên (có lẽ phía tây) huyện Tượng Lâm là Khu Liên đánh giết trưởng lại, đốt phá sở quan, Thứ sử Phàn Diễn phải phát binh ở Giao Chỉ và Cửu Chân đến cứu, nhưng ngược lại bị lính ở hai quận ấy, làm phản đánh trị quận, sau đó Thị ngự sử Giả Xương cùng hợp sức tiến đánh nhưng vẫn không dẹp được, nên đành phải theo lời bàn của Lý Cố là lấy Trương Kiều làm Thứ sử bộ Giao Chỉ, Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân, kết quả giặc tại hai quận đều tan, nhưng Nhật Nam phải đành tạm thời để người man di kiểm soát. Chúng ta lại thấy sự xâm phạm lãnh thổ tương tự như trường hợp của Giao Chỉ được tái diễn tại Nhật Nam, vì dẫu Hậu Hán thư có chép là Hai Bà Trưng làm loạn và Nhật Nam hưởng ứng, song phải hiểu theo nghĩa là triều đình mất kiểm soát, chứ thực tế Nhật Nam không có binh biến, bởi cuộc nam chinh của Mã Viện chỉ dừng lại tại Cửu Chân, nếu như người man di có tụ tập ở Nhật Nam thì hẳn Phục Ba tướng quân đã phải đem binh xuống đó và thêm nữa qua mô tả về lối làm việc của Nhật Nam thái thú Lí Thiện thì nhận thấy rất giống với Cửu Chân thái thú Nhâm Diên.   

Hậu Hán thư – Nam Man truyện chép: “Kiến Khang đầu tiên (144) người Man Di ở Nhật Nam hơn ngàn người lại tấn công đốt phá huyện ấp, bèn xúi giục Cửu Chân, cùng liên kết với mình. Giao Chỉ Thứ sử là Hạ Phương người Cửu Giang dùng ân chiêu dụ, giặc đều hàng phục (…) Vĩnh Thọ thứ 2 thời Hoàn Đế (156) Cư Phong huyện lệnh tham bạo vô độ, người trong huyện là Chu Đạt cùng người Man Di tụ họp, đánh giết huyện lệnh, quân số đông tới bốn, năm ngàn người, tiến đánh Cửu Chân, Thái thú Nghê Thức chiến tử. Sai Cửu Chân Đô úy là Ngụy Lãng đánh phá được, chém hai ngàn thủ cấp, nhưng đầu sỏ giặc vẫn còn chiếm đóng ở Nhật Nam, quân chúng ngày càng thêm lớn” (Ant, tr.191-192)

Tam quốc chí – Tiết Tống truyện chép: “Cửu Chân Thái thú Đam Manh vì cha vợ là Chu Kinh mà (…) bày nhạc, quan Công tào Phan Hâm đứng dậy múa kéo lấy Kinh, Kinh không đứng lên, Hâm vẫn bức bách, Manh giận sai lấy gậy đánh Hâm, chết ở trong quận. Em của Hâm là Miêu thống lĩnh quân chúng đánh phủ, lấy tên độc bắn Manh, Manh ngã xuống chết. Giao Chỉ Thái thú Sĩ Tiếp sai binh đến đánh, nhưng không thắng được” (Tqc)

Bảy năm sau, người Man Di ở quận Nhật Nam lại nổi loạn, căn cứ vào số người tham gia đánh đốt huyện ấp, chúng ta biết được quy mô của cuộc bạo loạn là tương đối nhỏ so với những cuộc nổi loạn trước đây, thế nhưng lại có thể kích động được quận Cửu Chân, thì hẳn là địa điểm khởi phát phải ở khu vực biên giới của Nhật Nam và Cửu Chân, lại thêm vị Thứ sử đương nhiệm sử dụng phương án chiêu dụ chứ không phải quân sự nên người viết cho rằng có thể Khu Liên đã tổ chức cuộc tấn công ở ven biên giới Nhật Nam và kích động dân chúng quận Cửu Chân, cũng có nghĩa là vùng lãnh thổ mà Khu Liên kiểm soát vượt ra ngoài huyện Tượng Lâm, chiếm phần nhiều lãnh thổ quận Nhật Nam. Theo ghi chép của Tiền Hán thư thì quận Cửu Chân gồm có 7 huyện là Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết và Vô Biên. Qua đoạn chép của Hậu Hán thư thì thấy rằng Chu Đạt không cùng tộc với đám người man di, nhưng lại có thể tụ tập được đến bốn năm ngàn người, cho thấy đây không phải là một cuộc phản ứng trước sự tham tàn của huyện lệnh Cư Phong. Mục đích của Chu Đạt trở nên rõ ràng hơn khi mà đã giết được vị huyện lệnh thì ngài tiếp tục tiến đánh Cửu Chân thái thú, như thế hẳn là Chu Đạt đã lên kế hoạch. Qua sự kiện thái thú Cửu Chân là Nghê Thức bị chết khi giao chiến thì có thể phỏng đoán rằng người man di đã chiếm được trị sở của quận, đặt tại huyện Tư Phố (theo học giả Đào Duy Anh thì huyện Cư Phong cũng gần Tư Phố). Dựa trên ba thông tin gồm: một là sau khi yếu thế trước Ngụy Lãng thì Chu Đạt rút về Nhật Nam, hai là sau khi đóng giữ tại Nhật Nam thì thế lực của Chu Đạt lại thêm cường thịnh và ba là triều đình (vào năm 160) lấy Quế Dương thái thú Hạ Phương phong lại làm Thứ sử Giao Chỉ (vốn là người có mối quan hệ tốt với các thế lực tại Cửu Chân và Nhật Nam từ sau cuộc liên minh nổi loạn năm 144) để chiêu dụ (hơn hai vạn) quân giặc ở Nhật Nam (Ant) thì người viết cho rằng trong biến loạn của Chu Đạt có yếu tố Khu Liên. Theo như Tam quốc chí thì cha vợ của Thái thú quận Cửu Chân cũng người họ Chu, lại theo Thủy Kinh chú thì khi Mã Viện tiến vào huyện Dư Phát, thủ lĩnh của giặc là Chu Bá bỏ quận chạy vào rừng sâu và khi Phục Ba tướng quân đến huyện Cư Phong thì tướng giặc không hàng nên đều bị chém, còn học giả Đào Duy Anh thì phỏng đoán[6] rằng có lẽ Cư Phong là nơi nghĩa quân đã rút về sau khi bị thất bại ở Dư Phát và Tư Phố, từ đó người viết cho rằng họ Chu là một dòng họ thế lực tại Cửu Chân và như vậy thì rất dễ hiểu vì sao người man di lại liên minh với Đạt để làm loạn.

Tam quốc chí – Sĩ Tiếp truyện chép: “Sĩ Tiếp bèn dâng biểu tiến cử em thứ đang làm Từ Văn huyện lệnh là Vĩ lĩnh Thái thú Cửu Chân (…) Kiến An thứ mười lăm (210) Tôn Quyền sai Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu” (Ant, tr.197-199)  

Tấn thư – Địa lý hạ chép: “Kiến An thứ tám (203) Trương Tân làm Thứ sử, Giao Chỉ thái thú Sĩ Tiếp, cùng dâng biểu xin lập làm châu, bèn bái Tân làm Giao châu mục. Năm thứ mười lăm (210) dời đến Phan Ngu” (Quyển 15)

Theo ghi chép của Tam quốc chí – Sĩ Tiếp truyện thì khi Thứ sử Giao Châu là Chu Phù bị giặc người di giết hại (năm 200-Ancl) khiến châu quận nhiễu loạn, Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Tiếp bèn dâng biểu xin cho em là Sĩ Nhất lĩnh chức Thái thú Hợp Phố, em thứ đang làm Từ Văn huyện lệnh là Sĩ Vĩ lĩnh chức Thái thú Cửu Chân, em của Vĩ là Vũ lĩnh chức Thái thú Nam Hải, nhưng như chúng ta đã thấy trước đó, khi Đam Manh giữ chức Thái thú Cửu Chân thì bị Phan Miêu giết và tuy Sĩ Tiếp có sai tướng lĩnh đến đánh nhưng không thắng, vì thế mà người viết cho rằng Sĩ Vĩ (nếu có) lĩnh chức Thái thú cũng chỉ là trông coi từ xa, nói cách khác là không có thực quyền tại Cửu Chân (theo ghi chép của Tam quốc chí – Tiết Tống truyện thì sau khi Chu Phù chết, triều đình bèn phái người Nam Dương là Trương Tân tới làm Thứ sử Giao Châu (năm 201-Ancl) nhưng ngài vốn có hiềm khích với Kinh Châu mục là Lưu Biểu, tuy là quân yếu và địch mạnh, mà hàng năm vẫn phát binh khiến các tướng dưới quyền lo sợ, bỏ trốn hết cả, cuối cùng bị bộ tướng là Khu Cảnh giết. Kinh châu mục Lưu Biểu bèn sai Lại Cung đến thay và khi Thương Ngô thái thú Sử Hoàng chết, Lưu Biểu lại sai thêm Ngô Cự đến thay, nhưng rồi Ngô Cự với Lại Cung xảy ra bất hòa nên Cự bèn cử binh đuổi Cung, qua đó cho thấy Thứ sử Lại Cung lưu trú tại quận Thương Ngô, vì thế mà người viết ngờ rằng trị sở của bộ Giao Chỉ đặt tại quận Thương Ngô, nhưng khi Bộ Chất làm Thứ sử đã dời về Phan Ngu vào năm 210). Theo ghi chép của Tam quốc chí – Lữ Đại truyện thì khi Thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Tiếp chết (năm 226) Tôn Quyền lấy con của Tiếp là Sĩ Huy làm An Viễn tướng quân, lĩnh chức Thái thú quận Cửu Chân, đồng thời lấy Hiệu úy Trần Thì thay Tiếp nhưng Sĩ Huy không vâng lệnh, đóng binh ở cửa biển để chống cự, vì thế mà Tôn Quyền sai Lữ Đại đem binh đến bình, Sĩ Huy không biết chạy đâu nên đành phải thống lĩnh 6 người anh em ra hàng nhưng liền chém, rồi tiến đánh quận Cửu Chân, bắt chém đến mấy vạn người, hẳn là đám ấy không phải họ Sĩ nên Tiếp cũng thực chỉ quyền thế tại quận Giao Chỉ mà thôi.

Tam quốc chí – Tôn Quyền truyện chép: “Năm thứ mười (247) Tháng 3, đổi dựng cung Thái Sơ, các tướng và châu quận đều cùng làm” (Tqc)

Tam quốc chí – Lục Khải truyện chép: “Xích Ô thứ mười một (248) người rợ ở quận Giao Chỉ, Cửu Chân đánh dẹp thành ấp, Giao Châu nhiễu động” (Tqc)

Theo ghi chép của Tam quốc chí thì vào tháng 3/247 Tôn Quyền lệnh cho các tướng và châu quận cùng dời ngói gỗ của cung Vũ Xương đến để sửa cung Kiến Nghiệp (tới tháng 3/248 thì hoàn thành) lại thêm vào tháng 1/248 Chu Nhiên đắp thành ở Giang Lăng, có khi nào vì thế mà Đông Ngô lấy người tại Giao Chỉ, Cửu Chân nên làm cho người rợ nổi dậy chống đối, đánh dẹp thành ấp không? Tam quốc chí – Tôn Hựu truyện có ghi chép trường hợp của Thái thú quận Giao Chỉ là Tôn Tư, mà chúng ta có thể dùng để tham khảo, chuyện là Tôn Tư từng bắt hơn ngàn thợ khéo đưa lên Kiến Nghiệp, nên đến mùa hạ năm Vĩnh An thứ sáu (263) khi quan Sát chiến theo lệnh đến Giao Chỉ để thu chim khổng tước và heo lớn thì người trong quận sợ lại bị bắt nên bọn tướng lĩnh là Lữ Hưng đã tụ tập người rợ, tấn công trị sở giết Thái thú Tôn Tư (còn về các món dâng nạp thì từ thời Sĩ Tiếp đã ghi nhận là tính đến hàng nghìn và chẳng năm nào là không mang đến).

Thái Bình ngự lãm chép: “Sách Giao Châu kí của Lưu Hân Kì nói Triệu Ẩu là người đàn bà huyện Quân An, Cửu Chân (…) vào núi tụ tập bọn giặc cướp, rồi thì đánh quận (…) Thứ sử Lục Dận đánh dẹp cô ta” (Quyển 371)

Tam quốc chí – Lục Khải truyện chép: “Lục Dận vào miền nam, dùng ân tín để dụ, ưa việc chiêu nạp, hơn ba nghìn người phe đảng của bọn cừ súy Hoàng Ngô ở huyện Cao Lương đều ra hàng. Dẫn quân xuống phía nam, tuyên bố rất thật, đem tiền của để trao tặng. Hơn trăm tướng giặc, năm vạn người dân ở nơi sâu xa khó quản, chẳng ai không cúi đầu, do đó Giao Châu yên bình” (Tqc)

Thấy rằng cuộc khởi nghĩa tuy diễn ra rộng khắp tại 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, khiến cho Giao Châu phải nhiễu động, nhưng lại không thấy sự tham gia của Nhật Nam, từ đó có thể nghĩ rằng quận ấy đang do người man di kiểm soát. Lại thấy, nếu như ở Cao Lương chỉ có hơn ba nghìn người thì ở Giao Chỉ có tới trăm tướng giặc và năm vạn người, nếu ở Cao Lương là ân tín chiêu dụ thì ở Giao Chỉ là đem tiền của để trao tặng. Lối dẹp loạn của Dận có nét giống với cách Triệu Đà bắt vua các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc theo phục, nên người viết cho rằng khi Dận dùng tiền của trao tặng, người rợ lại hòa thuận, thôi không tấn công huyện ấp. Nếu cho rằng Dận chỉ biết dùng ân tín chiêu dụ thì không phải, bởi Tam quốc chí – Lục Khải truyện có chép rằng sau khi Giao Châu yên bình Lục Dận còn đánh phá giặc ở huyện Kiến Lăng quận Thương Ngô, như vậy thì rõ ràng bản thân Dận cũng thấy khó mà thắng được giặc ở Giao Chỉ, Cửu Chân vì giặc đông, lại tụ tập ở vùng núi, nơi sâu xa khó quản, nên đã dùng kế chiêu dụ để có thể yên được Giao Châu, người rợ thì làm phản, mấy lần đánh nhưng không hạ được những nơi trọng yếu, nay địch xin hòa, đem tiền của trao tặng, do đó người rợ cũng chịu hòa thuận, tự trị ở vùng núi sâu xa.

Tấn thư – Đào Hoàng truyện chép: “Đào Hoàng lại đem mấy ngàn sấp vải gấm trên thuyền bảo vật thu được lần trước cho tướng giặc Phù Nghiêm là Lương Kì, Kì bèn đem hơn vạn người đi giúp Hoàng (…) Công tào quận Cửu Chân là Lí Tộ giữ quận nội thuộc, Hoàng bèn sai tướng đến đánh. Các nơi Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương địa bàn hiểm trở, người Di Lạo hung hãn, trải nhiều đời vẫn không chịu về theo, Hoàng bèn dẹp yên, mở đặt làm 3 quận, cùng hơn 30 huyện thuộc Cửu Chân” (Ant, tr.202,204)

Tam quốc chí – Tôn Hạo truyện chép: “Đại xá, chia quận Giao Chỉ lập quận Tân Xương. Các tướng phá động Phù Nghiêm, đặt quận Vũ Bình” (Tqc)

Theo ghi chép của Tam quốc chí – Tôn Hạo truyện – quyển 48 thì vào năm 271 (nhờ sự giúp đỡ của người động Phù Nghiêm là Lương Kì mà) bọn Đào Hoàng, Ngu Tỉ phá được quận Giao Chỉ, bắt giết tướng giữ thành do nhà Tấn đặt, rồi tiến đến Cửu Chân nhưng bị quan Công tào là Lý Tộ giữ quận chống lại, song cuối cùng vẫn bình được (ngoài ra chúng ta không thấy sách sử chép đến quan Thái thú của quận, nên có thể từ sau khi Đam Manh chết, chức Thái thú Cửu Chân chỉ là xa lĩnh). Đào Hoàng lại đánh dẹp thêm các động của người man di (trong đó có Lương Kì, đặt ra quận Vũ Bình, động Phù Nghiêm tiêu biểu cho vùng tự trị, trải nhiều đời không chịu thuần phục) người viết ngờ rằng Bà Triệu hoặc thế hệ tiếp nối của bà cũng bị đánh dẹp, nhưng theo như Tấn thư – Ngô Ngạn truyện chép thì khi Đào Hoàng chết (năm 300) quân trú đóng tại Cửu Chân làm loạn đánh đuổi Thái thú, thủ lĩnh giặc Cửu Chân người họ Triệu tên là Chỉ vây quận thành, triều đình lấy Ngô Ngạn làm An Trung đô đốc, Thứ sử Giao Châu bình giặc Cửu Chân (Theo Tư trị thông giám – quyển 58 thì vào năm 181 Giao Chỉ nhân Lương Long cùng với người Ô Hử ở Giao Chỉ làm loạn đánh phá quận huyện, Tư trị thông giám – quyển 92 thì vào năm 323 Tân Xương thái thú Lương Thạc chiếm giữ Giao Châu, chưa rõ 3 vị họ Lương có mối quan hệ nào không).

(A.3) VẠN XUÂN LÝ THỊ

* Tấn thư – Hiếu Vũ đế kỷ chép: “Niên hiệu Thái Nguyên thứ 5 (380) Mùa đông tháng 10, Cửu Chân thái thú Lý Tốn chiếm cứ Giao Châu làm phản (…) Năm thứ 6 (381) Mùa thu tháng 7, Giao Chỉ thái thú Đỗ Viện chém Lý Tốn, Giao Châu yên ổn” (Quyển 9)

Tống thư – Đỗ Tuệ Đô truyện chép: “Cha con Cửu Chân Thái thú Lí Tốn dũng mãnh có quyền thế, uy chế đất Giao Châu, nghe tin Thứ sử Đằng Tuần Chi đang đến, bèn sai hai con ngăn chặn nơi hiểm yếu cả hai đường thủy lục” (Ant, tr.207)

Theo ghi chép của Tống thư – Đỗ Tuệ Đô truyện thì cha con Thái thú Cửu Chân họ Lí rất có quyền thế tại đất Giao nhưng bất tuân triều đình và chiếm châu tự giữ, tuy nhiên lại bị Thái thú Giao Chỉ là Đỗ Viện đánh giết, còn con của Lí Tốn là Lí Dịch và Lí Thoát trốn đến Thạch Kì, đồng thời liên kết với những người Lí – Lão có bộ khúc năm sáu nghìn, năm 411 khi Lư Tuần phá Hợp Phố tiến đánh Giao Chỉ nhưng bị con của Viện là Đỗ Tuệ Độ đem 6 ngàn người cự chiến tại Thạch Kì nên bèn cử sứ tới chiêu mộ họ Lí và được đám đó dẫn người Lí – Lão theo về, cũng cho thấy con cháu của Thái thú Cửu Chân vẫn còn rất thế lực (trên chúng ta cũng đã thấy có vị Công tào Cửu Chân họ Lý giữ quận tự chủ năm 271, lại thêm Tấn thư – Đào Hoàng truyện có chép việc sau khi Quận lại Lã Hưng giết Giao Chỉ thái thú Tôn Tư và Sát chiến Đặng Tuân bèn xin nội phụ nhà Tấn, được Vũ Đế phong làm An Nam tướng quân, Thái thú Giao Chỉ nhưng lại bị Công tào dưới trướng là Lý Thống giết chết vào năm 264 và Khảo sát dòng họ Lý từ khởi nguồn đến Lý Công Uẩn của tác giả Nguyễn Việt thấy có giới thiệu đến chiếc vò sành đời Hán được Clemant Huet sưu tầm tại Thanh Hóa trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, hiện được trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về Nghệ thuật và Lịch sử (Brussel) có khắc dòng chữ Kiến Hòa tam niên (149) nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác). Theo tác giả Trần Nghĩa trong Sáu bức thư hay cuộc tranh luận sôi nổi giữa Đạo Cao, Pháp Minh với Lí Miễu về việc không thấy chân hình của phật thì Hoằng minh tập do Thích Tăng Hựu người đời Lương (502-557) sưu tầm và biên soạn có chép đến 6 lá thư của 3 tác giả là Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu, còn Toàn Thượng cổ Tam đại Tần Hán Tam quốc Lục triều văn của Nghiêm Khả Quân người đời Thanh cho biết Đạo Cao và Pháp Minh là Giao Châu pháp sư, Lí Miễu là Thứ sử Giao Châu. Tác giả Lê Mạnh Thát trong Lịch sử phật giáo Việt Nam dựa vào lá thư của Pháp Minh có đề cập đến việc Tống Vũ hoàng đế lúc mới lên ngôi để xác định niên đại sớm nhất vào năm 420 và không đề cập đến sự kiện Đàm Hoằng tự thiêu (đã gây chấn động Giao Châu, bởi vì hôm đó tăng tục mới hiểu sự thần dị vang lừng, đến nỗi Huệ Hạo còn ghi lại trong Cao Tăng truyện) để xác định niên đại muộn nhất vào năm 455. Căn cứ vào sáu lá thư có các chữ “sứ quân”, “cư đại bào chi địa”, “thổ ác dư hà” tác giả Lê Mạnh Thát cho rằng Lí Miễu là người bản địa và ở vào vị trí quân vương, còn tác giả Trần Nghĩa dựa vào câu “sứ quân là bậc sính tri (…) ở vào địa vị tôn quý (…) sau những lúc nhả cơm vấn tóc rảnh ràng thì nhởn nhơ thong thả suốt ngày” để cho rằng đây khó có thể là chân dung một vị quan người Việt trong bối cảnh bấy giờ. Theo Tống thư – Văn đế kỉ – quyển 5 và Lâm Ấp truyện – quyển 97 thì vào tháng 4/427 lấy Đình úy Vương Huy làm Giao Châu thứ sử; năm 431 Lâm Ấp cử hơn 100 thuyền cướp châu Cửu Đức, Giao Châu thứ sử Nguyễn Di Chi sai đội chủ Tướng Đạo Sinh đem quân đến đánh; tháng 12/432 lấy Hữu quân tam quân Lí Tú Chi làm Giao Châu thứ sử; năm 433 Lâm Ấp cử sứ cống sản vật địa phương, xin quản Giao Châu, không cho; tháng 2/434 lấy Giao Chỉ thái thú Lí Đam Chi làm Giao Châu thứ sử; tháng 11/435 lấy Hữu quân hành tam quân Cẩu Đạo Phúc làm Giao Châu thứ sử; tháng 8/437 lấy Thượng thư kim bộ lang trung Từ Sâm Chi làm Giao Châu thứ sử; tháng 12/443 lấy Thủy Hưng nội sử Đàn Hòa Chi làm Giao Châu thứ sử; tháng 12/446 lấy Long Tương tư mã Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu thứ sử; tháng 5/455 lấy Tiền quân tư mã Viêm Hoành làm Giao Châu thứ sử, tháng 12/455 lấy tiền Giao Châu thứ sử Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu thứ sử; tháng 8/456 lấy Bắc quân trung lang tư nghị tam quân Phí Yêm làm Giao Châu thứ sử; tháng 8/458 lấy Nam Hải thái thú Viên Lãng làm Giao Châu thứ sử; tháng 7/463 lấy Tây Dương thái thú Đàn Dực Chi làm Giao Châu thứ sử; tháng 5/465 lấy Hậu quân tư mã Trương Mục làm Giao Châu thứ sử.

Nam Tề thư – Man, Đông Nam di truyện chép: “Đầu niên hiệu Thái Thủy (468) nhà Tống, Thứ sử Trương Mục chết, người Giao Chỉ là Lí Trường Nhân giết những tay chân của Mục từ phương bắc đến, chiếm cứ Giao Châu làm phản. Mấy năm thì bị bệnh chết. Em họ là Thúc Hiến nối giữ việc, bèn sai sứ giả sang xin cho làm Thứ sử (…) Kiến Nguyên đầu tiên (479) đời Thế tổ, vẫn lấy Thúc Hiến làm Giao Châu Thứ sử, để vỗ về. Thúc Hiến nhận lệnh, rồi cắt tuyệt làm nước ngoài, cống nạp thiếu ít. Vĩnh Minh thứ ba (485) lấy Tư nông Lưu Khải làm Giao Châu Thứ sử, phát binh của các quận Nam Khang, Lư Lăng, Thủy Hưng đánh Giao Châu (…) Thúc Hiến sợ bị Khải tập kích, lẻn đường tắt theo lối Tương Xuyên về triều” (Ant, tr.261-262)

Khi được tin Giao Châu thứ sử Trương Mục chết, triều đình bèn lấy Nam Tiều thái thú Tôn Phụng Bá đến thay vào tháng 3/468 (Tống thư – Minh đế kỉ – quyển 8) nhưng lúc ấy người quận Giao Chỉ là Lý Trường Nhân đã giết bộ khúc của Mục đến từ phương bắc và chiếm cứ Giao Châu, nên triều đình lấy Nam Khang tướng Lưu Bột vào tháng 8/468 và Đông Hoàn thái thú Trần Bá Thiệu vào tháng 7/469 đi thảo bình Giao Châu nhưng không được (Tống thư – Minh đế kỉ – quyển 8) đến tháng 6/473 triều đình lại lấy Việt Châu thứ sử Trần Bá Thiệu làm Giao Châu thứ sử (Tống thư – Minh đế kỉ – quyển 9) xem thế thì có vẻ như Trường Nhân mất vào năm 473 (học giả Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam ước đặt Trường Nhân sinh vào khoảng năm 420 và như vậy rất có thể ngài là bà con với Lý Tốn cũng như Lý Dịch, người viết thấy rằng lí ấy không phải vô cớ, bởi một là khoảng cách giữa cha con Lí Dịch với Trường Nhân không quá xa, hai là cha con Lí Tốn tuy giữ chức Thứ sử Cửu Chân nhưng lãnh thổ thực quản lại bao trùm cả đất Giao, ba là theo Nam sử – quyển 70 thì khi Lư Tuần đánh Giao châu, được con cháu của Lí Tốn là Lí Dịch, Lí Di, Lí Thoát phụ giúp nhưng theo Tống sử – quyển 92 thì chỉ thấy chép đến con của Lí Tốn là Lí Dịch, Lí Thoát và sách ấy cho biết thêm bọn Lí Thoát bị Đỗ Tuệ Độ chém cùng Lư Tuần nên chưa rõ người cháu Lí Di có chết trong trận chiến không). Người em họ là Lý Thúc Hiến nối nghiệp, bèn sai sứ sang phương bắc xin làm Thứ sử, nhưng triều đình không cho và lấy Nam Hải thái thú Thẩm Hoan làm Giao Châu Thứ sử nên Thúc Hiến chống lệnh, nhà Nam Tề thế nhà Lưu Tống cho Hiến làm Thứ sứ, vỗ về Giao Châu (phương bắc sau thời kỳ tam quốc, tiếp tục bị chia cắt, các cuộc chiến tranh diễn ra liên miên giữa các thế lực). Qua việc Trường Nhân và Thúc Hiến chiếm châu tự giữ, bất tuân chiếu lệnh, cống nạp thiếu ít, chia cắt làm lãnh thổ riêng đã cho thấy sự xuất hiện của tư tưởng kiến tạo một vùng lãnh thổ ở phương nam độc lập[7], nhưng rồi người phương bắc đã tiến hành một cuộc nam chinh do Tư nông Lưu Khải làm chủ tướng vào năm 485 và sau khi không được Nam Tề đồng ý cho quy thuận lại, Thúc Hiến phải đích thân vào triều. Người viết thấy Tư trị thông giám chép là vào tháng 11/499 Trần Hiển Đạt cử binh đến Tầm Dương, triều đình bèn lấy Thôi Tuệ Cảnh làm Bình Nam tướng quân đánh Hiển Đạt, đồng thời sai Kiêu kị tướng quân Lí Thúc Hiến thống lĩnh thủy quân chiếm giữ Lương Sơn (quyển 142, Nam Tề thư Trần Hiển Đạt truyện quyển 26) đến tháng 3/500 Dự Châu thứ sử Tiêu Ý xuất 3 vạn quân đóng ở Tiểu Hiện (rồi sai Hồ Tùng, Lý Đạo Sĩ đem hơn một vạn quân đóng ở Tử Hổ) Giao Châu thứ sử Lí Thúc Hiến đóng ở Hợp Phì muốn lấy Thọ Xuân nhưng bị tướng Bắc Ngụy là Vương Túc đại phá, Thúc Hiến bị bắt sống (quyển 143, Bắc sử quyển 42) rồi lại thấy chép thêm chỗ tháng 10/501 là trước đây nghĩa quân của Tiêu Diễn bức (Kiến Khang) Đông Hôn hầu Tiêu Bảo Quyển sai Lí Thúc Hiến đóng giữ ở Qua Bộ, gặp lúc Thân Trụ thua phải chạy về Cô Thục (quyển 144, Nam sử quyển 6) trong khi Nam Tề thư quyển 7 cho biết vào tháng 9/501 lấy Phụ quốc tướng quân Thân Trụ giữ chức giám của Dĩnh Châu, nhưng khi nghĩa quân đến Nam Châu thì binh của Thân Trụ gồm 2 vạn thua phải chạy về Cô Thục (?)

Lương thư – Vũ Đế kỷ chép: “Thiên Giản thứ 4 (505) Tháng 2, Thứ sử Giao châu Lý Khải làm phản chiếm cứ châu, Trưởng sử Lý Tắc đánh dẹp, tha tội cho người làm phản ở châu Giao” (Quyển 2)

Theo ghi chép của Nam Tề thư – Man, Đông Nam di truyện thì vào năm 488 triều đình lấy Thủy Hưng thái thú Phòng Pháp Thặng thay Lưu Khải, tuy nhiên toàn bộ quyền bính lại nằm trong tay của Trưởng sử Phục Đăng Chi (học giả Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam dựa vào ghi chép của Nam Tề thư – Cánh Lăng Văn Tuyên vương Tử Lương truyện – quyển 40 cho biết đến năm 486 vấn đề Giao Châu vẫn chưa giải quyết xong và Lịch đại tam bảo ký – quyển 3 cho biết tới tháng 1/487 Giao Châu có dâng một viên ngọc cao hai tấc đủ làm một tượng phật ngồi, nên người viết đồng thuận với học giả rằng quân đội phương bắc vào đất Giao năm Vĩnh Minh thứ 4 sau khi họ Lí đến cửa khuyết, cũng như Đăng Chi là bộ tướng của Thúc Hiến và đồng thuận với học giả K.W Taylor rằng vị Trưởng sử là Giao Châu thổ nhân). Kế chức Thứ sử châu Giao sau Đăng Chi lần lượt là Thân Hi Tổ, Tang Linh Trí, Tống Từ Minh (494) thế nhưng đó chỉ là trên danh nghĩa[8], vì vậy thực tế Giao châu do Đăng Chi quản lí. Căn cứ ghi chép của Việt sử lược thì Lí Khải làm Thứ sử từ thời Tề Minh đế (494-498) nhưng chưa hẳn đã đúng bởi như chúng ta đã thấy vào tháng 3/500 Lí Thúc Hiến vẫn được chép kèm chức Thứ sử Giao châu. Theo Lương thư – Vũ Đế kỉ – quyển 2 thì vào tháng 4/502 Tiêu Diễn xưng hoàng đế, trong khi Nam sử – Lương bản kỉ – quyển 6 cho biết vào tháng 8/502 Giao Châu và nước Lâm Ấp, Can Đà Lợi sai sứ sang cống, điểm gây chú ý là triều đình không nhận cống phẩm của Giao Châu, nhưng cớ vì sao, người viết phỏng đoán rằng vốn từ thời Lưu Tống (420-479) có vị thổ hào họ Lí đã chia cắt bờ cõi, chiếm giữ tự quản, rồi đến thời Nam Tề (479-502) tuy vẫn coi đất Giao là nội thuộc nhưng trên thực tế lại do người bản địa quản lí, dù từng có khoảng thời gian (486-488) triều đình cai trị thông qua Thứ sử Lưu Khải (thực vậy việc tác giả của Nam Tề thư xếp Giao Châu vào cùng nhóm với Lâm Ấp, Phù Nam trong Man, Đông Nam Di truyện cũng phần nào phản ánh nhận thức của người phương bắc) thế thì hẳn là dân bản địa cũng thấy được tính chất tự quản nên khi nhà Lương (502-557) được ngôi, người Giao đã tới cống nạp để tỏ thiện chí kết hiếu, tương tự như các nước Lâm Ấp, Can Đà Lợi và tất nhiên là Lương Vũ đế không chấp nhận điều đó nên từ chối cống phẩm, nhưng triều đình cũng chưa thể buộc đất Giao nội thuộc nên tạm để thủ lĩnh Lí Khải giữ chức Thứ sử. Sử cũ cho rằng nhà Lương được Nam Tề nhường ngôi và chưa có ân uy nên mới làm phản nhưng hẳn là không phải, lại thêm chưa thấy có vị thứ sử nào được cử sang Giao Châu thay Lí Khải vào khoảng thời gian diễn ra sự biến năm 505, trong khi tình hình xung đột giữa nhà Lương với Bắc Ngụy khá căng thẳng nên người viết ngờ rằng (cũng tương tự như trường hợp của Lí Thúc Hiến là) tự chia cắt làm lãnh thổ riêng, cống nạp thiếu ít. Lại thấy Lí Khải giữ châu Giao cả trên danh nghĩa và thực tế, trong khi Lí Tắc là bộ tướng dưới quyền của ngài, thêm nữa cả hai thứ sử lại cùng họ (và người viết đồng ý với học giả K W Taylor rằng các vị ấy đều là thổ hào) ngoài ra Lí Tắc cũng chỉ đánh dẹp Lí Khải chứ không chém đầu gửi về Kiến Khang như trường hợp của Nguyễn Tông Hiếu năm 516 nên ngờ rằng có thể là mưu kế của Giao Châu chăng?

Tư trị thông giám – Lương kỷ chép: “Đại Đồng thứ 7 (541) Tháng 12, Lý Bí ở Giao Chỉ đời đời là hào hữu, làm quan bất đắc chí (…) Gặp khi Giao Châu thứ sử, Vũ Lâm hầu [Tiêu] Tư tàn bạo, hà khắc, mất lòng dân chúng. Lúc này, Lý Bí đang là Giám quân ở Đức châu liền liên kết với hào kiệt ở các châu cùng nhau làm phản. Tiêu Tư đưa hối lộ cho Bí, chạy trốn về Quảng Châu” (Quyển 158)

Toàn thư chép: “Giáp Tí (544) Mùa xuân tháng giêng, Lí Bôn tự xưng là Nam Việt đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân” (Tt, tr.179)

Theo như ghi chép của An Nam chí lược thì Tiêu Tư làm Thứ sử Giao Châu vào những năm đầu niên hiệu Đại Đồng (535-546) và có tính tham bạo nên mất lòng dân chúng, theo ghi chép của Tư trị thông giám thì Giám quân ở Đức châu là hào trưởng Lý Bôn làm quan không được như mong muốn, nên liên kết các hào kiệt đánh Tiêu Tư, qua chi tiết hối lộ Lý Bí để được trở về phương bắc, cho thấy sự căm giận của ngài đối với vị Thứ sử tham bạo là không đủ để tước đi mạng sống (hoặc giám quân không muốn kết thù với phương bắc khi giết tôn thất của nhà Lương) cái mà Lí Bí thực sự hướng đến là vị trí đứng đầu châu Giao qua hành động lập quốc, người viết nghĩ đến Lý Tắc, vị Thứ sử quyền trùm châu Giao và nếu như Tiêu Tư không xuống phương nam, không nhận chức Thứ sử, thì hẳn người trong gia tộc của Tắc sẽ nối chức, nói cách khác họ Lý vừa để vụt mất cơ hội nắm giữ châu Giao nên vì thế mà chức Giám quân hoặc Thái thú không làm thỏa được mong muốn chăng!

* Trần thư – Cao Tổ kỷ chép: “Anh trai của Lý Bôn là Thiên Bảo trốn vào đất Cửu Chân cùng với Lý Thiệu Long thu thập hơn hai vạn quân lính giết Thứ sử Đức Châu là Trần Văn Nhung, tiến vây Ái Châu, Cao Tổ lại xuất Hồng quân đánh, bình được” (Quyển 1)

Bắc Tề thư – Văn Tuyên Đế kỷ chép: “Thiên Bảo thứ 2 (551) Tháng 3, Thứ sử Giao châu là Lí Cảnh Thịnh, Thứ sử Lương châu là Mã Tung Nhân, Thứ sử Nghĩa châu là Hạ Hầu Trân Hiệp, Thứ sử Tân châu là Lí Hán của nhà Lương đều đem châu nội phụ” (Quyển 4)

Căn cứ vào ghi chép của các tài liệu người viết phỏng đoán rằng vào năm 547 Tư mã Trần Bá Tiên đánh giết Nam Việt đế (sau đó gửi tấu về Kiến Khang) người anh trai của Lí Bôn là Thiên Bảo rút vào Cửu Chân, hợp binh với Lí Thiệu Long đánh chiếm Đức châu, rồi tiến vây Ái châu, nhưng lại bị Tư mã đánh dẹp, Trần Bá Tiên tiếp tục gửi tấu về kinh đô (Trần thư, Cao Tổ kỉ, quyển 1). Vào tháng 3/548 bản tâu đầu về tới Kiến Khang, đến tháng 5/548 triều đình có chiếu lệnh xá tội cho 3 châu là Giao, Ái, Đức (xét trường hợp của Lý Khải và Nguyễn Tông Hiếu thì đều thấy chép “xá tội cho châu Giao” sau khi bị thứ sử Lý Tắc đánh dẹp) nên có thể đó là thời điểm mà bản tâu cuối được dâng lên hoàng đế (Lương thư, Vũ đế kỷ, quyển 3) từ đó chúng ta có thể ước chừng khoảng thời gian mà Thiên Bảo đánh giữ Đức Ái châu và cho Trần Bá Tiên làm Chấn viễn tướng quân, Tây Giang đốc hộ, Cao Yếu thái thú, giám sát quân sự của 7 quận (Trần thư, Cao tổ kỉ, quyển 1) mà Cao Yếu là một huyện thuộc quận Thương Ngô, xem thế thì Tư mã được điều về coi trấn tại Quảng Tây, còn chức Thứ sử Giao châu do Dương Phiêu (楊瞟) đảm trách (từ tháng 6/545 theo như ghi chép của Tư trị thông giám, Lương kỷ, quyển 159).

Vào tháng 8/548 Hầu Cảnh dẫn binh làm phản, tấn công phủ thành, đến tháng 5/549 Cao Tổ Tiêu Diễn chết (Lương thư, Vũ đế kỷ, quyển 3). Hầu Cảnh bèn lập Thái Tông Tiêu Cương lên làm hoàng đế (Lương thư, Giản Văn đế, quyển 4). Vào tháng 7/549 Trần Bá Tiên họp nghĩa binh tại Nam Hải, toan tiến về phía bắc để đánh Hầu Cảnh, đồng thời đón người trong tôn thất nhà Lương là Tiêu Bột mời trấn giữ Quảng châu (Trần thư, Cao Tổ kỷ, quyển 1). Đặc biệt là sự kiện vào tháng 1/550 Trần Bá Tiên được trao cho làm Minh Uy tướng quân, Giao châu thứ sử (Tư trị thông giám, Lương kỷ, quyển 163) thêm Viên ngoại tán kị thường thị, Trì tiết, Nam Dã huyện bá (Trần thư, Cao Tổ kỷ, quyển 1) cho chúng ta biết chức thứ sử châu Giao đang bị trống (bởi lẽ rất khó để giải thích vì sao triều đình lại phế truất người coi trị trên thực tế là Dương Phiêu để rồi thay vào đó kẻ trông quản từ xa là Bá Tiên và) vì Toàn thư cho biết Tư mã về bắc có ủy cho tì tướng là Dương Sàn (楊孱) giữ Giao châu, nhưng bị Triệu Việt vương giết chết (học giả K W Taylor trong Việt Nam khai quốc có nêu lên nghi vấn rằng Dương Sàn và Dương Phiêu có thể là một người nhưng bị lầm tên, bởi Thứ sử Giao châu cũng không được nhắc đến nữa).

Thứ nhất là theo ghi chép của Toàn thư thì Lí Bí người Thái Bình, Long Hưng nhưng Cương mục cho biết Thái Bình đặt thời Đường, Long Hưng đặt thời Trần nên Toàn thư theo đó mà truy gọi, nhưng lại thấy Việt điện u linh chép rằng thời Vũ đế nhà Lương, ở huyện Thái Bình thuộc Giao châu, có Lí Bôn gia tư hào hữu, vậy thì đã rõ Toàn thư biên chép trên cơ sở của Việt điện u linh. Thứ hai là dựa trên ghi chép của Tư trị thông giám – Lương thư – quyển 158 người viết muốn liên kết 2 thông tin là Lí Bí cũng Tinh Thiều trở về xóm làng mưu làm loạn (bí dữ thiều hoàn hương lý mưu tác loạn) và Lí Bí bấy giờ làm chức Giám ở Đức châu, để đặt giả thuyết Nam Việt đế người châu Đức (Nghệ Tĩnh). Thứ ba là theo ghi chép của Trần thư – Cao Tổ kỉ – quyển 1 thì sau khi thua tại động Khuất Lão, người anh trai của Lí Bôn là Thiên Bảo trốn về Cửu Chân cùng với Lí Thiệu Long thu thập được hơn 2 vạn quân để đánh chiếm Đức châu, rồi trở ngược ra bắc vây Ái châu, như thế rõ ràng Đức châu là đất bản bộ của họ Lí và theo ghi chép của Tư trị thông giám – Lương thư – quyển 158 thì vào tháng 4/543 Lâm Ấp vương tấn công Lí Bí, Bí sai tướng là Phạm Tu phá Lâm Ấp tại Cửu Đức.

Theo ghi chép của Tư trị thông giám – Lương kỉ – quyển 164 thì vào tháng 8/551 Hầu Cảnh phế Thái Tông làm Tấn An vương, giam tại Vĩnh Phúc và rước Dự Chương vương là Tiêu Đống lập làm hoàng đế, nhưng theo ghi chép của Bắc Tề thư – Văn Tuyên đế kỷ – quyển 4 thì từ tháng 3/551 Thứ sử Giao châu là Lí Cảnh Thịnh đã xin nội thuộc, lại thấy Tư trị thông giám – Lương kỉ – quyển 164 chép là Trần Bá Tiên được cử làm Giang châu thứ sứ vào tháng 2/551, vậy thì có thể phỏng đoán rằng khi Lương triều lấy người thế chức của Bá Tiên đã khiến Lí Cảnh Thịnh bất tuân, đồng thời mượn cớ qui phụ Bắc Tề mà chia tách làm xứ riêng và cũng chứng tỏ người đứng đầu Giao châu không phải đến từ phương bắc.

Trần thư – Hậu Chủ kỷ chép: “Chí Đức thứ 1 (583) Tháng 4, Thứ sử Giao Châu là Lí Ấu Vinh dâng voi thuần” (Quyển 6)

Tùy thư – Cao Tổ kỷ chép: “Khai Hoàng thứ 10 (590) Tháng 11, người Giao Chỉ là Lí Xuân tự xưng Đại đô đốc đánh hãm châu huyện” (Quyển 2)

Theo ghi chép của Trần thư – Hậu Chủ kỷ thì có lẽ sau khi nhà Trần được dựng năm 557 người đứng đầu Giao châu lại xin nội thuộc, năm 582 Tuyên đế chết, Trần Thúc Bảo kế, Hậu Chủ là người mê thơ văn yến tiệc, nên việc Thứ sử châu Giao dâng voi thuần hẳn là để chúc mừng. Còn theo Tùy thư – Cao Tổ kỷ thì vào tháng 8/590 Tùy Văn đế sai Tương Dương quận công là Vi Quang và Đông Lai quận công là Vương Cảnh cùng cầm cờ tiết đi vỗ về miền Lĩnh Nam, được nhiều người Bách Việt theo phục, nhưng có lẽ Lí Xuân ở Giao Chỉ không chịu qui thuận (sử sách không ghi chép nhiều về sự hiện diện của yếu tố phương bắc tại Giao châu khoảng thời gian này, vì thế có thể nghĩ rằng họ Lý đã nối tiếp nhau gìn giữ vùng đất phương nam).

Tuỳ thư – Lệnh Hồ Hy truyện chép: “Lệnh Hồ Hy phụng chiếu lệnh Giao châu cừ súy là Lý Phật Tử vào triều. Phật Tử muốn làm loạn, xin đến trọng đông mới lên đường. Hy ý muốn ràng buộc theo kiểu kimi nên đồng ý” (Ntxlt)

Lệnh Hồ sứ quân bi minh viết: “biêm thạch (thiếu 4 chữ) nhị niên bát nguyệt thập ngũ nhật (thiếu 1 chữ) ư vị xuân thu lục thập hữu tam” (Toàn Đường văn, quyển 137)

Theo như ghi chép của Tuỳ thư – Lệnh Hồ Hy truyện – quyển 56 thì triều đình lệnh cho Quế châu tổng quản Lệnh Hồ Hy triệu Lý Phật Tử vào triều, nhưng Giao châu soái xin đến tháng thứ 2 của mùa đông mới lên đường, Hy đồng ý nhưng cũng vì thế mà có kẻ gièm pha rằng Võ Khang quận công nhận hối lộ của Việt vương, nên hoàng đế có ý hồ nghi, đến lúc không thấy Lý vương sang chầu, Tùy Văn đế tức giận, sai người bắt giải Tổng quản về triều, nhưng đến Vĩnh châu, phẫn uất phát bệnh mà chết, thọ 63 tuổi. Lại theo, Bia mộ thì Lệnh Hồ Hy mất vào ngày 15 tháng 8 năm thứ hai (hẳn là) của niên hiệu Nhâm Thọ (602) thế thì thời điểm Giao châu soái xin được bắt đầu lên đường là vào tháng 11/601.

Tùy thư – Cao Tổ kỷ chép: “Nhân Thọ thứ 1 (601) Tháng 4, lấy Thứ sử Tích châu là Tô Hiếu Từ làm Tổng quản Hồng châu. Tháng 6, Tổng quản Hồng châu là Tô Hiếu Từ chết” (Quyển 2)

Tô Hiếu Từ mộ chí viết: “Bấy giờ Quế Bộ xâm nhiễu, Hữu Xuyên cát cứ, hạ chiếu trao chức Hành quân tổng quản đạo Giao châu cho ông, đang tiến hành chuẩn bị đánh dẹp nơi xa ngàn dặm thì mắc bệnh chết ở châu trị” (Ntxlt, chú thích 27)

Theo ghi chép của Tùy thư – Tô Hiếu Từ truyện – quyển 46 thì vào tháng 4/601 Tô Hiếu Từ được thăng lên chức Tổng quản Hồng châu, rồi gặp khi người Sơn Việt làm phản, triều đình bèn trao cho chức Hành quân tổng quản (đạo Giao châu) để đi đánh dẹp, nhưng chưa xuất quân thì chết (vào tháng 6/601) đã cho thấy rất rõ ý đồ của người phương bắc là muốn (nhân cuộc bình loạn tại Quế Lâm, rồi) tấn công Vạn Xuân, mà lẽ thường thì chiêu dụ trước, không được mới động binh.

Bài minh tháp xá lợi viết: “Đại Tùy niên hiệu Nhân Thọ nguyên niên (601) tháng 10 ngày 15. Vì sinh linh u hiển của tất cả các cõi pháp giới, Hoàng đế kính cẩn kiến tạo linh tháp, phụng an xá lợi tại chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao châu” (Ntxlt)

Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Pháp Hiền chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phúc, Tiên Du, người Châu Diên, họ Đỗ (…) Khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi tịch rồi, sư thẳng vào núi ấy, tu tập thiền định (…) Nhân đó sư lập chùa, Tăng chúng đến ở thường hơn ba trăm” (Ncvtuta, tr.281-282)

Theo ghi chép của Quảng hoằng minh tập – quyển 17 (Ntxlt) thì vào tháng 6/601 Tùy Văn đế ban chiếu lệnh đưa xá lợi tới 30 châu để dựng tháp, theo Minh tháp xá lợi thì vào tháng 10/601 có hai viên sứ là Đại đức Tuệ Nhã pháp sư và Lại bộ Vũ kị úy Khương Huy đến Giao châu đặt xá lợi[9] tại chùa Thiện Chúng thuộc huyện Long Biên, việc lựa chọn chùa Thiện Chúng hẳn do uy tín đương thời của Thiền sư Pháp Hiền và còn bởi ngài là đệ tử nối của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người từng được Tùy Văn đế sai dịch kinh sách (thiền sư Pháp Hiền ban đầu thọ giới Đại sư Quán Duyên của chùa Pháp Vân ở Thuận Thành, khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi từ Quảng Châu sang, Hiền theo Chi tu tập, năm 594 Chi tịch, thiền sư vào núi lập chùa, tăng chúng rất nhiều).

Tùy thư – Lưu Phương truyện chép: “Niên hiệu Nhân Thọ (601-604) gặp lúc người Lái ở Giao châu là Lí Phật Tử làm loạn, chiếm giữ thành cũ Việt Vương, sai con của anh trai là Đại Quyền giữ thành Long Biên (…) Hoàng thượng hạ chiếu lấy Lưu Phương làm Hành quân tổng quản đạo Giao châu, thống lĩnh 27 doanh tiến đánh” (Ant, tr.215-216)

Tùy thư – Cao Tổ kỷ chép: “Năm Nhân Thọ thứ 2 (602) Tháng 12, người Giao châu là Lí Phật Tử dấy binh phản, sai Hành quân tổng quản là Lưu Phương đánh dẹp” (Quyển 2)

Vào năm 602 Lý Phật Tử phát binh giữ châu chống lệnh triều đình, nhà Tùy cử Lưu Phương tiến đánh (theo Tiến sĩ Phạm Lê Huy thì Hành quân tổng quản đã mở lại tuyến đường của Mã Viện theo đó xuất phát từ Ung châu đi về phía tây nam 270 dặm thì đến Nhượng châu, sau đó đi tiếp 240 dặm thì đến Lộc châu đi tiếp 200 dặm thì đến Giao châu). Khi đến núi Đô Long, quân phương nam tới đánh nhưng thất bại, Phương dẫn quân tới trước thành Việt Vương, đem họa phúc ra dụ, Phật Tử bèn đầu hàng, liền bị đưa về phương bắc, còn những kẻ kiệt hiệt khác thì sợ về sau gây loạn nên đều chém cả.

Đất nước Việt Nam qua các đời viết: “Huyện Long Biên của nhà Tống chỉ có thể còn lại miền Từ Sơn, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh mà thôi” (Đnvnqcđ, tr.145)

Thiền uyển tập anh chép: “Vua Tùy sai sứ ban cho 5 hòm xá lợi của Phật cùng điệp sắc, sai Sư dựng tháp cúng dường. Sư xây tháp tại chùa Pháp vân ở Luy lâu và những chùa danh tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái” (Ncvtuta, tr.282)

Thời điểm Phật Tử giữ thành cũ của An Dương vương có sai cháu là Lí Đại Quyền giữ Long Biên, mà theo Thiền uyển tập anh thì chùa Chúng Thiện (với hơn ba trăm đệ tử) lại nằm trên núi Thiên Phúc huyện Tiên Du, rồi sau khi bình phương nam, theo lời tấu của Phương, Tùy Văn đế ban cho Giao Châu 5 hòm xá lợi, lệnh cho Pháp Hiền xây tháp để đặt, nên không khỏi nghi vấn rằng thiền sư có tham gia thuyết dụ (kể từ sau buổi đặt xá lợi) bởi ít nhiều thì tên gọi Phật Tử cũng cho biết vị thủ lĩnh đứng đầu Giao Châu là người mộ đạo, nên hẳn là ý kiến của danh sư cũng rất đáng lắng nghe.

Cựu Đường thư – Khâu Hòa truyện chép: “Cuối niên hiệu Đại Nghiệp (605-618) Khâu Hòa làm Thái thú Giao Chỉ, rất được lòng người man di (…) Vào lúc Tiêu Tiển bị dẹp, Hòa đem các quận miền nam theo về. Chiếu sai Lí Đạo Dụ đến trao tước Thượng trụ quốc, Đàm Quốc công, chức Tổng quản Giao châu” (Quyển 59)

Theo tác giả Phạm Lê Huy thì 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam do 3 viên quan thái thú nhà Tùy là Khâu Hòa, Lê Ngọc, Lý Tuấn trị quản[10], sau khi quy thuận nhà Đường thì Khâu Hòa được phong làm Giao châu Tổng quản vào tháng 2/622, Lý Tuấn được phong làm Nam Đức châu Tổng quản vào tháng 4/622 (quản 8 châu gồm Đức, Minh, Trí, Hoan, Lâm, Nguyên, Cảnh, Hải) đến tháng 8/622 Giao châu Tổng quản được nâng cấp thành Giao châu Đại tổng quản phủ (quản 10 châu gồm Giao, Phong, Ái, Tiên, Diên, Tống, Từ, Hiểm, Đạo, Long). Vào tháng 2/624 triều đình đổi Tổng quản phủ thành Đô đốc phủ, vì thế Giao châu Đại tổng quản phủ chuyển thành Giao châu Đại đô đốc phủ. Theo như tác giả K.W Taylor (trong Việt Nam khai quốc) thì miền nam tiếp xúc với miền bắc qua các làn sóng binh sĩ, quan lại, hoàng thân và cả những quan chức bị lưu đày, mà thông thường người càng bị tội nặng bao nhiêu thì càng bị đày xa xuống phương nam bấy nhiêu, đặc biệt tác giả lưu ý đến những người hành hương tấp nập theo chân các thương gia xuống tàu sang Java và Ấn Độ từ các cảng ở An Nam đô hộ phủ. Tuy vậy nhưng

Tư trị thông giám – Đường kỷ chép: “Trinh Quán thứ 2 (628) Tháng 10, Hoàng thượng (…) vời vào triều, rồi dụ rằng Giao Châu đã lâu không có người giỏi, cần khanh trấn phủ. Lư Tổ Thượng lạy tạ, nhưng lại hối, lấy cớ đau ốm mà từ” (Quyển 193)

Cựu Đường thư – Cao Tông kỷ chép: “Thượng Nguyên thứ 3 (676) Tháng 8, ra lệnh tuyển chọn người phương nam, cho làm chức quan tại châu Quảng, châu Giao, châu Kiềm” (Quyển 5)

Qua thông tin trên chúng ta thấy rằng bộ máy hành chính thiếu hụt nhân sự tại các châu huyện phương nam, triều đình buộc phải lấy người địa phương để bổ vào các chức vụ, đây cũng là việc dễ hiểu, bởi qua trường hợp của Lư Tổ Thượng thì rõ rằng người phương bắc không muốn làm quan tại phương nam, vì thế nó giải thích thêm cho lời than phiền của hoàng đế phương bắc rằng từ lâu Giao châu không có người giỏi trấn phủ. Theo tác giả Phạm Lê Huy thì Giao châu và Đức châu đã được tách ra khỏi hệ thống Đô đốc phủ, chuyển sang hệ thống Đô hộ phủ (đơn vị hành chính được thiết lập để cai quản các vùng biên phương) vào năm 679, nhưng rõ ràng là muộn hơn so với các Đô hộ phủ như An Tây (năm 640), An Bắc (năm 647), Thiền Vu (năm 650) và An Đông (năm 668) mà một phần nguyên nhân được tác giả K.W Taylor cho biết xuất phát từ sự quan ngại của triều đình về việc kiểm soát vùng biên giới sau cuộc chiến tranh với người Tây Tạng vào năm 678.

Tư trị thông giám – Đường kỷ chép: “Thuỳ Củng thứ 3 (687) Tháng 7, Lĩnh Nam Lí hộ nộp thuế theo lệ một nửa, Giao Chỉ đô hộ Lưu Diên Hựu bắt nộp hết, Lí hộ không theo, Diên Hựu giết người thủ lĩnh, đồng đảng là bọn Lí Tư Thận làm loạn, công phá An Nam phủ thành, giết Diên Hựu” (Quyển 204)

Tân Đường thư – Lưu Diên Hựu truyện chép: “Trước đây, các hộ người Lái chỉ nộp một nửa thuế hàng năm, Diên Hựu bắt phải nộp đủ, chúng bèn sinh lòng oán hận, mưu loạn. Diên Hựu giết tên thủ lĩnh là Lý Tự Tiên, nhưng dư đảng của chúng là bọn Đinh Kiến lại phản, họp quân chúng vây An Nam phủ” (Ant, tr.219)

Vào năm 684 Từ Kính Nghiệp khởi loạn chống lại Võ thái hậu nhưng thất bại, khi ấy Lưu Diên Hựu cầm cờ tiết đến quân và đã xử nhẹ cho đồng đảng của Nghiệp nên giúp được nhiều người bảo toàn, Hựu được thăng làm Thứ sử Cơ Châu, rồi chuyển làm An Nam đô hộ. Hàng năm các hộ người Lí chỉ phải nộp một nửa số thuế theo quy định và phía phủ đô hộ chấp nhận việc đó, nhưng rồi tháng 7/687 Đô hộ An Nam là Lưu Diên Hựu (nhậm chức chưa lâu) bắt các hộ người Lí phải nộp đủ số thuế, nhưng các hộ người Lí mà đứng đầu là Lí Tự Tiên không chịu, nên bị Diên Hựu giết, tháng 8/687 tướng của Tự Tiên là Lí Tư Thận và Đinh Kiến hợp binh tấn công phủ thành giết Hựu, chiếm giữ Giao Châu, triều đình cử Tào Huyền Tĩnh đi đánh dẹp. Qua việc các hộ người Lí được xếp vào nhóm di lão ở Lĩnh Nam và có chế độ thuế riêng biệt như quy định vào năm Võ Đức thứ bảy (624) mà Cựu Đường thư – Thực hóa thượng đã chép, rồi lại thêm họ có thể tập hợp đủ lực lượng để hạ thành và giết quan đô hộ, cho thấy người Lí rất có thế lực và không chịu bị cai trị hoàn toàn từ phía triều đình.

(A.4) AN NAM BINH LOẠN

* Đất nước Việt Nam qua các đời viết: “Trinh Quán thứ 2 (628) đặt Hoan Châu đô đốc phủ, lãnh 8 châu: Đức, Diễn, Minh, Trí, Lâm, Nguyên, Cảnh, Hải. Năm thứ 13 (639) bỏ 3 châu: Minh, Nguyên, Hải (…) Bỏ huyện Tương Ảnh. Năm thứ 16 (642) bỏ Diễn Châu” (Đnvnqcđ, tr.168,170)

Tân Đường thư – Thái Tông kỷ chép: “Trinh Quán thứ 12 (638) Tháng 11, người Sơn Liêu ở châu Minh làm phản, Đô đốc Giao châu Lý Đạo Ngạn đánh dẹp” (Quyển 2)

Theo tác giả Phạm Lê Huy trong Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường thì vào tháng 2/624 Nam Đức châu Tổng quản phủ được đổi thành Nam Đức châu Đô đốc phủ, năm 625 đổi thành Đức châu Đô đốc phủ, năm 627 đổi Đức châu thành Hoan châu, Hoan châu cũ thành Diễn châu. Đối chiếu hành chính giữa Hoan Châu với Giao Châu, Phong Châu, Ái Châu thì thấy rằng việc đặt bỏ[11] châu huyện những năm 639-642 là riêng có của Hoan Châu Đô đốc phủ, lại dựa vào ghi chép của Tân Đường thư chúng ta có thể đoán định rằng người Sơn Liêu ở châu Minh làm phản, Đô đốc Giao Châu đánh dẹp nhưng không được, nên đành phải phế châu Minh, người Sơn Liêu tiếp tục đánh chiếm các vùng lãnh thổ khác, lấy thêm được những châu huyện như Nguyên, Hải, Tương Ảnh. Nhà Đường mới dựng, Lâm Ấp thuần phục, liên tục cống sứ, cụ thể như các năm 623, 625, 630, 631 được chép lại trong Cựu Đường thư – Lâm Ấp truyện (Ant, tr.279) mà đặc biệt là sự kiện đặt châu Lâm vào năm 635 (Đất nước Việt Nam qua các đời, trang 172) nhưng sau cuộc bạo loạn của người Sơn Liêu ở châu Minh những năm 638-642 thì việc cống nạp của Lâm Ấp cho nhà Đường trở nên ít hơn, thực vậy cứ theo ghi chép của Tân Đường thư – Hoàn vương truyện (Ant, tr.282-283) thì từ những năm 650 đến những năm 756 chỉ có 3 lần sang cống.

Tân Đường thư – Dương Tư Húc truyện chép: “Đầu niên hiệu Khai Nguyên (713-741) cừ súy người man ở An Nam là Mai Thúc Loan làm phản, hiệu là Hắc Đế, dấy dân chúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm cứ Hải Nam, nói rằng quân có bốn mươi vạn. Tư Húc xin đi đánh (…) cùng An Nam đại đô hộ Quang Sở Khách theo đường cũ của Mã Viện, bất ngờ tiến sang, quân giặc hốt hoảng, không kịp mưu tính bị đại bại” (Ant, tr.220)

Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập – Hương Lãm Mai đế ký chép: “Vua bèn đem quân chiếm Châu Thành, chia quân đóng giữ. Quần thần đến mừng, đều xin lên ngôi báu. Vua bèn lên ngôi ở phía nam Hương Lãm, tự cho mình thuộc nước thủy, xưng là Hắc Đế. Đó là năm Quý Sửu mùa hạ tháng tư vào thời Đường Huyền Tông niên hiệu Khai Nguyên thứ nhất” (Vđul, tr.149)

Trên cơ sở so sánh đối chiếu giữa các tài liệu với Hương Lãm Mai đế ký tác giả Phan Huy Lê xác nhận[12] cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan bùng nổ vào năm 713 và về cơ bản bị thất bại cuối năm 722, tuy nhiên tác giả Lê Mạnh Chiến cho rằng[13] truyện mà Chư Cát thị bổ sung không hề có giá trị, người viết cũng đồng quan điểm vì Hương Lãm Mai đế ký ra đời rất muộn.

Mộ chí Bùi Trụ Tiên viết: “Thiên tử tiếc cho tiền đồ (của Bùi Trụ Tiên) mời về kinh sư, phong làm Tả kim ngô tướng quân. Không lâu sau, An Nam làm phản, biên cương cấp báo. (Triều đình) bèn phong thêm cho công chức Vân Huy tướng quân kiêm Quảng Châu đô đốc, tiến phong Dực Thành huyện nam. Công mặc giáp cầm quân, băng núi vượt bể, bẻ gãy mối họa ở bến Ô Lôi, đưa sứ giả vào hang Mã Viện, giết phản chiêu an, khải hoàn rút quân” (Lats, tr.113)

Cảnh Tinh tự bi minh viết: “Nay quan đô đốc tên là Sở Khách người quận Lạc An (…) lại nhậm chức Triều tán đại phu, giữ Ung Châu đô đốc trưởng sử, không lâu sau thăng lên chức Kiểm hiệu đô đốc Ung Châu, kiêm thêm nhiệm vụ mở lại con đường cổ của Mã Viện (khai mã viện cổ lộ sứ) chuyển tới phía bắc (bắc chuyển) làm An Nam phó đô hộ, Hạ châu thứ sử” (Toàn Đường văn, quyển 238)

Trong luận án Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường tác giả Phạm Lê Huy dựa vào sách Tập dị ký được trích trong Thái Bình quảng ký để xác định Bùi Trụ Tiên (?) làm Đô đốc Quảng Châu năm Khai Nguyên thứ bảy (719) nhưng chính Mộ chí lại cho biết không lâu sau thời điểm có mặt tại kinh sư thì An Nam làm phản và vì thế triều đình bèn lấy luôn Tả kim ngô tướng quân làm Đô đốc Quảng Châu (Theo Tân Đường thư – Bùi Viêm truyện – quyển 117 thì khi Viêm chết con là Trụ Tiên bị đày đi Lĩnh Nam, lúc Trung Tông nắm quyền trở lại (705-710) đã trao cho Tiên chức Thái tử chiêm sự thừa, rồi thăng làm Tần châu đô đốc, Quế châu đô đốc và Quảng châu đô đốc. Như vậy việc Tả kim ngô tướng quân được cử đi dẹp loạn có thể bắt nguồn từ việc trước đây ngài đã từng giữ chức Đô đốc Quế Châu, nói cách khác Trụ Tiên là người có kinh nghiệm về phương nam). Các bộ sách chép về Quang Sở Khách vào thời điểm đánh dẹp Hắc Đế đều để là An Nam (đại) đô hộ nhưng vào thời điểm kiêm chức Mã Viện cổ lộ sứ thì đang làm Đô đốc Ung châu, người viết phỏng đoán rằng sau khi khai thông được con đường cũ của Phục Ba thì Sở Khách được (chuyển về phía bắc Ung Châu để) làm Thứ sử Hạ Châu, kiêm nhiệm chức An Nam phó đô hộ, qua những sự kiện này chúng ta thấy có vẻ như vào năm 716 (thời điểm lập bia chùa Cảnh Tinh – Lats, tr.29) chưa xuất hiện loạn tại An Nam. Ngoài ra người viết còn thấy hai sự kiện nữa gồm: Thứ nhất là Cựu Đường thư – Huyền Tông kỷ – quyển 8 chép rằng vào tháng mười hai của năm Khai Nguyên thứ hai (714) lấy Hữu uy vệ trung lang tướng Chu Khánh Lập làm An Nam thị bạch sứ, chức này hẳn cũng giống Mã Viện cổ lộ sứ, chỉ mang tính thời vụ, mà Bạch (舶) có nghĩa là thuyền lớn, còn Thị (市) có nghĩa là nơi mua bán, như thế cho thấy triều đình quan tâm tới cả những hoạt động buôn bán của các tuyến đường biển tại An Nam, sự kiện này cũng gián tiếp cho thấy tại phương nam chưa xuất hiện loạn. Thứ hai là Đường hội yếu – Chân Lạp quốc – quyển 98 chép rằng vào niên hiệu Khai Nguyên thứ năm (717) sai sứ đến cống, mà theo như các bộ sử thì Mai Thúc Loan đã liên kết với Chân Lạp, Lâm Ấp, Kim Lân để chiếm cứ vùng biển phía nam Khâm Châu, nên việc dấy binh thường phải xảy ra cùng hoặc sau thời điểm cống sứ, mà cũng thật trùng hợp khi Quảng Châu đô đốc Chân công bi (Toàn Đường văn, quyển 227) cho biết Quảng Châu đô đốc kiêm Lĩnh Nam án sát năm phủ, Kinh lược thảo kích sứ Chân Đản mất vào tháng 7/717. Lại thấy thời điểm Trụ Tiên được triệu về kinh sư thì An Nam chưa làm phản, nhưng không lâu sau thì biến cố xảy ra và chắc chắn Tả kim ngô tướng quân phải được trao chức Quảng châu đô đốc sau khi Chân Đản đã chết, nhưng cũng thật khó để nghĩ rằng triều đình bỏ khuyết người lĩnh chức ấy trong một thời gian dài, do đó mà người viết phỏng đoán rằng loạn An Nam xảy ra không lâu sau thời điểm Chân Đản mất (hoặc có thể nghĩ rằng cái chết của Quảng châu Đô đốc kiêm Lĩnh Nam án sát 5 phủ trong đó có An Nam, đã tác động đến quyết định khởi binh của Mai Hắc đế). Chúng ta thấy rằng khi Mai Thúc Loan khởi nghĩa thì không thấy sách sử chép đến vị Đô hộ An Nam, rồi vị Phó đô hộ Sở Khách thì lưu tại Hạ châu và coi trị từ xa, thực rất khó hiểu? Theo Cựu Đường thư – Đại Tông kỉ – quyển 11 thì vào tháng 7/767 lấy Hàng châu thứ sử Trương Bá Nghi làm An Nam đô hộ, tháng 4/777 lấy tiền Thương châu thứ sử Ô Sùng Phúc làm An Nam đô hộ, bản doanh Kinh lược sứ, theo Tư trị thông giám – quyển 227 thì vào tháng 7/782 Diễn châu tư mã Lí Mạnh Thu (Lí Tuấn năm 622, Lí Thiên Bảo năm 548) khởi binh làm phản, tự xưng là An Nam tiết độ sứ, An Nam đô hộ Phụ Lương Giao đánh giết được, theo Cựu Đường thư – Đức Tông hạ kỉ – quyển 13 thì vào tháng 1/788 lấy Cát châu thứ sử Trương Đình làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược sứ, tháng 3/789 lấy Tư châu thứ sử Bàng Phục làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược sứ.

* Cương mục chép: “Lời chua: Xét Đường thư, Bản kỷ, đời Đức Tông, năm Trinh Nguyên thứ 7 [791] chỉ chép rằng tù trưởng An Nam là Đỗ Anh Hàn làm phản, chứ không chép việc Phùng Hưng” (Cm, tr.191-192)

Theo ghi chép của Toàn thư thì vào tháng 4/791 người Đường Lâm là Phùng Hưng dùng kế của người cùng làng là Đỗ Anh Hàn đem quân vây phủ thành, khiến Đô hộ Cao Chính Bình lo lắng mà chết, sau đó Đô Quân vào đóng ở phủ trị, chưa được bao lâu thì mất, con là Phùng An tôn xưng làm Bố Cái đại vương, nhưng Cương mục lại cho biết Cựu Đường thư chép vị thủ lĩnh của đám nổi loạn là Đỗ Anh Hàn và không thấy chép về Phùng Hưng, rồi ngay cả các sách phương nam sớm hơn Toàn thư như Việt sử lược cũng không thấy chép, còn An Nam chí lược thì chỉ nhắc đến Đỗ Anh Hàn.

Toàn thư chép: “Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây phủ đô hộ (…) Mùa thu tháng 7 ngày canh thìn, nhà Đường lấy Triệu Xương làm Đô hộ. Xương vào cõi, lòng dân bèn yên. Xương sai sứ dụ An, An đem quân hàng” (Tt, tr.191)

Việt điện u linh tập – Truyện Bố Cái đại vương viết: “Theo sách Giao Châu ký của Triệu vương thì Vương họ Phùng tên Hưng, nhân loạn bèn theo kế của Đỗ Anh Luân đem quân đi tuần các châu Đường Lâm, Trường, Phong các nơi ai nấy đều theo (…) Đô hộ là Cao Chính Bình đem quân dưới trướng đến đánh họ Phùng không nổi, tức giận thành bệnh mà chết. Vương vào Đô hộ phủ coi việc được 7 năm thì mất, con là An nối nghiệp được 2 năm (…) Vương vừa mới mất đã hiển linh, mọi người cho là thần, lập đền ở phía tây Đô phủ mà thờ cúng” (Vđul, tr.45-46)

So sánh đối chiếu giữa ghi chép của Toàn thư và Việt điện u linh thì dễ dàng nhận ra sự giống nhau, đặc biệt là việc hiển linh của Bố Cái đại vương, do vậy người viết ngờ rằng Toàn thư đã sử dụng Việt điện u linh làm tài liệu để biên sử, lại thấy tác giả Lý Tế Xuyên sử dụng một tài liệu (còn phổ biến dưới thời Trần) là Giao Châu ký của Triệu công, được nhiều học giả cho rằng ngài chính là Đô hộ Triệu Xương, vì thế mà Giao Châu ký đáng tin, tuy nhiên

Cương mục chép: “Lời chua: Có lẽ vì ở cách xa nước ta, nên không rõ có việc Phùng Hưng” (Cm, tr.191-192)

Tân Đường thư – Triệu Xương truyện chép: “Triệu Xương ở [An Nam] 10 năm, bị bệnh ở chân xin về (…) Đức Tông vời Xương vào hỏi sự tình, khi ấy Xương tuổi đã hơn 70, vẫn đối đáp tinh minh, đế lấy làm lạ” (Ant, tr.222)

Quốc sử quán triều Nguyễn cho rằng sử quan phương bắc ở xa nên không rõ các việc tại phương nam, nhưng không đúng vì Triệu Xương là người được cử đến An Nam sau khi Đô hộ Cao Chính Bình chết, không lẽ lại không nắm rõ tình hình phương nam sao, lại thêm tuy Hồng Tộ tuổi cao nhưng trí còn minh mẫn, đối đáp tinh minh, thì không thể nào có chuyện người phương bắc không rõ về cuộc nổi loạn năm 791 được.

Tư trị thông giám – Đường kỷ chép: “Trinh Nguyên thứ 7 [791] An Nam Đô hộ Cao Chính Bình đánh thuế nặng. Mùa hạ tháng 4, bọn quần Man tù trưởng Đỗ Anh Hàn khởi binh vây đô hộ phủ. Chính Bình lo lắng mà chết. Quần man nghe tin đó đều hàng” (Tlanttđ, tr.54)

Sự xuất hiện của địa danh Đường Lâm có thể bắt nguồn từ nhân vật Phùng Hưng, nhưng khi đã xác nhận Đỗ Anh Hàn là người đứng đầu cuộc nội loạn thì địa điểm nổi dậy cũng theo đó mà xác định lại, tuy Việt điện u linh cho biết Anh Hàn là người cùng làng với Bố Cái, nhưng người viết dựa vào những nghiên cứu[14] về họ Đỗ thời thuộc Đường của tác giả Phạm Lê Huy mà cho rằng Anh Hàn người Trường châu và cũng rất trùng hợp khi mà chính Việt điện u linh chép là Phùng Hưng đem binh đi tuần tại Đường Lâm, Phong Châu và Trường Châu. Trong Đất nước Việt Nam qua các đời của học giả Đào Duy Anh cho biết Trường châu do nhà Đường đặt nhưng không rõ từ khi nào, đến năm 742 thì đổi làm quận Văn Dương, rồi năm 758 đổi lại làm Trường châu, như thế rõ ràng là trong hệ thống hành chính thì Trường châu là một quận mới, nên người viết cho rằng có thể Cao Chính Bình đã thay đổi chính sách thuế, tương tự như Đô hộ Lưu Diên Hựu năm 687, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của hào trưởng Trường châu là Đỗ Anh Hàn.

Đường hội yếu (quyển 73) chép: “An Nam La thành trước đây do Kinh lược sứ Trương Bá Nghi đắp. Khi đó, trăm họ giống như giặc cướp (thành) chỉ cao có mấy thước, lại rất chật hẹp” (Tlanttđ, tr.48)

Theo như Cựu Đường thư – Đại Tông kỷ – quyển 11 thì năm 767 Trương Bá Nghi được phong làm Đô hộ An Nam, theo Đường hội yếu thì khi Bá Nghi đến thì trăm họ tại đó đã như giặc cướp rồi, theo Toàn thư (mục năm 791) thì nhân loạn niên hiệu Đại Lịch (766-779) Phùng Hưng tự chủ Đường Lâm. Theo Cương mục thì Phùng Hưng chiếm được phủ lị, còn theo Toàn thư thì sau khi Bố Cái mất, con là Phùng An kế nghiệp giữ phủ đô hộ. Tuy nhiên người viết thấy Cựu Đường thư – Lý Cảo truyện – quyển 112 có chép rằng (Lý Phục làm Thứ sử Quảng Châu, kiêm Ngự sử đại phu, Lĩnh Nam tiết độ quan sát sứ thì gặp) lúc An Nam kinh lược sứ Trương Đình, Cao Chính Bình nối nhau chết (nguyên văn là Cao Chính Bình, Trương Ứng nối nhau chết – người viết đồng thuận với tác giả Phạm Lê Huy rằng Cựu Đường thư chép nhầm Đình thành Ứng và đảo lộn thứ tự) đám thuộc hạ là Lý Nguyên Độ (lại thêm những nhân vật họ Lý có tư tưởng chống đối phủ đô hộ) và Hồ Hoài Nghĩa ngăn cản quan binh, nhũng loạn châu huyện, mà thấy Chính Bình chết lúc Anh Hàn vây phủ đô hộ, xem thế thì Lý Nguyên Độ phải nhũng loạn châu huyện ít nhất là cùng thời điểm với việc người di lão vây phủ thành (tác giả Phạm Lê Huy cho biết hệ (3) văn bản Đường Lâm Phùng Hưng kí, trong đó có thần tích phường Quảng Bá năm 1681 chép rằng Hồ Hoài Nghĩa và Lã Nguyên Khánh nhận được sự ủng hộ của Phùng Hưng) lại thêm qua việc Hồ Hoài Nghĩa bị Lý Phục phải dụ giết đi thì có thể phỏng đoán kịch bản như sau: Đỗ Anh Hàn dẫn binh vây đánh phủ khiến An Nam đô hộ chết, sau đó người man di thoái rút (đúng như ghi chép khó hiểu của Tư trị thông giám – Đường kỷ – quyển 233 rằng sau khi quần man nghe tin Đô hộ Cao Chính Bình chết thì đều hàng, người viết thấy nên hiểu ngữ cảnh này là man di rút lui không còn vây phủ nữa) nhân thành không có chủ, đám thuộc hạ bèn tự giữ (nên cũng rất đáng ngờ về cái chết của Chính Bình, có khi do đám thuộc hạ gây ra bởi một cách mờ ám, cũng không loại trừ một liên minh giữa thuộc hạ của đô hộ phủ với thổ hào man di). Biết được tin ấy nên Lý Phục bèn cử binh đến toan ổn định tình hình (Tân Đường thư – Tông thất truyện – quyển 78 chép là khi được tin Lý Nguyên Độ và Hồ Hoài Nghĩa uy hiếp châu huyện thì Lý Phục cử binh tới) thì bị ngăn trở, nên đành dụ Hoài Nghĩa mà giết đi, rồi tấu về triều đình xin lưu đày Nguyên Độ (Tân Đường thư thì bỏ chữ Tấu chỉ để chữ Lưu, người viết không rõ tác giả chép cụ thể hay là chép lược bỏ, nói cách khác chưa xác định được Nguyên Độ có thực sự bị đi đày không) nhưng hẳn là phủ thành phải do quan lại triều đình nắm giữ thì Triệu Xương mới có thể đến chiêu dụ một cách dễ dàng.

Tân Đường thư – Đức Tông kỷ chép: “Trinh Nguyên thứ 7 [791] Tháng 4, An Nam thủ lĩnh Đỗ Anh Hàn phản. Giết” (Tlanttđ, tr.54)

Man thư (quyển 9) chép: “Thần (Phàn Xước) trộm biết, cố An Nam tiền Tiết độ sứ Triệu Xương, sửa sang việc Giao Chỉ tổng cộng 13 năm, đến nay vẫn để lại lòng ái ngưỡng nơi các bậc bô lão, làm cho trong cõi vô sự. Khi đó (Triệu Xương) lấy Đô áp nha Đỗ Anh Sách làm Chiêu thảo phó sứ, nhập viện phán án, mỗi tháng cấp cho lương tiền 70 quan” (Lats, tr.46)

Khác với cách đánh dẹp cuộc nổi loạn của Đinh Kiến và Hắc Đế, triều đình cử Triệu Xương đến phương nam chiêu dụ, việc thành, người man di đã hướng theo giáo hóa, nhưng trong hoàn cảnh ấy, hẳn Đô hộ không mạo hiểm giết vị thủ lĩnh của đám người nổi loạn như Tân Đường thư chép, bởi thấy trong thời gian coi trị Đô hộ Triệu Xương không xâm phạm quyền lợi của các thổ hào phương nam, nên dân chúng ái ngưỡng, trong cõi vô sự. Chẳng những hòa thuận với các thổ hào mà Triệu Xương còn tích cực thực thi chính sách tuyển người bản địa bổ vào các chức quan của triều đình. Vị Chiêu thảo phó sứ Đỗ Anh Sách có vai trò rất quan trọng[15] tại Đô hộ phủ, không chỉ dưới thời Triệu Xương mà còn dưới thời Đô hộ Trương Chu và Bùi Hành Lập, vị Đô áp nha có họ và tên đệm giống với thủ lĩnh của cuộc nổi loạn năm 791, người viết cho rằng Sách và Hàn cùng gia tộc. Theo Cựu Đường thư – Đức Tông hạ kỉ – quyển 13 thì vào tháng 5/802 lấy Từ bộ viên ngoại lang Bùi Thái làm Kiểm hiệu binh bộ lang trung, sung An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược sứ (tháng 2/803 An Nam kinh lược sứ Bùi Thái bị tướng trong châu là Vương Quý Nguyên trục xuất) tháng 3/804 lấy Quốc tử tế tửu Triệu Xương làm An Nam đô hộ, Ngự sử đại phu, bản quản Kinh lược sử, theo Cựu Đường thư – Thuận Tông, Hiến Tông thượng – quyển 14 thì vào tháng 3/806 lấy An Nam kinh lược phó sứ Trương Chu làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược sứ, tháng 7/810 lấy Kiền châu thứ sử Mã Tổng làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược sứ, Cựu Đường thư – Hiến Tông hạ – quyển 15 thì vào tháng 7/813 lấy Giang châu thứ sử Trương Mẫn làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược chiêu thảo sứ, tháng 8 lấy Kỳ châu thứ sử Bùi Hành Lập làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược chiêu thảo sứ.

* Cựu Đường thư – Lý Tượng Cổ truyện chép: “Nguyên Hoà thứ 14 (819) Lý Tượng Cổ bị Dương Thanh giết, vợ con và bộ khúc không ai sống nổi. Dương Thanh mấy đời làm tù hào phương nam. Lý Tượng Cổ tham lam phóng túng, lòng người không theo. Lại sợ thế lực của Thanh, đưa Thanh từ chức Hoan Châu thứ sử về làm nha môn tướng. Thanh trong lòng u uất không vui. Không lâu sau giặc Hoàng gia ở Ung Quản làm phản, triều đình chiếu cho Tượng Cổ phát binh mấy đạo đánh dẹp. Tượng Cổ lệnh cho Dương Thanh dẫn 3000 quân đến. Thanh cùng con là Chí Liệt và người thân tín là Đỗ Sĩ Giao bày mưu làm phản, ban đêm tập kích An Nam, được mấy ngày thành bị hạ. Tượng Cổ do đó bị hại. Triều đình lệnh cho Thứ sử Đường châu là Quế Trọng Võ làm Đô hộ, vừa chiêu dụ xá tội cho Thanh, cho làm Thứ sử Quỳnh châu. Trọng Võ đến biên giới, Thanh không cho vào. Thanh câu thúc thủ hạ, hình phạt khắc nghiệt, người dưới không biết nhờ đâu sống được. Trọng Võ sai người chiêu dụ bọn tù hào, được mất tháng nối nhau qui phụ, quân lính hàng tới hơn 7000 người, thu lại được thành, chém Thanh và con là Chí Trinh, tịch biên hết gia sản. Chí Liệt và Sĩ Giao thua trận, giữ đất Tạc Khê ở Trường Châu, sau bị truy đuổi phải đem quân lính dưới quyền ra hàng” (Kndt, tr.24)

Tư trị thông giám – Đường kỷ chép: “Nguyên Hòa thứ 14 (819) Mùa đông tháng 10, Dung quản tấu: An Nam tặc là Dương Thanh hạ Đô hộ phủ, giết Đô hộ Lý Tượng Cổ và vợ con, quan thuộc, bộ khúc hơn 1000 người” (Lats, tr.126)

Đô hộ Lý Tượng Cổ lo sợ liên minh giữa Tù hào Thứ sử Hoan Châu với các nước phía nam nên đã đưa Dương Thanh về làm nha môn tướng và khi tại phía bắc An Nam những hoạt động quân sự của Quế Quản quan sát sứ Bùi Hành Lập không hiệu quả khiến Man Hoàng Động càng lớn mạnh, triều đình bèn lệnh cho Tượng Cổ phát binh đánh dẹp, nhưng thay vì cử bộ tướng thân tín từ phương bắc là Lý Hội Xương đem quân đi thì Đô hộ lệnh cho Thứ sử Hoan Châu dẫn quân đến đánh, nếu kế thành công[16] thì cả Man Hoàng Động và Dương Thanh đều cùng thiệt hại, nhưng Tù hào Hoàn Châu đã bàn mưu với người thân tín tên là Sĩ Giao họ Đỗ (lại khi thua trận con của Thanh là Chí Liệt cùng Sĩ Giao lui về giữ đất Tạc Khê thuộc Trường Châu, nên ngờ rằng Sĩ Giao cùng tôn tộc với Anh Hàn, Anh Sách) liên kết với người Man, nhân đêm đánh úp phủ thành. Khi dẫn quân đến Thứ sử Hoan Châu có 3000 người, nhưng khi Quế Trọng Võ dụ thì đám người ra hàng lên đến 7000 người, người viết cho rằng các tù hào Giao Châu vốn bất mãn với chính sách của Tượng Cổ (qua mô tả thì thấy vị tân đô hộ là kẻ tham lam, muốn kìm các hào trưởng) nên khi Dương Thanh đề nghị liên kết cùng tấn công phủ thành thì họ đã chấp thuận, ngoài ra theo tác giả Phạm Lê Huy số quân biên chế tại phủ thành An Nam thông thường vào khoảng 4200 người, mà như ghi chép của sử liệu thì có khoảng hơn 1000 lính đã bị giết, như vậy có thể nghĩ rằng trong đám người mở cổng thành ra hàng có tàn quân của Đô hộ.

Sách phủ nguyên qui (quyển 434) chép: “Quế Trọng Võ làm An Nam Đô hộ. Tháng 6 năm Nguyên Hòa thứ 15 (820) tấu: ngày 29 tháng 3 thu hồi An Nam, xử trí xong bọn tặc đảng Dương Thanh. Ngày giáp tuất tháng 8, Trọng Võ gửi thủ cấp của phản tướng Dương Thanh đến trạm dịch Trường Lạc” (Lats, tr.131)

Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường viết: “Mộ chí Lý Hội Xương cũng cho biết: sau khi lệnh vua đánh dẹp đã xong (vương mệnh khắc thông) người thân của Lý Hội Xương cũng đã tổ chức tìm hài cốt nhưng không thành công, cuối cùng đành làm lễ chiêu hồn hơn 10 ngày bên bờ sông rồi quay về phương bắc. Rõ ràng điều này chỉ có thể thực hiện sau khi quân Đường đã tái chiếm được phủ thành An Nam” (Lats, tr.133)

Mộ chí Lý Hội Xương viết: “Trạm Thanh là giặc của quốc gia, em chưa thể báo thù được cho anh” (Lats, tr.122)

Theo ghi chép của Toàn thư thì vào năm 819 Quế Trọng Võ đánh Dương Thanh nhưng không thắng, Thanh bèn vào trong người Man Lạo làm loạn, sau lại cướp phá phủ thành, Đô hộ Lý Nguyên Gia đánh cũng không được, đến năm 828 Đô hộ Hàn Ước còn bị Dương Thanh đuổi, phải chạy về Quảng Châu, nhưng tác giả Phạm Lê Huy cho rằng nhiều khả năng soạn giả của Toàn thư đã ngộ nhận sự kiện An Nam quân loạn dưới thời Đô hộ Hàn Ước xảy ra vào tháng 9/828, mà cả Cựu – Tân Đường thư đều có chép, tuy nhiên người viết thấy thứ nhất là vì sao thời điểm Quế Trọng Võ dâng bản tấu lên triều đình vào tháng 6/820 (tâu việc đã chém được đầu của cha con Dương Thanh vào tháng 3/820) lại không trùng với thời điểm thủ cấp của một người được cho là Dương Thanh được gửi về Trường An vào tháng 8/820 (chẳng phải gửi kèm sẽ làm tăng độ xác tín sao) và thứ hai qua thông tin “vương mệnh khắc thông” chúng ta có thể phỏng đoán văn bản của mộ chí phải được soạn sau tháng 3/820 (thời điểm đã tái chiếm được phủ thành) nhưng nếu thế thì tại sao nghĩa đệ Lý Phùng lại viết là chưa thể báo thù được cho anh, vì vậy xin theo Ngô Thì Sĩ tạm để tồn nghi.

Theo Cựu Đường thư – Văn Tông hạ kỉ – quyển 17 hạ thì vào tháng 10/831 lấy tiền Miên châu thứ sử Trịnh Xước làm An Nam đô hộ; tháng 5/833 lấy tiền Cùng châu thứ sử Lưu Mân làm An Nam đô hộ; tháng 12/834 lấy Lệ châu thứ sử Hàn Oai làm An Nam đô hộ; tháng 1/835 lấy tiền Lệ châu thứ sử Điền Tảo làm An Nam đô hộ; tháng 9/836 lấy Nhiêu châu thứ sử Mã Thực làm An Nam đô hộ (tác giả Phạm Lê Huy trong Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường cho biết Đường hội yếu – quyển 73 có chép bản tấu của An Nam đô hộ Mã Thực đề tháng 11/839 rằng An Nam kinh lược áp nha kiêm Đô tri binh mã sứ Đỗ Tồn Thành kế nghiệp từ đời tổ phụ cai quản 4 hương, đinh khẩu phú thuế có khác so với các quận). Theo Tư trị thông giám thì vào tháng 11/843 An Nam kinh lược sứ Vũ Hồn sai khiến tướng sĩ sửa thành, tướng sĩ làm loạn, đốt lầu thành, cướp kho phủ, Hồn chạy về Quảng châu, Giám quân Đoàn Sĩ Tắc dụ yên mọi người làm loạn (quyển 247); tháng 9/846 người Man (Vân Nam) xâm lấn An Nam, Kinh lược sứ Bùi Nguyên Dụ xuất các đạo binh lân cận đánh dẹp (quyển 248); tháng 4/857 lấy Hữu thiên ngưu đại tướng quân Tống Nhai làm An Nam, Ung Quản tuyên uỷ sứ, tháng 5 lấy Nhai làm An Nam kinh lược sứ, tháng 6 lấy Nhai làm Dung quản kinh lược sứ (quyển 249). Theo Cựu Đường thư – Tuyên Tông kỉ – quyển 18 hạ thì vào tháng 1/858 lấy An Nam bản quản kinh lược chiêu thảo xử trí sứ, Triều tán đại phu, Kiểm hiệu tả tán kỵ thường thị, An Nam đô hộ, Ngự sử đại phu, Tứ tử kim ngư đại Lý Hoằng Phủ làm Tông chính khanh; lấy Triều tán đại phu, Thủ Khang vương phó phân ti đông đô, Thượng trụ quốc, Tập nguỵ quận khai quốc công, thực ấp hai ngàn hộ, Tứ tử kim ngư đại Vương Thức làm An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử trung thừa, sung An Nam bản quản Kinh lược chiêu thảo xử trí đẳng sứ. Theo Tân Đường thư – Ý Tông, Hy Tông bản kỉ 9 thì vào tháng 10/860 An Nam đô hộ Lý Hộ đánh đất Bá Châu, tháng 12 người Man (Vân Nam) xâm lấn An Nam (tác giả Phạm Lê Huy trong Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường cho biết Man thủ lĩnh, Ái châu thứ sử kiêm Thổ quân binh mã sứ Đỗ Tồn Thành bị An Nam đô hộ Lý Trác giết, con trai là Đỗ Thủ Trừng kế nghiệp, nhưng bị An Nam đô hộ Lý Hộ sát hại nên tông đảng họ Đỗ liên kết với Nam Chiếu công chiếm An Nam đô hộ phủ, Lý Hộ chạy đến Vũ Châu, tập hợp thổ quân, chiếm lại Đô hộ phủ). Theo Tư trị thông giám thì vào tháng 6/861 lấy Diễm châu phòng ngự sử Vương Khoan làm An Nam kinh lược sứ; tháng 2/862 Nam Chiếu trở lại xâm lấn An Nam, Kinh lược sứ Vương Khoan lại báo lên gấp, triều đình lấy tiền Hồ Nam quan sát sứ Sái Tập thay, tháng 11 Nam Chiếu thống lĩnh 5 vạn quần man đánh chiếm An Nam, Đô hộ Sái Tập cấp báo; tháng 6/863 bỏ An Nam đô hộ phủ, đặt Hành Giao Châu tại Hải Môn trấn, lấy Hữu giám môn tướng quân Tống Nhung làm Hành Giao Châu thứ sử, lấy Khang Thừa Huấn kiêm lĩnh An Nam cập chư quân hành doanh, tháng 7 đặt lại An Nam đô hộ phủ tại Hành Giao Châu, lấy Tống Nhung làm Kinh lược sứ; tháng 7/864 lấy Cao Biền làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược chiêu thảo sứ; năm 866 Biền đại phá man Nam Chiếu tại Giao Chỉ, đặt Tĩnh Hải quân tại An Nam, lấy Cao Biền làm Tiết độ sứ (quyển 250); tháng 8/868 lấy tiền Tĩnh Hải tiết độ sử Cao Biền làm Hữu kim ngô đại tướng quân, Biền xin lấy cháu họ là Cao Tầm thay giữ Giao Chỉ, triều đình thuận theo (quyển 251).

(B.5) TĨNH HẢI QUÂN KHÚC THỪA DỤ

Cựu Đường thư – Hi Tông kỷ chép: “Càn Phù thứ 6 (879) Tháng 4, Hoàng Sào hãm Quế Quản. Tháng 5, Hoàng Sào hãm Quảng châu, cướp lấy các quận ấp miền Lĩnh Nam” (Quyển 19 hạ)

Cựu Đường thư – Hoàng Sào truyện chép: “Quảng Minh thứ 1 (880) trở về phía bắc, vượt dãy Ngũ Lĩnh, xâm phạm Hồ, Tương, Giang, Chiết” (Quyển 200 hạ)

Tư trị thông giám – Đường kỉ chép: “Quảng Minh thứ 1 (880) Mùa xuân tháng 3, An Nam có quân loạn, Tiết độ sứ (Tĩnh Hải quân) là Tăng Cổn ra ngoài thành để tránh quân ấy” (Quyển 253)

Theo ghi chép của Cương mục và Tân Đường thư thì Lĩnh Nam (đạo) trước chia làm 5 quản gồm Quảng, Quế, Dung, Ung và An Nam. Sau chia thành Đông đạo (có Thiều, Quảng, Khang, Đoan, Phong, Ngô, Đằng, La, Lôi, Nhai) Tây đạo (có Quế, Liễu, Uất Lâm, Phú, Chiêu, Mông, Cung, La (?) Tú, Dung, Bạch) và An Nam đô hộ phủ. Vào tháng 5/879 Hoàng Sào tấn công Quảng Châu, sát hại Lĩnh Nam đông đạo Tiết độ sứ Lí Điều, làm cho sức mạnh và uy quyền của nhà Đường tại Lĩnh Nam bị giảm sút, do ảnh hưởng bởi biến động rất lớn ấy tại An Nam vào tháng 3/880 quân lính làm phản, buộc Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành ra ngoài, rồi

Tư trị thông giám – Đường kỉ chép: “Mùa hạ tháng 6 (880) Lư Huề, Đậu Lư Trác bẩm: Nay An Nam tử thành bị quân lính làm phản chiếm giữ, Tiết độ sứ đánh mà chưa hạ được, lính thú còn lại phần nhiều tự quay về, quân lính đóng giữ miền Ung Quản lại giảm hơn nửa” (Quyển 253)

Tân Đường thư – Nam Chiếu truyện chép: “Nam Chiếu biết Thục mạnh, cho nên đánh An Nam, chiếm được, Đô hộ Tăng Cổn chạy đến Ung phủ, thú binh tan vỡ” (Quyển 222)

Tiết độ sứ tập hợp quan binh (còn lại) đánh tử thành nhưng không thắng, lâu dần đám lính thú phần nhiều tự bỏ về, nên Tăng Cổn đành đến Ung châu, trong khi quân khách tại miền Ung quản lại giảm đến hơn nửa (Theo Tân Đường thư – Hi Tông kỉ và Đặng Xử Nột truyện thì vào tháng 12/881 tướng đóng giữ tại An Nam là Mẫn Húc cùng lính phòng thu Đặng Xử Nột trở về, đến Đàm châu đuổi Quan sát sứ Hồ Nam là Lí Dụ, tự xưng làm Lưu hậu; Tư trị thông giám – Đường kỉ – Quyển 255 thì vào tháng 9/882 Quế châu có quân loạn, đuổi Tiết độ sứ Trương Tùng Huấn, nên triều đình lấy Dung quản Kinh lược sứ trước đây là Thôi Trác làm Lĩnh Nam tây đạo Tiết độ sứ).

Cửu quốc chí – Nguy Toàn Phúng truyện chép: “Cuối những năm Càn Phù (878-879) quê nhà có loạn cướp, Nguy Toàn Phúng bèn tụ họp những người trẻ tuổi cùng huyện lập nên quân doanh (…) Bấy giờ Đô hộ An Nam là Tạ Triệu vâng chiếu an phủ miền Giang Lĩnh (Giang Nam và Lĩnh Nam) nghe tin ấy mà khen Phúng, bổ Phúng làm tướng để đánh dẹp, lại dâng biểu xin tiến cử làm quan chức”.

Thụ An Hữu Quyền An Nam Tiết độ sứ chế viết: “Rồi thì gắn bó với ven biển, nơi nối liền xứ Việt” (乃眷海隅地聯越俗) (Toàn Đường văn, quyển 821)

Cựu Đường thư – Chiêu Tông kỉ chép: “Mùa xuân, tháng 1 năm Thiên Phục thứ nhất (901) ngày ất dậu, chiếu lấy Tôn Đức Chiêu làm Kiểm hiệu Ti không, sung Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ (…) ngày canh dần, chiếu lấy Tôn Đức Chiêu làm An Nam tiết độ, Kiểm hiệu Thái bảo” (Quyển 20 thượng)

Theo Cửu quốc chí thì vào cuối nhưng năm Càn Phù, Tạ Triệu đã là An Nam đô hộ, nhưng nếu giữ Giao Chỉ thì sao có thể phủ yên Giang Nam được, nên Tạ Triệu làm Đô hộ An Nam chỉ là trên danh nghĩa. Chúng ta thấy, tuy có lời chiếu trao cho An Hữu Quyền làm Tiết độ sứ, nhưng qua việc triều đình cho Tôn Đức Chiêu kiêm nhiệm chức Tiết độ sứ, trong khi trên thực tế Kiểm hiểu thái bảo không đến An Nam, do đó chúng ta có thể nghĩ rằng nhà Đường đã mất kiểm soát Tĩnh Hải (Theo Tư trị thông giám – Đường kỉ – Quyển 262 thì ngày canh dần tháng 1/901 triều đình lấy Chu Thừa Hối làm Lĩnh Nam tây đạo Tiết độ sứ cùng Tôn Đức Chiêu ở lại làm Túc vệ, được mười ngày cho trở về nhà).

Tư trị thông giám – Đường kỉ chép: “Thiên Hựu thứ 2 (905) Tháng 2, lấy Tiết độ sứ An Nam, Đồng bình chương sự là Chu Toàn Dục làm Thái sư, cho về nghỉ. Toàn Dục là anh của Toàn Trung, ngu đần không có tài năng, lúc trước lĩnh chức ở An Nam, đến đây Toàn Trung tự xin bãi nhiệm” (Quyển 265)

Tân Ngũ đại sử – Lương gia nhân truyện: “Thái Tổ (Chu Toàn Trung) đã được quý trọng, Chu Toàn Dục bèn cùng với mẹ về ở Tuyên Vũ, lĩnh chức Lĩnh Nam tây đạo Tiết độ sứ” (Quyển 13)

Tư trị thông giám – Đường kỉ chép: “Thiên Hựu thứ 2 (905) Tháng 3, lấy Môn hạ thị lang là Độc Cô Tổn làm Đồng bình chương sự, sung thêm Tiết độ sứ Tĩnh Hải (…) Mùa hạ tháng 5, biếm Độc Cô Tổn làm Thứ sử Lệ châu” (Quyển 265)

Có sự sai khác giữa ghi chép của Tư trị thông giám và Tân ngũ đại sử về chức tước của Chu Toàn Dục, giả như Tư trị thông giám chép đúng thì người anh trai của Thái tổ nhà Lương cũng không kiểm soát được An Nam như kì vọng (người viết ngờ rằng Chu Toàn Dục không đến trị sở) còn Độc Cô Tổn thì rõ ràng là nhận chức Tiết độ sứ Tĩnh Hải trên danh nghĩa, chứ chưa từng đặt chân đến xứ ấy.   

Tân Đường thư – Hoàng Sào liệt truyện chép: “Sào hãm Quế Quản, đến cướp Quảng châu, gửi thư cho Tiết độ sứ là Lí Điều dâng biểu xin làm Tiết độ sứ Thiên Bình [triều đình] không cho. Sào lại xin làm Đô hộ An Nam, Tiết độ sứ Quảng châu” (Quyển 225 hạ)

Thấy rằng ban đầu quân lính tại An Nam làm loạn, buộc Tiết độ sứ Tăng Cổn phải chạy về Ung phủ, kế đến những vị được phong chức Tĩnh Hải tiết độ sứ lại chỉ làm trên danh nghĩa, chứ đối với xứ Giao Châu thực không dấu vết (dẫu biết chức tước tại An Nam không thể làm trên thực tế, song các vị vẫn xin và vẫn nhận, ấy là bởi họ cần một chức danh chính thống từ triều đình để cát cứ và đánh dẹp các vùng đất) nên phủ thành vẫn do đám quân loạn chiếm giữ.

Tư trị thông giám – Đường kỉ (quyển 265) chép: “Thiên Hựu thứ 3 (906) Mùa xuân tháng 1 ngày ất sửu, phong thêm cho Tiết độ sứ Tĩnh Hải (quân) là Khúc Thừa Dụ làm Đồng bình chương sự”. Hồ Tam Tỉnh chú: “Khúc Thừa Dụ nhân loạn chiếm được An Nam” (曲承裕乘亂據有安南)

Tiền biên chép: “Bính Dần (906) Mùa xuân tháng giêng, cho Tĩnh Hải quân tiết độ sứ là Khúc Thừa Hựu chức Đồng bình chương sự. Trước đây Giao châu loạn, Tiết độ là Tăng Cổn bỏ thành chạy về bắc. Thừa Hựu vốn là thổ hào, tự xưng là Tiết độ, rồi xin mệnh với nhà Đường, vua Đường nhân đó trao cho chức ấy” (Tb, tr.135)

Như thế là trước tháng 1/906 Khúc Thừa Dụ đã được triều đình nhà Đường chính thức phong làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân và hẳn là phải sau thời điểm Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị đổi làm Thứ sử Lệ châu. Kể từ sự kiện Tăng Cổn đánh tử thành thì thấy sử sách chép khá ít thông tin về An Nam và không đề cập đến cuộc xung đột nào nữa nên hẳn biến loạn mà sử gia đời Nguyên là Hồ Tam Tỉnh nêu trong lời chú là mô tả sự kiện năm 880, còn sử gia Ngô Thì Sĩ cho biết rõ nhân Tăng Cổn bỏ thành, hào trưởng Hồng châu là Khúc Thừa Hựu bèn tự xưng Tiết độ, coi trị việc Giao Châu.

Tư trị thông giám – Hậu Lương kỉ chép: “Khai Bình thứ 1 (907) Mùa thu tháng 7 ngày giáp ngọ, Tiết độ sứ Tĩnh Hải là Khúc (Thừa) Dụ chết, ngày bính thân, lấy con giữ chức quyền tri lưu hậu là Hạo làm Tiết độ sứ” (Quyển 266)

Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia chép: “Cuối đời Đường, Nam Hải loạn lạc sau cùng. Sau đời Hy Tông (873-888) các đại thần ra trấn ở ngoài, vì cớ thiên hạ đều loạn lạc, không thể đi đâu được, duy chỉ có thể đến Nam Hải mà thôi, từ Lưu Ẩn mới bắt đầu cũng tự lập. Bấy giờ, Khúc Hạo ở Giao Châu, Lưu Sĩ Chính ở Quế Châu, Diệp Quảng Lược ở Ung Châu, Bàng Cự Chiêu ở Dung Châu cùng chia nhau chiếm cứ các đất cai quản” (Ant, tr.232)

Thấy rằng thứ nhất đám lính làm loạn có thể buộc Tiết độ sứ phải bỏ thành, lại có thể chống giữ được trước cuộc tấn công của Tăng Cổn thì thế lực nào tại Tĩnh Hải quân có thể đánh dẹp được đám đó, thứ hai Tân Ngũ đại sử thừa nhận họ Khúc chiếm giữ Giao châu, việc đó cho thấy Thừa Dụ có thực quyền và được tái khẳng định thông qua sự kiện triều đình ban chức Tiết độ sứ, thứ ba sau khoảng thời gian ngắn được gia phong chức Đồng bình chương sự thì Khúc Thừa Dụ mất, con trai đã trưởng thành là Hạo nối, vậy thì chứng tỏ Thừa Dụ cũng nhiều tuổi, nên đặt giả thuyết[17] rằng Khúc Thừa Dụ là người đã tổ chức cuộc binh biến chiếm giữ phủ đô hộ vào tháng 3/880.

Theo ghi chép của Cửu Ngũ đại sử – Thái tổ kỉ 3 thì vào tháng 6/907 thì Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Khúc Dụ chết, đến tháng 7/907 lấy Tĩnh Hải quân Hành doanh ti mã Quyền tri lưu hậu Khúc Hạo làm An Nam đô hộ kiêm Tiết độ sứ. Theo Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia – quyển 65 thì vào năm 908 cho Tiết độ sứ Thanh Hải là Lưu Ẩn kiêm Tĩnh Hải quân Tiết độ, An Nam đô hộ (thế rõ rằng Khúc Hạo đã bị tước mất quyền quản lí nên những hoạt động như chia đặt các xứ, đặt chức lệnh trưởng, chia thuế ruộng đất được Tiền biên chép dựa trên Dã sử cần quan sát dưới góc độ thụ động, nói cách khác sự kiện trên có thể khiến những thế lực tại Tĩnh Hải mượn cớ để bất tuân họ Khúc nên việc chia đặt các xứ, đặt chức lệnh trưởng là cấp thiết để duy trì quyền lực). Theo Tư trị thông giám – quyển 268 thì vào tháng 3/911 Thanh Hải Tĩnh Hải Tiết độ sứ kiêm Trung thư lệnh Nam Bình vương Lưu Ẩn ốm nên dâng biểu xin cho em là Tiết độ phó sứ Lưu Nham giữ Quyền tri lưu hậu, đến tháng 5/911 lấy Thanh Hải lưu hậu Lưu Nham làm Tiết độ sứ. Người viết phỏng đoán rằng nhân việc Tiết độ sứ Lưu Ẩn mất, vào tháng 12/911 An Nam lưỡng sứ Khúc Mỹ bèn tự xưng Lưu hậu Tĩnh Hải, rồi sai người tiến cống Lương triều (Cửu Ngũ đại sử – Thái tổ kỉ 6) nên được phong làm Tiết độ sứ vào tháng 12/911 (Tư trị thông giám – quyển 268). Điểm đáng chú ý là tại sao người tự xưng lưu hậu không phải là Khúc Hạo (An Nam chí nguyên cho biết ngài thay Độc Cô Tổn làm Tiết độ sứ được 4 năm thì mất, nếu lấy thời điểm Cô Tổn bị biếm thì Khúc Hạo mất năm 908, nếu lấy thời điểm được giữ chức An Nam đô hộ thì ngài mất vào năm 910) người viết ngờ rằng Khúc Hạo đã quản lí được Tĩnh Hải vài năm (908-911) mà không cần dựa vào phương bắc nên những chức tước từ họ chỉ có giá trị dự phòng, nếu thế thì thật khó để nghĩ rằng ngài đã xưng Tiết độ sứ (như ghi chép của sử phương nam) mà rất có thể cha con Đinh Bộ Lĩnh đã mô phỏng lại. 

Theo ghi chép của Tư trị thông giám – quyển 270 thì vào tháng 8/917 Thanh Hải, Kiến Vũ Tiết độ sứ Lưu Nham lên ngôi hoàng đế tại Phiên Ngu, theo Toàn thư (và An Nam chí lược) thì Khúc Hạo sai con là Thừa Mỹ làm Hoan hảo sứ sang Quảng châu để dò xét thực hư (nhưng Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia – quyển 65 lại không thấy chép đến sự kiện quan trọng này) và ngài mất vào năm 917 (còn An Nam chí lược cho biết Khúc Hạo mất sau thời điểm Lưu Nham lên ngôi và trước năm 919). Theo ghi chép của Cửu Ngũ đại sử – Lưu Trắc tiếm ngụy truyện – quyển 135 thì đến khi Lương Mạt đế lên ngôi bèn lấy chức tước của Lưu Ẩn trao cho Lưu Trắc, trước đây có thổ hào Giao Châu là Khúc Thừa Mỹ chiếm giữ đất, dâng lễ vật cho nhà Lương, nhân đó trao cho mao việt, như thế thì việc trao mao việt phải được thực hiện trước năm 913, nhưng Tống sử – Giao Chỉ truyện – quyển 448 lại chép là trong niên hiệu Trinh Minh của nhà Lương (915-921) thổ hào Khúc Thừa Mỹ chiếm giữ đất, dâng lễ vật cho Mạt đế, nhân đó trao cho Thừa Mỹ tiết việt (còn Toàn thư thì chép rõ là năm 919) lại thêm theo Cửu Ngũ đại sử – Mạt đế kỉ trung thì vào tháng 10/919 triều đình lấy Tiết độ sứ An Nam Tĩnh Hải, Kiểm hiệu tư đồ Khúc Mỹ làm Kiểm hiệu thái bảo, Đồng bình chương sự, nên người viết chưa rõ việc trao mao tiết được thực hiện vào năm 911 hay 919, nói cách khác việc trao thêm chức quyền cho đất Giao là do phương nam xin hay chủ ý của phương bắc, bởi thấy Tư trị thông giám – quyển 270 có chép là vào tháng 9/919 Lương triều ban chiếu trừ bỏ quan tước của Lưu Nham, đồng thời lệnh cho Ngô Việt vương đánh dẹp và tuy nhận mệnh nhưng Tiền Lưu không thực hiện (người việt cũng chưa rõ chức Kiểm hiệu tư đồ được ban thời điểm nào). Theo ghi chép của Tư trị thông giám – quyển 277 thì vào tháng 9/930 Nam Hán sai tướng Lương Khắc Trinh và Lý Thủ Phu đánh Giao Châu chiếm được, bắt Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân Khúc Thừa Mỹ đem về, lấy tướng là Lý Tiến giữ Giao Châu (còn Tiền biên sao chép lại của Toàn thư thì cho biết sự kiện diễn ra vào tháng 7/923, nhưng mà sách ấy cũng như Việt sử tiêu án có chép thêm câu “họ Khúc truyền 3 đời bắt đầu từ năm canh tí (880) đến hết năm canh dần (930) tổng cộng 51 năm” thế rõ là Ngô Thì Sĩ đã đồng thuận với các biên soạn của Tư Mã Quang, trong khi những ghi chép lại thể hiện điều trái ngược, người viết chưa xác định được diễn biến của hiện tượng thú vị này). Theo ghi chép của Tư trị thông giám – quyển 277 thì vào tháng 12/931 tướng của Ái Châu là Dương Đình Nghệ cử binh bao vây Giao Châu, chúa Hán sai Trình Bảo đem binh cứu, chưa đến thành đã bị hãm, Tiến bỏ trốn về bị chúa Hán giết, Bảo vây Giao Châu, Đình Nghệ ra đánh, Bảo thua chết.  

(B.6) NGÔ GIA XƯNG VƯƠNG

Tư trị thông giám – Hậu Tấn kỷ chép: “Thiên Phúc thứ 2 (937) Tháng 3, Giao Châu tướng Kiều Công Tiễn giết An Nam Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ rồi thay (…) Thiên Phúc thứ 3 (938) Tháng 10, tướng cũ của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền từ Ái châu cử binh đánh Công Tiễn tại Giao Châu, Công Tiễn sai sứ sang cầu cứu nhà Nam Hán” (Quyển 281)

Toàn thư chép: “Giáp Thìn [944] Lê Văn Hưu nói: Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo” (Lê Văn Hưu viết: Tiền Ngô Vương năng dĩ ngã Việt sở tập chi binh, phá Lưu Hoằng Thao bách vạn chi chúng) (Tt, tr.204)

Theo như ghi chép của Tư trị thông giám thì từ tháng 3/937 Kiều Công Tiễn đã giết An Nam tiết độ sứ là Dương Đình Nghệ, nhưng phải đến khoảng tháng 10/938 (Cương mục chép là mùa thu tháng 9) thì nha tướng của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền mới đem quân từ Ái Châu ra đánh Công Tiễn, tính ra cũng khoảng 20 tháng nhưng vì sao lại có sự chậm trễ? Chúng ta thấy sử gia Lê Văn Hưu có chép việc Ngô Quyền tập hợp quân binh, qua đó cho thấy vào thời điểm Công Tiễn giết Đình Nghệ thì Ngô Quyền chưa có nhiều binh lính, vì thế người viết phỏng đoán rằng khi xảy ra sự biến Phong Châu thứ sử làm phản, giết Tiết độ sứ, chiếm giữ đô hộ phủ, thì Tướng quân Ngô Quyền thoái chạy về Ái Châu, rồi tập hợp quân binh, tấn công Giao Châu.

Toàn thư chép: “Mậu Tuất [938] Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến (…) bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển. Khi nước triều lên, Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên, Quyền bèn tiến quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. Quân Hoằng Tháo không kịp sắp xếp thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nửa” (Tt, tr.203)

Dựa vào ghi chép của Toàn thư chúng ta thấy bãi cọc chỉ được đóng ở hai bên bờ sông và có nhiệm vụ khống chế chiến thuyền, qua việc quân phương nam đem thuyền ra khiêu chiến để nhử Hoành Thao thì có vẻ như Vạn vương cũng rất thận trọng, không vội tiến vào Giao Châu, mà án ngữ tại cửa Bạch Đằng, thấy thuyền chiến của phương nam nhỏ, Hồng Tháo xuất quân tiến đánh, khi vừa qua bãi cọc thì quân của Ngô Quyền đổ ra đánh và theo như mô tả thì cuộc chiến rất khốc liệt, trong lúc quân của Hoằng Tháo phải vất vả chống cự thì thủy triều rút nhanh, tạo ra dòng chảy mạnh, kéo chiến thuyền của quân Nam Hán về phía cửa sông, bãi cọc hình thoải dần nhô lên, nên khi chạm vào đáy của thuyền thì khiến nó mất cân bằng mà lật đổ, do giữa sông không đóng cọc nên non nửa số thuyền thoát được, người viết cho rằng Ngô vương không chỉ đóng có hai bãi cọc, mà có thể còn đóng nhiều bãi cọc có khoảng cách nhất định ở hai bên mé sông.

Toàn thư chép: “Canh Tuất [950] Đi đến Từ Liêm, Xương Văn ung dung bảo hai sứ rằng: đức của Tiên vương ta thấm khắp lòng dân, phàm chính lệnh ban ra không ai không vui lòng nghe theo” (Tt, tr.206)

Việt sử lược chép: “Tiền Ngô vương húy là Quyền họ Ngô, là con Tiên Phủ. Ngô Quyền thờ Dương Đình Nghệ, làm chức Tướng quân” (Vsl, tr.47)

Thiền uyển tập anh chép: “Đại sư Khuông Việt người Cát Lợi, họ Ngô, thuộc dòng dõi Ngô Thuận đế” (Ncvtuta, tr.204)

Thứ nhất là dựa vào bài minh được khắc trên chuông Nhật Tảo (Chữ trên đá chữ trên đồng minh văn và lịch sử, trang 72) có viết rằng: thôn Hạ Từ Liêm huyện Giao Chỉ vào ngày 29 tháng 4 năm Mậu Thân niên hiệu Càn Hòa thứ 6 (9/6/948) đã chứng tỏ Tĩnh Hải quân (thời bấy giờ) sử dụng niên hiệu của Nam Hán, nói cách khác nó xác thực thông tin Ngô Quyền chưa đặt niên hiệu như ghi chép của Toàn thư mục năm 944, nên Ngô sử gia cho biết Tướng quân mới chỉ xưng vương mà chưa lên ngôi đế là rất khả tín. Thứ hai là theo tác giả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì khi xét kỹ nội dung của Thiền uyển tập anh, có thể thấy rằng sách ấy không phải do một người biên tập, mà do nhiều người biên tập và có nhiều dữ liệu khiến chúng ta nghĩ rằng chính thiền sư Thông Biện là người bắt đầu việc ghi chép biên tập. Lại thấy, Đại sư Khuông Việt là thế hệ thứ 4 của dòng Vô Ngôn Thông mất năm 1011, còn Quốc sư Thông Biện là thế hệ thứ 8 của dòng Vô Ngôn Thông mất năm 1134, như thế hai vị thiền sư sống cách nhau khoảng 100 năm, hơn nữa Chân Lưu là vị đại sư rất nổi tiếng, vì thế mà những thông tin chép về ngài trong Thiền uyển tập anh là có thể tin được. Thứ ba là Toàn thư chép rằng việc nhân đức đã thấm vào dân chúng, những chính lệnh ban ra đều được mọi người vui vẻ tuân theo, nên người viết cho rằng Ngô Quyền xưng là Thuận vương (đời sau tôn tụng lên thành Thuận đế) và vì vậy (theo như Thiền uyển tập anh thì) Tướng quân là người Cát Lợi[18].

Chúng ta thấy Việt sử lược chép rằng Ngô Quyền là con của Tiên Phủ, như thế có nghĩa thân phụ của ngài đã chết và từng làm quan, dựa vào chữ Phủ cùng với việc người phương bắc biết rõ về Ngô Quyền (thông qua đánh giá là kẻ kiệt hiệt) người viết phỏng đoán rằng đó có thể là chức quan trong Đô hộ phủ (qua trường hợp của Kiều Công Tiễn, vốn giữ chức Thứ sử Phong Châu, nhưng sau khi Dương Đình Nghệ đuổi Lý Tiến thì ngài trở thành nha tướng của Đô hộ phủ, người viết ngờ rằng Ngô Quyền cũng được giữ chức Tướng quân, sau khi Ái châu nhân tự xưng Tiết độ sứ và hẳn là ngài có tham gia cuộc chiến năm 931). Theo ghi chép của sử phương nam thì vào năm 944 Thuận vương mất (Nhật Tảo cổ chung minh cho biết vào năm giáp thìn hai phái Đạo và Nho trong hội Vô pháp môn chung nhau góp tiền vẽ một bức tranh Thái thượng tam tôn và làm sáu chiếc phướn thứ quan, nhưng rõ ràng là chưa đủ cơ sở để khẳng định nó liên quan tới đám tang của Thuận vương) gia thần Dương Chủ Tướng (cũng là anh vợ của ngài) tự lập làm Bình vương, con trưởng của Ngô Quyền là Xương Ngập sợ hãi bèn chạy về Trà Hương trú ở nhà Phạm Lệnh Công, Chủ Tướng lấy em của Xương Ngập là Xương Văn làm con. Theo như lời bàn của sử gia Lê Văn Hưu (Tt, tr.206) thì Dương Bình vương có ban cho con là Xương Văn thực ấp, nhưng đất phong ấy ở đâu? Toàn thư cho biết vào năm 950 Xương Văn được lệnh đi đánh dẹp 2 thôn Đường Nguyễn ở Thái Bình, nhưng khi đến Từ Liêm vào thời điểm thông báo ý định làm phản với 2 bộ tướng của Bình vương, ngài tỏ thần thái thung dung nên người viết ngờ rằng Từ Liêm là ấp phong của Xương Văn. (Dẫu Tây Hồ chí có chép rằng[19] chùa Khai Quốc được dựng từ thời Tiền Lý nhưng lại không liệt kê vị trụ trì nào trong suốt 350 năm, đó là việc rất khó hiểu, lại thêm Khai Quốc (開國) có nghĩa là Mở Nước, mà theo Toàn thư thì vào năm 939 Ngô Quyền bắt đầu xưng vương, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, khiến sử gia phải bình rằng chính thống của nước Việt ta ngõ hầu đã nối lại được, vì thế người viết cho rằng chùa Khai Quốc có tên từ thời Thuận vương, do thiền sư Vân Phong (người Vĩnh Khương) tu bổ theo chủ trương của Cổ Loa).

Toàn thư chép: “Tân Hợi [951] Nam Tấn sai sứ đi đón anh là Xương Ngập về Kinh sư, cùng trông coi việc nước. Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương (…) Bấy giờ Thiên Sách Vương chuyên quyền làm uy, Nam Tấn Vương không được dự chính sự nữa. Hai vương do đó hiềm khích với nhau” (Tt, tr.207)

Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia chép: “Năm thứ 12 (954) Xương Ngập chết, em là Xương Tuấn lập, mới bắt đầu xưng thần với Thạnh. Thạnh sai Cấp sự trung Lý Dư đem cờ tinh, cờ tiết đến mời. Dư tới Bạch Châu, Tuấn sai người ngăn Dư lại nói: cướp biển đang làm loạn, đường xá không giao thông được. Dư bèn không đi được” (Ant, tr.204)

Theo ghi chép của Toàn thư thì vào năm 950, Xương Văn đánh úp và phế Bình vương làm Chương Dương công, rồi tự xưng là Nam Tấn vương, đến năm 951 thì đón anh là Xương Ngập về cùng coi việc nước, nhưng Thiên Sách vương chuyên quyền, không cho Nam Tấn vương dự chính sự, nên anh em xảy ra hiềm khích (lại thấy trước đó vào năm 945 Dương Chủ Tướng có sai chỉ huy sứ là Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đem quân đến nhà Lệnh Công đòi bắt Xương Ngập, tất cả tới 3 lần nhưng đều không được, qua đó cho thấy họ Phạm miền biển cũng rất thế lực, dám chống đối với Bình vương) mà đám cướp biển làm loạn, khiến cho đường xá không thông là bọn nào, chúng không sợ Cổ Loa đã đành, nhưng không lẽ lại không sợ gia tộc họ Phạm sao, việc chúng làm đường xá không thông chứng tỏ cuộc nổi loạn rất nghiêm trọng, chứ không phải là mấy vụ cướp lẻ tẻ, nên người viết cho rằng đám cướp biển chính là gia tộc họ Phạm nổi loạn chống đối Cổ Loa vì ngờ Nam Tấn vương có liên quan tới cái chết của Ngô Xương Ngập (do đó phỏng đoán rằng thân mẫu của Thiên Sách vương người họ Phạm, còn mẹ của Xương Văn người họ Dương, lấy Ngô Quyền khoảng những năm 931). Theo Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia thì từ thời Ngô Quyền (938) đến thời Xương Ngập (954) gồm 16 năm, phương nam không sai sứ sang phương bắc (Tống sử – Giao Chỉ truyện còn cho biết Dương Đình Nghệ và Thiệu Hồng đều nhận Quảng Nam thự, nối tiếp nhau làm Giao Chỉ tiết độ sứ, do vậy có thể nghĩ rằng Thiệu Hồng là Kiều Công Tiễn) thì vì sao đến thời Xương Văn lại cử sứ sang chầu, lại thêm vào năm 950 nếu có ý định xưng thần, xin tiết việt thì sao Nam Tấn vương không sang chầu thời điểm đó, có thể sau cái chết của Thiên Sách vương, tình hình Giao Châu trở nên phức tạp, Xương Văn không còn kiểm soát được, phía tây thì có giặc thôn Đường Nguyễn, phía nam thì có Đinh Bộ Lĩnh không giữ phận bề tôi, phía đông có họ Phạm làm cướp biển, nên Nam Tấn vương cần được trao sự uy quyền mới bao trùm cõi Giao và phương bắc có cái Xương Văn muốn (chúng ta thấy rằng Dương Chủ Tướng xưng là Bình vương, Xương Văn xưng là Nam Tấn vương, hẳn những hiệu tự xưng đều có liên hệ với tước hiệu của nhà Nam Hán, lại thêm đối chiếu giữa Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia với Toàn thư thì thấy Nam Bình vương Lưu Ẩn là anh trai của Nam Hải vương Lưu Nham, còn Dương Tam Kha là anh vợ của Ngô Quyền; Lưu Nham chết trao ngôi cho con là Tần vương Hồng Độ, Tần vương cho em là Tấn vương Hồng Hy làm phụ chính, còn Nam Tấn vương Xương Văn sau khi được ngôi, bèn đón anh là Thiên Sách vương Xương Ngập về kinh sư cùng coi triều chính; Tấn vương Hồng Hy giết anh trai là Tần vương Hồng Độ để cướp ngôi, còn Thiên Sách vương chuyên quyền không cho Nam Tấn vương tham dự triều chính nên anh em xảy ra hiềm khích, kết cục Xương Ngập chết, Xương Văn lại nắm quyền).  

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Càn Đức nguyên niên (963) Tĩnh Hải tiết độ sứ Ngô Xương Văn chết (…) Đinh Bộ Lĩnh tự lập, xưng Vạn Thắng vương, lấy Liễn làm Tĩnh Hải tiết độ sứ, sai sứ báo cho Nam Hán. Thập quốc kỷ niên: Đinh Bộ Lĩnh tự xưng Văn Thắng vương, lấy con làm Tĩnh Hải tiết độ sứ, báo cho Nam Hán, là chuyện năm Càn Đức thứ 3 (965) nay chép gom vào đây” (Quyển 4)

Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia chép: “Đại Bảo năm thứ 8 (965) Ngô Xương Văn ở Giao châu chết, tướng là Lã Xử Bình cùng Phong Châu thứ sử Kiều Tri Hưu tranh nhau tự lập, Giao Chỉ đại loạn. Đinh Liễn ở Hoan châu cử binh đánh dẹp được. Sưởng trao cho Liễn làm Giao Châu tiết độ” (Ant, tr.242)

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Đầu niên hiệu Càn Đức (963-968) Xương Văn chết, bọn Tham mưu Ngô Xử Bình, Phong châu Thứ sử Kiểu Tri Hộ, Vũ Ninh châu Thứ sử Dương Huy, Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc tranh nhau tự lập. Mười hai châu trong địa hạt đại loạn, bộ dân hò nhau tụ tập, nổi lên làm giặc, đánh phá Giao Châu (…) Bộ Lĩnh cùng con là Liễn đem quân đánh bại bọn Xử Bình, đảng giặc tan vỡ, trong địa bàn đều yên, dân Giao Châu cho là có ơn đức, bèn suy tôn Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng vương, đặt con trai là Liễn làm Tiết độ sứ. Được 3 năm thì nhượng vị cho Liễn. Liễn lập được 7 năm, nghe tin Lĩnh Biểu đã bình định, bèn sai sứ đến cống phương vật, dâng biểu nội phụ” (Ant, tr.22)

Toàn thư chép: “Đinh Mão [967] Con em của Ngô tiên chúa ở Đỗ Động giang hơn 500 người đến đánh, vừa vào đến đất Ô Man thì bị người làng là Ngô phó sứ đánh bại, phải trở về. Bộ Lĩnh nghe tin, liền cất quân đi đánh vùng sông và động của chúng, các bộ lạc đều hàng, từ đó lại dân ở kinh phủ đều theo về” (Tt, tr.209)

Tiền biên chép: “Xét thấy Thập quốc chí chép: Đinh Bộ Lĩnh và con là Liễn đánh bại bọn Xử Bình, bọn giặc tan vỡ, trong cõi yên ổn, dân bộ yêu mến suy tôn ông làm Giao Châu súy, ở đây chép là đánh Ngô phó sứ, ắt là Xử Bình không còn nghi ngờ gì nữa, mà Tiên Hoàng dẹp được 12 sứ quân, trận này là trận cơ bản, sử không chép rõ đấy thôi” (Tb, tr.148)

Vốn sách Thập quốc kỷ niên chép sự kiện Đinh Bộ Lĩnh báo cho Nam Hán xảy ra năm 965 được tác giả Lí Đảo tham khảo và khi soạn Tục tư trị thông giám trường biên thì đã đem sự kiện ấy chép gộp chung với sự kiện Ngô Xương Văn chết tại mục năm 963, còn Âu Dương Tu khi soạn Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia vì bỏ không chép năm 963 nên sự kiện Ngô Xương Văn chết được chép gộp vào mục năm 965, do đó người viết cho rằng Nam Tấn vương mất vào năm 963. Khi ấy, Tham mưu Lã Xử Bình (được ban quốc tính) toan tự lập (có thể tương tự như Tam Kha, Ngô phó sứ cũng muốn tiếm ngôi sau khi Xương Văn mất nên không loại trừ phu nhân của Thuận vương hoặc Nam Tấn vương người họ Lữ) còn Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc muốn dìu con em họ Ngô nên xảy ra xung đột, Cảnh Thạc yếu thế buộc phải lui về giữ Đỗ Động Giang, nhưng hào trưởng các vùng không thuần phục Xử Bình, lại dân tại kinh phủ tụ tập nổi loạn, buộc Ngô phó sứ phải rút về giữ Ô Man (thứ nhất là dựa vào chú thích của Cương mục về Ô Lộ và Đại Nam nhất thống chí về Đằng Man; thứ hai là trong danh sách 12 sứ quân mà Việt sử lược chép lại, không có vị nào họ Ngô và chỉ có một vị họ Lã giữ vùng Tế Giang, do đó mà người viết cho rằng Ngô phó sứ cũng chính là Lữ tả công) còn Đinh Liễn nhân Cổ Loa hỗn loạn mà trở về Hoa Lư (nhưng theo cách nào, ngài có liên quan gì tới đám lại dân ở kinh phủ nổi loạn không, vì thấy chúng cho là cha con ngài có ơn đức, bèn suy tôn làm soái) tận dụng sự kiện trai cò đánh nhau mà cha con họ Đinh đôi trận bình được thiên hạ vào năm 965, Bộ Lĩnh xưng là Vạn Thắng vương, trông coi phương nam được 3 năm thì nhượng vị cho Liễn vào niên hiệu Đại Bảo thứ mười (967) Nam Việt vương giữ Giao Châu đến khi sai sứ cống phương vật, dâng biểu nội phụ vào niên hiệu Khai Bảo thứ sáu (973) tính ra vừa đủ 7 năm.

(B.7) ĐẠI CỒ VIỆT ĐINH GIA

* Việt sử lược chép: “Kỷ Mão [979] Vua ở ngôi 11 năm, thọ 55 tuổi” (Vsl, tr.56)

An Nam chí lược chép: “Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, Giao Châu. Cha là Công Trứ (…) Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn, cha con Bộ Lĩnh về với Ngô Quyền, Quyền nhân khiển Công Trứ về nhiệm chức cũ. Khi Công Trứ mất, Bộ Lĩnh kế tập chức cha” (Ancl, tr.212)

Theo ghi chép của An Nam chí lược thì Đinh Công Trứ vốn là nha tướng của Dương Đình Nghệ, lúc Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ, trấn trị Giao Châu thì lấy Công Trứ làm quyền Thứ sử Hoan Châu. Rồi sau khi Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn thì cha con Bộ Lĩnh lại theo về với Thuận vương, nhân đó Ngô Quyền cho Công Trứ làm chức cũ, đến khi ngài mất thì con là Bộ Lĩnh được thay chức của cha, còn theo Việt sử lược thì Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 925, vào thời điểm Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn năm 938 thì thân phụ của Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ còn sống và Vạn Thắng vương cũng đã 14 tuổi. Tuy sử phương nam biên thêm là (sử cũ chép rằng nước Việt) có niên hiệu bắt đầu từ tháng 1/970 (Toàn thư chép là đặt (kiến) niên hiệu, trong khi Việt sử lược lại chép ở 2 chỗ là đổi (cải) niên hiệu) nhưng dựa vào sự tồn tại của đồng tiền Đại Bình hưng bảo (mặt sau có chữ đinh) người viết ngờ rằng khi lên ngôi hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh đã đặt niên hiệu Đại Bình (968-969). Ngoài ra[20] Tuyền chí (quyển 7 và quyển 11) của Hồng Tuân (1120-1170) có chép đến 5 đồng tiền đúc triều Đinh – Lê, trong đó có Đại Hưng tiền (Đại Hưng bình bảo mà lẽ ra phải đọc là Đại Bình hưng bảo) và Thái Hưng tiền (Thái Hưng bình bảo mà lẽ ra phải đọc là Thái Bình hưng bảo) như thế rõ ràng là Hồng Tuân đã xác thực, sự tồn tại của 2 hiệu Đại Bình và Thái Bình.

Việt sử lược chép: “Nhâm Thân [972] Vua phong con là Toàn làm Vệ Vương, lập con út là Hạng Lang làm Thái tử” (Vsl, tr.55)

Cột kinh Phật-đỉnh Tôn-thắng Đà-la-ni viết: “Đệ tử là Suy thành thuận hóa, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực ấp một vạn hộ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn, vì vong đệ là Đại đức Đính Noa Tăng Noa không làm điều trung hiếu, không thờ anh và cha, lại có lòng ác, trái với sự yêu thương và khoan dung, anh không thể bỏ qua, nên đã làm tổn hại đến tính mệnh của Đại đức Đính Noa Tăng Noa, để trọn vẹn tình nhà nghĩa nước. Lời người xưa rằng, đã tranh quan thì không nhường, ra tay trước mới là hay, đến nỗi ra tình hình như vậy. Nay nguyện làm 100 cột kinh để cúng cho vong đệ và những hồn ma của người chết trước đây và sau này, cầu cho tất cả giải thoát, không phải tranh giành kiện tụng. Trước hết là chúc cho Đại Thắng Minh hoàng đế, mãi mãi làm chủ trời Nam, giữ yên ngôi báu” (Vtnckp)

Văn bia Hán Nôm Việt Nam từ khởi thủy đến thời Lý Trần viết: “Nay là năm Quý Dậu (973) Đệ tử Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn, kính cẩn tạo dựng 100 kinh tràng cầu mong cho vong linh người chết được siêu thoát” (Vbhnvnlt, tr.46)

Theo như các tài liệu trên thì thời điểm Đinh Liễn giết Hạng Lang phải xảy ra sau thời điểm Đinh Noa Tăng Noa được phong Thái tử năm 972 và trước thời điểm kinh tràng được dựng năm 973, tuy rằng sách sử chép Hạng Lang được phong làm Thái tử, nhưng tước này vào thời Đinh chưa chắc đã mang hàm ý nối ngôi, vì thấy trên Cột kinh có khắc rằng vong đệ không làm điều trung hiếu, không thờ cha và anh, theo đó Đại Thắng Minh hoàng đế đã có ý chọn Nam Việt vương là người kế chức hoặc như trên Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí cho biết Phụ Thiên đại vương có mười hai thái tử. Trên cột kinh phật có nêu việc tranh quan thì không nhường, qua đó cho thấy Hạng Lang cũng đã trưởng thành, nhưng được xác định là con út (quí tử – Vsl) con nhỏ (thiểu tử – Tt) trong khi Đinh Toàn còn nhỏ (Tống sử – Giao Chỉ truyện) thì Toàn thư lại chép là con thứ (thứ tử) thế rõ ràng các bộ sử của phương nam đã lầm khi biên soạn.

Toàn thư chép: “Nhâm Thân [972] Sai Nam Việt vương Liễn sang sứ thăm nhà Tống” (Tt, tr.212)

Tống sử – Thái tổ kỷ chép: “Khai Bảo năm thứ 6 (973) Tháng 5, Giao Châu Đinh Liễn cử sứ đi cống” (Quyển 3)

Tân Ngũ đại sử – Nam Hán thế gia chép: “Càn Hòa năm thứ 11 (953) Lưu Thạnh bệnh nặng, phong cho con là Kế Hưng làm Vệ vương” (Ant, tr.239)

Người viết cho rằng vào năm 972 Đại Thắng Minh hoàng đế dự tính cử Nam Việt vương sang sứ phương bắc kết hiếu (chuyến đi sứ này có rất nhiều rủi ro) nên để đề phòng biến loạn xảy ra khi Đinh Liễn không ở Hoa Lư, Bộ Lĩnh đã phong cho Đinh Toàn làm Vệ Vương (衛 có âm Hán Việt là Vệ mang nghĩa phòng giữ, phù trợ[21]) cũng như ấn định tước Thái tử cho Hạng Lang (và vì vậy mà có thể phỏng đoán rằng Đinh Toàn là em cùng mẹ với Nam Việt vương). Tiết độ sứ đã khởi hành, nhưng ngờ âm mưu tranh quan của Hạng Lang nên quay trở lại kinh sư, ủy cho sứ giả sang phương bắc kết hiếu (Việt sử lược chép sứ giả là Nguyễn Tử Du, Tống sử – Giao Chỉ chép 2 vị sứ của phương nam là Tiến phụng Trịnh Tú và Vương Thiệu Tộ, thấy thêm rằng trong số các cột kinh có nếu 2 chức tước của Đinh Liễn là Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ và Nam Việt vương, mà các chức tước ấy lại do Đại Thắng Minh hoàng đế và Nam Hán Hậu chủ Lưu Sưởng ban, thế thì những cột kinh sớm nhất phải được dựng trước khi sứ bộ về tới Hoa Lư và giả như sử phương nam có phần nào xác tín thì chúng ta có thể theo đó mà ước chừng thời điểm xảy ra sự biến vào mùa xuân năm quí dậu). Toàn thư cho biết vào năm 951 hai vương họ Ngô đem quân đánh Hoa Lư, đánh ròng cả tháng mà không thắng, bèn treo con của Bộ Lĩnh là Đinh Liễn lên ngọn sào (竿) để ép buộc Hoan châu thứ sử ra hàng, qua đó cho thấy Nam Việt vương còn khá nhỏ (sau khi hai vương không ép được Bộ Lĩnh nên đành đem Tiết độ sứ về lại Cổ Loa) mà chưa hẳn chỉ mỗi Đinh Liễn đến kinh sư làm con tin, có khi Dương thái hậu cũng đến đó, vì như thế sẽ giúp giải thích tại sao Nam Việt vương và Vệ vương lại chệch lệch nhau nhiều tuổi đến vậy?

* Tống sử – Giao Chỉ chép: “Bộ Lĩnh và Liễn chết rồi, em Liễn là Toàn còn nhỏ, lên nối ngôi” (Ant, tr.23)

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) Tháng 4, sai cung phụng quan Lư Tập sang sứ Giao Châu. Bấy giờ, Đinh Liễn và cha là Bộ Lĩnh đều đã chết” (Quyển 21)

Đông đô sử lược chép: “Đầu niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-984) Bộ Lĩnh và Liễn đều đã chết” (Quyển 130)

Theo nhóm tài liệu trên thì chúng ta chỉ xác định được rằng Đinh Bộ Lĩnh và Nam Việt vương đều đã chết, chứ không thể khẳng định chắc chắn rằng Đại Thắng Minh hoàng đế và Đinh Liễn chết cùng thời điểm.

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) Tháng 6, Hầu Nhân Bảo dâng sớ nói: Giao Châu chủ soái bị hại, đất loạn có thể lấy được, xin vào cửa khuyết để trình tấu” (Quyển 21)

Cửu triều biên niên bị yếu chép: “Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) Đinh Liễn chết, đại hiệu Lê Hoàn chuyên chính” (Quyển 3)

An Nam chí lược chép: “Thái Bình Hương Quốc thứ 5 (980) đời Tống Thái Tông, Đinh Liễn ở Giao Châu chết, em là Tuyền kế lập, bị đại tướng Lê Hoàn cướp ngôi” (Ancl, tr.114)

Theo (lối hiểu thông thường về ghi chép của) nhóm tài liệu trên thì chỉ có riêng Giao Châu chủ soái Đinh Liễn chết, nói cách khác chúng cho thấy Đinh Bộ Lĩnh và Nam Việt vương không chết cùng thời điểm.

An Nam chí lược chép: “Đinh Bộ Lĩnh (…) lĩnh việc cai trị Giao Chỉ, xưng hiệu Vạn Thắng vương, riêng phong chức cho Liễn làm Tiết độ sứ, được 10 năm thì Bộ Lĩnh mất (…) Năm thứ 5 (980) Liễn mất, em là Truyền lên ngôi (…) Năm thứ 7 (982) Truyền bị Hoàn sát hại. Họ Đinh nối nghiệp 3 đời, cộng được 17 năm” (Ancl, tr.212-213)

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Họ Đinh truyền tập ba đời, gìn giữ một phương” (Ant, tr.24)

Thứ nhất tuy rằng giữa Việt sử lược và Toàn thư có nhiều điểm trùng hợp khiến chúng ta nghĩ cả hai đều tham khảo Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, nhưng cũng lại có nhiều điểm khác biệt, chẳng hạn như Việt sử lược cho biết Đinh Bộ Lĩnh thọ 55 tuổi, trong khi Toàn thư chép ngài thọ 56 tuổi (mà thông tin về tuổi thọ thường là chép lại) hoặc như Vệ vương còn sử dụng niên hiệu Thái Bình (thứ 11) trong khi Việt sử lược xác nhận niên hiệu Thái Bình chỉ có 10 năm (970-979) trùng hợp là An Nam chí lược cho biết Vạn Thắng vương lĩnh việc cai trị Giao Châu được 10 năm thì mất (người viết hiện chưa thấy tài liệu phương bắc nào đề cập đến hoặc có dựa vào ghi chép cũng rất khó để tính ra nên ngờ rằng thời điểm Lê Tắc còn sống tại phương nam đã biết về 10 năm của niên hiệu Thái Bình, nhưng nếu đúng như thế thì hẳn tác giả chưa biết đến vụ án Đỗ Thích bởi không thấy An Nam chí lược chép). Thứ hai qua ghi chép của Toàn thư sẽ nhận thấy lối bình luận của tác giả, nếu như sự kiện được Lê Văn Hưu bình luận rồi, mà quan điểm trùng với Ngô Sĩ Liên thì sẽ chỉ chép lại lời bình của Lê sử gia, nhưng khi mà khác quan điểm với Ngô sử gia thì sẽ chép lời bàn của Lê Văn Hưu phía trên và viết lời bình của Ngô Sĩ Liên phía dưới, cụ thể trong trường hợp của Đại Thắng Minh hoàng đế, chúng ta thấy Lê sử gia có 2 lời bình về việc dẹp loạn, xưng đế, dựng đô, đặt trăm quan và việc lập 5 hoàng hậu, nhưng lại chỉ thấy lời bàn của Ngô sử gia đối với sự kiện Đinh Liễn giết Hạng Lang và Đỗ Thích giết Bộ Lĩnh, trong khi 2 sự kiện đó thực sự gây chấn động. Thứ ba dẫu vụ án Đỗ Thích được chính sử ghi chép song lại chứa nhiều yếu tố hoang đường như vua thủa hàn vi thường đánh cá ở sông Giao Thủy có lần bắt được viên ngọc bị sứt mẻ (Tiên Hoàng là con của Thứ sử Hoan châu Đinh Công Trứ nên hẳn không phải thường xuyên đi đánh cá) hoặc như Chi hậu nội nhân mơ thấy sao sa vào miệng mà nảy ý định giết vua (đã giết Đại Thắng Minh hoàng đế rồi, lại giết thêm người nối nghiệp là Nam Việt vương thì hẳn Đỗ Thích phải giết thêm cả Vệ vương Đinh Toàn nữa) hoặc như xuất hiện bài sấm vào năm giáp tuất, nên những ghi chép của sách sử rất đáng ngờ.

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 (977) Tháng 12 ngày quí mùi, Tĩnh Hải tiết độ sứ Đinh Liễn sai sứ sang cống mừng lên ngôi vua” (Quyển 18)

Thiền uyển tập anh chép: “Năm 40 tuổi, danh sư vang tới triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng mời đến, sư đối đáp hiệp chỉ, bèn phong làm Tăng thống. Năm Thái Bình thứ hai (917) vua ban hiệu Khuông Việt đại sư (…) Ngày mười lăm tháng hai năm Thuận Thiên thứ hai (1011) triều Lý, sư ngồi kiết già mà mất, thọ 52 tuổi, có nơi nói thọ 79 tuổi” (Ncvtuta, tr.204-207)

Toàn thư chép: “Tân Mùi [971] Bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. Lấy Nguyễn Bặc làm Định quốc công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân uy nghi” (Tt, tr.212)

Căn cứ vào ghi chép của Thiền uyển tập anh không khó để nhận ra, người biên soạn cuối cùng chưa rành về Khuông Việt thì mới đưa ra tới hai tuổi thọ, nhưng hẳn là người biên soạn đầu tiên phải có cơ sở để đưa ra tuổi thọ của đại sư. Giả sử tác giả biết rõ tuổi thọ của Chân Lưu là 79 thì chắc chắn phải biết năm sinh của Khuông Việt, mà nếu đã biết năm ngài sinh là 933 thì không khó để tính xem vào năm 971 có đúng sư 40 tuổi, nói cách khác thông tin trong Thiền uyển tập anh là mâu thuẫn nội tại. Người viết thấy rằng phía sau cụm từ “năm bốn mươi tuổi” là một chuỗi các sự kiện, mà cụ thể như: danh vang tới triều đình, vua mời đến kinh sư, phong làm tăng thống và cuối cùng là ban hiệu, vì thế người viết thấy rằng nên hiểu cụm từ “niên tứ thập” là “khoảng bốn mươi tuổi”. Chúng ta thấy rằng trong các văn quan, tăng đạo thì chỉ riêng có Chân Lưu là được Đại Thắng Minh hoàng đế ban hiệu Khuông Việt (khuông nghĩa là phò giúp) vì thế người viết muốn hướng cái nhìn mang tính chính trị trong sự kiện trên, bởi lẽ Hoa Lư được ngôi từ họ Ngô, trong khi Chân Lưu là hoàng tử của Cổ Loa. Cũng tương tự, dẫu rằng giả thuyết Đinh Liễn lấy tên đệm Khuông để biểu thị cho sự tôn kính đại sư là có cơ sở, nhưng người viết vẫn muốn hướng bạn đọc đến hai nhân vật cùng thời ở phía bắc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận và Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa, bởi vì thấy trên cột kinh có khắc rất nhiều chức tước của Tống triều ban cho Nam Việt vương và các trường hợp gợi ý như của Ngô Xương Văn xưng là Nam Tấn vương. Người viết muốn liên hệ mở rộng thêm đối với cái chết của Đinh Bộ Lĩnh, vì dẫu cốt truyện không giống nhau nhưng lại có điểm chung là Đinh Bộ Lĩnh ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, bị Đỗ Thích giết cùng Đinh Liễn, còn Triệu Khuông Dận thì vời Thái Tông Quang Nghĩa vào cung uống rượu, sau đó Tống Thái Tổ cũng băng hà.   

Tiểu kết: Năm kỷ mão có hai đại án, một vào mùa xuân và một vào mùa đông, nên có khi nào đại án mùa xuân vốn là thời điểm Đại Thắng Minh hoàng đế băng hà nhưng bị nhầm thành Thái tử Hạng Lang bị giết không? Thế nhưng từ mùa xuân tới mùa đông cũng gồm 7 tháng, đây là khoảng thời gian đủ dài để Đinh Liễn kế ngôi, đổi niên hiệu, có tôn hiệu nhưng trong sách sử lại không dấu vết. Thấy rằng Việt sử lược chép là Đinh Bộ Lĩnh chết vào tháng 11, trong khi Toàn thư xác định thời điểm Vạn Thắng vương chết vào tháng 10, phải chăng sự sai lệch trên cho chúng ta hai thời điểm của các Giao Châu soái băng hà.

(B.8) ĐẠI CỒ VIỆT LÊ GIA

* Tống sử – Giao Chỉ chép: “Thái Bình Hưng Quốc thứ năm (980) Mùa thu xuống chiếu lấy Lan châu Đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (…) làm bộ thự binh mã đường bộ, theo đường Ung châu tiến sang” (Ant, tr.23)

Việt sử lược chép: “Năm thứ 2 đời Vệ Vương (980) Lạng Châu nghe tin quân Tống đến, làm tờ trạng tấu lên. Thái hậu sai người Nam Sách là Phạm Cự Bị làm đại tướng quân đem binh ra chống cự” (Vsl, tr.60)

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Thái Bình Hưng Quốc thứ năm (980) Tháng 12 ngày tân mão, Giao Châu hành doanh nói là phá hơn một vạn quân giặc, chém hơn hai nghìn ba trăm bốn mươi lăm thủ cấp” (Quyển 21)

Theo ghi chép của Tục tư trị thông giám trường biên thì khi nhận được tin chủ soái của Giao châu bị hại, tri Ung châu là Hầu Nhân Bảo đã dâng sớ về triều đình (vào tháng 6/980) tấu rằng đất ấy đang loạn có thể lấy được, hoàng đế bèn lập Giao Châu hành doanh, lấy Nhân Bảo làm Giao Châu lộ thủy lục vào tháng 7/980. Lan châu Đoàn luyện sứ là Tôn Toàn Hưng cùng Trương Toàn, Thôi Lượng, Trần Khâm Tộ đem binh xuất phát từ Ung châu, theo đường bộ tiến vào Lạng châu, Hoa Lư sai người Nam Sách là Phạm Cự Bị đem quân đến chống, cuộc giao tranh xảy ra vào cuối năm 980 tại Lạng Sơn.

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Năm thứ sáu (981) Mùa xuân tháng 3 ngày kỉ mùi, Giao Châu hành doanh nói phá một vạn năm nghìn quân giặc ở cửa sông Bạch Đằng, chém hơn một nghìn thủ cấp” (Quyển 21-22)

Việt sử lược chép: “Tân Tị [981] Mùa xuân tháng 3, quân của Hầu Nhân Bảo đến Lãng Sơn (…) Vua tự làm tướng đi chống Tống, sai người cắm cọc ngăn sông” (Vsl, tr.61)

Theo các tài liệu trên thì Hầu Nhân Bảo dẫn thủy binh tiến qua Lãng Sơn (Quảng Ninh) khi tới cửa sông Bạch Đằng thì giao chiến với quân phương nam, người viết chưa xác định được vị tướng nào trấn giữ tại đó. 

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Thái Bình Hưng Quốc thứ sáu (981) Hầu Nhân Bảo dẫn tiền quân đi trước, bọn Tôn Toàn Hưng đóng quân bảy chục ngày ở bến Hoa Bộ để đợi Lưu Trừng. Nhân Bảo nhiều lần thúc dục nhưng không đi. Kịp lúc Trừng đến (Tôn Toàn Hưng) liền đem hết quân đi theo đường thủy đến thôn Đa La nhưng không gặp giặc, lại tự ý về đóng quân ở bến Hoa Bộ” (Quyển 22)

Tri Ung châu tiến vào theo sông Bạch Đằng, hội với Tôn Toàn Hưng tại khúc sông Lục Đầu, sau đó Hầu Nhân Bảo dẫn thủy quân tiến lên phía trước, còn Tôn Toàn Hưng đóng tại bến Hoa Bộ chờ thủy quân do Lưu Trừng thống lĩnh (tháng 7/980 Ninh châu Thứ sử Lưu Trừng cùng Giả Thực, Vương Soạn được lệnh dẫn thủy binh theo đường Quảng châu tiến sang nhưng đạo quân này xuất phát sau Hầu Nhân Bảo) người viết phỏng đoán rằng thuyền chiến do Hầu Nhân Bảo thống lĩnh không đủ để vận chuyển hết bộ binh của Tôn Toàn Hưng nên Lan châu đoàn luyện sứ phải đóng lại tại Hoa Bộ.

Việt sử lược chép: “Tân Tị [981] Mùa xuân tháng 3, quân Tống lui giữ Ninh Giang” (Vsl, tr.61)

Cương mục chép: “Bính Ngọ [1426] Thái úy Lý Triện tiến đóng ở bờ phía tây sông Ninh Giang (…) Lời chua: Ninh Giang phía trên liền với của sông Hát, thông với Châu Giang, hạ lưu hợp với sông Hoàng Giang” (Cm, tr.787,789)

Người viết cho rằng Hầu Nhân Bảo tiến quân qua sông Đuống, rồi vào sông Hồng, ngược lên thượng nguồn, tới sông Đáy (Ninh Giang) thì đóng quân tại đó, vị trí đóng quân này có nhiều thuận lợi: thứ nhất có thể tiến vào sông Cà Lồ để đánh Lê Hoàn và rất ưu thế khi hợp được với thủy quân do Lưu Trừng tiến đánh từ hướng sông Cầu, thứ hai có thể chặn quân cứu viện của Hoa Lư, cũng đồng nghĩa nếu thuận đà thì có thể xuôi sông Đáy tiến đánh kinh sư.

Toàn thư chép: “Canh Tí [1300] Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống” (Tthvl, tr.97)

Tri Ung châu nhiều lần đem binh vào sông Cà Lồ tấn công Lê Hoàn tại thành Bình Lỗ nhưng không lợi, bèn rút quân về lại cửa sông Đáy, đồng thời sai người thúc giục Toàn Hưng tiến quân. Sau khi Lưu Trừng đến, cánh quân do Tôn Toàn Hưng thống lĩnh hợp với thủy quân của Lưu Trừng cùng tiến, nhưng tới thôn Đa La thì quay trở lại bến Hoa Bộ, đồng thời cắt cử một cánh quân do Trần Khâm Tộ thống lĩnh, tiến theo hướng hạ lưu của sông Hồng, đến Tây Kết thì đóng giữ tại đó, việc quay trở lại bến Hoa Bộ thực rất khó hiểu, trong vòng 70 ngày Hầu Nhân Bảo nhiều lần thúc giục Tôn Toàn Hưng tiến quân, thì không lý nào Đoàn luyện sứ lại không biết vị trí tri Ung châu đóng binh cả.

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Mùa xuân năm thứ sáu (981) Hoàn trá hàng để dụ Nhân Bảo, Nhân Bảo bèn bị giết chết” (Ant, tr.24)

Tương Sơn dã lục chép: “Hầu Nhân Bảo bị người Giao Chỉ bắt, chém bêu đầu ở huyện Chu Diên” (Sự thực loại uyển, quyển 70)

Toàn thư chép: “Khâm Tô nghe tin thủy quân thua trận, dẫn binh về. Vua dẫn các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư” (Tt, tr.222)

Thập đạo tướng quân dùng mưu trá hàng, nhân đó chém Hầu Nhân Bảo trên sông Hồng, rồi cùng các tướng đem đầu tri Ung châu bêu tại Tây Kết, để thị uy sức mạnh, Khâm Tộ sợ hãi liền rút quân về Hoa Bộ, Hoàn truy kích chém giết quân binh, bắt tù Triệu Phụng Huân và Quách Quân Biện.

* Cột thạch kinh chùa Nhất Trụ viết: “Người theo đạo phật là Thăng Bình hoàng đế […] Thuyền bát nhã trước vượt sóng biển, mang về bản hương (kinh). Đại Thánh Minh hoàng đế tổ họ Lê tự mình kế tiếp mệnh trời, định cả non sông đến nay là 16 năm” (Vbhnvnlt, tr.53)

Toàn thư chép: “Đinh Mùi [1007] Mùa xuân, sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàn Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng (…) Kỷ Dậu [1009] Mùa xuân, Minh Xưởng ở Tống về, xin được kinh Đại Tạng (…) Mùa đông tháng 10 ngày tân hợi, vua băng ở tẩm điện gọi là Ngọa Triều” (Tt, tr.237)

Tống sử – Chân Tông kỷ chép: “Cảnh Đức thứ 4 (1007) Tháng 7, Giao Châu lại cống, Lê Long Đình xin sách Cửu kinh và kinh Phật” (Quyển 7)

Tác giả Tạ Chí Đại Trường cho rằng[22] cột thạch kinh không phải được dựng năm 995 (mười sáu năm tính từ thời điểm Thập đạo tướng quân lên ngôi theo như sách sử) vì khi đó Lê Hoàn còn sống thì việc lập bảo tràng phải để dâng cho cha của ngài mới phù hợp với chữ Lê tổ, tuy nhiên việc ấy lại không hợp với công đức tán tụng, nên phải nghĩ rằng trụ thạch được lập năm Lê Hoàn mất và do Lê Long Đĩnh lập, bởi năm 1005 có sự kiện lớn liên quan là việc rước kinh phật (thuyền bát nhã vượt biển mang về bản kinh) thế nhưng theo các tài liệu trên thì Ngọa Triều sai em sang Tống xin sách kinh phật vào năm 1007. Mùa xuân năm kỉ dậu Minh Xưởng đem kinh về tới Hoa Lư nhưng đến mùa đông năm 1009 Lê Long Đĩnh băng hà, như vậy cột thạch kinh phải được dựng vào năm 1009. Dựa vào 16 năm kể từ khi Lê tổ tự mình kế tiếp mệnh trời cả định non sông, chúng ta có thể xác định được năm Lê Hoàn lên ngôi là 994.

Toàn thư chép: “Quý Tị [993] Phong hoàng tử (…) thứ tám là Tương làm Phó vương, đóng ở Đỗ Động Giang (…) Nhà Tống sai Vương Thế Tắc và Lý Cư Giản đem sách thư sang phong cho vua làm Giao Chỉ Quận Vương (…) Giáp Ngọ [994] Mùa xuân tháng giêng, đổi niên hiệu” (Tt, tr.229)

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Thuần Hóa thứ tư (993) tiến phong Hoàn làm Giao Chỉ quận vương” (Ant, tr.28)

Chúng ta thấy rằng vào năm 993 hoàng tử thứ tám là Lê Tương được phong làm Phó vương, mà tước này vốn của Lê Hoàn từ năm 979 (Tt) nên sau khi được nhà Tống phong làm Giao Chỉ quận vương, Lê Hoàn bèn trao lại tước Phó vương cho Tương, rồi tự mình tiếp mệnh trời, lên ngôi hoàng đế vào mùa xuân năm 994, đồng thời đổi niên hiệu từ Hưng Thống sang Ứng Thiên (Ứng Thiên mang hàm ý là tiếp mệnh trời).

Toàn thư chép: “Tân Tị [981] Bầy tôi dâng tôn hiệu là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế (…) Ất Tị [1005] Mùa đông, vua cướp ngôi, tôn hiệu là Khai Thiên Ứng Vận Thánh Vân Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế” (Tt, tr.222,235)

Theo như cột thạch kinh thì Lê tổ Hoàn được tôn là Đại Thánh Minh hoàng đế, đồng thời có một phật tử tự xưng là Thăng Bình hoàng đế, chúng ta thấy Thăng Bình hoàng đế xuất hiện trong tôn hiệu của Lê Hoàn theo như ghi chép của Toàn thư, người viết cho rằng sách sử đã chép sai hai việc trong tôn hiệu: thứ nhất Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế là tôn hiệu của Lê Ngọa Triều, thứ hai Đại Thánh Minh hoàng đế chứ không phải Đại Thắng Minh hoàng đế, nên tôn hiệu của Lê Đại Hành là Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thánh Minh Quang Hiếu Hoàng Đế (Khai Thiên phù hợp với người mở nghiệp) ấy là biện giải nửa bán, chứ như chữ Sùng Đạo kia, hẳn phải của Ngọa Triều!

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Chí Đạo nguyên niên (995) Quảng Nam tây lộ Chuyển vận sứ Trương Quán (…) lại tâu, nghe phong thanh rằng Lê Hoàn đã bị họ Đinh đuổi đi, gom dư chúng ở nơi núi ngoài bể, không còn nơi nương náu, cho nên lấy việc cướp bóc để tự cấp, đến nay thì Hoàn đã chết (…) Hoàng đế chiếu cho Thái thường thừa Trần Sĩ Long, Cao phẩm Võ Nguyên Cát phụng sứ đến Lĩnh Nam, nhân dò xét việc ấy. Bọn Sĩ Long phục mệnh, cũng nói như lời Quán” (Ant, tr.28)

Tuy rằng lời đồn đại mà Trương Quán, Sĩ Long nghe được là sai, nhưng nó cũng cho thấy rằng khoảng trước mùa hạ năm 995 tại Giao Châu đã xảy ra việc động binh giữa Lê Hoàn và họ Đinh, vì thế người viết phỏng đoán rằng việc Lê Hoàn tự xưng hoàng đế, đã dẫn đến xung đột quân sự với hoàng đế Đinh Toàn.

Toàn thư chép: “Canh Tí [1000] Xuống chiếu đi đánh giặc ở châu Phong là bọn Trịnh Hàng, Trường Lệ, Đan Trường Ôn, bọn Hàng chạy vào vùng núi Tản Viên (…) Tân Sửu [1001] Vua thân đi đánh giặc Cử Long. Quân giặc thấy vua, giương cung nhắm bắn thì tên rơi, lại giương cung thì dây đứt, tự lấy làm sợ mà rút lui. Vua bèn đi thuyền vào Cùng Giang để đuổi. Giặc bày trận hai bên bờ chống lại, quan quân bị hãm ở [giữa] sông, vua cũ [nhà Đinh] là Vệ Vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua kêu trời ba tiếng rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ” (Tt, tr.231-232)

Qua ghi chép của sách sử chúng ta nhận ra rằng khoảng thời gian từ năm 980 đến năm 994 phương nam yên bình, không có thế lực địa phương nào nổi lên chống Hoa Lư, nhưng từ khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế thì có vài hào trưởng đứng ra chống đối, mà đáng chú ý là Đỗ Động giang vào năm 997 và châu Phong vào năm 1000, nhưng sau khi Vệ vương Đinh Toàn chết thì phương nam lại không thấy có hào trưởng nào làm loạn nữa, nên người viết cho rằng sau khi bị phế, Đinh Toàn đã kêu gọi sự ủng hộ của các thế lực địa phương, cùng phò vua trừ cường thần.

Việt sử lược chép: “Tân Sửu [1001] Vua đi đánh giặc Cử Long (…) Quân của vua bị hãm ở sông. Vệ vương Toàn bị trúng tên chết. Vua kêu trời 3 tiếng, giặc tự thua” (Vsl, tr.63)

Có sự khác biệt trong ghi chép của Việt sử lược và Toàn thư về việc Lê Hoàn đánh giặc Cử Long và Đinh Toàn trúng tên chết, Toàn thư chép rằng Đinh Toàn trúng tên chết, Lê Hoàn kêu trời 3 tiếng, rồi thúc quân đánh thì giặc mới tan, còn Việt sử lược chép rằng Đinh Toàn trúng tên chết, Lê Hoàn kêu trời 3 tiếng mà khiến giặc tự tan, rõ ràng Việt sử lược không chép đoạn rồi thúc quân đánh, nhưng có phải là Việt sử lược chép thiếu không? Chưa chắc, nếu giả sử sau khi bị phế, Đinh Toàn đem quân đánh Lê Hoàn nhưng bị thua, bèn chạy về Cử Long, Lê Hoàn đem quân đánh, Vệ Vương trúng tên chết, đám giặc thấy chủ tướng bị giết, sợ hãi quá mà tự tan (nhưng vì sao lại là năm 1001, người viết ngờ rằng có thể do thân mẫu của Vệ vương mất vào năm 1000 theo như ghi chép của Toàn thư, lại thêm Kình Thiên vương cũng mất năm ấy, nên có thể là do hậu quả của nạn dịch năm 998 chăng) ngoài ra sự kiện sai người đi dò xét tình hình biên giới vào năm 1000 có thể được hiểu là Hoa Lư không muốn các thế lực bên ngoài mượn cái chết của Vệ vương mà xâm lấn, vì những năm đó quan hệ ngoại giao của Hoa Lư khá tốt đẹp.

Toàn thư chép: “Nhâm Dần [1002] Mùa xuân tháng 3, định luật lệnh, chọn quân lính chia tướng hiệu làm 2 ban, đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu” (Tt, tr.232)

Sau khi đánh giết vua cũ nhà Đinh là Toàn, vì thế mà buộc các hào trưởng quy phục Hoa Lư, Lê Hoàn đã tiến hành hoạch định hành chính.

Theo ghi chép của Việt sử lược thì sau khi Đinh Liễn chết, quần thần dìu Đinh Toàn lên ngôi, nhưng vì không có niên hiệu nên tác giả tự đặt là Năm thứ nhất, năm thứ hai và dẫu sách ấy chép Lê Hoàn lên ngôi vào năm 980 nhưng đến năm tân tị (981) mới có niên hiệu Thiên Phúc, trong khi Toàn thư (mục năm 980 cho biết bức thư của nhà Tống gửi cho Lê Hoàn được Sử cũ chép ở năm 971 thế là lầm, nhưng Ngô sử gia nhận thấy trong bức thư có nói đến việc Thái tổ nhận ngôi nhà Chu nhường lại thì rõ ràng đó là thư của Tống Thái tông nên Lê Văn Hưu không thể quá nhầm, cộng với việc chỗ mục tháng 7/980 thấy có chép rõ bốn chữ “cải nguyên xưng đế” vậy mà các bản lại chép năm Tân Tị (981) mới đổi gọi là Thiên Phúc nguyên niên nên Ngô Sĩ Liên cho rằng có lẽ do người sau sao chép ở những chỗ còn lại trong sách rách giấy nát mà tự ý chép bậy đến nỗi Văn Hưu phải chịu oan là đã lầm nên) sửa lại năm Tân Tị là Thiên Phúc thứ 2. Theo Tuyền chí và Tiền kim loại Việt Nam thì triều Tiền Lê ghi nhận 3 đồng tiền cơ bản gồm: Thiên Phúc trấn bảo (lưng tiền trơn); Thiên Phúc trấn bảo (lưng tiền có chữ Lê); Giao Chỉ quốc Lê tự tiền (mặt đồng tiền chỉ có một chữ Lê). Người viết phỏng đoán rằng vào thời điểm lên ngôi (năm 980) Đinh Toàn đã đổi dùng niên hiệu Thiên Phúc, năm 983 Lê Hoàn tự xưng là Quyền Giao Châu tam sứ lưu hậu để sai người sang phương bắc cống sản vật địa phương, nhân đó được triều đình ban chiếu cho làm Phó (Tống sử – Giao Chỉ truyện); vào tháng 2/984 Hoa Lư tổ chức đúc tiền Thiên Phúc (Toàn thư) trấn bảo có lưng tiền trơn (để xây dựng cung điện chăng); năm 986 triều đình ưng cho Lê Hoàn làm Kiểm hiệu thái bảo, Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, An Nam đô hộ sung Tĩnh Hải quân tiết độ, Giao Châu quản nội quan sát xứ trí đẳng sứ, phong Kinh triệu quận hầu, thực ấp 3 ngàn hộ, ban hiệu Thôi thành thuận hóa công thần (Tống sử – Giao Chỉ truyện) hẳn đó là cơ sở ra đời của đồng tiền Thiên Phúc trấn bảo mà lưng tiền có chữ Lê, năm 994 Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, từ đó Giao Chỉ quốc Lê tự tiền được phát hành.

Tiểu kết: Năm 979 Đinh Toàn được tôn lên làm hoàng đế, Lê Hoàn tự xưng là Phó vương, năm 993 Lê Hoàn được Tống triều phong làm Giao Chỉ quận vương, nên Hoàn liền trao lại tước Phó vương cho con trai thứ 8 là hoàng tử Tương, mùa xuân năm 994 Lê Hoàn tự xưng hoàng đế, đổi niên hiệu, đồng thời phế Đinh Toàn, Vệ vương đem binh đánh nhưng thua, phải rút về giữ Cử Long, đồng thời kêu gọi các hào trưởng phò vua dẹp phản loạn, chiến sự kèo dài đến năm 1001 thì kết thúc sau cái chết của ngài. Sách sử còn chép lại lời sấm truyền trong dân gian rằng: Đỗ Thích giết Đinh Đinh – Nhà Lê sinh thánh minh – Ganh đua bao kẻ chết – Đường đi người vắng tanh. Nhà Lê sinh thánh minh là muốn nói Lê Hoàn xưng là Đại Thánh Minh hoàng đế. Ganh đua bao kẻ chết, Đường đi người vắng tanh là mô tả tính chất khốc liệt của cuộc chiến từ năm 994 đến năm 1001.

* Toàn thư chép: “Giáp Thìn [1004] Mùa xuân tháng giêng, lập Nam Phong vương Long Việt làm hoàng thái tử, gia phong Long Đĩnh làm Khai Minh đại vương, Long Tích làm Đông Thành đại vương. Trước đó Long Đĩnh xin làm thái tử, vua có ý muốn cho, đình thần nghị bàn cho rằng không lập con trưởng mà lập con thứ là không phải lễ, vua bèn thôi (…) Ất Tị [1005] Sau khi Đại Hành hoàng đế băng, vua cùng Đông Thành vương, Trung Quốc vương và em cùng mẹ là Khai Minh vương tranh lập, giằng co 8 tháng, trong nước không có chủ. Mùa đông tháng 10, Đông Thành vương thua chạy vào đất Cử Long, vua đuổi bắt, lại chạy sang Chiêm Thành (…) Ngự Bắc vương cùng với Trung Quốc vương chiếm trại Phù Lan làm phản, vua thân đi đánh, vây chặt vài tháng, rồi đem quân đánh Ngự Man vương ở Phong Châu, Ngự Man vương phải chịu hàng, từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả” (Tt, tr.232-235)

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Năm thứ ba (1006) Lê Hoàn chết, lập con thứ là Long Việt, anh Long Việt là Long Toàn cướp tiền kho bỏ trốn, em là Long Đình giết Long Việt tự lập” (Ant, tr.31)

Đối chiếu thêm với ghi chép của Việt sử lược, người viết cho rằng diễn biến cuộc tranh lập như sau: vào tháng 3/1005 Lê Đại Hành mất, tứ vương là Nam Phong, Đông Thành, Trung Quốc, Khai Minh trực tiếp tranh lập, nhị vương Ngự Man và Ngự Bắc quan sát. Giằng co nhau được 8 tháng (theo toàn thư) thì Đông Thành vương yếu thế nên đem tiền kho bỏ trốn vào đất Cử Long. Việt sử lược cho biết các vương tranh lập trải 9 tháng thì Đông Thành vương thua nên phải bỏ chạy sang Chiêm Thành, như thế có thể phỏng đoán rằng Long Việt và Long Tích giữ nhau ở đất Cự Long khoảng một tháng. Nhưng nếu vậy thì cuộc tranh lập kết thúc vào tháng 11/1005, trong khi Việt sử lược chép là tháng giêng năm 1006 Trung Tông lên, nên có thể là sau khi dẹp xong Long Tích thì Nam Phong vương tiếp tục giao tranh với Trung Quốc vương, Long Kính yếu thế phải chạy đến nương tựa Ngự Bắc vương tại trại Phù Lan. Theo sử gia Lê Văn Hưu thì do Trung Tông không biết phòng giữ nên bị Khai Minh vương giết, khi đã lên ngôi hoàng đế, Long Đĩnh đem quân đánh trại Phù Lan và Phong Châu. Cứ theo ghi chép của Toàn thư thì việc đánh Ngự Bắc và Ngự Man phải kết thúc trước tháng 2/1006, nhưng cũng lại chính sách ấy chép là vây trại Phù Lan tới vài tháng, trong khi Việt sử lược chép việc Khai Minh vương đánh Ngự Bắc và Phong châu trong năm 1006, xem thế có thể phỏng đoán rằng sau khi lên ngôi, Ngọa Triều phong tước cho những người con, rồi mới đem quân đánh dẹp, lại thấy Trường biên (quyển 63) cho biết vào tháng 7/1006 Giao Châu đã yên ổn, Lê Long Đình tự xưng Tiết độ sứ Tĩnh Hải, Khai Minh vương, muốn sai em đến tận cửa khuyết tiến cống, trong khi An Nam chí lược cho biết thêm vào tháng 7/1006 Thiệu Diệp tâu nói có công điệp của Long Đĩnh đến, tự xưng Tịnh Hải quân Tiết độ quan sát, Kiểm hiệu thái uý, Khai Minh vương xin đến tháng 8 sẽ sai em tới cống, xem vậy có thể ước đoán vào mùa hạ năm 1006 việc tranh lập kết thúc.

Toàn thư chép: “Trung Tông hoàng đế tên húy là Long Việt, con thứ ba của Lê Đại Hành, mẹ là chi hậu diệu nữ (母祗侯妙女). Lên ngôi được 3 ngày thì bị em cùng mẹ là Long Đĩnh giết, thọ 23 tuổi (…) Ngọa Triều hoàng đế tên húy là Long Đĩnh, lại có tên là Chí Trung, con thứ năm của Đại Hành ở ngôi 4 năm, thọ 24 tuổi băng ở tẩm điện” (Tt, tr.234)

Việt sử lược chép: “Trung Tông húy Long Việt, con thứ ba của Đại Hành. Mẫu sơ hầu di nữ (母初侯姨女). Lên 9 tuổi được ban làm Nam Phong vương. Năm đầu (1006) tháng giêng, lên ngôi được 3 ngày bị giết, hiệu là Trung Tông, thọ 25 tuổi (…) Ngọa Triều húy là Long Đĩnh, con thứ năm của Đại Hành, em cùng mẹ với Trung Tông. Năm 22 tuổi lên ngôi, ở ngôi được 4 năm, thọ 25 tuổi” (Vsl, tr.64-65)

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Năm thứ ba (1010) Chí Trung mới 26 tuổi, hà khắc bạo ngược, không có khuôn phép nào, người trong nước đều không theo. Đại hiệu Lý Công Uẩn bèn mưu phản” (Ant, tr.33)

Có sự khác nhau khá rõ giữa ghi chép của Toàn thư và Việt sử lược. Thực vậy, thứ nhất là đối với Trung Tông, nếu như Toàn thư xác định Long Việt thọ 23 tuổi (983-1005) thì Việt sử lược cho biết Nam Phong vương thọ 25 tuổi (982-1006) mà chi tiết khi ngài lên 9 tuổi được phong vương lại rất phù hợp; thứ hai là đối với Ngọa Triều, nếu như Việt sử lược xác định ngài thọ 25 tuổi (985-1009) thì Toàn thư cho biết Long Đĩnh thọ 24 tuổi (986-1009). Nhưng trong trường hợp sau, ngoài chi tiết Ngọa Triều lên ngôi năm 22 tuổi là rất phù hợp thì còn ghi chép của Tống sử để đối chiếu, theo như sử liệu của người phương bắc thì Khai Minh vương sinh năm 1010-26+1=985, như thế rõ ràng là Việt sử lược chép chính xác hơn Toàn thư.

Việt sử lược chép: “Nhâm Ngọ [982] Vua sai bọn Từ Mục đi sứ sang Chiêm Thành, bị bắt giữ” (Vsl, tr.61)

Toàn thư chép: “Bính Tuất [986] Lấy Từ Mục làm Tổng quản trị quân dân sự, ban cho tước hầu, Phạm Cư Lạng làm Thái uý (…) Canh Tý [1000] Sai Thống tướng Từ Mục đi tuần ở miền Hải Tây, Ngô Tử An đi tuần cõi Bắc để dò xét tình hình biên giới” (Tt, tr.225,232)

Theo như ghi chép của Toàn thư thì thân mẫu của Trung Tông là chi hậu diệu nữ, Cương mục chua là con gái quan chi hậu tên là Diệu, không rõ họ là gì. Riêng thời Khúc Dương Ngô Đinh Lê thì thấy sách sử gần như không chép tên húy của những người phụ nữ, thường chỉ chép họ mà thôi, như thế thì xem ra lời chua của Quốc sử quán trái ngược với truyền thống, hơn nữa ở trên chúng ta đã thấy những ghi chép đáng ngờ của Toàn thư, nên chưa hẳn Ngô sử gia đã đúng! Còn Việt sử lược thì chép thân mẫu của Ngọa Triều là sơ hầu di nữ. Sử gia Trần Quốc Vượng dịch là “con gái cô hầu khách” trong khi Giáo sư Nguyễn Gia Tường dịch thành “trước kia là cô gái làm công giúp việc cho người”. Người viết thấy rằng chữ Di (姨) có nghĩa là chị em với mẹ (dì) hoặc chị em với vợ hoặc vợ lẽ; chữ Hầu (侯) có nghĩa là tước hầu. Lại thêm, Toàn thư cho biết vào năm 1004 Lê Hoàn có ý cho Long Đĩnh nối ngôi, nhưng quần thần bàn rằng bỏ trưởng lập thứ là không phải lễ, chỗ khó hiểu là vì sao lại bỏ Long Tích để lập Long Việt (tất nhiên là hậu quả thì chúng ta đã thấy) không những thế còn gia phong Long Đĩnh làm Đại vương, ngang tước với Đông Thành, tất nhiên là vượt tước so với Ngự Man, nên có thể Hưng Quốc Quảng Thánh thái hậu rất có gia thế, từ đó người viết chủ kiến dịch thành “vốn là con gái của vợ lẽ quan tước hầu”. Chúng ta thấy rằng người Nam Sách là Phạm Cự Lang tuy có công lao trong việc kháng Tống và được phong chức Thái úy nhưng không được ban tước hầu như Từ Mục (qua ghi chép của sách sử thấy rằng trải các đời Ngô Đinh Lê có Từ Mục là người khác họ được ban tước hầu) chẳng những thế ngài còn giữ những chức vị cao như thống tướng, tổng quản (Cương mục chua rằng Tổng quản là tên chức quan nhà Đường, chuyên giữ quân sự, nhà Lê phỏng theo phép nhà Đường, đặt chức quan này, lại cho kiêm giữ cả dân sự) nhưng với từng ấy thì rõ ràng là chưa đủ để kết luận, nên tạm để tồn nghi (ngoài ra nếu như Việt sử lược chép rằng Long Đĩnh tôn mẹ làm Thái hậu thì Toàn thư cho biết Ngọa Triều truy tôn thân mẫu làm Hưng Quốc Quảng Thánh).

Toàn thư chép: “Mậu Thân [1008] Tháng giêng, cải nguyên là năm đầu hiệu Cảnh Thủy. Vua thân chinh hai châu Đô Lương và Vị Long bắt tù bọn Man và ngựa đến vài trăm con, sai người dùng gậy đánh người Man. Khi đau quá bọn Man kêu la, lỡ phạm đến tên húy của Đại Hành, vua cười lớn, lại sai đánh nữa, người Man lại kêu, phạm húy nhiều lần, vua bằng lòng lắm” (Tt, tr.237)

Sử gia Ngô Thì Sĩ tỏ ra ngạc nhiên khi thấy Long Đĩnh lên ngôi đến 3 năm mà vẫn sử dụng niên hiệu của Đại Hành và tác giả của Tiền biên đã lựa chọn câu hỏi tu từ rằng có phải là đợi 3 năm hết tang cho hợp với cái nghĩa 3 năm không thay đổi đạo cha đấy chăng, lại thấy trên cột kinh chùa Nhất Trụ khắc là Đại Thánh Minh hoàng đế Lê tổ, xem vậy thì cũng chưa hẳn sách sử đã chép đúng việc Lê Long Đĩnh là con bất tiếu. Tống sử – Giao Chỉ chép rằng Lê Hoàn là người khinh mạn, tàn nhẫn, thích chơi bời yến ẩm nên tính cách bạo ngược hiếu sát của Ngọa Triều không phải không có căn nguyên và tất nhiên sự tương đồng về tính cách phần nào giúp giải thích việc Đại Thánh Minh hoàng đế có ý muốn cho Khai Minh vương nối nghiệp.

(C.9) CỔ PHÁP LÝ THÁI TỔ

Toàn thư chép: “Trung Tông hoàng đế. Vua lên ngôi được 3 ngày thì bị Long Đĩnh giết. Bầy tôi điều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thụy cho vua là Trung Tông hoàng đế, cho Công Uẩn làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ” (Tt, tr.234)

Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Vạn Hạnh (…) im lặng hồi lâu rồi nói tiếp: có lẽ chỉ trong vòng 3 tháng nữa quan Thân vệ sẽ chống đỡ xã tắc, cầm giữ ấn chữ quốc” (Ncvtuta, tr.298)

Theo ghi chép của Toàn thư mục năm 1028 thì Phật Mã được sinh tại phủ Trường Yên, như thế có nghĩa là trước năm 1000 Lí Thái Tổ đã sống ở kinh đô Hoa Lư, lại theo mục năm 1009 thì trong khoảng niên hiệu Ứng Thiên (994-1007) Lí Công Uẩn xuất thân là giúp việc (起家事) cho Trung Tông (Ngô sử gia có dẫn Dã sử chép rằng Long Đĩnh sai bọn trộm cướp, đêm trèo tường vào cung để giết anh, nhưng hẳn là không đúng, bởi vì nếu chỉ là bọn trộm cướp thì không thể làm cho đám quần thần và Điện tiền quân sợ hãi mà bỏ chạy được nên chỗ này phải hình dung là Long Việt ở cùng các quân thần, có Điện tiền quân bảo vệ thì bất ngờ Long Đĩnh dẫn đám lính với số lượng vượt trội để tiến hành tiếm quyền) vào thời điểm đó (1005) Công Uẩn chỉ là lính tốt trong Điện tiền, nhưng sau khi Ngọa Triều lên ngôi thì ban cho chức Phó chỉ huy sứ của Tứ Sương quân.

Các bộ sử phương nam chỉ chép rằng Long Đĩnh mất tại phòng ngủ nhưng lại không cho biết nguyên nhân dẫn đến cái chết, riêng có Tiền biên là chép lại nghi vấn việc nhân lúc Khai Minh vương bị bệnh tật thì Công Uẩn sai người vào đầu độc để giết đi (Trường biên quyển 72 chép chỗ tháng 12/1009 là Chí Trung chết, Giao Chỉ loạn hoặc nghe Chí Trung bị kẻ dưới giết). Toàn thư cho biết ngày tân hợi tháng mười Ngọa Triều băng, sang ngày hôm sau (nhâm tí) Chi hậu là Đào Cam Mộc đã dò biết Công Uẩn muốn được ngôi báu và qua lời thoại với Thái Tổ, Nghĩa Tín hầu để lộ ra rằng ngài ấy có biết đến bài sấm truyền, từ đó cho thấy trước khi Ngọa Triều băng thì đã có những đồn đoán về việc Lý Công Uẩn sẽ lên ngôi hoàng đế. Có sự khác biệt giữa Toàn thư và Việt sử lược về ứng xử của Thái Tổ, sau khi nghe thiền sư trao đổi về lời sấm trên cây gạo, theo như ghi chép của Toàn thư thì có lẽ Vạn Hạnh đã được bảo vệ, nhưng nếu chỉ là trao đổi giữa thầy trò thì đâu có cần thiền sư phải lánh tới Ba Sơn, có thể là lời đồn tới tai Ngọa Triều và hoàng đế đã cho điều tra, nên Thân vệ đã đề phòng trước. Thông tin thực sự đáng chú ý là lời phán của Vạn Hạnh rằng chỉ trong vòng 3 tháng nữa, Thân vệ sẽ cầm ấn chữ quốc, theo đó chúng ta có thể tính ra thời điểm mà thiền sư nhận định (về sự biến) là vào tháng 8, trùng hợp là trước đó, vào tháng 7 Long Đĩnh đem quân đánh các châu Hoan Đường và Thạch Hà, sau đó thì lệnh cho quan Phòng át sứ sửa chữa cầu đường, đến khi toan trở về kinh sư bằng đường thủy thì gặp giông bão nên lựa đường bộ để đi, có lẽ với từng ấy công việc, người viết phỏng đoán rằng sau chuyến nam phạt, Ngọa Triều về tới kinh thành vào tháng 8 và bị ốm, nên từ đó bắt đầu xuất hiện những đồn đoán.

Lời khích của Chi hậu ngày nhâm tí không hiệu quả nên qua hôm sau (quí sửu) Đào Cam Mộc lại khuyên Công Uẩn lên ngôi, khi đã rõ sự chân thành của Thái sư Á vương thì Thái Tổ hỏi phải làm cách nào, Chi hậu bèn nói chuyện với các quan và khanh sĩ (có lẽ đang tục trực trong chính điện) rằng muôn người không muốn theo vua nối mà có lòng suy tôn thân vệ, nếu bây giờ cùng phò giúp Khai Phong vương lên nối ngôi, mà lỡ xảy ra binh biến, phe phái của Công Uẩn được ngôi thì khó mà giữ được tính mạng (Theo lời của thiền sư Vạn Hạnh được Thiền uyển tập anh chép lại thì thân thuộc của họ Lí túc trực trong nội thành lên tới con số ngàn và qua những ghi chép liên quan tới quân sự của Toàn thư thì ngờ rằng Vũ Uy vương, Dực Thánh vương, Thái úy Lí Trưng Hiển cũng nằm trong con số kia. Toàn thư cho biết khi Ngọa Triều băng thì Hữu thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ là Nguyễn Đê cùng với Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ là Lí Công Uẩn, mỗi người đem 500 quân Tùy Long (đội quân hầu của vua) vào làm túc vệ, xem thế thì vai trò và vị trí của Nguyễn Đê không hề thua kém Công Uẩn, nhưng mà trong những người được phong quan sau khi Thân vệ lên ngôi thì không thấy có Nguyễn Đê, nên chưa hẳn Hữu thân vệ đã ủng hộ việc tiếm ngôi của người đồng cấp).

Trong bài sấm truyền có câu Khoảng sáu, bảy năm – Thiên hạ thái bình, như thế thì chưa hẳn là việc lên ngôi của Lý Công Uẩn đã thuận lợi. Thực vậy vào tháng 11/1009 ngài lên ngôi thì đến tháng 2/1010 trở về Cổ Pháp để ban tiền lụa cho các bô lão trong làng theo thứ bậc, mà hoàng tử thứ mười một của Lê Đại Hành là Minh Đề được phong làm Hành Quân vương và đóng tại Bắc Ngạn của châu Cổ Lãm (Cổ Pháp) từ năm 995, như thế thì động thái này của Công Uẩn có thể là củng cố hậu viên, chứ chưa hẳn đã là vinh qui bái tổ. Rồi vào tháng 7/1010 thì Thái Tổ quyết định dời kinh sư từ Hoa Lư ra Đại La, cùng lúc đó về đối ngoại thì sai sứ sang phương bắc để giao hảo thăm dò, còn đối nội thì vỗ về (nhất là với tầng lớp tăng ni) đặc biệt là lệnh miễn thuế cho thiên hạ trong 3 năm được ban vào tháng 12/1010, đến tháng 2/1011 hoàng đế thân chinh đi đánh giặc Cử Long ở châu Ái (trước đây Vệ vương Đinh Toàn và Đông Thành vương Lê Long Tích bị thua đều chạy đến nương nhờ giặc Cử Long) không rõ các hoàng tử của Hoa Lư có noi theo người xưa (bởi Toàn thư cho biết năm 993 hoàng tử thứ 7 là Lê Thung được phong làm Định Phiên vương đóng tại thành Tư Doanh thuộc Ngũ Huyện giang, tuy Cương mục chú rằng Ngũ Huyện giang ở phía nam huyện Yên Lãng, tỉnh Sơn Tây nhưng Việt sử lược cho biết vào năm 1050 giáp Long Trì ở Ngũ Huyện giang thuộc châu Ái làm phản và năm 994 hoàng tử thứ 10 là Lê Mang được phong làm Nam Quốc vương giữ châu Vũ Lung (武瀧) lại thấy chép thêm năm 1009 Ngọa Triều đi Ái châu đến sông Vũ Lung, còn bia chùa Hương Nghiêm cho biết đất Đinh Tiên Hoàng ban cho Trấn quốc bộc xạ Lê công có địa giới phía nam tới Vũ Long, theo bản của nhóm dịch Nguyễn Văn Thịnh thì chữ 龍 (Long, Lũng) có tự dạng gần với chữ 瀧 (Lang, Lung) nhưng chữ Vũ lại để là 舞). Theo Toàn thư thì vào năm 1016 được mùa to nên cho thiên hạ trong 3 năm không phải nộp thuế, rõ ràng là những gì sách sử chép hoàn toàn trùng khớp với bài sấm, tất nhiên là người viết không cho rằng bài sấm có trước, mà nó chẳng qua là sự tóm tắt của người đời, sau khi đọc sử và đến đây hẳn là chúng ta có thể thống nhất được vì sao mà Công Uẩn sau khi lên ngôi chưa vội dựng tông miếu, nhưng lại tích cực trùng tu chùa chiền.

(Sơ đồ mô phỏng gia tộc họ Lí)

Việt sử lược chép: “Thái Tổ. Người Cổ Pháp, Bắc Giang. Mẹ họ Phạm, ngày 17 tháng 2 năm thứ 5 hiệu Thái Bình sinh ra vua. Vua khi còn bé đã, khí độ rộng rãi. Du học ở chùa Lục Tổ sư Vạn Hạnh trông thấy vua, lấy làm lạ” (Vsl, tr.71)

Toàn thư chép: “Thái Tổ Hoàng Đế. Người châu Cổ Pháp, Bắc Giang. Mẹ họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (…) Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi. Lúc còn nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy khen” (Tt, tr.243)

Tiền biên chép: “Thái Tổ Hoàng Đế. Người châu Cổ Pháp, Bắc Giang (…) Cha vua không rõ là ai, mẹ là người họ Phạm, có thai rồi sinh vua ở chùa Tiêu Sơn. Năm vua 3 tuổi, mẹ bế đến nhà Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp, Khánh Văn nuôi làm con (…) Vua lúc bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường, khi 7 tuổi, Khánh Văn gửi nhờ sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ” (Tb, tr.192)

Cương mục chép: “Mẹ ngài là Phạm thị, đi chùa Tiêu Sơn, gặp thần nhân giao cấu, do đấy có thai, sinh ngài năm Giáp Tuất (…) Khi ngài lên ba tuổi, sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn nuôi làm con, nhân đấy lấy theo họ Lý” (Cm, tr.283)

Không khó để nhận ra sự kiến tạo[23] về thân thế của Lý Công Uẩn qua các bộ sử phương nam, thật vậy nếu như Việt sử lược chỉ chép Thái Tổ có mẹ người họ Phạm, thì Toàn thư lại gia thêm việc hoang đường là bà Phạm thị giao hợp với người thần nên có bầu, không những thế Toàn thư còn chép thêm chuyện bà Phạm thị đem Công Uẩn đến gửi nhà Lý Khánh Văn, vì là người thần không có họ, trong khi Thái Tổ họ Lý, do vậy dân gian buộc phải kiến tạo và trong hoàn cảnh của hệ thống thân tộc phụ hệ thì xuất hiện người cha nuôi là kịch bản hoàn hảo, tuy Tiền biên không chấp nhận sự hoang đường về nguồn gốc của Công Uẩn nhưng lại không khảo rõ được (thông qua ghi chép của Việt sử tiêu án chúng ta có thể thấy Ngô sử gia đã nỗ lực khảo cứu Sử cũ, Ngoại truyện, Dã sử) còn Cương mục thì chua rõ cho người cha nuôi Lý Khánh Văn làm nhà sư. Toàn thư mục năm 1011 chép việc Viên ngoại lang Đào Khánh Văn được cử sang Tống đáp lễ nhưng trốn ở lại, đến khi người phương bắc đem trả thì bị đánh trượng chết, nên có khi nào nhà sư họ Lý được kiến tạo từ Viên ngoại lang họ Đào không (Về cống sứ triều Lý Thái Tổ thì có một sự kiện khá khó hiểu, ấy là khi chúng ta đối chiếu ghi chép giữa Toàn thư với An Nam chí lược, Tống sử, Trường biên thì thấy rằng: Năm 1010 sai Viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang Tống kết hảo (Tt) phái đoàn đến kinh đô vào tháng 12/1010, qua tháng giêng năm 1011 được ban tước (Cl). Tháng 4/1011 lại sai Viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn để đáp lễ (Tt) sứ thần đến kinh thành vào tháng 4/1012, rồi xin thiên triều cho phép được du ngoạn phương bắc (Cl) lần sứ này nhiều kẻ phục dịch đi theo bị ốm chết dọc đường (Ts). Tháng 10/1012 lại sai Thái bảo Đào Thạc Phụ và Viên ngoại lang Ngô Nhưỡng sang Tống kết hảo, mùa xuân năm 1014 lại sai Viên ngoại lang Phùng Chân và Lý Thạc đem ngựa bắt được của người Man biểu nhà Tống (Tt). Khó hiểu ở chỗ theo An Nam chí lược thì tháng 7/1014 Lý Công Uẩn cử sứ đến dâng ngựa và báo tin thắng trận, tới tháng 8/1014 Giao chỉ lại sai sứ cống thổ sản, đồng thời xin giáp trụ và kinh đại tạng, rõ ràng là phái đoàn của Đào Thạc Phụ khởi hành trước, nhưng lại tham bái sau phái đoàn của Phùng Chân).

Việt sử lược chép: “Kỉ Dậu (1009) Mùa đông tháng 11, Vua lên ngôi, đại xá thiên hạ (…) Truy tôn cha là Hiển Khánh vương, mẹ là Minh Đức thái hậu” (Vsl, tr.1009)

Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Vạn Hạnh. Chùa Lục Tổ, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Người Cổ Pháp, họ Nguyễn (…) Ngọa Triều bạo ngược, trời người oán ghét. Lý Thái Tổ khi ấy giữ chức Thân vệ, chưa lên ngôi. Trong khoảng thời gian này, những điều tốt xấu đều xuất hiện lẫn lộn nhau. Như ngôi mộ Hiển Khánh đại vương, bốn bề đêm nghe có tiếng đọc tụng” (Ncvtuta, tr.294-295)

An Nam chí lược chép: “Năm Thiên Hy thứ 3 [1019] Công Uẩn khiến em là Lý Hạc vào cống” (Ancl, tr.222)

Theo ghi chép của các tài liệu trên thì cha mẹ của Lý Công Uẩn đều đã mất khi ngài lên ngôi, Toàn thư cho biết Thái Tổ sinh năm giáp tuất như thế vào thời điểm lên ngôi, ngài đã 35 tuổi, giả sử khi cha mẹ ngài khoảng 15 tuổi thì kết hôn (mà Công Uẩn còn có người anh ruột) vậy đến năm 1009 phụ mẫu của ngài cũng phải trên 50 tuổi. Dẫu tiếng đọc tụng vào ban đêm xuất hiện tại bốn phía xung quanh ngôi mộ[24] của Hiển Khánh vương là sự sắp xếp của thầy Vạn Hạnh với mục đích tạo thêm điềm lạ, song lại cho chúng ta biết thực sự có tồn tại ngôi mộ của thân phụ Thái Tổ. Qua tài liệu của Lê Tắc chúng ta biết rằng Lý Thái Tổ có người em (đệ) tên là Hạc, nhưng Toàn thư lại chép người này họ Phạm (vào tháng 6/1018 thì cùng với Viên ngoại lang là Nguyễn Đạo Thanh được cử sang nước Tống xin kinh Tam Tạng) xem thế chúng ta có thể phỏng đoán, Minh Đức thái hậu có người em trai và con người cậu của Công Uẩn được ban quốc tính. Theo ghi chép của Toàn thư thì vào mùa đông năm 979, người họ Phạm là Hạp cùng Điền Bặc đánh Lê Hoàn nhưng bị thua, điểm đáng chú ý là tướng quân lại chạy về Cát Lợi, Bắc Giang, tuy vậy ghi chép của Ngô Sĩ Liên có điểm đáng ngờ, bởi vì Việt sử lược chỉ chép Nguyễn Bặc, Đinh Điền khởi binh và ngay như Toàn thư chép lại lời bàn của Lê sử gia cũng chỉ nhắc tới nhị vị tướng quân kia, ngoài ra còn có hai điểm khác biệt khá quan trọng giữa ghi chép của Toàn thư và Việt sử lược gồm: Thứ nhất là Việt sử lược cho biết Nguyễn Bặc và Lê Hoàn tôn Vệ vương lên ngôi hoàng đế, trong khi Toàn thư chép ba người là Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Lê Hoàn, dựa vào chức Ngoại giáp (chức quan trông coi quân đội ở bên ngoài) của Đinh Điền và các chi tiết như giao chiến tại Tây Đô hoặc bắt Nguyễn Bặc đem về kinh sư, người viết cho rằng sau khi cùng tôn Đinh Toàn lên ngôi, giữa Định quốc công và Thập đạo tướng quân xảy ra xung đột, do không nắm quân đội nên Nguyễn Bặc phải chạy đến chỗ Đinh Điền, hiện đang trấn giữ ở châu Ái. Thứ hai là Việt sử lược không hề chép đến sự kiện Phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn người Chiêm vào cướp, nhưng có chép tới sứ quân Trần Nhật Khánh và Tống sử – Chiêm Thành truyện có chép đến vị Quốc vương là Ngô Nhật Hoan, mà Khánh với Hoan đều có nghĩa là vui mừng.

Toàn thư chép: “Kỉ Dậu (1009) Phong cho chú làm Vũ Đạo vương, anh làm Vũ Uy vương, con của Vũ Uy vương là Trưng Hiển làm Thái úy, con của Dực Thánh vương là Phó làm Tổng quản” (Tt, tr.242)

Thiền uyển tập anh chép: “Ngày Lý Thái Tổ lên ngôi, Sư ở tại chùa Lục tổ đã biết trước, bảo với người bác và người chú của vua rằng: Thiên tử đã băng, Thân vệ ắt được lên ngôi. Hai vương nghe nói rất sợ sai người đi hỏi tin tức, quả đúng như lời sư nói” (Ncvtuta, tr.295-296)

Toàn thư chép: “Mậu Ngọ [1018] Mùa xuân tháng 2, truy phong bà nội làm hậu và đặt tên thụy. Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: Vua đến đây mới truy phong cho bà nội, đó là lỗi chậm trễ (…) Bính Dần [1026] Mùa xuân tháng giêng, xuống chiếu làm Ngọc điệp” (Tt, tr.250,252)

Rõ ràng Thái Tổ Lý Công Uẩn có cả đại gia đình, gồm người bác, người chú, người anh và người em (theo Việt sử lược là Dực Thánh vương, cứ vào Thiền uyển tập anh thì thấy chép người bác của Thái Tổ cũng được phong tước vương, nhưng người viết hiện chưa rõ hiệu) không chỉ truy phong cho cha mẹ mà Công Uẩn còn truy phong cho bà nội, như thế chứng tỏ ngài biết rõ về gốc tích của mình, tuy nhiên sự việc cũng không khỏi khiến chúng ta đặt nghi vấn rằng vì sao không thấy sách sử chép Thái Tổ truy phong cho ông nội và nếu ngài đã biết rõ về tổ tiên của mình thì tại sao nhiều năm sau mới thực hiện việc truy phong (Tống sử – Giao Chỉ truyện cho biết vào năm 1028 phương nam sai Hoan châu thứ sử Lí Công Hiển đến cống, còn Toàn thư thì chép tháng 8/1026 sai Lí Trưng Hiển và Lê Tái Nghiêm sang Tống kết hảo, tuy rằng thời gian đi sứ dài hơn thường lệ song người viết cho rằng thứ sử là thái úy, như thế người phương bắc đã cho thấy tên đệm của người cháu giống với của Thái Tổ). 

Tốc thủy kí văn (quyển 13) chép: “Trong niên hiệu Hi Ninh (1068-1077) Tiến sĩ Lĩnh Nam là Từ Bách Tường (…) ngầm viết thư cho Giao Chỉ rằng: Đại vương tổ tiên vốn người Mân. Nghe nói bây giờ công khanh, quý nhân ở Giao Chỉ đa phần là người Mân” (Nqclcu)

An Nam chí lược: “Lý Công Uẩn người Giao Châu (có kẻ bảo là người Phúc Kiến, không đúng – hoặc vị mân nhân phi dã) có tài thao lược, Lê Chí Trung dùng làm đại tướng, rất thân tín” (Ancl, tr.221)

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Hoàng đế nói Lê Hoàn bất nghĩa mà được ngôi, Công Uẩn lại học theo lối ấy, thật đáng ghét vậy. Nhưng lại cho là tục man không đáng trách” (Ant, tr.33-34)

Tuy tài liệu của người phương bắc[25] là Tốc thủy kí văn có chép việc Từ Bách Tường cho rằng tổ tiên họ Lí vốn người Mân, nhưng rất có thể vị tiến sĩ Lĩnh Nam biết được thông tin ấy từ việc nghe nói. Bản thân tác giả của An Nam chí lược cũng nghe (biết) được điều đó và Lê Tắc khẳng định thông tin ấy không đúng. Còn qua ghi chép của Tống sử thì dường như đối với hoàng đế phương bắc, Công Uẩn không khác Lê Hoàn, đều theo thói tục man di.

Chuông Nhật Tảo viết: “Các đệ tử Vô Pháp môn là đô xã chủ đại đức Đỗ Pháp Dao, xã phó Kim Huyền Ký, xã phán quan Lý Đạo Vinh, xã vụ Lý Huyền Tháo, đô giám Trần Huyền Đàm, lục sự Trần Pháp Tuyên, Trần Tiên Cao, cao công Đỗ Pháp Tính, Lý Khả Đạo, áp nha Lý Tề Cổ, Lý Thủ Sơ, đại đức Đỗ Tiên Liêu, Ngu Tiên Hưu, Lý Tiên Thọ, Trần Khả Lôi, Ngu Tiên Lữ, Phùng Thừa Tư, Trần Ngạn Ung, Lý Thiệu Vị, Phí Khuông Nhân thuộc hai phái Đạo giáo và Nho giáo, từ trong năm Giáp Thìn (944) đã chung nhau góp tiền vẽ một bức tranh Thái Thượng tam tôn” (Vbhnvnlt, tr.123)

Thiền uyển tập anh chép: “Sau khi Thiền Ông viên tịch, Vạn Hạnh chuyên tập pháp môn Tổng trì tam ma địa, lấy đó làm việc riêng mình. Bấy giờ sư nói ra lời nào thiên hạ đều cho là phù sấm” (Ncvtuta, tr.294)

Từ các tài liệu trên chúng ta thấy 3 việc: Thứ nhất có rất nhiều người trong Vô Pháp môn mang họ Lý, vì Công Uẩn sinh năm 974 nên thân phụ và ông nội của ngài hẳn là cùng thời với họ. Thứ hai chuông Nhật Tảo được tìm thấy ở Từ Liêm phía bên kia sông là Đông Anh và Từ Sơn nên người viết phỏng đoán rằng họ Lý vùng ven khúc sông Nhị Hà rất thế lực và đó cũng là một trong những lý do khiến Công Uẩn quyết định rời đô từ Hoa Lư (vốn là đất của hai họ Đinh Lê) về Thăng Long. Thứ ba các đệ tử của Vô Pháp môn là những tín đồ Đạo giáo, trong khi thiền sư Vạn Hạnh tu luyện theo con đường Mật tông (giữa Thiền tông và Mật tông có những sự khác biệt căn bản[26]. Thiền tông lấy hình thức tĩnh tọa nhập định làm phương pháp tu luyện căn bản. Mật tông tiếp cận với Đạo giáo, chú trọng đến các nghi lễ tôn giáo thần bí) nên có thể giữa họ có mối quan hệ kết giao.

An Nam chí lược chép: “Chiêu Thánh lên ngôi được một năm, năm Canh Dần (1230) trao quốc chính cho chồng là Trần Nhật Cảnh. Tất cả tôn thất nhà Lý và bình dân họ Lý đều khiến đổi ra họ Nguyễn để dứt lòng dân trông nhớ” (Ancl, tr.228)

Toàn thư chép: “Tân Mão [1231] Sử thần Ngô Sĩ Liên nói việc (đặt tượng phật tại đình) của Trần Thái Tông cũng giống như việc Vạn Hạnh với Lý Thái Tổ. Đó là mầm đầu tiên của sự sùng Phật ở đời Lý, đời Trần” (Tthvl, tr.14)

Trong sự nghiệp đế vương của dòng họ Lý thì Thiền sư Vạn Hạnh có vai trò đặc biệt, hoàng đế Trần Thái Tông lại là người hướng phật, có lẽ vì thế mà khi mưu tính dứt lòng dân trông nhớ tiền triều, người Tức Mặc đã lấy họ của Vạn Hạnh để bắt những người họ Lý trong nước đổi sang, thế nhưng họ Trần không thể nêu lý do như trên được, vì vậy phải kiếm lý do khác và có lý do gì tốt hơn là kị húy, nhưng những người đương thời có ai mà không rõ lai lịch của Trần Thừa chứ, do vậy Nguyên Tổ là một lựa chọn thích hợp, nói cách khác thân phụ của Trần Thái Tổ có phải tên húy là Lý hay không (Toàn thư chép năm 1021 sai Viên ngoại lang Nguyễn Khoan Thái và Nguyễn Thủ Cương sang Tống, trong khi Tống sử – Giao Chỉ truyện cho biết Trường châu thứ sử Khoan Thái họ Lí, giả sử Toàn thư không bị ảnh hưởng bởi kị húy thời Trần thì dựa theo trường hợp của Phạm Hạc người viết phỏng đoán thứ sứ thuộc gia tộc họ Nguyễn có người con gái làm dâu họ Lí, có thể là bà nội của Công Uẩn – người họ hàng nếu không muốn nghĩ là chị em với thiền sư Vạn Hạnh).  

(C.10) QUẢNG NGUYÊN CHÂU QUÁCH THÁI ÚY

(Bản đồ lấy từ sách LTK)

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý của học giả Hoàng Xuân Hãn viết: “Năm1028, có việc gì bất bình ở biên giới, phò mã Thân Thừa Quí đem quân vào đất Tống. Trại chúa châu Thất Nguyên (Thất Khê) Lý Tự bị chết. Thừa Quí bắt dân Tống đem về. Viên coi Ung Châu bàn hòa. Lý Thái Tổ ưng thuận” (Ltk, tr.94)

Tục tư trị thông giám trường biên chép: “Thiên Thánh thứ 6 [1028] Mùa hạ tháng tư, quyền trại chủ của châu Thất Nguyên là Tam ban tá chức Lý Tự cùng Giao Chỉ đánh nhau bị chết” (Quyển 106)

Theo ghi chép của Toàn thư vào năm 995 người phương nam từ châu Tô Mậu tấn công Lộc Châu (năm 996 Hoa Lư bình các đất Đan Ba huyện, Đại Phát động) đến tháng 8/1027 Thăng Long ban chiếu lệnh cử Khai Thiên vương đi đánh châu Thất Nguyên, còn Trường biên (quyển 106) cho biết vào tháng 4/1028 quyền trại chủ châu Thất Nguyên là Tam ban tá chức Lý Tự và Giao Chỉ đánh nhau bị chết, Tống sử – Giao Chỉ cho biết thêm vào năm 1028 Lý Công Uẩn sai con em cùng con rể là Thân Thừa Quý đem binh sang cướp, cho nên người viết dựa vào chữ Quyền (權) mà phỏng đoán rằng vị trại chủ cũ vốn là người qui thuận phương nam nhưng ngài tam ban tá chức lại thân phương bắc vì thế mà dẫn đến giao tranh, rồi

Toàn thư chép: “Đinh Sửu [1037] Mùa xuân tháng hai, vua thân đi đánh đạo Lâm Tây, sai Khai Hoàng vương làm Đại nguyên soái đánh các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên, cho Phụng Càn vương làm Kinh sư lưu thủ” (Tt, tr.265)

Theo Tống sử – Giao Chỉ cho biết vào năm 1036 người động Giáp cùng châu Lạng, Môn, Tô Mậu, Quảng Nguyên, động Đại Phát, huyện Đan Ba cướp châu Tư Lăng, Tây Bình, Thạch Tây cùng các động thuộc Ung châu. Trường biên (quyển 118) chép rằng tháng 2/1036 Quảng Tây chuyển vận sứ tấu báo người man thuộc động Giáp cướp Ung châu và giết tướng trấn giữ tại Đăng Uyển, tướng lính tại đó đã hội binh để truy kích; tháng 5/1036 Giao Chỉ quận vương Lý Đức Chính sai Hà Viễn và Đỗ Khoan sang cống sản vật địa phương (Toàn thư cho biết vào tháng 8/1034 Thăng Long sai Hà Thụ và Đỗ Khoan sang Tống dâng 2 con voi thuần, nhưng e là không đúng, bởi vì thứ nhất là vào tháng 6/1034 đã sai Trần Ứng Cơ và Vương Văn Khánh đi sứ sang Tống rồi và thứ hai là chuyến đi sứ có thời gian khá dài so với thường lệ); tháng 7/1036 Ung Châu tâu người man động Thân thuộc Giao châu cướp biên giới, xuống chiếu trách hỏi Lý Đức Chính, lại sai bắt người cầm đầu chính để hỏi tội nó. Việt sử lược chép (sau) tháng 4/1036 các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên làm phản. Toàn thư chép tháng 10/1036 đạo Lâm Tây và các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên làm phản, xâm lấn các châu Tư Lăng của nước Tống, cướp trâu ngựa đốt nhà cửa rồi về. Tiền biên thì lại chép tổng hợp các châu Lạng, Quảng Nguyên, Đô Kim xâm lấn Ung Châu, rõ ràng là ghi chép của sử phương nam và sử phương bắc sai lệch rất nhiều nên việc làm phản và cuộc xâm lấn là hai sự kiện không có mối liên hệ; rồi vì sử nam lại chép thêm những chiến dịch bình định các châu làm phản vào mùa xuân năm 1037 của triều đình, xem thế cũng khó mà bác bỏ được sự kiện châu Đô Kim và đạo Lâm Tây làm phản (chuyện này cũng dễ hiểu) bởi Thăng Long chỉ nhận được sự qui phục (hoàn toàn) của châu Vị Long (Người viết phỏng đoán rằng sự kiện Ngọa Triều hoàng đế đánh dẹp Ngự Man vương vào mùa hạ năm 1006 đã tác động đến chính sách của các vùng lãnh thổ mạn tây bắc, mà cụ thể như châu Vị Long, thông qua việc dâng con ngựa trắng chân có cựa vào tháng 10, nhưng có vẻ đó chỉ là một động thái mang giải pháp tình thế nhằm mục đích làm giảm căng thẳng với Hoa Lư vì thấy đến năm 1008 Khai Minh vương đem quân tấn công. Sang triều Thái Tổ vào năm 1012 người Nam Chiếu đến châu để buôn bán thì bị Thăng Long bắt giữ khiến cho mối quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng, đến tháng 10/1013 châu Vị Long tự chia tách với Đại Cổ Việt để phụ vào Nam Chiếu, nhận được tin ấy Lý Công Uẩn thân chinh đánh dẹp, thủ lĩnh là Hà Án Tuấn cùng đồng đảng bỏ trốn, sau đó xin binh của Nam Chiếu, người Man đem ba vạn quân đến chiếm đóng tại bến Kim Hoa vào tháng giêng năm 1014, Thăng Long cử Dực Thánh vương đem quân đi đánh, chém được 2 tướng là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí, tuy nhiên người châu Vị Long không chịu khuất phục nên lại lôi kéo người các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên tham gia, Thăng Long cử Dực Thánh vương và Vũ Đức vương tiến đánh vào năm 1015, bắt được thủ lĩnh Hà Án Tuấn, rồi đem chém đầu bêu tại chợ đông, nhưng muốn giảm sự nổi loạn của các châu mạn tây bắc, Lý Thái Tổ đã phải gả công chúa thứ ba cho cháu nội của Hà Đắc Trọng, vốn người Ung châu, dời đến sống tại Vị Long) mà đối tác là họ Hà lại không đủ sức hạn chế các châu đạo lân cận, tính chất nổi loạn có thể bộc phát bất cứ khi nào (bằng chứng là vào năm 1024 Thăng Long phải cử Khai Quốc vương đi đánh dẹp châu Đô Kim) lại thấy thêm rằng Việt sử lược không chép đạo Lâm Tây làm phản, cũng như Ngô sử gia chép rất rõ Lý Thái Tông và Khai Hoàng vương xuất binh khác nhau, đã chứng tỏ có hai cuộc nổi loạn của hai nhóm người (Cương mục chú rằng đạo Lâm Tây vào thời Trần là đạo Đà Giang, thời Lê đổi làm phủ Gia Hưng, Toàn thư chép vào tháng 3/1036 gả công chúa cho châu mục Phong châu, đến tháng 8/1036 gả công chúa cho Thượng Oai châu mục, người viết chưa rõ những sự kiện trên có mối quan hệ gì không).

Toàn thư chép: “Mậu Dần [1038] Tháng 12, Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên làm phản” (Tt, tr.266)

Tống sử – Quảng Nguyên châu chép: “Người man ở châu Quảng Nguyên là họ Nùng, châu ấy ở đầu nguồn sông Úc Giang, tây nam Ung Châu, đất cheo leo hiểm trở, sản ra hoàng kim, đan sa, có rất nhiều bộ lạc tụ cư thành lập. Trước kia, họ Vi, Hoàng, Châu, Nùng làm thủ lĩnh, vẫn cướp đoạt lẫn nhau. Từ khi người man Giao Chỉ chiếm cứ An Nam, thì Quảng Nguyên tuy gọi là châu ki mi do Ung Châu cai quản, kỳ thực lại phục dịch Giao Chỉ” (Ant, tr.46)

Theo ghi chép của Tống sử – Quảng Nguyên châu và Toàn thư thì Nùng Tồn Phúc trông coi châu Thảng Do, em trai ngài là Tồn Lộc trông coi châu Vạn Nhai, em vợ ngài là Đương Đạo trông coi châu Vũ Lặc, đều thuộc quản lí của Quảng Nguyên châu và hàng năm nộp cống đồ thổ sản. Rồi Tồn Phúc đánh chiếm các vùng đất (đổi lập thành nước Trường Sinh, tự xưng Chiêu Thánh hoàng đế, đắp thành kiên cố, sửa soạn binh giáp, không xưng thần, không nộp cống) mà phía đông nam giáp châu Tây Nông, phía tây nam giáp châu Đô Kim, với địa thế đó Tồn Phúc giữ hòa bình với Đại Lý ở phía tây bắc thì có thể liên kết với châu Đô Kim để đánh lấy châu Vị Long. Nếu liên kết với Nùng Hạ Khanh ở đạo Đặc Ma (mạn tây bắc) thì đều có thể tấn công lên Ung Châu ở phía đông bắc hoặc xuống Thăng Long ở mạn đông nam. Trước hình thế đó, hẳn triều đình rất tức giận khi nhận được tin báo của thủ lĩnh châu Tây Nông là Hà Văn Trinh vào tháng 1/1039, Thái Tông thân chinh đi đánh dẹp vào tháng 2/1039, bắt được Tồn Phúc và con trai là Trí Thông, đem về Thăng Long chém đầu tại chợ kinh đô vào tháng 3/1039, con trai của Tồn Phúc là Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng chạy đến động Lôi Hỏa.

Toàn thư chép: “Tân Tị [1041] Nùng Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa lại về chiếm cứ châu Thảng Do, đổi châu ấy làm nước Đại Lịch. Vua sai tướng đi đánh, bắt sống được Trí Cao đem về Kinh sư. Vua thương tình vì cha là Tồn Phúc và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha tội, cho giữ châu Quảng Nguyên, lại phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang” (Tt, tr.269-270)

Tống sử – Quảng Nguyên châu chép: “Giao Chỉ đánh hạ châu Thảng Do, bắt Trí Cao nhưng tha tội, sai coi châu Quảng Nguyên, lại lấy bốn động Lôi Hỏa Tần Bà cùng châu Tư Lang phụ thêm cho. Được bốn năm trong lòng oán Giao Chỉ, mới tập kích chiếm cứ châu An Đức, tiếm xưng Nam Thiên quốc” (Ant, tr.47)

Từ ghi chép của Toàn thư chúng ta thấy: Thứ nhất là Phật Mã sai tướng đi đánh dẹp và Trí Cao cũng chỉ chiếm giữ châu Thảng Do nên tính chất của cuộc loạn không nghiêm trọng. Thứ hai là qua sự việc Thăng Long bắt rồi tha cho Trí Cao, chúng ta có thể ngầm hiểu mục đích của Thái Tông gồm: trước hết triều đình cần vị thủ lĩnh có thể thống lãnh các thế lực ở châu Quảng Nguyên và ngài ấy phải chịu qui thuận Thăng Long, mà việc ân uy đủ cả thì Trí Cao là thích hợp, sau cùng là khi quyết định cho trông giữ thêm các châu động (Trường biên quyển 185 có chép địa danh Hỏa động, quyển 349 có chép địa danh Hạ Lôi, xem thế thì ngờ rằng 4 động được phụ thêm cho Trí Cao là Lôi – Hỏa – Tần – Bà) đã chứng tỏ Phật Mã muốn nuôi dưỡng người này với kỳ vọng sẽ giúp kiểm soát và lấn chiếm các vùng đất nơi cực bắc, nhưng

Việt sử lược chép: “Mậu Tí [1048] Nùng Trí Cao ở động Vật Ác làm phản, vua sai Võ Oai Hầu và quan Thái uý là Quách Thịnh Ích đi đánh dẹp. Tháng 3 (…) Mùa đông tháng chạp, Phạm Khứ Liêu mưu làm phản, sự việc phát giác, bị róc thịt ở chợ Đông” (Vsl, tr.86)

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý viết: “Thế mà năm Mậu Tí (1048) Trí Cao lại làm phản. Tiêu Chú (TTh 13) nói Trí Cao thông với người xung quanh vua Lý, định cướp nước (có lẽ cướp vùng Quảng Nguyên). Vua sai tướng đánh. Trí Cao thua chạy sang đất Tống; cướp châu An Đức” (Ltk, tr.75)

Tống sử – Quảng Nguyên châu chép: “Hoàng Hữu nguyên niên (1049) cướp Ung Châu. Năm sau (1050) Giao Chỉ phát binh thảo phạt, không thắng” (Ant, tr.47)

Việt sử lược chép: “Canh Dần [1050] Đặt các động Quyết Hạn, Đại Phát, Văn Tương ở địa giới châu Tây Bình trên đất Tống. Nùng Trí Cao giữ động Vật Dương ở châu An Đức đất Tống, lấy động đó làm nước Nam Thiên, cải nguyên là Cảnh Thụy” (Vsl, tr.87)

Tuy vậy Thăng Long luôn có những bất an về Trí Cao, cụ thể như trước khi xuất quân nam phạt Chiêm Thành vào tháng 1/1044 thì triều đình đã sai Ngụy Trưng đến châu Quảng Nguyên phong làm Thái bảo (Tt) và ban ấn Quận vương (Vsl) hoặc như phải ra uy với Trí Cao thông qua động thái triệu ngài về kinh sư vào tháng 12/1044 để chứng kiến sức mạnh của Thăng Long trong cuộc chiến với Chiêm Thành (Sử phương bắc cho biết được 4 năm thì Trí Cao mưu đồ tự lập, tính ra thì vừa khớp với năm giáp thân) nhưng Trí Cao trong lòng vẫn oán hận Giao Chỉ nên vào năm 1048 chính thức làm phản, rồi thêm cả Phạm Khứ Liêu, thì thấy cũng thật trùng hợp với lời của Tiêu Chú. Dựa vào ghi chép của sử phương nam, chúng ta có thể phỏng đoán rằng vào mùa xuân (Vsl) Nùng Trí Cao làm phản, đến mùa thu (Tt) thì bị Thái úy Quách Thịnh Dật và Võ Uy hầu (Thiền uyển tập anh truyện thiền sư Huệ Sinh bản chữ Hán trang 58b chép là 威武 bản dịch chú của hai dịch giả Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga để là Uy Vũ, lại thấy rằng Thái tử Nhật Quang được phong làm Oai Minh hầu nên từ đó ngờ rằng vị hoàng tử theo Thịnh Dật đi đánh Trí Cao có tước hiệu là Oai Vũ hầu) đánh bại. Thua trận tại động Vật Ác, Trí Cao tập kích rồi chiếm giữ động Vật Dương thuộc châu An Đức của nước Tống, vào năm 1049 thì tổ chức cướp phá Ung Châu, thấy sự lớn mạnh của thế lực Trí Cao, Thăng Long quyết định hành quân lên phía bắc (có thể là khi tới châu Tây Bình thì chiếm đặt 3 động, rồi tiến tiếp) đến châu An Đức, giao tranh với Trí Cao vào tháng 9/1050 (Tt) nhưng không vượt trội (Đại Phát động có lẽ bị mất khi họ Nùng làm loạn, tới đây thì chiếm đặt lại).

* Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tự viết: “Ta thấy thái úy Anh Vũ tên chữ là Quán Thế (thuộc dòng dõi) Quách công ở Lũng Tây. Tổ tiên là thái úy Quách công triều Thái Tông, vốn là người huyện Câu Lậu, Tế Giang sinh ra Thường Kiệt làm thái úy phụ bật triều Nhân Tông, được ban quốc tính là họ Lý. Ông thân sinh ra thái úy là Đỗ Tướng, cháu gọi thái úy Lý Thường Kiệt bằng cậu, nhà ở hương Tây Dự” (Vbtl, tr.264)

Việt sử lược chép: “Giáp Ngọ [1054] Mùa đông tháng 10, Thái Tông mất, vua vâng di chiếu, lên ngôi ở trước linh cữu (…) Lấy Quách Kình Nhật làm Thái úy” (Vsl, tr.88-89)

Các sách sử phương nam chép về thời Thái Tông (1028-1054) thấy có Quách Thịnh Dật giữ chức thái úy, lại thêm Toàn thư mục năm 1028 có chép đến vị tướng quân Quách Thịnh cùng Lý Huyền Sư, Lê Phụng Hiểu tham gia dẹp loạn tam vương, trong khi Việt điện u linh cho biết Lê Phụng Hiểu được Thái Tổ lấy để sung vào quân Túc Vệ Cấm Bình rồi thăng lên chức Võ Vệ tướng quân ngang hàng với Quách Thịnh Dật, Lý Huyền Sư trước khi ba vương làm phản, thế thì không loại trừ Toàn thư chép sót tên (Cương mục dẫn Thiên Nam trung nghĩa lục cho biết Dực Thánh vương là con thứ hai của Thái Tổ, người viết ngờ rằng sử quan đã dựa vào câu nói của Thái Tông rằng “ta đối với anh em không phụ bạc” được Toàn thư ghi chép chỗ loạn Tam vương để mà luận ra. Ngoài ra, một là Toàn thư cho biết vào năm 1014 Dực Thánh vương đi đánh man tây bắc, năm sau lại xuất binh nhưng có thêm Vũ Đức vương tham gia, đến năm 1028 toan tiếm quyền, Vũ Đức vương và Dực Thánh vương phục trong cửa Quảng Phúc thì dường như 2 người có mối quan hệ rất thân thiết, hai là Việt sử lược cho biết “quân của tam phủ đánh rất gấp” nhưng lại chỉ nêu Dực Thánh vương và Vũ Đức vương phục ở cửa Quảng Phúc, ba là Toàn thư cho biết Lê Phụng Hiểu tức giận, đến thẳng cửa Quảng Phúc, hô lớn “bọn Vũ Đức vương ngấp nghé ngôi báu” như thế rõ rằng Vũ Đức là trùm chính và thông thường theo tâm lí thì Đông Chinh vương luôn muốn ngôi báu thuộc về người có cùng huyết thống gần nhất, do đó Vũ Đức là con trai của Thái Tổ, Toàn thư chép Đông Chinh vương phục trong Long Thành, nhưng còn cho biết thêm đến năm 1029 nó mới được đắp).

Theo như bia chùa Linh Xứng thì Tín nữ Diệu Tính họ Lý, cháu gọi Thái úy bằng cậu (cữu công chi đích điệt) nên Quách Thường Kiệt có ít nhất hai người chị gái, một người lấy tướng công họ Đỗ, một người lấy tướng công họ Lý. Dựa vào văn khắc trên chuông Thanh Mai (huyện Thanh Oai) chúng ta thấy có rất nhiều người họ Quách trong hội Tùy Hỉ xã (chuông ấy được đúc vào năm 798). Việt sử lược có chép đến vị Tăng thống là Quách Mão dưới triều Lê Long Đĩnh (mà thấy Thiền uyển tập anh truyện Khuông Việt đại sư chép rằng sư lấy cớ già yếu xin cáo quan trở về dựng chùa, rồi danh hiệu của Chân Lưu là do chính Đại Thắng Minh hoàng đế ban, vậy mà Thập đạo tướng quân lại phế truất Đinh Toàn, hẳn do vậy mà đại sư cảm thấy bất an, muốn lánh xa Hoa Lư, nên có lẽ Khuông Việt thôi chức Tăng thống vào khoảng sau năm 994) còn truyện Tăng thống Huệ Sinh (?-1064) thì cho biết cha của sư là Lâm Khoáng lấy con gái của vị Tăng lục họ Quách, nhân đó dời nhà về Đông Phù Liệt (từ đó chúng ta có thể phỏng đoán Lâm Khoáng chuyển đến quê vợ để sinh sống) mà phía bên kia sông chính là đất Tế Giang, lại thêm người anh trai của sư làm quan Bộ binh viên ngoại lang, mà những người họ Quách thường giữ chức vụ cao trong quân sự, đó là những trùng hợp rất đáng ngờ. Qua việc cho Kình Nhật giữ chức thái úy[27], người viết phỏng đoán rằng Thạch Ích mất trước thời điểm năm giáp ngọ không lâu (theo học giả Hoàng Xuân Hãn thì bia đền Ngọ Xá do Nhữ Bá Sĩ soạn năm 1876 cho biết thân phụ của Lý Thường Kiệt đi tuần biên địa nhưng bị bệnh rồi mất và khi chép về lý do mà Thường Kiệt tịnh thân thì có đề cập đến một thuyết liên quan tới Nùng Trí Cao) người kế nhiệm chức thái úy cũng mang họ Quách, nên ngờ rằng Kình Nhật và Thạch Ích cùng tông tộc, nhưng trong Mộ chí chỉ viết đến người cậu của Đỗ Tướng là Thường Kiệt giữ chức thái úy, do vậy Kình Nhật không phải là con của Thịnh Dật.

Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh viết: “Lúc thái úy còn nhược quán (20 tuổi) được cử vào (trạc nhập) cấm thát hầu vua Thái Tông nhưng chưa đầy một kỷ (12 năm) tiếng khen đã nức ở nội đình. Đến khi vua Thánh Tông nối ngôi trị nước, thái úy hết lòng giúp đỡ (…) Khi nước Phật Thệ khinh nhờn phép tắc, không chịu vào chầu, vương sư rầm rộ tiến đánh, thái uy thao lược hơn đời, vào cung vua mà nhận mưu chước, chế quân luật mà đuổi đánh quân thù” (Vbtl, tr.221)

Mộng khê bút đàm chép: “Hàn Đức lên ngôi, hoạn quan Lý Thượng Cát cùng mẹ là Lê thị hiệu là Yên Loan thái phi cùng chủ trì quốc sự” (Quyển 25)

Toàn thư chép: “Ất Dậu [1105] Mùa hạ tháng 6, Thái úy Lý Thường Kiệt chết, tặng chức Nhập nội điện đô tri, Kiểm hiệu thái úy, Bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt Quốc công, thực ấp một vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến (李常憲) được kế phong tước hầu” (Tt, tr.294)

Nếu chỉ dựa trên thông tin Lý Thường Kiệt được cử vào cấm thát (như ghi chép của bia chùa Linh Xứng) thì chưa đủ cơ sở để kết luận ngài là hoạn quan, bởi như trường hợp của Đỗ Anh Vũ (theo thông tin trên Mộ chí) thì ngài được tuyển vào tử cấm lúc khoảng 10 tuổi, nhưng khi trưởng thành lại lập gia đình và thông dâm với thái hậu. Hơn nữa bia chùa Linh Xương có câu mô tả là “vào cung vua” (入宸扆) như thế rõ ràng Thường Kiệt sống ở ngoài hoàng cung, mà điều ấy trái với thói thường của quan thái giám. Theo ghi chép của Mộng khê bút đàm thì Lý Thường Kiệt là hoạn quan (nguyên văn là hoạn nhân) nhưng sách của Thẩm Quát lại có nhiều chỗ sai lệch với chính sử, mà chúng ta có thể xếp thành 3 nhóm gồm tên nhân vật, thời gian và sự kiện, qua sự sai khác về tên nhân vật, giả thuyết được đặt ra là tác giả của Mộng khê bút đàm viết sách chủ yếu dựa trên những thông tin có nguồn gốc từ truyền khẩu. Theo ghi chép của bộ chính sử Toàn thư mục năm 1105 thì thấy có nhiều thông tin giống với Việt điện u linh, cụ thể như cả hai sách đều cho biết ngài là người phường Thái Hòa thuộc kinh thành Thăng Long nhưng theo mộ chí thì thái úy người huyện Câu Lậu hoặc sau khi bắt được chúa Chiêm là Chế Củ thì ngài được phong Phụ quốc thái phó, Đồng trung thư môn hạ, Thượng trụ quốc, Thiên tử nghĩa đệ, Khai quốc công nhưng theo bia chùa Linh Xứng thì thái úy được ban làm em nuôi của vua sau chiến tranh Tống Việt hoặc đến khi ngài mất được triều đình tặng Nhập nội điện đô tri, Kiểm hiệu thái uý, Bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công nhưng theo Việt sử lược thì vào năm 1072 Thường Kiệt đã được phong làm Kiểm hiệu thái úy, ngoài ra còn vài chi tiết tương đồng như gia thế trâm hốt nhiều mưu lược có tài làm tướng, khi còn ít tuổi vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu thăng dần lên Nội thị sảnh đô tri, khi mất triều đình ban thực ấp một vạn hộ rồi cho em là Thường Hiến được nối tước phong hầu, vì thế người viết ngờ rằng Ngô sử gia đã dùng Việt điện u linh để bổ chép (bởi theo tác giả Lê Hữu Mục trong phần Dẫn nhập của bản dịch Việt điện u linh tập cho biết trong 27 chuyện được coi là của Lý Tế Xuyên thì có 19 chuyện dẫn nguồn gốc rõ ràng, còn lại 8 chuyện đã không ghi xuất xứ và chúng ta có thể chắc rằng 8 chuyện ấy là do sự tìm kiếm riêng của tác giả, mà trong đó có chuyện về Lý Thường Kiệt).

Toàn thư chép: “Ất Tị [1125] Ung Châu bắt bọn Mạc Hiền, xin sai người đến Giang Nam để giao trả. Vua sai người giữ phủ Phú Lương là trung thư Lý Hiến (李献) đến Giang Nam nhận đem về kinh sư. Đày Mạc Hiền vào châu Nghệ An, vợ con đều sung làm quan nô” (Tt, tr.303)

Toàn thư chép: “Giáp Dần [1254] Một hôm tan buổi chầu, vua ngự ra ngoài thành, thấy một người con trai theo học ở cửa nam thành. Vua muốn trao cho chức hành khiển, nhưng thấy khó, mới cho 400 quan tiền bảo tự hoạn, ban tên là Ứng Mộng. Sau này thăng dần đến chức hành khiển. Đó là bắt chước lệ cũ của triều Lý, dùng Lý Thường Kiệt và Lý Thường Hiến vậy” (Tthvl, tr.30)

Theo như Mộ chí của Đỗ Anh Vũ thì Thường Kiệt được ban quốc tính, thế mà người em Thường Hiến cũng mang họ Lý (ấy là bởi tác giả của Việt điện u linh nhầm rằng Thường Kiệt vốn gốc họ Lý) thấy rằng Toàn thư có chép đến vị Trung thư Lý Hiến nhưng hẳn không phải là em trai Thường Kiệt, vì giả sử vào năm 1054 Thịnh Dật sinh Thường Hiến thì đến năm 1125 ngài cũng hơn 70 tuổi, với độ tuổi này thật khó để nghĩ ngài được sai đi Giang Nam để tiếp nhận Mạc Hiền, ngoài ra trong cuộc chiến tranh Tống Việt cũng xuất hiện thêm vị Lý Hiến giữ chức Phòng ngự và từng được Tống triều cho làm phó trong cuộc nam chinh, nhưng rồi bị bãi chức trước khi xuất quân, mà trùng hợp khi người đó đích thị là một hoạn quan. Những gì chúng ta có thể xác định chắc chắn chính là việc sử gia Ngô Sĩ Liên đã tham khảo Việt điện u linh (cho biết vua thấy mặt mũi đẹp đẽ, cho ông tiền 3 vạn, bảo tự yếm) để từ đó đưa ra nhận định rằng Trần Thái Tông ban tiền cho người con trai theo học ở nam thành là bắt chước lệ cũ của triều Lý, mà Thường Kiệt là con trai của quan thái úy đầu triều, hẳn không phải tiến thân theo con đường tự yếm chứ?

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý – Chú thích số 9 viết: “Bia Linh Xứng dựng sau khi Lý Thường Kiệt mất, kê đủ các chức tước của ông như sau: Suy thành, Hiệp mưu, Thủ chính, Tá lý, Dực đới công thần, Thủ thượng thư lệnh, Khai phủ nghị đồng tam ti, Nhập nội nội thị tỉnh đô đô tri, Kiểm hiệu thái úy, Kiêm ngự sử đại phu, Dao thụ chư trấn tiết độ sứ, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Thượng trụ quốc, Thiên tử nghĩa đệ, Phụ quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, Thực ấp nhất vạn hộ, Thực thật phong tứ thiên hộ. Nghĩa là: Kẻ bầy tôi có công, trung thành, bày mưu, cầm tiết, giữ chính, giúp việc, phò tá; coi việc ti thượng thư, được quyền mở phủ, ngang với tam ti, được vào nội, coi tất cả các viêïc chầu trong cung, lĩnh chức thái úy đứng đầu các quân; kiêm chức ngự sử đại phu kiểm soát việc chính; ở kinh coi việc quân tất cả các trấn, cùng coi việc bí thư, hằng ngày đến gần vua bàn việc; hàm thượng trụ quốc; đã có công bắt được tướng giặc; em nuôi vua; chức thượng tướng giúp nước; tước quốc công, hiệu Việt; được phong lộc hạng một vạn hộ; được thật phong lộc bốn nghìn hộ. Bia Báo Ân (dựng trước khi ông mất) kê có khác một vài chữ như sau: chữ hiệp ở bia BA viết khẩu và thập, ở LX viết thập và ba chữ lực; Chữ nghị đồng thì BA viết khâm đồng; chữ phụ quốc thì BA viết khai quốc” (Ltk, tr.288-289)

Tiểu kết: Trong các tài liệu có niên đại gần nhất với sử kiện và được viết bởi những người có giao tiếp với thái úy thì không thấy đề cập đến việc ngài giữ chức Hoàng môn chi hậu hoặc một chức tương tự, còn những tài liệu chép rõ thì lại đáng ngờ, vì thế xin bỏ ngỏ! Người viết dựa vào câu “chưa đầy một kỷ” mà phỏng đoán thời điểm thái úy nhập cung là năm 1043 (1054-11) khi ấy ngài còn nhược quán nên ước năm sinh vào khoảng 1024 (1043-19). Cứ theo bia chùa Linh Xứng thì Thường Kiệt được thăng chức Kiểm hiệu thái phó trước cuộc nam phạt nước Phật Thệ (1069) khoảng niên hiệu Thần Vũ (1069-1072) được ban chức Thái úy, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.

(C.11) NGŨ HUYỆN GIANG THƯỢNG DƯƠNG CUNG

* Hoàng Việt thái phó Lưu quân mộ chí viết: “Thái uý quốc công thăng Thái phó, họ Lưu tên huý Khánh Đàm, người thôn An Lãng giang Ngũ Huyện quận Cửu Chân. Tổ khảo lấy theo họ mẹ, sinh được 5 người con trai, trong đó có Huy Triết công dời nhà tới ngụ ở xứ người, được xóm làng khen ngợi, tiếng đồn đến kinh đô. Đến đời vua thứ 2 triều Lý, sắc ban lấy nhà ôn lương sung vào hàng nội thị, lúc đó ngài mới 20 tuổi (…) Năm 69 tuổi, không may qua đời, giữ chức Tam ti phẩm tước cao quý (…) Mùa đông năm Tân Tị. Quan tài nhập mộ dinh” (Vbtl, tr.275-276)

Toàn thư chép: “Bính Thìn [1136] Tháng 3, Thái uý Lưu Khánh Đàm chết (…) Tân Tị [1161] Tháng 11, Thái úy Lưu Khánh Đàm chết” (Tt, tr.317,334)

Mộ chí cho biết Lưu thái phó mất năm tân tị, Toàn thư chép rõ niên hiệu Đại Định thứ 22 (1161) thái úy Lưu Khánh Đàm chết[28] nhưng mộ chí còn cho biết thêm Lưu công 20 tuổi được sung vào hàng nội thị trong đời thứ hai[29] triều Lý (1028-1054) nếu thế lại mâu thuẫn với thông tin Khánh Đàm hưởng dương 69 năm, nên người viết tán thành với chủ kiến của tác giả Lâm Giang rằng năm tân tị trong mộ chí là niên hiệu Long Phù thứ nhất (1101) (theo Toàn thư thì vào tháng 12/1100 xuất hiện đại dịch). Nguyên văn trong mộ chí có câu “để ưng tứ thế minh phụng xương triều” người viết cho rằng “tứ thế” nên hiểu[30] là triều thứ bốn (tức là đời Nhân Tông).

Văn bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni viết: “Chùa Hương Nghiêm ở núi Càn Ni là do thiền sư Đạo Dung [trùng tu] tiên tổ của thiền sư là Trấn quốc bộc xạ Lê công, thuộc một dòng họ lớn ở quận Cửu Chân, châu Ái (…) Khi vua Thái Tông tuyển chọn người trong quận, người anh họ của thiền sư là Thái phó Lưu công tướng mạo khôi ngô khác thường được vua xuống chiếu cho vào nội đình (…) Giữa năm Tân Mùi [1091] có 2 vị Phó kỳ lang họ Thiều và họ Tô, tấu xin lại khoảnh ruộng của tiên tổ là quan Bộc xạ” (Vbtl, tr.201-202)

Theo bia chùa Hương Nghiêm thì thiền sư Đạo Dung là con trai của trưởng lão Đạo Quang thuộc dòng dõi của trấn quốc bộc xạ Lê công, thế nhưng tùng huỳnh của thiền sư lại họ Lưu, rồi thêm trấn bộc xạ là tiên tổ của 2 vị Phó kỳ lang họ Thiều và họ Tô, những thông tin này cho phép chúng ta phỏng đoán đã có một biến cố nào đó, buộc hậu duệ của Lê công phải đổi họ.

Văn bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni viết: “Đãi đương kim Minh Hiếu hoàng đế tiễn tộ ngự bảo (…) thực thực phong tam thiên hộ, tịnh sắc xá kỳ tông tổ” (Vbtl, tr.198)

Thơ văn Lý Trần viết: “Xá (赦) nghĩa là tha tội. Chữ này trong câu không thích hợp. Cả đoạn văn đang nói về việc [thái phó Lưu Khánh Đàm] được phong chức và Đại Việt sử ký toàn thư đều có ghi chép khá kỹ nhưng không tài liệu nào nói tổ tiên ông phạm tội gì. Thông thường xưa kia mỗi khi con cháu được phong tước, cha mẹ tổ tiên cũng được truy tặng. Vì lẽ đó mà đoán là chữ Hách (赫) nghĩa là làm cho tổ tông rạng rỡ. Dạng của chữ Hách và chữ Xá giống nhau nên khi khắc lại bia, có lẽ người khắc đã nhầm” (Tvlttm, tr.428)

Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Pháp Dung. Chùa Hương Nghiêm núi Ma Ni phủ Thanh Hóa. Thiền sư người Bối Lý, họ Lê, là dòng dõi của Lê Lương, châu mục Ái Châu thuộc thời Đường. Gia thế 15 đời là dòng quý tộc ở bản châu. Cha là Huyền Ngật, đạo hiệu là Tăng Phán” (Ncvtuta, tr.318)

Người viết thì lại không cho là bị khắc nhầm, mà ngờ rằng hậu duệ của Lê công mắc tội phải đổi sang họ Lưu, sau có người làm tới chức thái phó nên được triều đình xá tội. Bia chùa Hương Nghiêm cho biết Đinh Tiên Hoàng ban Lê công tước Kim tử quang lộc đại phu, chức Đô quốc dịch sứ. Lê Đại Hành tuần du đến Ngũ Huyện giang thấy chùa ở đó đổ nát, liền cho tu bổ (nhưng không thấy đề cập tới trấn bộc xạ, có thể ngài đã mất trước đó). Thái Tông tuần du phương nam, tới châu Ái thấy chùa nơi đấy xiêu đổ bèn cho dựng lại (học giả Hoàng Xuân Hãn cho rằng đó là năm 1031 Phật Mã đi đánh châu Hoan về, phát tiền thuê thợ dựng sửa 150 chùa quán tại các hương ấp) đồng thời ban cho cháu đích (đích điệt) của Lê công là trưởng lão Đạo Quang làm Thiền chủ, trưởng lão là thân phụ của thiền sư Đạo Dung (có nhiều chỗ tương đồng với thiền sư Pháp Dung được chép trong Thiền uyển tập anh, nhưng lại cho biết ngài mất năm giáp ngọ niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ nhất (1174) học giả Hoàng Xuân Hãn ngờ rằng chép như thế chắc lầm). Thiền uyển tập anh cho biết thiền sư Pháp Dung thuộc dòng dõi Ái châu mục đời Đường (618-907) gia thế 15 đời là dòng quí tộc, bia chùa Hương Nghiêm cũng cho biết trấn quốc bộc xạ Lê công thuộc dòng họ lớn ở quận Cửu Chân, có lẽ Ái châu mục Lê Lương là thứ sử Lê hầu trong bia cổ Trường Xuân do học giả Đào Duy Anh phát hiện[31], chứ không phải là trấn quốc bộc xạ Lê công trong bia chùa Hương Nghiêm như phỏng đoán của học giả Hoàng Xuân Hãn, lại thấy tại Ngũ Huyện giang có sông Lương chảy qua, còn theo bia cổ Trường Xuân thì khi nhà Lương giữ ngôi, Lê hầu làm thứ sử Ái châu, người viết chưa rõ mấy chữ Lương kia có mối quan hệ gì không?

Toàn thư chép: “Ất Hợi [1035] Người châu Ái làm phản. Mùa đông tháng 10, vua thân đi đánh, cho Phụng Càn vương lưu thủ Kinh sư (…) Đánh được châu Ái, trị tội châu mục châu Ái, sai sứ đi phủ dụ dân chúng trong châu. Kinh sư lưu thủ là Phụng Càn vương Nhật Trung cho chạy trạm báo tin bọn nhà sư họ Hồ, em nuôi của Định Thắng đại tướng Nguyễn Khánh, Đô thống Đàm Toại Trang, Hoàng đệ Thắng Càn, Thái Phúc mưu phản (…) Vua xuống chiếu bắt bọn Khánh đóng cũi đem về Kinh sư. Tháng 11 ngày mồng 1, vua từ châu Ái về đến Kinh, làm tiệc rượu mừng việc trở về. Ủy lại các tướng sĩ có công dẹp châu Ái. Vua ngự điện Thiên Khánh xét án bọn sư Hồ, Nguyễn Khánh; đều phải xẻo thịt băm xương ở chợ Tây, còn những kẻ khác thì xét theo tội nặng nhẹ” (Tt, tr.264)

Theo như mô tả của Toàn thư thì cuộc nổi loạn năm 1035 không phải là tự phát mà đã được lên kế hoạch, thực vậy việc châu mục Ái châu chống lại triều đình là việc nguy lớn, với vị trí quan trọng, châu Ái có thể kiến Thăng Long mất kiểm soát các vùng lãnh thổ phía nam. Khi vua xuất chinh, thì tại kinh thành 2 vị vương Thắng Càn và Thái Phúc tổ chức tiếm ngôi với sự tham gia của rất nhiều tầng lớp, rồi khi Thái Tông giao chiến tại Ái châu, nếu không có dự cảm Định Thắng đại tướng Nguyễn Khánh làm phản thì e rằng Phật Mã khó mà mở tiệc rượu mừng trở về (vì thế tạm gọi cuộc loạn năm ất hợi là loạn nhị vương). Theo Toàn thư thì Thái Tông “sai sứ đi phủ dụ dân chúng trong châu” như thế rõ ràng có rất nhiều người châu Ái tham gia cuộc nổi loạn, trong khi họ Lê là họ lớn, nên rất có thể đã tham gia, rồi qua việc coi án thì “còn những kẻ khác xét theo tội nặng nhẹ” nên người viết ngờ rằng từ đó vài nhánh họ Lê phải đổi sang họ Lưu, họ Thiều, họ Tô.

Việt sử lược chép: “Giáp Ngọ [1054] Lấy Lưu Khánh làm Tả thanh đạo, Vương Hành làm Hữu thanh đạo” (Vsl, tr.89)

Tác giả Hoàng Văn Lâu có chỉ ra vài khác biệt rõ rệt như Lưu Khánh Đàm giữ chức Tiết độ sứ, Đồng tam ti bình chương sự, còn tùng huynh của thiền sư thì làm Kiểm hiệu thái phó kiêm Cung dịch sứ, Đại tướng quân để rồi phỏng đoán rằng có hai vị Lưu công thái phó, mà người anh họ của Đạo Dung chính là thân phụ của Khánh Đàm (Huy Triết công). Thêm nữa Toàn thư chép về Khánh Đàm với chức thái úy, còn mộ chí cho biết thái úy quốc công thăng (gia) chức thái phó, trong khi bia chùa Hương Nghiêm xác quyết Lưu công giữ chức Kiểm hiệu thái phó (mà theo học giả Hoàng Xuân Hãn thì Kiểm hiệu nguyên là một chức giám sát, đến đời Tống chỉ là một hàm, dùng để ban gia) vì thế gây ra khó khăn cho giả thuyết anh họ của thiền sư là Lưu Khánh Đàm. Theo thông tin trên mộ chí khi Khánh Đàm khoảng 20 tuổi (nhược quán) thì được sung vào hàng nội thị (Toàn thư cho biết vào tháng 1/1051 triều đình đặt quân nội ngoại Tùy Xa Long) trong khi Việt sử lược (tuy không thấy chép về thái úy nhưng) có chép đến Lưu Khánh được giữ chức Tả thanh đạo năm 1054, thế thì rất khó để hai người là một, bởi thời gian hầu cận rất ngắn.

* Việt sử lược chép: “Ất Tí [1065] Mùa đông tháng chạp, rồng vàng hiện ở điện Diệu Linh, lại hiện ra gác Du Thiềm, nơi mà bà Nguyên phi là Ỷ Lan ở” (Vsl, tr.95)

Toàn thư chép: “Bính Ngọ [1066] Mùa xuân tháng giêng ngày 25 giờ hợi, hoàng tử Càn Đức sinh (…) Mậu Thân [1068] Mùa xuân tháng 2, hoàng tử là Minh Nhân vương (không rõ tên) sinh, đó là người em cùng mẹ của Nhân Tông. Châu Chân Đăng dâng 2 con voi trắng, nhân đó đổi niên hiệu là Thiên Huống Bảo Tượng năm thứ nhất” (Tt, tr.282-283)

Theo ghi chép của bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (1121) thì phụ hoàng nằm mộng (Nhất Trụ tự bi do Tì kheo Lê Tất Đạt soạn (năm 1665) cho biết khi Lí Thánh Tông chưa có hoàng tử, mộng thấy phật quan âm dắt lên trên lầu, bế một đứa trẻ đặt vào lòng ngài, tháng đó hoàng (thái) hậu có thai, vua bèn dựng thêm chùa Diên Hựu bên phải chùa Một Cột) nước ngoài dâng voi trắng 6 ngà (Việt sử lược cho biết vào các năm 1059, 1060, 1063 Chiêm Thành tới cống) mẫu hậu có chửa (Thơ văn Lí Trần chú thích tuyết tượng lục nha theo truyền thuyết trong kinh phật, thì đó là con voi do đức phật cưỡi từ cung trời xuống đầu thai) gác cao phủ rồng vàng 5 sắc, đó là điềm báo lúc bệ hạ đầu thai. Theo ghi chép của Toàn thư vào tháng 2/1061 triều đình chọn 12 cô gái từ dân gian để đưa vào hậu cung (Việt sử lược cho biết cùng năm Thánh Tông đi cầu tự tại Ba Sơn) đến tháng 6/1063 triều đình dựng cung Động Tiên ở phía đông đại nội (rồi dựng chùa tại Tiêu Sơn để làm nơi cầu tự, đến tháng 12/1065 có hiện tượng rồng vàng phủ gác cao, lại theo mục năm 1072 thì hoàng tử Càn Đức sinh ra ở cung Động Tiên, như thế nó) phải bao gồm gác Du Thiềm (Toàn thư chép thêm là vào tháng 2/1068 Ỷ Lan thần phi sinh hoàng tử Nhân Minh vương) ngoài ra có những sai khác như Việt sử lược chép châu Chân Đăng dâng 2 con voi trắng vào tháng 1, trong khi Toàn thư chép vào tháng 2, chúng ta thấy rằng Việt sử lược chép năm 1068 có 3 nơi trong nước dâng voi trắng, còn Toàn thư thì chỉ chép một địa phương, có thể Ngô sử gia bị ấn tượng bởi sự kiện châu Chân Đăng dâng tới 2 con voi trắng, rồi kết hợp với việc đổi niên hiệu vì cớ năm đó triều đình nhận được nhiều voi dâng, nên Toàn thư đã chuyển sự kiện dâng 2 voi trắng của châu Chân Đăng từ tháng giêng sang tháng hai. Toàn thư chép tháng 4/1065 (nguyên văn là năm giáp thìn 1064, Việt sử lược chép vào tháng 6/1065, ngờ rằng Toàn thư chép lầm) Thánh Tông xét kiện ở điện Thiên Khánh, công chúa Động Tiên đứng hầu (thị trắc) bên cạnh, nàng có mối quan hệ gì với Càn Đức không (bia tháp Sùng Thiện Diên Linh cho biết “mười tháng hoài thai” tính ra vừa đúng tháng 4/1065).

Việt sử lược chép: “Nhâm Tí [1072] Mùa xuân tháng giêng, vua lên ngôi trước linh cữu Thánh Tông, tôn mẹ là Nguyên phi Ỷ Lan làm Thái phi. Quần thần dâng tôn hiệu (…) Lấy Thái hậu Thượng Dương cùng nghe bàn chính sự. Mùa hạ tháng 4, vua dùng quan trong hàng Đại liêu ban là Nguyễn Thường Kiệt làm Kiểm hiệu thái uý, Nguyễn Nhật Thành làm Binh bộ thị lang. Còn các cấp khác trở xuống, mỗi người một chức vị sai biệt nhau” (Vsl, tr.99)

Toàn thư chép: “Nhâm Tí [1072] Mùa xuân tháng giêng, Hoàng thái tử Càn Đức lên ngôi trước linh cữu, đổi niên hiệu là Thái Ninh năm thứ nhất (…) tôn mẹ đẻ là Ỷ Lan nguyên phi làm Hoàng thái phi, tôn mẹ đích là Thượng Dương thái hậu họ Dương làm Hoàng thái hậu, buông rèm cùng nghe chính sự, Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc” (Tt, tr.285)

Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn viết: “Đầu niên hiệu Thái Ninh (1072-1075) đức kim thượng Minh Hiếu hoàng đế lên ngôi, Thái úy với tài đức của Y Doãn, Hoắc Quang được nhà vua giao phó nhiếp chính và gửi gắm công việc xã tắc” (Vbtl, tr.221)

Các tài liệu trên cho phép chúng ta phỏng đoán những người giữ vị trí quan trọng trong triều đình khi Càn Đức lên ngôi gồm Thượng Dương thái hậu (cùng nghe bàn việc nước) khoảng 3 tháng sau triều đình sắp xếp nhân sự, khi đó lấy Đại liêu Lý Thường Kiệt làm Kiểm hiệu thái úy, như thế chứng tỏ mối quan hệ giữa hai người là tốt đẹp. Chúng ta thấy Việt sử lược chép rất kỹ về thời điểm Càn Đức lên ngôi, nhưng lại không thấy nó đề cập tới Lý Đạo Thành, dường như không có sự thăng trầm đối với vị thái sư (mà chúng ta có thể thấy qua ghi chép của Toàn thư) ngay như sự kiện năm 1072 không khỏi kiến chúng ta lúng túng, với chức vị thái sư thì giúp đỡ công việc triều chính là nhiệm vụ hiển nhiên, có phải vì thế mà câu ấy trở nên dư thừa, thành ra Việt sử lược không chép lại chăng hay là Toàn thư tự thêm vào? Theo như Việt sử lược chép thì Nhân Tông đổi niên hiệu vào tháng giêng năm 1073, dựa vào bia chùa Linh Xứng chúng ta biết rằng khi Minh Hiếu hoàng đế lên ngôi, ngài đã đổi sang niên hiệu Thái Ninh, như thế Toàn thư chép đúng (nên có vài sự kiện chép ở chỗ tháng 1/1073 trong Việt sử lược cần thảo luận thêm, như Chiêm Thành sang cống, thấy rằng Chân Lạp tới chầu từ tháng 4/1072, rồi đến tháng 7/1072 Chiêm Thành được tha thuế vải, vậy thì hẳn sứ Chiêm phải sang cống trước tháng 7/1072 và) việc tôn Thái phi lên làm Thái hậu chưa hẳn đã diễn ra vào tháng giêng (mà thấy trong tháng 7/1073 có điểm lành là rồng vàng hiện ở gác Du Thiềm, thế nên có thể nghĩ rằng việc tôn sùng diễn ra gần thời điểm ấy chăng) cái đáng chú ý là châu quận dâng hươu trắng (người viết cho là để chúc mừng) vào tháng 8 lại chính là châu Phong, do đó ngờ rằng Ỷ Lan thuộc dòng dõi họ Lê đất Phong Châu (hoặc Chân Đăng) và phu nhân được chọn vào hậu cung năm tân sửu. Học giả Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý cho biết trong niên hiệu Trị Bình (1064-1067) thời Tống Anh Tôn (Tống sử – Giao Chỉ truyện – quyển 488) Giao Chỉ sai Châu mục Phong châu Lê Thuận Tông làm sử giả tới Quế châu gặp Lục Sân (với thái độ kiêu ngạo như trước) để đòi lại đất và dân mà tụi Nùng Tông Đán đã đem dâng cho Tống (Tống sử – Lục Sân – quyển 332) còn theo Thiền uyển tập anh truyện Thiền sư Trí Nhàn thì Phò mã Thuận Tông làm quan đến chức Trung thư Đại liêu ban, con là Lê Đạc giữ chức Minh tự (Toàn thư cho biết năm 1068 triều đình đổi hương Thổ Lỗi thành hương Siêu Loại vì là nơi sinh của nguyên phi, thế nhưng cũng chính sách ấy chép rằng sứ quân Lí Khuê giữ Siêu Loại lúc giao thời Ngô Đinh, thêm nữa tuy Việt sử lược chép nhiều đầu việc hơn nhưng lại không thấy đề cập đến sự kiện đó).

Việt sử lược chép: “Nhâm Tí [1072] Mùa hạ tháng 4, Quan Lạng châu mục là Dương Cảnh Thông dâng con hươu trắng, quần thần dâng biểu chúc mừng, bái Dương Cảnh Thông làm Thái bảo” (Vsl, tr.99)

Văn khắc trên chuông chùa Sùng Khánh châu Tư Lang viết: “Thứ sử châu Phú Lương kiêm Tiết độ quan sát sứ các châu Quảng Nguyên, Tư Lang, Kim tử vinh lộc đại phu, Kiểm hiệu thái phó kiêm Ngự sử đại phu (…) Dương Cảnh Thông đặc biệt bỏ ra đồng tinh hơn bảy ngàn cân, tạo chuông lớn một quả, lưu lại cúng dường (…) Nhà ông thuộc Thái Bình, vốn dòng quí hiển, tiên tổ có công, rủ lành tích thiện. Hiển (tổ) là Thượng thư bộ binh (…) Cao tổ chức Thái phó, sinh ra Định (tổ) húy là Nhật Đăng làm đến Thái bảo. Thái vương phụ húy Khuông, tu tập nhân lành, chức rốt Thiếu phó. Vương phụ húy Huệ Doanh sinh được ba con. Ông là con út (…) liền triệu vào chầu, đáng làm rể quý, chọn lựa ngày lành, làm lễ gả công chúa Thọ Dương, tỏ lòng biệt đãi. Xóm làng ca ngợi, họ tộc vẻ vang, lại đội ơn đức kim thượng lễ đãi khác thường, gia phong phẩm trật” (Tlcskcm)

Toàn thư chép: “Đinh Dậu [1117] Phò mã lang là Dương Cảnh Thông dâng hươu trắng” (Tt, tr.297)

Thời điểm năm 1072 thái hậu Thượng Dương đang cầm quyền nên Cảnh Thông được ban chức Thái bảo và kết hôn với công chúa, hẳn là chủ kiến nhằm củng cố quyền lực và gia thêm vai trò của Dương tộc châu Phú Lương trong chính trường (theo văn khắc trên chuông Sùng Khánh thì thấy có lời chúc cho cha mẹ đã mất cùng gia quyến của hai bên sớm siêu sinh, mà tên hiệu của công chúa có chữ Dương nên ngờ rằng nàng là con gái của thái hậu). Theo khảo cứu của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì đời Nhân Tông có Mạc Hiển Tích và Đoàn Văn Khâm đều giữ chức Thượng thư (Ngô sử gia cho biết vào năm 1086 Mạc Hiển Tích trúng tuyển được bổ làm Hàn lâm học sĩ, còn Thiền uyển tập anh chép rằng khi thiền sư Chân Không tịch vào năm 1100, công bộ thượng thư Đoàn Văn Khâm có làm thơ truy điệu) giả sử rằng vào thời điểm năm 1072 Cảnh Thông khoảng mười lăm tuổi thì Hiển tổ của ngài được xác định giữ chức Thượng thư triều Thái Tông, nhưng kì lạ là chưa thấy cuốn sử phương nam nào chép đến và qua trường hợp của Nguyễn Nhật Thành được giữ chức Thị lang bộ binh (như là một bằng cớ phủ nhận, thật vậy) Việt sử lược cho biết sau Thường Kiệt thì Nhật Thành được chép riêng tên, còn những người khác thì gom gộp lại, thế chứng tỏ chức Thị lang bộ binh rất được quan tâm (nhưng trong hệ thống quan chí thì thị lang là chức giúp việc cho thượng thư) nên thực khó hiểu? Chúng ta không thấy Toàn thư chép đến Nhật Thành, nhưng chỉ từng ấy là chưa đủ để khẳng định Ngô sử gia chép nhầm ngài ra Lý Đạo Thành, nhưng đó cũng là một gợi ý vì chẳng phải chính học giả Hoàng Xuân Hãn và sử gia Trần Quốc Vượng cũng cho rằng Nguyễn Nhật Thành là Lý Đạo Thành, theo như đó giả sử rằng Ngô Sĩ Liên cũng nghĩ hai vị là một nên người vào coi giữ châu Nghệ An là Nguyễn Nhật Thành thì bị chép sửa thành Lý Đạo Thành.

Việt sử lược chép: “Quý Sửu [1073] Tôn Thái phi làm Thái hậu Linh Nhân. Thái hậu Linh Nhân có tính hay ghen ghét, thấy bà đích mẫu được tham dự việc triều chính mới bảo vua rằng: Mẹ già khó nhọc nuôi con để có ngày nay, đến lúc phú quý thì người khác hưởng, ăn ở như thế thì đặt mẹ già này vào chỗ nào? Nhà vua tuy nhỏ bé nhưng cũng có hiểu biết chút ít, rằng mình không phải là con của Thái hậu Thượng Dương, bèn đem Thái hậu Thượng Dương và 72 thị nữ ở cung Thượng Dương rồi bức khiến chết theo vua Thánh Tông” (Vsl, tr.100)

Toàn thư chép: “Quý Sửu [1073] Tôn Hoàng thái phi làm Linh Nhân hoàng thái hậu. Linh nhân có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú qúy người khác được hưởng thế thì sẽ để mẹ già vào đâu? Vua bèn sai đem giam Dương thái hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông” (Tt, tr.286)

Không khó để nhận ra ghi chép của Việt sử lược và Toàn thư rất tương đồng, hẳn là cùng một gốc, nhưng vẫn có sự khác biệt giữa 2 tài liệu trên ở chỗ nếu như Việt sử lược chép các sự kiện luôn gắn liền với mốc thời gian thì Toàn thư đã lược bỏ hết ngày tháng chỉ để lại các sự kiện mà thôi, dựa vào ghi chép của Toàn thư mục năm 1115, chúng ta biết thêm về nguồn tài liệu dân gian, tuy chỉ thông cáo việc sử dụng thông tin của Tục truyền trong sự kiện giải thích nguyên cớ Linh Nhân thái hậu dựng nhiều chùa, nhưng lại hé lộ thêm là dân gian cũng rõ việc Dương thái hậu bị bức tử, người viết ngờ rằng nguồn tài liệu của Toàn thư và Việt sử lược đã thu lượm thông tin từ dân gian, án cung Thượng Dương chỉ là một chương trong tập tục truyền về nguyên phi Ỷ Lan, mà tổng thể chúng ta có thể tái lập được gồm cuộc gặp giữa vua với cô thôn nữ hái dâu (mà Ngô sử gia đã thừa nhận tại mục năm 1063 của Toàn thư) trị dân khi hoàng đế không ở triều và cuộc chiến trong nội cung.

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý viết: “Triệu Tiết nói: Vì mưu của Lý Thường Kiệt (TB chép Thượng Cát) và Lý Kế Nguyên, nên Giao Chỉ đã làm loạn. Càn Đức (Lý Nhân Tông) và mẹ (Ỷ Lan) oán hai người ấy và nay lại tin vào Nguyễn Thù. Thù vốn có lòng quy thuận” (Ltk, tr.195)

Văn khắc trên chuông chùa Sùng Khánh châu Tư Lang viết: “Nay kính chúc Đương kim Hoàng đế, cơ đồ bền vững, ngôi báu yên bình, ơn huệ rãi đều, oai quyền nắm mãi. Thứ đến chúc Thánh Thiện Hoàng thái hậu, đạo vượt Ốc Đăng, thọ hơn Phụ Bảo” (Tlcskcm)

Theo như lời của Phó tướng nam chinh Triệu Tiết thì Lý Thường Kiệt là kẻ chủ mưu trong sự cướp Ung Châu và Ỷ Lan nguyên phi phản đối kế hoạch ấy cũng như oán hận thái úy, qua đó chứng tỏ Thường Kiệt và nguyên phi không cùng phe cánh, thậm chí là đối kháng (ít nhất là) từ khi thực hiện chiến dịch bắc phạt. Rồi giả như có Thượng Dương án thì liệu rằng người Phú Lương còn hiếu thuận và trung thành với triều đình không, chẳng những thế xem lời xưng tụng trên chuông Sùng Khánh đối với Nhân Tông hoàng đế và Linh Nhân thái hậu thì dường như không hề có biến cố nào xảy ra.

Toàn thư chép: “Quý Sửu [1073] Bấy giờ mưa dầm, rước phật Pháp Vân về kinh để cầu tạnh. Bức lệnh tuẫn vu thánh tông lăng (…) Quý Mão [1123] Tháng 3, mở hội khánh thành chùa Quảng Hiếu ở Tiên Du, truy dâng lễ cúng Thánh Tông và Thượng Dương hoàng thái hậu” (Tt, tr.286,301)

Việt sử lược chép: “Nhâm Tí [1072] Mùa thu tháng 7, an táng vua Thánh Tông (…) Rước tượng phật ở chùa Pháp Vân về kinh sư cầu tạnh (…) Quý Sửu [1073] Tháng giêng, bức lệnh tuẫn thánh tông táng” (Vsl, tr.99)

Qua sự kiện dâng lễ cúng năm 1123 cho thấy Càn Đức đối với Thượng Dương thái hậu rất kính trọng và cả hai tài liệu đều chép là Bức (逼) với nghĩa Ép Buộc chứ không phải Giết, nên chúng ta chưa rõ Thượng Dương cung gồm 72 người chết như thế nào (chôn sống chăng) nhưng có sự sai khác rất đáng chú ý về thời điểm mưa dầm (dâm vũ) thực vậy nếu đối chiếu với 2 sự kiện rước tượng phật ở chùa Pháp Vân và cúng thần núi Tản Viên thì có thể khẳng định Ngô sử gia đã chuyển chép các sự kiện diễn ra vào tháng 7/1072 vào mục năm 1073, chúng ta chưa chắc chắn được nguyên nhân, mà chỉ có thể ngờ rằng đó là sự gom chép (các sự kiện diễn ra ở những thời điểm khác nhau nhưng có mối liên hệ thì được chép gộp) một là Toàn thư có đề cập tới việc chết theo (tuẫn) tại lăng của Thánh Tông hoặc Việt sử lược cho biết chôn cất (táng) cùng Nhật Tôn và hai là liền trước sự kiện bức tử thái hậu thì có chép việc tôn thái phi làm thái hậu, xem thế có thể phỏng đoán việc giam Dương thái hậu cũng như bức tử diễn ra vào tháng 7/1072, còn đến năm 1073 thì chỉ gồm việc tôn mẹ làm thái hậu mà thôi (rất khó để biết lối gom chép bắt đầu từ bộ sử nào). Dựa trên ghi chép của Việt sử lược cùng với sự kiện dâm vũ mà Toàn thư đã dùng để chuyển chép, người viết phỏng đoán khi tiến hành an táng vua Thánh Tông vào tháng bảy thì có hiện tượng mưa dầm, trong quá trình thực hiện nghi lễ, thái hậu Thượng Dương đổ bệnh rồi mất (lại thấy Toàn thư và Việt sử lược chép rằng bắt các cung nữ tuẫn theo Linh Nhân thái hậu và Nhân Tông hoàng đế nên thái hậu Thượng Dương hẳn cũng không khác) thành ra có vài người hầu tuẫn theo, nhưng vì thế mà bị đồn thổi hoặc Dương thái hậu muốn tuẫn theo Thánh Tông chăng?

(C.12) TÔNG ĐẢN LÊ THÁI SƯ

* Việt sử lược chép: “Giáp Dần [1074] Mùa thu tháng 9 (…) Đem trước các đạo binh gần 10 vạn người chia làm hai đạo, sai Nguyễn Thường Kiệt đem thủy quân ra Vĩnh An đánh Khâm Liêm. Tông Đản đem quân bộ ra Vĩnh Bình (…) Thường Kiệt đánh lấy được 2 châu Khâm Liêm, lại cùng với Tông Đản họp binh vây Ung (…) Bính Thìn [1076] Mùa thu tháng 7, nhà Tống sai quan Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ và Triệu Cao làm Chiêu thảo sứ tập hợp 9 vị tướng quân kéo binh sang đánh nước ta. Nhà vua sai Nguyễn Thường Kiệt lãnh đạo thuỷ quân chống cự lại. Hai vị quan hầu tước là Chiêu Văn và Hoằng Chân đều bị chết chìm ở sông Như Nguyệt” (Vsl, tr.101-102)

Cương mục chép: “Ất Mão [1075] Lời cẩn án: Sử cũ chép tháng 2, Thường Kiệt sang đánh nhà Tống, phá được Khâm Liêm. Tôn Đản vây Ung Châu hơn 40 ngày, phá được thành. Nay theo sử Cương mục tục biên thì tháng 11 mùa đông năm ất mão, Giao Chỉ đem đại binh vào lấn cướp, phá Khâm châu và Liêm châu. Tháng giêng mùa xuân năm bính thìn phá Ung châu (…) Sử cũ chép lầm, xin đính chính” (Cm, tr.351)

Văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc chép: “Năm Ất Mão niên hiệu Thái Ninh [1075] thân phụ ông chỉnh đốn vương sư, đánh sang ải bắc, vây thành Ung châu cho bõ giận, bắt tướng giặc dâng tù binh. Do đó được ban lên chức Hữu đại liêu ban, Đoàn luyện sứ, cấy cày theo phép cửu nhất, thóc lúa chất cao tựa núi, khách khứa đông đục 3 nghìn, cửa nhà nhộn nhịp như phố chợ” (Vbtl, tr.88)

Theo văn bia thì họ Hà châu Vị Long cũng tham gia cuộc tấn công 3 châu nhà Tống, số lượng quân tham gia khoảng 3 ngàn người, rõ ràng trận đánh lớn như vậy lại có sự tham gia của rất nhiều lực lượng ở các châu quận khác nhau thì phải được chuẩn bị kỹ càng, nên thời điểm chép trong Sử cũ rất có thể là thời gian triều đình chiếu dụ chuẩn bị lương thảo quân nhu để đánh Tống. Trong trận chiến xuất hiện rất nhiều nhân vật, tuy nhiên sách sử phương nam chép rất hạn chế, có 2 nhân vật được nhắc tới là Lý Thường Kiệt và Tông Đản, qua những ghi chép chúng ta thấy 2 vị này mỗi người dẫn một đạo quân tấn công vào đất Tống, vậy thì Tông Đản hẳn phải là một nhân vật tầm cỡ mới được giữ trọng trách lớn như vậy, cũng thật kỳ lạ, khi một nhân vật tầm cỡ như Tông Đản lại chỉ được ghi chép có một lần trong sách sử, với công lao dẫn đạo lục quân, vây thành Ung Châu thì hẳn Tông Đản phải được ban thưởng rất hậu và giữ chức vụ rất lớn trong triều đình mới phải, ngay như vị họ Hà châu Vị Long, sau cuộc tấn công 3 châu cũng được phong chức Hữu đại liêu ban Đoàn luyện sứ? Rồi trong lần quân Tống tiến vào đất Việt không thấy sách sử nhắc tới Tông Đản, Thường Kiệt là nguyên soái thì hẳn rồi, nhưng ngài chí ít cùng phải giữ chức gì đó trong cuộc kháng Tống, nhưng Tông Đản không được nhắc đến, có khi nào ngài đã tử trận trong lần vây châu Ung?

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý viết: “Hoằng Chân có nuôi riêng 500 quân đặc biệt; cấm mọi điều thị dục, dạy cho trận pháp. Đội quân riêng ấy rất giỏi. Hiệu lịnh rất nghiêm. Người nào cũng cầm một cái kim bài để làm hiệu riêng (ĐP) [đến khi] Thuyền của đội quân riêng của Hoằng Chân bị đắm, nhưng ai cũng cầm vững kim bài mà chết (ĐP). Tả lang tướng Nguyễn Căn bị tướng Tống là Đặng Trung bắt” (Ltk, tr.213)

Lại càng kỳ lạ hơn khi mà sử phương bắc biết rất tường tận về Hoằng Chân và các tướng lĩnh nhà Lý nhưng lại không thấy chép về Tông Đản? Dựa trên sự gần âm của Đán và Đản cùng việc Nùng Tông Đán nhiều lần theo Tống rồi bỏ Tống nên học giả Hoàng Xuân Hãn phỏng đoán rằng Tông Đản ở trong sử ta là Nùng Tông Đán hoặc một người con của y, tuy nhiên thấy rằng con trai của Nùng Tông Đán là Nùng Nhật Tân chết trong trận Ung Châu nên được vua Tống tặng cho chức giám áp Ung Châu vào tháng 2/1076, rồi vào tháng 6/1076 ti An Nam tuyên phủ đã sai Nùng Tông Đán kiểm điểm đinh tráng để đánh Lưu Kỷ, như thế rõ ràng là lúc xung đột xảy ra, cha con Nùng Tông Đán theo người Tống.

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý viết: “Châu Quảng Nguyên là một yếu địa. Tướng cầm quân ở đó là Lưu Kỷ. Lưu Kỷ nối Nùng Trí Cao. Sau khi Trí Cao thất bại, bộ hạ y là tụi Hoàng Trọng Khanh, Lư Báo về theo Kỷ (MKBD) (…) Kỷ làm quan sát viên ở Quảng Nguyên (TB 279/11a) thường qua các khê động mua ngựa. Có con Nùng Trí Cao là Trí Hội ở châu Quí Hóa, cản đường. Trí Hội bấy giờ đã qui phụ Tống. Kỷ đem 3.000 quân sang đánh đất châu Ung. Trí Hội và con là Tiến An chống lại. Kỷ lui quân về (TB 263/7a) (…) Vương An Thạch nói: “Càn Đức còn bé, nếu Lưu Kỷ đánh được Trí Hội, rồi quay lấy Giao Chỉ, thì đó sẽ là cái họa cho ta. Ta nên giúp Trí Hội để chế lại Lưu Kỷ, làm cho nó không rỗi tay mưu đánh Giao Chỉ. Thế thì mới lợi cho ta” (TB 263/7b). Theo ý Vương An Thạch, cũng như ý của người Tống đương thời, Lưu Kỷ là một tướng độc lập ở Quảng Nguyên, thanh thế không kém gì vua Lý. Cho nên mới có lý luận trên (…) Ngày 15 tháng 2 (T. Su, DL 22-3) lúc Triệu Tiết vào bái từ để xuống miền nam trước Quách Quì, vua Tống Thần Tông dặn dò căn vặn: “Hễ dùng thổ dân, có đưa thực lợi thì mới sai được chúng (…) Nếu chúng quả không theo, hãy giết đi vài ba họ để thị uy. Lúc binh uy đã có, ta sẽ bắt đầu ép Hữu giang, rồi ép Tả giang. Sau khi hai đạo ấy theo ta rồi, ta sẽ đánh sào huyệt Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, không khó nữa” (T Su, DL 22-3: TB 273/8b). Tống chú ý đến Lưu Kỷ như vậy, vì Kỷ là một kiện tướng giữ vùng Quảng Nguyên (…) Tuy sử ta không hề còn ghi tên Lưu Kỷ, nhưng ta cũng thấy rằng Kỷ giữ một trọng chức bấy giờ. Kỷ có 5.000 quân, luôn luôn uy hiếp hữu dực quân Tống” (Ltk, tr.121,168)

Đoạn chú thích viết: “Trong các sách Tống, thường chép tên châu mục Quảng Nguyên là Lưu Kỷ (TB, TS, ĐĐSL). Nhưng cũng có một vài nơi lại chép Lưu Ứng Kỷ, như trong truyện Quách Quì ở TS 290 và chuyện Yên Đạt ở ĐĐSL 84.1” (Ltk, tr.201)

Theo những tài liệu mà học giả Hoàng Xuân Hãn đã viết ở trên thì chúng ta thấy rằng người đứng đầu vùng biên viễn bấy giờ là Lưu Kỷ, ngài là nhân vật đặc biệt, được triều đình Tống đánh giá là không thua kém nhà Lý, thậm chí người Tống còn sợ Lưu Kỷ lấy được Giao Chỉ thì còn đáng lo hơn để Càn Đức giữ. Nếu như Thái Tông muốn đặt quan sát sứ là Nùng Trí Cao tại Quảng Nguyên bị thất bại, thì Thánh Tông lại thành công với Lưu Kỷ, theo như ghi chép của Trường biên (quyển 279) thì sau khi ra hàng người phương bắc, Châu mục cùng gia quyến bị đưa về kinh đô.

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý viết: “Quách Quì nói: “Quảng Nguyên là cổ họng của Giao Chỉ (…) Lưu Kỷ đóng ở đó, là quan sát sứ của giặc, mà lại là chủ mưu sự cướp Ung Châu. Nếu ta không bắt được nó, thì thanh thế ta không thể nổi dậy” (MC Quách Quì, theo TB 279/11a) (…) Lúc được lệnh vào Quảng Nguyên (…) Yên Đạt biết cơ khó lòng bắt được Lưu Kỷ, bèn định dùng mưu cắt vây cánh của y. Đạt phao tin rằng Lưu Kỷ đã nhận lời theo Tống và hẹn ba ngày nữa sẽ ra hàng. Các khê động tưởng thật, đều theo Tống. Lưu Kỷ sợ thế cô lập. Ba ngày sau cũng đem gia thuộc và các động trưởng ra hàng. Ấy là ngày Bính Tuất mồng 4 tháng 12 (DL 1-1-1077; TS 15). Quì bắt được 5.000 quân của Kỷ và cứu được 3.000 quân bị Kỷ bắt trước đó (…) Triệu Tiết trả lời: Trước đây, Giao Chỉ lấy tụi Lưu Kỷ làm mưu chủ. Nay tụi ấy đã được ta bổ làm công chức (…) Từ kinh thành Giao Chỉ đến biên trại cũ, đường đi mất hơn mười ngày. Từ trước, giặc tới đó chưa từng có đủ lương ăn. Chúng chỉ nhờ tụi Lưu Kỷ góp nhặt cấp cho, mà cũng không đủ ăn nửa tháng. Hết rồi thì chúng cướp đoạt của dân. Cho nên dân rất oán thù. Trước đây, tụi Kỷ liên lạc với các khê động ở đất ta, và nhờ dẫn đường, nên chúng giám vào cướp. Nay phên giậu đều hết sạch. Chúng biết nương tựa vào đâu mà dám dòm ngó biên thùy” (Ltk, tr.197-198,230)

Theo lời của Quách Quỳ thì Lưu Kỷ chính là chủ mưu của sự cướp Ung châu và theo như Triệu Tiết thì Châu mục Quảng Nguyên có vai trò rất quan trọng trong cuộc tấn công lên phía bắc (theo dõi những sự kiện liên quan tới Lưu Kỷ, chúng ta thấy rằng trước khi quân Lý tấn công châu Khâm Liêm vào tháng 11/1075 thì vào tháng 4 nhuận năm 1075, Lưu Kỷ đã có xung đột với Nùng Trí Hội và Trí Hội được người Tống hỗ trợ, đồng thời nhà Tống có các hoạt động quân sự ở phía nam, khiến nhà Lý rất lo lắng và thổ dân vùng biên giới bị xáo trộn. Trong cuộc chiến Tống Việt, có tiến sĩ Từ Bá Tường, quê ở châu Bạch thuộc Quảng Tây từng viết thư cho Thăng Long có nhắc đến nguồn gốc Mân của tiên thế đại vương họ Lí, chúng ta chưa rõ phương nam có phản biện gì về thông tin mà Bá Tường đã được nghe nói hay không, người viết thì ngờ rằng Thăng Long hoàn toàn im lặng, thậm chí còn cố gắng phát tán tin đồn ấy, vì với thân phận là người Mân sẽ có lợi hơn là man Giao Chỉ trong cuộc bắc tiến, chẳng thế mà bức thư của tiến sĩ đề cập tới nguồn gốc Mân làm chi).

Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý viết: “Vào tháng giêng năm Ất Mão (1075) Lý Thường Kiệt xui vua Nhân Tông gửi biểu tới triều Tống đòi lại tụi Thiện Mỹ. Lời biểu rằng: “Thủ lĩnh châu Ân Tình, tên Ma Thái Dật là người châu Định Biên ở đất tôi, nó đã dời sang châu Ân Tình và nay đổi tên Nùng Thiện Mỹ. Nó và 700 bộ thuộc đã trốn sang Trung thổ. Vậy xin xét rõ căn do”. Vua Tống bảo xét (TB 259/13a). Không thấy Tống trả lời, ta dâng biểu đòi trả tụi dân ấy. Lưu Di không chịu chuyển biểu (TB 272/2a). Cuối cùng, vua Tống không bằng lòng trả Nùng Thiện Mỹ” (Ltk, tr.120)

Theo như lời biểu của Thăng Long gửi Tống triều vào đầu năm 1075 có nhắc đến trường hợp của Nùng Thiện Mỹ, vốn là người Định Biên có tên Ma Thái Dật, nhưng khi dời sang châu Ân Tình thì đổi thành Nùng Thiện Mỹ, vậy việc này có xảy ra với Tông Đản không, cụ thể sử phương nam chép là Tông Đản, trong khi sử phương bắc chép là Lưu Kỷ?

Giả thuyết: Tông Đản trong sử Việt là Lưu Kỷ trong sử Tống, vì những lý do sau: Thứ nhất là theo sử phương nam Tông Đản là người có vị trí quan trọng thứ hai trong cuộc tấn công vào ba châu Ung Khâm Liêm. Thứ hai là theo sử phương bắc thì Lưu Kỷ là người đứng đầu vùng biên giới Tống Lý, là thế lực không thua kém gì Thăng Long, là kẻ từng xung đột với các thủ lĩnh qui thuận Tống triều, đã từng đem quân tấn công châu Ung và được vị thống lĩnh cuộc nam phát Quách Quì xác định là kẻ chủ mưu tấn công châu Ung. Thứ ba là sử phương nam không chép về Lưu Kỷ, sử phương bắc không chép về Tông Đản, nhưng lại xuất hiện trường hợp người châu Định Biên thuộc nhà Lý là Ma Thái Dật khi dời sang châu Ân Tình thuộc nhà Tống thì đổi tên thành Nùng Thiện Mỹ.

* Toàn thư chép: “Ất Mão [1075] Mùa xuân tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học” (Tt, tr.287)

Thiền uyển tập anh chép: “Đại sư Mãn Giác chùa Giác Nguyên, Cửu Liên. Người Lũng Chiền, làng An Cách họ Nguyễn tên Trường. Cha là Hoài Tổ làm quan đến chức Trung thư viên ngoại lang. Vua Lý Nhân Tôn, lúc còn làm thái tử, xuống chiếu mời con em các danh gia vào hầu hai bên. Sư nhờ nghe nhiều, nhớ kỹ học thông cả Nho, Thích nên được dự tuyển” (Ncvtuta, tr.232)

Theo như ghi chép của Thiền uyển tập anh thì dưới thời Thánh Tông có chiếu lệnh cho con em các danh gia vào hầu thái tử học, mà theo Toàn thư thì Lê Văn Thịnh trúng tuyển và được tham dự, như vậy xem chừng ngài cũng là người có gia thế. Việt sử lược cho biết vào tháng 12/1076 triều đình lấy Nội cấp sự Lê Văn Thịnh làm Thị lang bộ binh, đây là việc thay đổi nhân sự rất đặc biệt, bởi vì theo học giả Hoàng Xuân Hãn (trong Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý) thì ngày 09/07/1076 người phương bắc chiếm được châu Vĩnh An, ngày 21/12/1076 Quách Quì dẫn quân tới sông Như Nguyệt, giao chiến với Lý Thường Kiệt khoảng 40 ngày, thật khó để nghĩ trong thời điểm khốc liệt của cuộc chiến, người phương nam lại thay đổi nhân sự (người viết cho rằng có thể Nguyễn Nhật Thành bị chết trận, vì trong trận Kháo Túc vị hầu Hoành Chân tử trận, còn Tả lang tướng Nguyễn Căn thì bị bắt) và việc điều chuyển hẳn là có sự đồng thuận (hoặc chủ kiến) của Thái úy Quách Thường Kiệt.

Việt sử lược chép: “Ất Sửu [1085] Mùa thu tháng 8, lấy Lê Văn Thịnh làm Thái sư” (Vsl, tr.105)

Theo ghi chép của Tục tư trị thông giám trường biên thì: Tháng 12/1076, Càn Đức sợ hãi, cử kẻ dưới đến tận nơi dâng biểu xin hàng, dâng nộp 5 châu Tô Mậu, Tư Lang, Môn, Lạng (?) Quảng Nguyên (quyển 279) (Quyển 349 cho biết Văn tư sứ không hợp pháp là Kiểu Văn Ưng đã từng nhận đại binh đến đâu thì là biên giới); Tháng 2/1077, bởi vì (mới) thu phục đất Quảng Nguyên, Cơ Lang đặt thành quận huyện, mà mọi người sợ đến đó (…) lấy Quảng Nguyên châu làm Thuận châu (…) rồi tấu dùng Đào Bật làm tri Thuận châu, giặc mấy lần vào cướp, chiếm lại huyện Cơ Lang, phao tin sắp đánh châu thành (quyển 280) (Tống sử – Đào Bật truyện cho biết đặt đất lấy được là động Quảng Nguyên làm Thuận châu, Quang Lang làm huyện); Tháng 1/1078, Giao Chỉ quận vương Lí Càn Đức dâng biểu nói: Thần đã phụng chiếu sai người biếu sản vật địa phương, xin ban cho lại Quảng Nguyên, Cơ Lang cùng các châu huyện (quyển 287); Tháng 9/1078, chiếu lấy các châu Quảng Nguyên, Tô Mậu, Môn cùng huyện Cơ Lang trả lại, nhưng đem thủ lĩnh gây ra loạn tới biên giới sai chặt đầu (quyển 292); Tháng 4/1079, Quảng Nam tây lộ kinh lược ti nói: châu Thuận An, động Cống trước thuộc Ung châu, mới rồi Tuyên phủ ti nhân thu phục Quảng Nguyên tách ra cho thuộc Thuận châu, xin lại thuộc như cũ, chấp thuận (…) Quảng Nam Tây Lộ kinh lược ti nói: man cướp Thuận châu, xin thêm quân (quyển 297); Tháng 10/1079, Quảng Nam tây lộ kinh lược ti nói: Giao Chỉ trả về 221 người cướp được, chiếu tiếp nhận, bãi bỏ Thuận châu, lấy đất ấy ban cho Giao Chỉ (quyển 300) (Tống sử – Giao Chỉ truyện cho biết triều đình thấy nó vô dụng, bèn lấy hết 4 châu trả lại); Tháng 6/1082, Giao Chỉ quận vương Lí Càn Đức dâng sừng tê, ngà voi mỗi thứ 50 cái, lại nói: thủ lĩnh động Cổ Đán thuộc quản của châu Quảng Nguyên là Nùng Dũng cùng hộ dân động ấy làm phản, chạy vào Ung châu, nhiều lần gửi công hàm cho Ung châu nhưng không thấy thực hiện. Chiếu: Nùng Dũng vốn không thuộc cai quản của Giao Chỉ, mà quy thuận trước khi Giao Chỉ chưa hàng, vậy là dân ta, xét lý khó mà cho lại (quyển 327); Tháng 9/1082, tri châu Thượng Nguyên của Giao Chỉ là Dương Thọ An cướp châu Quy Hóa, đóng binh toan vào Thuận An cùng 7 châu động (quyển 349); (Theo Toàn thư thì tháng 10/1081 thái sư Lí Đạo Thành chết, theo bia chùa Báo Ân thì trong năm 1082 thái úy Lý Thường Kiệt được điều chuyển vào trông giữ châu Ái, theo bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc thì tháng 12/1082 triều đình đưa tiễn công chúa Khâm Thánh về nhà chồng tại châu Vị Long, theo Việt sử lược thì cũng trong tháng 12/1082 Chi hậu hoành Nguyễn Ba Tư mưu phản bị tội chết, đến tháng 2/1083 Càn Đức ngự trên điện Thiên Khánh để duyệt định các hoàng nam, đã cho thấy một là có vẻ như Lí thái sư và Quách thái úy có mối quan hệ khá gắn bó, mà nền tảng có thể từ những năm 1054, hai là đã có sự chuyển giao quyền lực trong triều đình, mà cái chết của chi hậu hoành là biểu hiện, ba là hoàng đế có chính sách đối với vấn đề biên giới khác với những cựu thần); Tháng 6/1083, Quảng Nam tây lộ kinh lược sứ Hùng Bản nói: đã phái Đề cử Tả Giang đô tuần kiểm Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Thành Trạc và Giám điền nãi kim khanh Triều phụng lang Đặng Khuyết cùng tới trại Vĩnh Bình hẹn An Nam bàn định biên giới (quyển 335); Tháng 9/1083, Quảng Tây kinh lược ti nói: Người lo liệu công việc chung là Đàm Thiểm nói: Đào Tông Nguyên nói: “đất thuộc Quảng Nguyên nhỏ, khó mà bàn phân chia, muốn tự viết tấu chương nhờ triều đình quyết định ưng cho không”. Tông Nguyên sau đấy không nghe mệnh, hiện đã trở về An Nam (quyển 339); Tháng 12/1083, Quảng Tây kinh lược ti nói: Quy Hóa châu nói: Giao Chỉ tụ binh, lại muốn lấy châu, mới rồi người Giao nói vì truy bắt Nùng Trí Hội mà xâm phạm Quy Hóa (quyển 341); (người Giao) muốn lấy đất Vật Dương của Nùng Trí Hội nên đánh Quy Hóa đuổi Trí Hội, Trí Hội chạy đến Hữu Giang xin quân (…) Hùng Bản xin lấy 8 động đất Túc Tang ban cho (quyển 346).

Theo ghi chép của Toàn thư thì vào tháng 6/1084 sai Binh bộ thị lang Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình bàn việc cương giới. Theo ghi chép của Tục tư trị thông giám trường biên thì (Hội nghị Vĩnh Bình diễn ra trong tháng 7/1084) Thành Trạc nói: lấy phía nam (theo chiều dọc) 18 xứ gồm động Thượng Điện, Hạ Lôi, Ôn, Nhuận, Anh, Dao, Vật Dương, Vật Ác, Kế, Thành, Cống, Lục, Tần, Nhậm; huyện Cảnh, Tư, Hà, Kỷ để phân chia biên giới (bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc cho biết thủy tổ của thái phó Hà Hưng Tông là người thôn Ca Nông, hương Thạch Bách, huyện Hà, Đông Đô, châu Ung) bởi vì chúng đều thuộc đất của triều đình. (Lê Văn Thịnh đáp): bồi thần tiểu tử chỉ nghe theo mệnh, không giám tranh chấp, nhưng đất họ Nùng dâng đều thuộc Quảng Nguyên. May gặp thánh triều, có nhiều chính sách thay đổi rộng lượng, sao lại muốn đất sỏi chướng lệ ấy, mà không cho về lại với đất gốc, để giúp kẻ ngoại thần. (Có kẻ) nói: những chỗ quân của vua mới đây lấy được thì đáng trả lại, còn viên quan coi giữ dâng nộp thì khó mà trả lại. Văn Thịnh lại lập luận rằng: đất thuộc chủ, viên quan coi giữ mang trốn đi, thì vật ấy là ăn trộm của chủ, giữ của chủ mà tự lấy trộm đã không tha thứ được, mà giữ vật ăn trộm pháp luật cũng không cho phép (Căn cứ theo thư của Lê Văn Thịnh gửi Hùng Bản – quyển 349); (Nên) tháng 7/1084, Xu mật viện nói: sứ Giao Chỉ đang thảo luận cương chí, hoàn toàn chưa tuân phục (quyển 347); (Đối chiếu ghi chép chỗ Kế nghị biện chính An Nam cương chí trong quyển 348 với chỗ Mật viện Thời chính kỉ trong quyển 349 thấy có sự tương đồng nhưng cũng có dị biệt nên phỏng đoán như sau); Tháng 8/1084, Thành Trạc nói: đã cùng Lê Văn Thịnh biện chính, xin giáng chiếu ban gia ân (quyển 348); Chiếu cho Hùng Bản hỏi Thành Trạc: công điệp cùng diện nghị của Lê Văn Thịnh nói là không dám tranh chiếm những châu động mà Nùng Trí Hội, Nùng Tông Đán đem dâng, dựa vào chỗ nào để xin giáng chiếu (quyển 348) (Quyển 349 cho biết ngày 7/8, sai Hùng Bản bảo Thành Trạc bày tỏ công điệp và diên nghị của Lê Văn Thịnh, chẳng thấy nói không giám tranh chiếm châu động mà Nùng Tông Đán dâng nộp); Hùng Bản nói: Thành Trạc căn cứ vào tờ trạng của Lê Văn Thịnh: “như Thành Trạc bàn: tại phía nam Vật Dương, Thuận An cùng các động, dùng để phân chia địa giới, bồi thần không giám tranh chấp” tức là căn cứ biện chính đã rõ ràng (quyển 348) (Quyển 349 cho biết ngày 20/8, Hùng Bản tấu: Thành Trạc trình rằng: tờ trạng của Lê Văn Thịnh thể hiện lấy phía nam Câu Dương, Thuận An cùng các xứ dùng để hoạch định địa giới; Ngày 23/8, nay cứ vào Quảng Tây kinh lược ti tấu: sai Thành Trạc và Giao Chỉ sai quan Lê Văn Thịnh đến cùng biện giải chỉ dụ, đã rõ đầu đuôi, xin giáng chiếu); Tháng 10/1084, Sắc cho Giao Chỉ quận vương Càn Đức biết: hai động Vật Dương, Vật Ác đã đặt điều hành, lấy 8 ải gồm Canh Kiệm, Khâu Củ, Khiếu Nhạc, Thông Khoáng, Canh Nham, Đốn Lợi, Đa Nhân, Câu Nan làm địa giới, ngoài địa giới đó có 6 huyện Bảo Lạc, Luyện, Miêu, Đinh, Phóng, Cận và 2 động Túc, Tang ban cho khanh làm chủ (quyển 349).

Chúng ta thấy có 3 điểm đáng chú ý trong loạt các sự kiện trên gồm: thứ nhất là Hùng Bản và Thành Trạc thấy lời của Văn Thịnh tuy rằng có ý xin đất, nhưng vì có nói chỉ nghe theo mệnh, không dám tranh chấp nên dựa vào đấy mà định, cố ý giáng chiếu (Trường biên quyển 349) thứ hai là Hùng Bản là người chủ kiến ban cho Giao Chỉ 8 động của đất Túc Tang từ năm 1083 mà những đất ấy theo mô tả là cỏ không mọc được, thứ ba là theo như ghi chép của Toàn thư thì vào tháng 10/1081 Thái sư Lý Đạo Thành mất, mà chiếu chỉ trả lại đất của Tống triều được ban bố vào tháng 10/1084, nhưng phải đến tháng 8/1085 Lê Văn Thịnh mới được giữ chức Thái sư, như thế cho phép chúng ta phỏng đoán rằng người kế nhiệm Lý Đạo Thành không phải là Thị lang bộ binh (mà có thể là Nguyễn Thù, tác giả Hoàng Xuân Hãn đặt giả thuyết ngài là quan khu mật Nguyễn Châu được Toàn thư chép tại mục năm 1042).

Toàn thư chép: “Mậu Thìn [1088] Mùa xuân tháng giêng, phong nhà sư Khô Đầu làm Quốc sư (có thuyết nói là cho tiết việt, cùng với Tể tướng đứng trên điện, xét đoán công việc và đơn từ kiện tụng của thiên hạ, chưa chắc là có thể). Định các chùa trong nước làm ba hạng đại, trung và tiểu danh lam, cho quan văn chức cao kiêm làm đề cử. Bấy giờ nhà chùa có điền nô và kho chứa đồ vật, cho nên đặt chức ấy” (Tt, tr.291-292)

Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn viết: “Nhân lúc rảnh việc triều chính, thầy của thái hậu là Trưởng lão Sùng Tín bỗng từ kinh sư đến quận này, mở mang giáo hóa, khơi thông mọi tập tục khác lạ” (Vbtl, tr.222)

Việt sử lược chép: “Tân Mùi [1091] Mùa xuân tháng 2, vua ngự lên Lạng Châu xem bắt voi. Kiến quan Lê Toàn Nghĩa dâng con rùa năm sắc, Lê Văn Thịnh dâng một con voi trắng” (Vsl, tr.106-107)

Theo ghi chép của Tục tư trị thông giám trường biên thì vào: Tháng 6/1085, ban cho Giao Chỉ quận vương Lí Càn Đức chiếu: triều đình xem biểu dâng xin cương thổ các động Vật Dương, Vật Ác rất kỹ (…) bởi vì Càn Đức dâng thư, xin đổi sắc ban các động Vật Dương, Vật Ác (quyển 345); Tháng 1/1086, chiếu cho Quảng Tây kinh lược ti xét việc Tri châu Quảng Nguyên là Dương Cảnh Thông sai Đàm An cướp đoạt dân vùng biên giới (Phò mã là người kế nhiệm Lưu Kỷ giữ chức Quan sát sứ châu Quảng Nguyên, chưa rõ ngài có liên hệ gì với Tri châu Thượng Nguyên là Dương Thọ An); Tháng 6/1086, Giao Chỉ quận vương Lí Càn Đức nói: Nước hạ thần có 2 động Vật Dương, Vật Ác (gồm 8 huyện) nằm tiếp giáp địa vực của bệ hạ (trước sau) bị những kẻ giữ các đất này phản bội lấy đi, theo về với bệ hạ. Động Vật Dương vào năm bính thìn (1076) bị thu nhập lãnh thổ của bệ hạ, động Vật Ác thì vào năm nhâm tuất (1082) bị thu lấy rồi sau lập thành ải Thông Khang. Những đất ấy, vốn do tiên tổ của thần ngày trước đánh diệt những kẻ phản nghịch chiếm cứ, xông pha gian khổ, trải bao hiểm nguy dốc hết sức mình, bất kể tính mạng mà có được. Năm giáp tí, Quảng Tây kinh lược ti từng tâu lên triều trước, xin lấy 2 động Túc Tang và 6 huyện ban cho thần làm chủ, xét ra Túc, Tang rõ thuộc về nước của hạ thần, không phải là những đất thần trình bày để xin hiện nay nên không dám vâng lệnh (quyển 380) (Quyển 349 cho biết Kinh lược ti Hùng Bản cũng nói: trong niên hiệu Gia Hựu (1056-1063) Nùng Tông Đán đem Vật Ác cùng một số động về qui thuận, ban tên Thuận An châu, trong niên hiệu Trị Bình (1064-1067) Nùng Trí Hội đem động Vật Dương qui thuận, ban tên là Qui Hóa châu) (GS Minh Di dịch, người viết lược đổi). Chiếu đáp: đặc biệt cắt đất ải Khang để ban cho (quyển 380); Tháng 12/1086, Xu mật viện nói: Quảng Tây kinh lược ti tấu: Tả tàng khố phó sứ Ung châu tả giang đô tuần kiểm sứ Thành Trác thuật lại: Tiến phụng Lê Chung nói kín là Quận vương trình bày xin đất nhưng chưa được chiếu trả lời. Xin sao chép nguyên thư trạng của Lê Văn Thịnh đã dâng, ngày về bẩm lại với Quận vương. Nếu Lê Chung đến cửa khuyết lại xin thì đem là thư dài của Lê Văn Thịnh giảng dụ chi tiết cho Lê Chung hiểu rõ (quyển 393); Tháng 8/1088, chiếu Lí Càn Đức rằng: trẫm vâng theo lời dạy của tổ tiên, cốt yên biên cương, huống hồ nhiều lần giáng chiếu giảng rất rõ ràng, nên không bàn lại việc Vật Dương, Vật Ác nữa (quyển 413) (người viết dựa theo chương 8 khôi phục đất mất trong Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý để biên soạn).

Thứ nhất là vào năm 977 tù trưởng người man châu Quảng Nguyên là thản xước Nùng Dân Phú được ban Kiểm hiệu tư không (Trường biên quyển 18) thời Lê – Lí thì tuy Quảng Nguyên là châu ki mi thuộc Ung Châu cai quản nhưng kì thực phục dịch Giao Chỉ (Tống sử quyển 495) thời Thái Tông bất kể tính mạng đánh diệt kẻ phản nghịch Nùng Trí Cao, thời Thánh Tông có Nùng Tông Đán đem các động Vật Ác, Kế Thành, Hỏa, Tần qui thuận Tống đổi tên thành châu Thuận An (năm 1077 lấy châu Thuận An, động Cống thuộc vào Thuận Châu, năm 1079 lấy châu Thuận An, động Cống thuộc vào lại Ung Châu, năm 1082 chia tách đất Vật Ác làm hai, một để đặt ải Thông Khang, còn một để ban cho Giao Chỉ là đất Túc Tang) và Nùng Trí Hội đem động Vật Dương qui thuận Tống đổi tên thành châu Qui Hóa (Trường biên quyển 349 cho biết sau khi Lưu Kỉ nộp đất, triều đình lấy châu Thông Nông ban cho Trí Hội, có thể Càn Đức dựa vào sự kiện ấy để xác định Vật Dương được triều đình nhập vào lãnh thổ năm 1076). Thứ hai là qua việc Tiến phụng Lê Chung xin được chép lại trạng thư của Thị lang bộ binh Lê Văn Thịnh gửi Tống triều, cho thấy rõ ràng là Thăng Long đang dò tra lại các hoạt động của phái đoàn tham dự hội nghị định biên và người viết cho rằng Lê Chung có tấu xin[32] lại đất nên triều đình mới giáng chức của Thành Trạc vào thời điểm mà phái đoàn phương nam được ban phong (tháng 5/1087) nhưng hẳn Tiến phụng sứ không biện luận được nhiều cho sự vụng chữ của thái sư. Có sự kiện khá trùng hợp là vào tháng 1/1088 Khô Đầu được phong làm Quốc sư với vai trò như Tể tướng là đứng trên điện, xét đoán công việc, đơn từ kiện tụng của thiên hạ, làm chúng ta ngờ rằng sau khi sứ thần về nước, nhận được trạng thư, Càn Đức đã rất tức giận vì Lê Văn Thịnh có nói “không giám tranh chấp” nên giáng chiếu lưu đày thái sư đến Lương giang đầu. Nhưng lại thấy có 2 sự kiện bác bỏ giả thuyết trên gồm: một là ngoài việc phong quốc sư thì triều đình còn định chùa trong nước làm 3 hạng, rồi cho các quan văn trông coi, thế thì đây là những chính sách nhằm điều chỉnh phật giáo, chứ không phải là phản ứng riêng lẻ đối với thái sư, hai vào năm 1091 Lê Văn Thịnh còn hiện diện qua việc dâng voi trắng (đối chiếu ghi chép giữa Việt sử lược với Toàn thư chúng ta thấy cả hai sách này đều chép thiếu và không những thế Việt sử lược còn chép gộp sự kiện vua xem bắt voi vào mùa xuân với việc Lê Toàn Nghĩa dâng rùa năm sắc vào mùa đông, vì thế chữ Kiến nên hiểu là Được, chứ không phải tên một chức quan, theo bia chùa Hương Nghiêm thì đến năm 1091 họ hàng của thiền sư Đạo Dung là Phò ký lang họ Thiều, họ Tô tấu xin lại khoảnh ruộng của tổ tiên, vua chấp thuận nên qua mùa thu thái úy Thường Kiệt chủ trì việc chia ruộng đất, rồi thiền sư xin sắc lệnh tha tội cho em của Lê công (sư sắc xá hệ lê công đệ) nên có thể Đạo Dung đã nhờ cậy thái sư dâng voi trắng để tấu xin chăng). (Theo ghi chép của Toàn thư thì những buổi đầu thực quyền coi triều chính thiên nhiên ôn hòa nên trong nước thanh bình, mà đổi dùng niên hiệu Hội Phong (1092) là chứng tích, thế nhưng hoàng đế và thái hậu lại ham tạo tác, sùng tín phật pháp, thiên nhiên trở nên khắc nghiệt vào khoảng tháng 6/1095 khi xuất hiện cuộc đại hạn hán (có thể là nguyên nhân dẫn đến cái chết của hoàng hậu Thánh Cực – Vsl) khiến triều đình buộc phải giảm miễn các khoản tang thuế, nhưng lại cho là Trời không thuận nên tìm phương cứu chữa thông qua việc phóng thích tù nhân và hẳn hoàng đế sẽ không thức tỉnh vì sau đó trời có mưa).

Toàn thư chép: “Bính Tí [1096] Mùa xuân tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang. Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ (…) Người đánh cá là Mạc Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh (…) Trước đấy Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch” (Tt, tr.293)

Việt sử lược chép: “Bính Tí [1096] Mùa đông tháng 11, vua xem đánh cá ở Diêu Đàm. Lúc bấy giờ vua ngự trong một chiếc thuyền nhỏ, thị vệ theo hầu rất ít. Thái sư Lê Văn Thịnh từ lâu đã chất chứa mưu gian, nhân đó dùng ảo thuật làm thành khói sương mù lớn, đang ban ngày mà trời tối sầm lại. Một lát, nhà vua nghe tiếng mái chèo sắp đến gần, vua có ý sợ xảy ra tai biến mới lấy cái mác phóng ra. Khói sương theo cái mác mà tan biến đi thì thấy thuyền của Lê Văn Thịnh đã sát tới, có sẵn đồ hung khí. Vua sai người bắt giữ Lê Văn Thịnh lại rồi hạ chiếu đày đi Lương Giang đầu. Trước kia, trong nhà Lê văn Thịnh có tên đầy tớ là người Đại Lý, giỏi làm ảo thuật, Lê Văn Thịnh học được phép của nó. Và đến đây thì làm phản” (Vsl, tr.107-108)

Việt điện u linh chép: “Xét sử và truyện: ông họ Mục tên là Thận, làm nghề đánh cá” (Vđul, tr.79)

Đối chiếu giữa các tài liệu chúng ta thấy có vài điểm khác biệt gồm: Thứ nhất là kịch bản của vụ án thì trước hết Toàn thư chép giống với Việt điện u linh, kế đến Việt sử lược chép về cuộc ám sát mà không (cần) có sự kiện thái sư hóa hổ cũng như người chài Mục Thận nên có thể nghĩ rằng Việt điện u linh đã thu thập tài liệu từ Tục Truyền (truyện) để chép thêm, sau cùng sự tương đồng của cấu trúc (thái sư có người gia nô biết phép thuật, ngài học nó, rồi làm sương phủ kín hồ, để thực hiện âm mưu giết vua) cho phép chúng ta phỏng đoán rằng 3 tài liệu trên được hình thành từ một nguồn và như Việt điện u linh xác nhận thì đó là Sử kí của Đỗ Thiện (Ngoài ra còn thấy một là qua lời bàn của Ngô sử gia về việc triều đình dùng hình sai trong án hồ Dâm Đàm và hai là thái sư đã kinh qua những chức vụ quan trọng trong những thời điểm khắc nghiệt nên rất khó để nghĩ rằng ngài chất chứa mưu gian từ lâu như ghi chép của Việt sử lược). Thứ hai là Toàn thư cho biết Văn Thịnh được an trí tại Thao Giang (Phú Thọ) mà chốn ấy thuộc quản hạt của họ Lê châu Chân Đăng, trong khi Việt sử lược chép là lưu đày tại Lương Giang, nơi thuộc quản lí của Thường Kiệt (Ngoài ra còn có điểm sai khác khá nhỏ giữa 2 bộ sử mà cụ thể: Toàn thư chép là “đại lí quốc nô” trong khi Việt sử lược chỉ chép là “đại lí nô” lại cho biết thêm tại mục năm 1189 là “đại lí tăng huệ minh giới nhật đẳng lai triều”. Một là tại mục năm 1053 Việt sử lược cho biết “Trí Cao chạy đến Đại Đãn quốc” nhưng bị “Đại Đãn nhân bỏ đầu của Trí Cao vào hộp để dâng lên Tống” và hai là bia chùa Linh Xứng cho biết tại quận Cửu Chân tồn tại Đại Lí (大里) chi danh ấp (邑) mà xưa kia có ẩn giả từng dựng am và đi duyên hóa mọi phương, thế thì Đại Lí (大理) được chép trong Việt sử lược có phải là vương quốc của người Bạch không). Thứ ba là thời điểm xảy ra cuộc mưu phản, nếu như Toàn thư chép vào tháng 3/1096 (mà Việt điện u linh không thấy đề cập đến nên phải chăng có nguồn gốc từ Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu) thì Việt sử lược cho biết vào tháng 11/1096.

Mở rộng đối chiếu với Thiền uyển tập anh thấy có các thời điểm gần với cuộc mưu phản, mà cụ thể như (theo truyện Quốc sư Thông Biện thì) vào ngày 15/02/1096 thiền sư Trí Không tại chùa Khai Quốc được thái hậu phong làm Tăng lục, ban cà sa tía, hiệu là đại sư Thông Biện, rồi thường triệu vào cung, phong làm Quốc sư hoặc (theo truyện Đại sư Mãn Giác thì) vào ngày 30/11/1096 Trưởng lão Hoài Tín viên tịch (?) chúng ta cũng không thể chắc chắn rằng thời điểm Trí Không được ban chức Quốc sư là sau khi Lý Trường mất, nhưng rõ ràng Ỷ Lan không phong chức ấy vào thời điểm phu nhân đến trai tăng nên nó phải đang được vị thiền sư nào đó giữ. Thứ nhất, xem truyện thiền sư Viên Chiếu thì thấy rằng ngài là anh em con bác con cô với Thánh Tông, có soạn sách Dược sư thập nhị nguyện văn, được Nhân Tông rất khen ngợi, vào tháng 9/1090 sư không bệnh mà viên tịch và truyện đại sư Mãn Giác thì ngài là con của quan Trung thư viên ngoại lang, được ban chức Nhập nội đạo tràng, Tứ tử đại sa môn, cùng Tam ti bàn chính sự, được thu thuế của 50 hộ, thì thấy đều là những thiền sư có danh tiếng. Thứ hai, không thấy Việt sử lược chép sự kiện Khô Đầu được phong chức Quốc sư, cũng chưa thấy tài liệu nào ghi chép về vị tăng đó (ngoại trừ tài liệu mà Ngô sử gia có nhắc đến) do vậy ghi chép của Toàn thư mục năm 1088 cũng rất đáng được thảo luận thêm. Theo như ghi chép của Toàn thư thì vào tháng 1/1097 triều đình có lệnh kiểm định lại các lệ, rồi đều phỏng theo các điển cũ, đây rõ ràng là một động thái từ phía triều đình nhưng chưa rõ nó có phải là sự phản ánh những thay đổi quyền lực trong chính trường từ khoảng cuối năm trước không, chỉ biết tình trạng quốc gia tiếp tục không có nhiều khởi sắc được ẩn dụ bởi hiện tượng sao mọc giữa ban ngày và sau đó triều đình đã có những biện pháp khắc phục thông qua việc tha tù tại phủ đô hộ vào mùa thu năm 1097 được chép lại trong Việt sử lược (Thiền uyển tập anh truyện quốc sư Viên Thông cho biết năm này triều đình có tổ chức cuộc thi Tam giáo và Nguyên Ức là người đỗ đầu, được sung chức Đại Văn) thậm chí vào tháng 12/1100 đã xuất hiện dịch bệnh lớn khiến hoàng đế Nhân Tông không còn kiểm soát được tình hình Đại Việt như mong muốn, nên buộc phải vời Lý Thường Kiệt về triều vào tháng 1/1101 cho kiêm chức Nội thị phán thủ đô áp nha hành điện nội ngoại đô tri sự (Toàn thư) (theo học giả Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý thì đó là chức quan hầu gần vua và coi hết các việc trong ngoài cung điện) chúng ta không thể biết chính xác xuất phát từ ai, nhưng thấy là từ khi trở về triều, Thăng Long có nhiều cải cách như đổi Hoan châu làm phủ Nghệ An (12/1101) khuyến khích nghề nông (qua việc vua ngự đến Ứng Phong xem cày ruộng vào tháng 2/1101, Phù Nhân xem gieo hạt vào tháng 6/1101, Ứng Phong xem cày ruộng vào tháng 2/1102) đắp đê trong ngoài kinh thành (1/1103) đổi đặt các đô quân vào tháng 3/1104 (Vsl) hẳn là thời điểm này không khí triều đình khá căng thẳng, bằng chứng là sự kiện xảy ra vào tháng 9/1104 mà Việt sử lược chép lại rằng Diên Thành hầu lấy hốt đánh Trung Nghĩa hầu ở điện Thiên An.

Tiểu kết: Tựu lại chúng ta có những thông tin bác bỏ nhau, cụ thể như sự bất cẩn trong ngoại giao của Lê Văn Thịnh cùng với sự kiện Khô Đầu được phong quốc sư có thể khiến chúng ta nghĩ rằng thái sư bị giáng tội lưu đày vào cuối năm 1087, nhưng sự kiện quan Lê Văn Thịnh dâng voi vào năm 1091 lại bác bỏ suy nghĩ ấy, rồi tuy cả 2 sách đều có chép về vụ án (xảy ra vào năm 1096) nhưng giữa chúng lại sai khác vài chi tiết, để rồi dẫn chúng ta đến Sử kí của Đỗ Thiện được trích trong Việt điện u linh, mà các truyện khác có cùng nguồn gốc như: Hai Bà Trưng, Thần Tô Lịch, Phạm Cự Lượng, Trương Hống Trương Hát, Lý Phục Man, Cao Lỗ, Thần Đằng Châu đều thấy rất linh quái nên người viết chưa có kết luận.

(D.13) DỰ TÔNG CHÍNH HOÀNG

* Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí viết: “Phu nhân của Thần Tông Nhân Hiếu hoàng đế, họ Lê húy Lan Xuân, là con gái út của Phụ Thiên đại vương. Mẹ là công chúa Thụy Thánh, con gái cả của dự tông chính hoàng. Trưởng bà nói: Thụy Thánh công chúa là con gái cả của Thánh Tông hoàng đế. Ông nội là Phò ký úy, giữ chức Quan sát sứ ở bảo sở châu Chân Đăng, là cháu gần của Ngự Man đại vương, cháu nội huyết thống của Đại Hành hoàng đế nhà Lê. Phụ Thiên đại vương có hai mươi người con gồm một thái hậu, ba phu nhân, bốn công chúa, mười hai thái tử” (Vbtl, tr.292)

Tống sử – Giao Chỉ chép: “Năm thứ 4 (1007) Long Đình sai em là Phong châu Thứ sử Minh Sưởng, Phó sứ An Nam chưởng thư ký, Điện trung thừa Hoàng Thành Nhã sang cống (…) Thiên Thành thứ 9 (1031) Sai bọn tri Phong Châu thứ sử Lý Ốc Thuyên, tri Ái Châu thứ sử Soái Nhật Tân sang tạ ơn” (Ant, tr.32,36)

Khi Lê Hoàn xưng đế thì đã truy phong cho thân phụ làm Trường Hưng vương (長興王) thấy rằng Hưng (興) mô tả sự thức dậy và phát triển, nên thông qua cái tước hiệu muốn khẳng định sự trỗi dậy của Trường châu (長州) do vậy mà người viết ngờ rằng Việt sử lược chép đúng về quê quán của Đại Thánh Minh hoàng đế. Mặt sau của mộ chí có khắc cụm từ[33] Trưởng bà Cảm Thánh, do vậy trưởng bà khắc ở mặt trước chính là Linh Chiếu thái hậu, con gái cả của công chúa Thụy Thánh. Mộ chí cho biết Quan sát sứ châu Chân Đăng là cháu nội huyết thống của Lê Đại Hành, lại cho biết thêm là cháu gần (thân điệt) của Ngự Man vương, nên người viết tán thành với nhận định[34] của sử gia Trần Quốc Vượng là Việt sử lược đã chép nhầm Đệ tứ tử (con thứ bốn) thành Đệ chi tử (con người em). Theo ghi chép của Toàn thư thì (năm 989) phong thái tử Thâu làm Kình Thiên đại vương, Ngân Tích làm Đông Thành vương, Việt làm Nam Phong vương (năm 991) phong hoàng tử thứ bốn là Đinh làm Ngự Man vương đóng giữ Phong châu, Cân làm Ngự Bắc vương (năm 992) phong Đĩnh làm Khai Minh vương (năm 993) phong Thung làm Định Phiên vương, Tương làm Phó vương, Kính làm Trung Quốc vương (năm 994) phong Mang làm Nam Quốc vương (năm 995) phong Minh Đề làm Hành Quân vương, người con nuôi làm Phù Đới vương (tên của các hoàng tử đều thấy chép có bộ Kim 金). Chúng ta thấy rằng mộ chí mô tả mối quan hệ của ông nội Phụng Thánh với Ngự Man vương và Lê Đại Hành, nhưng không thấy đề cập đến cụ nội của phu nhân (vì sao) thường thì do người đó không có gì nổi bật để nhắc đến (sách sử chép khá chi tiết việc phong vương cho các hoàng tử của Đại Hành và Ngọa Triều nhưng thực sự rất khó hiểu khi không thấy đề cập đến Minh Sưởng) hoặc đã phạm lỗi lầm nào đấy khiến hậu duệ muốn lảng tránh. Theo An Nam chí lược thì vào tháng 7/1007 Lưu hậu Lê Long Đĩnh sai em là Lê Minh Vĩnh sang cống (Tống sử – Giao Chỉ truyện chép là Thứ sử Phong châu Minh Sưởng, Trường biên quyển 66 chép là Hoạn (Hoan) châu thứ sử Minh Sưởng) đến tháng 8/1007 phong Minh Vĩnh làm Trì tiết Giao châu chư quân sự phó sứ (mà trước đó vào năm 1006 Lê Ngọa Triều đánh Phong châu (Vsl) Ngự Man vương phải chịu đầu hàng (Tt) có khi nào Minh Sưởng được Hoa Lư ban giữ chức Thứ sử Phong châu từ đấy không). Năm 1010 Chí Trung mất, Khai Phong vương Lê Sạ còn nhỏ, Minh Vĩnh tranh ngôi, Lý Công Uẩn đuổi và giết Minh Vĩnh (Trường biên quyển 73 chép là Quảng Tây chuyển vận sứ Hà Lượng nói: Giao châu Lê Chí Trung chết, con trai duy nhất mới 10 tuổi, em là Minh Đề, Minh Sưởng dùng binh tranh lập, Đại hiệu Lý Công Uẩn đem thổ nhân, đuổi đi rồi giết, Tống sử – Giao Chỉ truyện chép là Đại hiệu Lý Công Uẩn bèn mưu phản Chí Trung, đuổi đi rồi giết Minh Đề, Minh Sưởng, từ đó thấy rằng 2 sự kiện đuổi đi (trục) và giết chết (sát) diễn ra tại các thời điểm khác nhau, Toàn thư cho biết vào năm 1024 Khai Thiên vương Phật Mã đánh Phong châu).

Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Trí Nhàn người Phong châu, họ Lê tên Thước, là miêu duệ của Ngự Man vương triều Lê. Ông nội là Thuận Tôn làm quan với triều Lý đến chức Trung thư đại liêu ban, lấy công chúa Kim Thành. Cha là Đạc, làm quan đến chức Minh tự. Anh là Kiếm, xa nhận chức Tam nguyên đô tuần kiểm cùng được bổ làm châu mục” (Ncvtuta, tr.318-319)

Toàn thư chép: “Quý Tị [1113] Mùa hạ tháng 6, phu nhân của châu mục châu Chân Đăng là công chúa họ Lý mất. Phu nhân tên là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn vương được Thánh Tông nuôi ở trong cung, lớn lên phong làm công chúa, gả cho châu mục châu Chân Đăng là người họ Lê, chồng mất phu nhân tự thề ở góa, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi. Thần Tông tôn làm Ni sư” (Tt, tr.296)

Thấy rằng thứ nhất từ thời điểm Ngự Man vương giao tranh với Ngọa Triều đến khi châu mục Phong châu là Lê Thuận Tông kết hôn với công chúa Khánh Thành khoảng 30 năm, thứ hai công chúa Thụy Thánh là cháu của Thái Tông hoàng đế kết hôn với cháu của Ngự Man vương (trong khi công chúa Kim Thành là con gái của Lý Phật Mã) thứ ba Thiền uyển tập anh cho biết về huynh đệ (cùng thế hệ) thân phụ (trên 1 thế hệ) ông nội (trên 2 thế hệ) của thiền sư nhưng không chép là miêu duệ (dòng dõi) của Lê Đại Hành mà lại mô tả mối quan hệ với Lê Đinh, thế thì miêu duệ trong văn cảnh này phải hiểu là cụ nội (trên 3 thế hệ) nên Thuận Tông rất có thể là con trai của Ngự Man vương. Toàn thư cho biết vào năm 1008 Lê Ngọa Triều phong cho con nuôi của Cảm Thánh hoàng hậu (bà trưởng cũng có hiệu này) là Lê Ốc Thuyên làm Tam Nguyên vương (三原) đến tháng 4/1030 Đại liêu ban được cử sang Tống để đáp lễ, nhưng theo Tống sử – Giao Chỉ truyện thì Ốc Thuyên họ Lí giữ chức Thứ sử Phong châu và theo Thiền uyển tập anh truyện thiền sư Trí Nhàn thì Phong châu mục Lê Kiếm xa lĩnh (dao thụ) chức Tam Nguyên (三源) đô tuần kiểm, nên người viết phỏng đoán Đại liêu ban là con của Ngự Man vương (và ngài được ban quốc tính, trường hợp của Lí Hạc có thể giúp kiến giải chăng, nhất là khi thân mẫu của Thái Tông người họ Lê). Thấy rằng ni sư Diệu Nhân (sinh năm 1042) không phải là công chúa Thụy Thánh (sinh con gái út năm 1109) nên Dự Tông Chính Hoàng không phải là Phụng Càn vương (rất có thể công chúa ít tuổi hơn ni sư). Toàn thư cho biết thời điểm châu mục châu Chân Đăng là Lê Pháp Quốc dâng hươu đen năm 1132 (ngờ rằng để cảm tạ triều đình đã tôn công chúa Ngọc Kiều làm Ni sư) cách thời điểm công chúa đến tuổi cập kê (Thiền uyển tập anh) được gả cho châu mục châu Chân Đăng người họ Lê (có lẽ mất sớm nên mới tự thế ở góa) cũng khoảng 70 năm, vì thế người viết phỏng đoán Pháp Quốc (được tập ấm chức châu mục) là cháu nội của ni sư, đồng thời là thân phụ của Chân Đăng châu mục Lê Pháp Viên dâng hươu trắng vào năm 1140. Mộ chí cho biết Phụng Thánh được an táng (tại quê hương) trên núi Pháp Sơn, mạn phía tây của chùa Diên Linh Phúc Thánh (thuộc xã Hương Nộn, huyện Tam Nông là) đất của châu Chân Đăng thời Lí, như thế cho phép chúng ta phỏng đoán ông nội của phu nhân sống tại bảo sở, mà chồng của ni sư giữ chức châu mục thì hẳn cũng phải cư trú tại châu Chân Đăng (người viết ngờ rằng Diệu Nhân là con dâu của Quan sát sứ).     

(Sơ đồ mô phỏng gia tộc họ Lê)

* Toàn thư chép: “Thần Tông Hoàng Đế huý Dương Hoán, Thánh Tông chi tôn, Nhân Tông chi điệt, Sùng Hiền hầu chi tử, nãi phu nhân Đỗ thị sở sinh dã” (Bản kỷ, quyển 3)

Việt sử lược chép: “Thần Tông huý Dương Hoán, Thánh Tông chi tôn, Sùng Hiền hầu tử dã, mẫu Đỗ thị” (Quyển hạ)

Đối chiếu ghi chép giữa Toàn thư và Việt sử lược thì thấy rằng dường như cả hai tài liệu này đều cùng một gốc, nhưng Việt sử lược chép bỏ câu Nhân Tông chi điệt, sự chép lược bỏ này cho thấy câu bị bỏ đi không có vai trò quan trọng, nói cách khác chỉ với ba câu Thánh Tông chi tôn, Sùng Hiền hầu tử dã, mẫu Đỗ thị đã đủ thể hiện gốc gác của Dương Hoán hoặc ít nhất là tác giả của Việt sử lược cho là như thế, từ đó chúng ta có thể phỏng đoán rằng tác giả của Việt sử lược coi Sùng Hiền hầu là con trai của Thánh Tông hoàng đế, lại xét đến sự chép đầy đủ thì thấy rằng sách gốc bắt đầu từ Thánh Tông hoàng đế chứ không phải là Thái Tông hoàng đế, thế thì ít nhất là tác giả của sách gốc cho rằng cái mối quan hệ giữa Thánh Tông và Dương Hoán đã thể hiện được đầy đủ mối quan hệ giữa Dương Hoán và những người có quan hệ với Thánh Tông, nói cách khác nếu biết được mối quan hệ giữa Thánh Tông với một thành viên nào đó trong gia tộc thì cũng sẽ biết được mối quan hệ của thành viên đó với Dương Hoán, tuy nhiên tác giả của sách gốc lại không chua thêm (ở ý đầu tiên) về mối quan hệ giữa Thánh Tông với Dương Hoán, mà lại làm rõ thêm (ở ý kế tiếp) qua việc thể hiện mối quan hệ giữa Dương Hoán với Nhân Tông, cho thấy ít nhất tác giả của sách gốc cũng nghĩ rằng Sùng Hiền hầu là con trai của Thánh Tông (chúng ta vừa xét trường hợp sách gốc chính là Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Toàn thư sao nguyên văn từ bộ sử ấy, trường hợp Việt sử lược chép giống hệt Đại Việt sử ký của Lê Hưu và đoạn dư thêm là lời chua của Ngô sử gia thì chẳng phải đã quá rõ ràng rồi sao) nhưng như Toàn thư chép tại mục năm 1112 là Sùng Hiền hầu (khuyết danh) thế thì cũng không có gì chắc chắn rằng tác giả của hai cuốn sử biết rõ về gốc gác của Thần Tông, có khi các sử gia chỉ thuần túy thực hiện công việc sao chép, chúng ta cũng chưa rõ Lê Văn Hưu có biết về thân phụ của Cung Hoàng không (nhưng chắc chắn rằng Đại Việt sử ký không chép tên húy của Sùng Hiền hầu, tất nhiên việc không chép chưa hẳn là không biết) có khi ngài cũng giống như Lê Tắc chỉ thực hiện việc chép lại (nhưng thay vì) theo sử (phương bắc để rồi truyền tải thông tin Dương Hoán là con của Nhân Tông thì theo) Việt chí của Trần Phổ.

Văn bia thời Lý viết: “Chú số 6. Dự Tông chính hoàng. Bốn chữ này có nhiều cách hiểu. Thơ văn Lý Trần viết hoa hai chữ Dự Tông, như vậy coi Dự Tông là tên người cha của công chúa Thụy Thánh. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam thì chú là chưa rõ. Tông chính là tên quan chức, nắm giữ các việc trong hoàng tộc. Dự Tông chính hoàng cũng có thể hiểu là vinh dự được đứng đầu phủ Tông chính” (Vbtl, tr.295-296)

Toàn thư chép: “Quý Dậu [1273] Mùa đông tháng 11, cho Nhân Túc vương Toản làm Nhập nội phán Đại tông chính phủ Đại tông chính” (Tthvl, tr.48)

Theo Lịch triều hiến chương loại chí thì đầu nhà Trần lập Tôn chính phủ, đặt chức Đại tôn chính, dùng người trọng thần trong tôn thất làm chức ấy, nhưng chẳng phải từng có trường hợp Hiển tổ của Cảnh Thông làm chức Thượng thư bộ binh đó sao? Thứ nhất là chúng ta có cấu trúc “chi mạnh/quý nữ dã” thế thì Dự Tông Chính Hoàng phải là đối tượng. Thứ hai là công chúa Thụy Thánh được mô tả trong hai mối quan hệ, mà với Dự Tông thì người soạn (quốc sử) văn bia có vẻ tỏ tường, nhưng với Thánh Tông thì dường như tác giả còn mơ hồ nên mới phải dẫn lại lời của Bà trưởng. Thứ ba là mộ chí chú trọng thể hiện tên hiệu của từng người như Phụ Thiên đại vương, Thụy Thánh công chúa, Thánh Tông hoàng đế, Ngự Man đại vương, Đại Hành hoàng đế, vì thế rất có thể Dự Tông Chính Hoàng là tên hiệu, lại thấy rằng cả Việt sử lược và Toàn thư chỉ chép Sùng Hiền hầu là Hoàng, trong khi các vị vua khác đều chép là Hoàng Đế, đồng thời trên mộ chí có khắc cả miếu hiệu Thần Tông và thụy hiệu Nhân Hiếu Hoàng Đế, từ đó có thể phỏng đoán rằng Dự Tông là miếu hiệu, còn Chính Hoàng là thụy hiệu, nhưng người viết thấy Việt sử lược mục năm 1215 có chép lời chiếu của hoàng đế Huệ Tông nói rằng: “trẫm nhân nỗi giận của ức triệu thần dân, nhờ cậy anh linh của nhất tổ lục tông, đem cả sáu quân thân đi đánh dẹp” thì rõ ràng chính người họ Lý là vương tử Sảm xác nhận chỉ có 6 Tông và đó hẳn là Thái Thánh Nhân Thần Anh Cao, nói cách khác tuy Dương Hoán tôn thân phụ làm Thượng hoàng và dâng Thụy hiệu là Cung hoàng nhưng không đặt Miếu hiệu, việc ấy cũng phù hợp với ghi chép của sách sử, nếu thế thì Dự Tông không phải là miếu hiệu.

Đối chiếu giữa ghi chép của Toàn thư và Việt sử lược, chúng ta có thể nghĩ rằng vào tháng 10/1117 hoàng đế ban chiếu nhận nuôi con trai của những người trong tôn thất, đến tháng 11/1117 thì con trai của Sùng Hiền hầu là Dương Hoán được chọn lập làm thái tử, dựa theo chiếu thư thấy có 5 vị hầu được nêu tên, thứ nhất là nếu lấy Thái Tông làm gốc thì số lượng các vương hầu sẽ rất nhiều và thứ hai là tuy Thánh Tông có con trai muộn song ngài còn khỏe mạnh (bằng cớ là tham gia cuộc nam chinh) cũng như sự ra đời của em cùng mẹ với Càn Đức (theo mức 4 năm 2 hoàng tử) thì hoàn toàn có thể tin rằng Thánh Tông có nhiều hơn 2 người con trai (theo học giả Hoàng Xuân Hãn thì sách Lĩnh ngoại đại đáp có nói khi Nhật Tôn mất, con là Càn Đức lập, tự hiệu là Minh vương, miếu hiệu là Nhân Tông, lại thấy em cùng mẹ với Càn Đức là Minh Nhân vương, có khi nào tước hiệu ấy ra đời từ sự kết hợp giữa tự hiệu và miếu hiệu, chứ đúng phải là Sùng Hiền hầu).

(D.14) TRƯƠNG THÁI SƯ ĐỖ THÁI ÚY

Văn khắc chuông chùa Thiên Phúc viết: “Nay có thiền sư Đạo Hạnh gặp thời đại hạn, đốt ngón tay mà mưa xuống tràn trề, dân mắc dịch bệnh bưng nước vảy mà dứt hết ốm đau (…) Cứu đời xong thấy chọn chỗ nghỉ lui, ra phía tây kinh thành, qua khỏi con sông, gặp núi xanh, leo đường dốc đi lên, đất đá rơi xuống lăn lóc, nắm dây trèo lên nơi cao (…) Thầy ở suốt 6 năm, ân huệ vun đầy. Các vương tử xe ngựa tới lui tấp nập. Mọi người trong nước đến dâng hoa đảnh lễ. Vua cho người lại ban chiếu chỉ, làm tiệc chay cúng dường. Ban cho áo mão cà sa, cung nghinh như bậc thượng khách (…) Gửi thư về tâu cho vua rõ, ngài đã cho phép dựng chùa. Nhào đất làm khuôn, đốt lửa luyện đồng. Cám ơn Thái hậu nhiệt tình cho người đem tặng lễ vật (…) Sa Môn áo tía Thích Huệ Hưng phụng soạn vào ngày mồng chín tháng tám năm kỷ sửu [1109] niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thứ chín” (Vbtl, tr.106-108)

Nho sinh ưa thổi sáo Từ Đạo Hạnh (Ancl) là con của Tăng quan đô án Từ Vinh, kết thân với nho sĩ Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa, kép hát Vi Ất (Ncvtuta) sau ứng thi tăng quan, trúng Bạch liên khoa (Lncq). Văn khắc chuông chùa Thiên Phúc cho biết gặp thời đại hạn đốt ngón tay mà mưa xuống tràn trề (Toàn thư chép tháng 6/1095 đại hạn, trời mưa) và dân mắc dịch bệnh bưng nước vảy mà dứt hết ốm đau (Toàn thư chép tháng 12/1100 đại dịch). Cha của sư dùng tà thuật làm mất lòng Diên Thành hầu nên ngài đã nhờ pháp sư Đại Điên dùng phép đánh chết, rồi ném xác xuống sông Tô Lịch (Ncvtuta) (An Nam chí lược cho biết Lí vương chưa có con nối dòng nên sai các thầy chùa danh tiếng cầu đảo nhưng có vị sư già không dự lễ, lại còn dùng pháp để trấn yểm, Toàn thư cho biết tháng 2/1102 sai hoàng hậu cùng các phi tần trai giới lập đàn chay để cầu tự) bắt Đạo Hạnh trói ở hành lang Hưng Thánh, nhờ Sùng Hiền hầu hết sức cứu giúp nên sư thoát nạn (Vsl) rồi về nhà từ biệt mẹ để vào núi cất am tu hành (Ancl) (Văn khắc chuông chùa Thiên Phúc cho biết sư trải gót trên đường tai họa mà trong lòng tự thấy thanh tịnh) thầy ở suốt 6 năm (xử chu lục tải) thì ân huệ ban rộng khắp, người trong nước hương hoa kính lễ, vương tử xe ngựa ồn ào, vua ban áo báu. Các đệ tử người tìm đốn gỗ quí kẻ đắp lò ngói xanh, mực thước dọc ngang búa rìu chan chát, cho đến khi điện ngọc đã trang nghiêm, phật tử đã đông đúc thì thầy bèn nói thuyết pháp không thể bỏ, chuông cảnh tỉnh cần phải treo, nên vào tháng 1/1109 thiền sư đi duyên hóa nước Cự Việt (Văn khắc chuông chùa Thiên Phúc). Chúng ta thấy Đạo Hạnh đã rất có tiếng vào cuối niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa thế nên việc ngài trấn yểm Giác Hoàng (tháng 2/1112, Vsl) chỉ là kiến tạo của dân gian.

Toàn thư chép: “Đinh Dậu [1117] Mùa xuân tháng giêng, Diên Thành hầu (không rõ tên) chết. Xuống chiếu bãi trò chơi tàng câu, cũng như cỗ bàn khao mừng, nhưng vẫn phát vàng bạc tiền lụa ở kho để phúng điếu, việc tang rất hậu (…) Tháng 6, Trung Nghĩa hầu (không rõ tên) chết (…) Mùa thu tháng 7, Ỷ Lan hoàng thái hậu băng, hỏa táng bắt 3 người hầu gái chôn theo. Mùa thu tháng 8, táng Linh Nhân hoàng thái hậu ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức (…) Mùa đông tháng 10, tìm con trai họ tông thất để nuôi ở trong cung. Xuống chiếu rằng: Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Vậy nên trẫm nuôi con trai của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng chọn người nào giỏi thì lập làm thái tử. Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán mới lên 2 tuổi mà thông minh lanh lợi, vua rất yêu và bèn lập làm hoàng thái tử” (Tt, tr.296-298)

Hoàng đế Nhân Tông đã nhiều tuổi mà chưa có con trai, lại thêm những người thân lần lượt rời xa, hẳn đã tác động đến tâm lý của ngài, nên vua lập hoàng thái tử (qua chiếu bãi trò chơi và cỗ bàn vào thời điểm Diên Thành hầu chết, cho thấy ngài ấy rất có ảnh hưởng đến hoàng đế). Theo như bia tháp Sùng Thiện Diên Linh thì vào tháng 5/1118 Nhân Tông ngự đến bến Long Lĩnh, muốn dựng chùa trên ngọn núi có thế chênh vênh, nên hỏi ý kiến các quan hộ giá, lại thấy Toàn thư chép rằng tháng 5/1118 giáng chức Hữu thị lang bộ lễ là Lê Bá Ngọc làm nội nhân thư gia và liền ngay sau đó sách ấy biên thêm là có đại hạn phải cầu đảo, vì thế đoán chừng thị lang nêu chủ kiến không nên dựng chùa vào thời điểm đó. Theo như sách Văn bia thời Lý của nhóm dịch giả Nguyễn Văn Thịnh thì mặt thứ hai có đoạn khắc (ngày 6/7/1121) là thái hậu Linh Nhân cúng một khu ruộng 72 mẫu liền bờ xứ Mạn Để, thứ nhất Việt sử lược chép số lượng cung nữ bị bức tử là 72 người và thứ hai Phù Thánh thái hậu mất vào tháng 7/1117 thì sao có thể cúng được, phải chăng Càn Đức dựng chùa tháp này là theo chí người xưa (phỏng tư tiền chí) như trong lời minh ở cuối văn bia hoặc có thể là con lấy tiếng mẹ mà cúng dường?

Toàn thư chép: “Đinh Mùi [1127] Tháng 12, vua không khỏe, gọi Thái úy Lưu Khánh Đàm (劉慶覃) vào nhận di chiếu rằng: Trẫm từ khi đi xem gặt lúa đến giờ, bỗng bị ốm, bệnh kéo dài, sợ không kịp nói đến việc nối ngôi. Mà thái tử Dương Hoán tuổi đã tròn một kỷ có thể theo phép cũ của trẫm mà lên ngôi hoàng đế (…) Nhưng cũng phải nhờ quan dân các ngươi một lòng giúp rập mới được. Này Bá Ngọc (伯玉) ngươi thật có khí lượng của người già cả, nên sửa sang giáo mác, để phòng việc không ngờ, chớ làm sai mệnh (…) Mậu Thân [1128] Mùa xuân tháng giêng ngày tân sửu, lấy Nội vũ vệ Lê Bá Ngọc làm Thái úy, thăng tước hầu; Nội nhân hỏa đầu Lưu Ba, Dương Anh Nhĩ làm Thái phó, tước Đại liêu ban; Trung thừa Mâu Du Đô làm Gián nghị đại phu, thăng trật chư vệ; Nội chi hậu quản giáp Lý Sơn làm Điện tiền chỉ huy sứ, tước Đại liêu ban (…) Tháng 2, lập Lý thị làm hoàng hậu. Trước đó vua sai Viên ngoại lang Lý Khánh Thần và vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn, Viên ngoại lang Trần Ngọc Độ và vợ đi đón con gái của Lê Xương là cháu chú bác của Thái úy Lê Bá Ngọc, sách lập con gái của Sơn làm Lệ Thiên hoàng hậu, con gái của Xương làm Minh Bảo phu nhân. Thăng trật ký hầu cho Lý Sơn coi việc quân sự ở Lạng Châu, ban cho Xương tước Đại liêu ban” (Tt, tr.305,308-309)

Xét thấy Nhân Tông gọi Lưu Khánh Đàm vào nhận di chiếu (như thế rõ ràng Càn Đức rất tin tưởng Thái úy) nhưng trong lời chiếu lại chỉ căn dặn Lê Bá Ngọc sửa sang giáo mác, đề phòng việc không ngờ, mà những việc Nhân Tông căn dặn phải do người đứng đầu về quân sự đảm nhận, trong khi Bá Ngọc là Lễ bộ thị lang, lại thêm khi Dương Hoán vừa lên ngôi đã cho Bá Ngọc giữ chức thái úy, như vậy chẳng phải là bãi nhiệm người nhận ủy thác dìu thái tử lên ngôi là Khánh Đàm sao, nên người viết cho rằng vị được Nhân Tông triệu vào để nhận di chiếu là Lễ bộ thị lang Lê Bá Ngọc chứ không phải thái úy Lưu Khánh Đàm, Quốc sử quán triều Nguyễn có vẻ như đã nhận ra điểm bất thường trên, nên chép thêm rằng hoàng đế triệu thái úy và thị lang vào nhận di chiếu, nhưng như chúng ta đã xét thì thái phó mất năm 1101, vậy thì chưa hẳn Cương mục đã chính xác.

Giữ chức Nội chi hậu nên hẳn Lí Sơn là người thường trực bên cạnh của Nhân Tông từ khi ngài bị ốm (vào tháng 4/1127) cho đến lúc băng hà, Thần Tông lên ngôi cho Quản giáp giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, chứng tỏ rằng phe cánh của Dương Hoán không những chỉ ghi nhận công lao mà còn tin tưởng vào Nội chi hậu, đến tháng 2/1128 triều đình rước con gái của Điện tiền chỉ huy sứ, rồi lập làm hoàng hậu, thì rõ ràng là Lí Sơn phải có mối quan hệ đặc biệt nào đó hoặc vị (tân) hầu phải giữ một bí mật quan trọng liên quan tới sự lên ngôi của Dương Hoán, lẽ ấy chưa hẳn đã sai, bởi như Toàn thư chép đến tháng 8/1128 triều đình đưa di chiếu của Nhân Tông cho các quan xem. Ngô sử gia cho biết vào năm 1138 các phu nhân là Cảm Thánh, Nhật Phụng và Phụng Thánh mưu đổi lập với Tham tri chính sự Từ Văn Thông, dựa vào mộ chí chúng ta biết Cảm Thánh là bà trưởng được tôn làm Thái hậu, Phụng Thánh là con út được làm phu nhân, ngoài ra còn cho biết thêm Phụ Thiên đại vương có 20 người con, trong đó có một thái hậu và ba phu nhân, xem thế ngoài Phụng Thánh và Nhật Phụng thì Dương Hoán còn có một phu nhân họ Lê nữa, Toàn thư chép Thiên Tộ có mẹ là Hoàng hậu họ Lê, nhưng chính sách ấy cũng chép giống Việt sử lược đoạn Anh Tông tôn mẹ là Phu nhân Cảm Thánh làm thái hậu, thế thì bà trưởng không phải là cháu chú bác[35] của thái úy (phải chẳng Minh Bảo là vị phu nhân bị khuyết tên, bởi lẽ trong thời điểm hệ trọng, khi những người chị em gái liên hiệp với nhau, nhưng nàng lại không được đề cập đến, nếu quả thực như vậy thì hẳn là phu nhân đã mất) thấy thêm rằng phu nhân Phụng Thánh sinh năm 1109, tính ra thời điểm nhập cung nàng cũng đã 26 tuổi, đối với hôn nhân thời xưa thì rất muộn, hơn nữa với vị thế là con gái của gia tộc quyền thế thì hẳn không thiếu mối, nên có thể họ Lê đã toan tính từ thời điểm Dương Hoán được phong làm hoàng thái tử (nhưng nếu đã lên kế hoạch thì vì sao không phải là năm 1128) ấy là bởi chưa hẳn Lê Bá Ngọc đã quyền uy nhất triều, chẳng thế mà cháu của ngài cũng chỉ được phong làm phu nhân đó sao, người viết chưa rõ những chuyện trên có liên hệ gì với chiếu lệnh của triều đình vào tháng 1/1130, ấy là con gái các quan không được lấy chồng trước, đợi sau khi lựa chọn vào hậu cung, người nào không trúng tuyển mới được lấy chồng.

Toàn thư chép: “Mậu Thân [1128] Mùa xuân tháng giêng, tôn mẹ nuôi là Thần Anh phu nhân làm hoàng thái hậu (…) Xuống chiếu cho Gián nghị đại phu Mâu Du Đô chọn quân Long Dực cũ làm quân tả hữu các đô Ngọc Giai, Hưng Thánh, Quảng Thành, Vũ (…) Ất Mão [1135] Mùa thu tháng 7, Thái sư Trương Bá Ngọc chết (…) Bính Thìn [1136] Mùa thu tháng 9, Gián nghị đại phu Mâu Du Đô bị bãi chức” (Tt, tr.303,307-308,317-318)

Quế hải ngu hành chí chép: “Càn Đức chết, con là Dương Hoán lên ngôi. Dương Hoán chết. Càn Đức có đứa con rơi ở Chiêm Thành, lập lên ngôi. Lại có người nói rằng: có Lê Mâu là phe đảng của vợ Càn Đức. Trước đây là con nuôi của họ Lý, giết con rơi mà lên ngôi, mạo họ Lý tên là Thiên Tộ. Đó là năm Thiệu Hưng thứ chín (1139) người nước đó vẫn gọi là Lê vương” (Tđvđv)

Qua ghi chép của Quế hải ngu hành chí chúng ta thấy có nhiều sai lệch so với sử phương nam, mà không chỉ có sách ấy, Tống sử và An Nam chí lược cũng xác nhận Dương Hoán là con của Nhân Tông, Lê Tắc cho biết Thiệu Hưng năm thứ nhất (1131) Càn Đức mất, rõ ràng người phương bắc biết tin rất muộn, ấy (có thể) là vì họ nhầm với cái chết của Sùng Hiền hầu, người viết phỏng đoán rằng vào tháng 1/1129 Thần Tông tôn thân phụ làm Thái thượng hoàng (Tt) nên cử người sang phương bắc, sứ bộ vào triều cống năm 1130 (Ts) được ban tặng sắc thư, tại phương nam vào tháng 5/1130 Sùng Hiền hầu băng, triều đình cử sứ sang báo tin (Vsl) phái đoàn (có lẽ) đến nơi vào năm 1131 (phỏng đoán dựa theo Ancl) năm sau Tống triều truy phong Càn Đức làm Nam Việt vương, đồng thời ban Dương Hoán làm Giao Chỉ quận vương (Ancl) triều đình sai Nguyễn Thừa Ân sang phương bắc đáp lễ (Vsl).

Không khó để nhận ra mối quan hệ mật thiết giữa Bá Ngọc với Du Đô thông qua Lê Mâu, còn vị phu nhân của Càn Đức được đề cập đến hẳn là Thần Anh thái hậu, lại thấy Toàn thư chép vào tháng 11/1128 lấy thái úy Lê Bá Ngọc làm Thái sư, cải tính Trương thị, chúng ta không thể chắc chắn việc đổi họ bắt nguồn từ chiếu lệnh của triều đình, nó hoàn toàn có thể là quyết định của riêng Bá Ngọc, thêm nữa Việt sử lược cho biết vào năm 1111 người họ Trương là Diên Phúc làm Lưu thủ có dâng chim sẻ trắng, thứ nhất chức ấy có nhiệm vụ trông giữ và thường là kinh sư, thứ hai sách ấy còn chép trước đó chim sẻ trắng đến cấm đình, nên người viết ngờ rằng khi hoàng đế rời kinh thành (có lẽ để tuần du phương nam vì liền trước thấy chép là phủ Thanh Hóa dâng gốc cau có 9 cây) thì cho Diên Phúc làm lưu thủ, trong thời gian ấy có bạch tước bay đến, họ Trương bắt lấy, khi Nhân Tông về lại hoàng cung thì Diên Phúc đem chim ấy dâng lên, nếu thế hẳn là lưu thủ rất được Càn Đức tin tưởng, phải chăng Bá Ngọc có mối liên hệ với Trương Diên Phúc, rồi một là vì đâu mà Thần Anh phu nhân cùng tông tộc được ban sủng lớn vậy, hai là tại sao Bá Ngọc không đổi họ Trương từ sớm hơn, ba là mối quan hệ giữa thái hậu với Lê Mâu được truyền đến phương bắc, bốn là cớ gì Diên Phúc được hoàng đế tin tưởng, từ các lẽ ấy người viết giả thuyết rằng Thần Anh thái hậu họ Trương (Sử gia Ngô Thì Sĩ cho rằng vua cải cho Lê Bá Ngọc là họ Trương, họ của trời cho, không thể người ta làm được, yêu một vị bầy tôi mà cho cải sang quốc tính, người ta còn chê là cưỡng ép, nay Bá Ngọc là đại thần cho cải họ Lê sang họ Trương là nghĩa gì, đó cũng là việc làm của người còn tính trẻ con đấy).

Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tự viết: “Thái sư Trương công thấy Thái úy là người đĩnh ngộ, biết sẽ trở thành rường cột của nước nhà nên nuôi làm con (…) Năm Giáp Thìn niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 5 (1124) vua Nhân Tông yêu mến thần thái kỳ tú của Thái úy, biết thái úy là người mẫn tuệ, nên tuyển vào trong tử cấm. Thái úy cầm thuẫn, cầm búa mà múa trên nệm gấm, hát khúc Hồi Phong mà lả lướt liễu mền, người các nước vào triều, không ai không ngắm xem (…) Năm Đinh Mùi đời vua Thần Tông (1127) Thái úy được tuyển vào chầu ở nơi màn trướng, chức vị bao trùm cả sáu bộ thượng thư” (Vbtl, tr.264)

Toàn thư chép: “Giáp Thìn [1124] Mùa xuân tháng giêng, Diêu Sách dâng chim sẻ trắng (…) Canh Thân [1140] Tháng 3, lấy Đỗ Anh Vũ làm Cung điện lệnh tri nội ngoại sư. Anh Vũ là em của Đỗ thái hậu, nên Lê thái hậu trao cho chức này” (Tt, tr.302,321)

Theo ghi chép của Toàn thư thì vào tháng 1/1124 vùng Diêu Sách dâng chim sẻ trắng và như mộ chí của Đỗ Anh Vũ cho biết thì cũng trong năm 1124 ngài được Nhân Tông tuyển vào trong tử cấm (Văn bia chùa Diên Phúc cho biết Anh Vũ được tuyển làm Thượng Lâm đệ tử, Toàn thư chép rằng vào tháng 12/1124 triều đình phục chức Lễ bộ thị lang cho Nội thường thị Lê Bá Ngọc). Thứ nhất là đối chiếu các chức tước của Đỗ Anh Vũ và Quách Thường Kiệt thì thấy rất tương đồng, rồi lại thấy mô tả của Việt điện u linh về vẻ đẹp của Thiên tử nghĩa đệ khá giống với Quán Thế, nên đồ rằng từ đó mà dân gian đã kiến tạo. Thứ hai là vào tháng giêng, Diêu Sách có dâng bạch tước, lại thấy Việt sử lược chép năm 1209 người Diêu Hào là Phạm Ngu giữ chức Thượng phẩm phụng ngự, nhưng hiện chưa rõ có liên hệ gì với thôn Cổ Việt. Quán Thế có mối quan hệ đặc biệt với Đỗ thái hậu nên rất dễ hiểu vì sao Lê Bá Ngọc lại nhận Anh Vũ làm con nuôi và trên chúng ta có đề cập đến kế hoạch của họ Lê thông qua hôn nhân, do vậy mà người viết ngờ rằng chuyện đổi họ của Bá Ngọc cũng mang động cơ chính trị.

Toàn thư chép: “Mậu Ngọ [1138] Tháng 9, vua không khỏe (…) Trước kia, vua đã lập Thiên Lộc làm con nối, đến đây thì ốm, ba phu nhân là Cảm Thánh, Nhật Phụng và Phụng Thánh muốn đổi lập thái tử, mới sai người đem của cải đút lót cho Tham tri chính sự Từ Văn Thông (…) Chốc lát ba phu nhân đến, khóc lóc nghẹn ngào nói rằng: Bọn thiếp nghe rằng đời xưa lập con nối ngôi thì lập con đích chứ không lập con thứ. Thiên Lộc là con của người thiếp được vua yêu, nếu cho nối ngôi thì người mẹ tất sẽ tiếm lấn, sinh lòng nghen ghét làm hại, như thế thì mẹ con bọn thiếp tránh sao khỏi nạn? Vua vì thế xuống chiếu rằng: Hoàng tử Thiên Tộ tuy tuổi còn thơ ấu, nhưng là con đích, thiên hạ đều biết nên cho nối nghiệp của trẫm, còn thái tử Thiên Lộc thì phong làm Minh Đạo vương (…) Ngày 26, vua băng ở điện Vĩnh Quang” (Tt, tr.319)

Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí viết: “Năm Đinh Tị niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ 5 (1137) phu nhân gào khóc theo đưa xe tang, thề ở lại trông coi lăng tẩm” (Vbtl, tr.293)

Nguồn cơn của sự sai lệch về năm mất của Thần Tông bắt đầu từ năm 1133, Việt sử lược chép tháng giêng năm ấy đổi dùng niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (năm trước phương bắc sắc phong Dương Hoán làm Giao Chỉ quận vương) Toàn thư thì chép nhầm nội dung của năm thứ nhất vào năm 1134 như các sự kiện: ngựa mọc cựa; tháng 3 vua đến quán Ngũ Nhạc (Tt) tháng 10 dựng điện Diên Sinh (phỏng đoán dựa theo Vsl) tháng 11 tiếp tục dựng điện Diên Sinh, sửa quán Ngũ Nhạc và có thể làm tượng Tam tôn bằng kim ngân ở quán Ngũ Nhạc (phỏng đoán dựa theo Tt) lại thấy rằng 2 kiến trúc điện quán thường được chép cùng nhau nên ngờ rằng chúng thuộc một tổng thể; hoặc như hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp đến cống vào tháng 2 (Tt chép thuộc năm 1135, Vsl chép thuộc năm 1134) vì thế khi mà Toàn thư chép vào tháng 7/1135 thái sư Trương Bá Ngọc mất thì chúng ta phải hiểu là mùa thu của năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 2 và như mộ chí thì năm 1134 Thần Tông đón Phụng Thánh vào cung làm phi (người viết chưa rõ hai sự việc có mối liên hệ nào không).

Ghi chép của Toàn thư về hoàng tử Thiên Tộ cũng bị sai lệch, ngài sinh tháng 4/1135 và như thế hoàn toàn phù hợp với thông tin của Việt sử lược là khi 3 tuổi lên ngôi, qua lời than của các phu nhân chúng ta biết được Thần Tông có người thiếp yêu (là thân mẫu của hoàng tử Thiên Lộc) và có thể nàng là chủ nhân của cung Lệ Quang (nơi rồng vàng từ điện Vĩnh Quang hiện ra vào tháng 4/1132) lại thấy Toàn thư chép đến vị Nội lệnh thư gia Phí Công Tín với sự thăng tiến và ân sủng đặc biệt như tháng 3/1128 làm Nội thường thị, tháng 10/1129 làm Chư vệ được ban quốc tính, tháng 4/1134 ra vào nội cung không bị ngăn cấm, tháng 6/1135 giữ chức Thiếu sư, tước Minh tự, đến tháng 9 thì phe cánh của họ Lê là Mâu Du Đô bị bãi chức (tháng 4/1136 hoàng tử thứ 3 sinh, qua tháng 5 thiếu sư dâng 47 lạng vàng sống) triều Anh Tông thời Quán Thế phụ chính không thấy sự xuất hiện của Công Tín, cho đến khi (Thiên Tộ thực quyền thì) hành trạng của ngài lại được biên chép, nhưng với họ Phí cũng như giữ chức Thiếu bảo (vào thời điểm trước khi thái úy ốm không lâu như ghi chép của Toàn thư) rồi được giữ lại chức Thiếu sư (sau 4 năm Quán Thế mất như Việt sử lược chép) xem thế thì đồ rằng Nội lệnh thư gia là phe đảng của hoàng tử Thiên Tộ và có thêm Nhập nội tả ti lang trung Ngụy Quốc Bảo, riêng về chức thái úy thì Lê Bá Ngọc, Dương Anh Nhĩ, Lý Công Bình nối nhau nắm giữ.  

Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tự viết: “Tháng 9 năm Đinh Tị, niên hiệu Thiệu Minh thứ nhất (1137) vua Thần Tông bị bệnh, rửa mặt xong, ngồi tựa vào ghế mà dặn Thái úy rằng: Họ Lý ắt phải trông cậy vào khanh. Nhà vua băng hà, Thái úy cùng Hiến Chí hoàng thái hậu rước vua Anh Tông từ dinh Thượng Thanh, phù giúp lên ngôi hoàng đế” (Vbtl, tr.265)

Việt sử lược chép: “Anh Tông húy là Thiên Tộ, con thứ hai của vua Thần Tông, mẹ là Cảm Thánh phu nhân họ Lê (…) Ba tuổi thì lên ngôi trước linh cữu Thần Tông (…) lấy Thiên Chương Bảo Tự thứ năm, mùa thu tháng chín làm Thiệu Minh năm đầu, tôn Cảm Thánh phu nhân làm Thái hậu. Rồng vàng bay vào trong thành. Mùa đông tháng mười ngày kỷ dậu, ban đêm rồng vàng từ cung Thái Thanh bay vào trong cấm nội” (Vsl, tr.142)

Cũng tương tự như mộ chí, Việt sử lược chỉ xác nhận Dương Hoán ốm nặng rồi mất, các sách chích quái chép thêm việc Thân Tông mắc bệnh hóa hổ, Toàn thư tuy không chép tường minh nhưng rõ ràng là Ngô sử gia có đề cập đến Quốc sư Nguyễn Minh Không và thuốc được niệm thần chú mà thầy là Từ Đạo Hạnh giao lại, theo Việt sử tiêu án thì trong thời gian 10 năm (thời tiết rất khắc nghiệt) không năm nào là không đại hạn (hoặc mưa dầm) cụ thể như Thiền uyển tập anh truyện thiền sư Giới Không cho biết vào năm Thiên Thuận thứ 8 có nạn dịch lớn (khi Công Uẩn lên ngôi đặt niên hiệu là Thuận Thiên, thế thì việc đặt niên hiệu của Dương Hoán cũng mang ý nghĩa tương tự, thấy rằng niên hiệu Thiên Thuận không có năm thứ 8, vậy có thể nghĩ rằng người chép bị nhầm và hẳn là tác giả muốn thể hiện năm Ất Mão – 1135, tương ứng với Thiên Chương Bảo Tự thứ 3 trong Việt sử lược, cũng như Thiên Chương Bảo Tự thứ 4 trong Toàn thư) năm ấy sử chép tháng 2 Thành Hưng hầu chết, tháng 3 Thần Tông ốm chữa khỏi, tháng 4 hoàng bà Lữ A Mãi ốm chết, tháng 10 thái úy Dương Anh Nhĩ chết, nhưng lại thấy Việt sử tiêu án chép rằng trong sử đời vua Thần Tôn chép đến 29 điềm tốt, mà điềm con hươu đến 8 lần, vì hươu mà được làm quan đến 3 lần, dò xét hươu mà được thưởng 2 lần, thích hươu như thế, không biết dùng để làm gì, người viết thấy rằng hươu có thể dùng làm thuốc rất tốt, nên phỏng đoán là Thần Tông mắc căn bệnh nào đó (liên quan tới di truyền) vì thấy hoàng đệ của ngài là Tinh cũng chết khi còn rất trẻ (rồi có thể thêm cả vị hoàng đệ Chu Cá nữa, vì rất khó để biết được ngài có phải là em ruột của vua không).

Theo như Toàn thư thì Thần Tông băng vào ngày 26/9, Thiên Tộ lên ngôi vào ngày (sóc) 1/10, Việt sử lược chép (một cách ẩn dụ) là ngày kỉ dậu tháng mười ban đêm rồng vàng từ Thái Thanh cung bay vào cấm nội, điểm đáng chú ý là liền trước đó sách ấy chép ẩn dụ rằng rồng vàng bay vào trong thành, mộ chí cho biết sau khi Thần Tông băng, Hiến Chí thái hậu đón Thiên Tộ từ Thượng Thanh để. Thứ nhất Việt sử lược cho biết lúc làm Phu nhân thì bà trưởng có tên hiệu là Cảm Thánh, đến khi mất đặt tên thụy là Linh Chiếu, lại thấy trong mộ chí sau đoạn nêu rõ tên hiệu thì chỉ thấy chép là thái hậu, do vậy người viết phỏng đoán rằng Hiến Chí là bà trưởng (mộ chí của Phụng Thánh phu nhân thấy có khắc Cảm Thánh hoàng thái hậu, phải chăng do thói quen). Thứ hai Việt sử lược và Toàn thư cùng chép là Thái Thanh cung, ngoài ra Thần Tông vào tháng 2/1128 có đến Thái Thanh, Cảnh Linh nhị cung (Tt) tháng 10/1031 đạo sĩ Trịnh Trí Không tấu xin hoàng đế ban cho các đạo sĩ được nhận Kí lục tại Thái Thanh cung (Tt) năm 1011 dựng Thái Thanh cung ở nội thành, lại thêm Để () có nghĩa là dinh phủ của quan lớn hoặc nhà dành cho sứ các nước chư hầu, thế thì Thượng Thanh để chưa hẳn đã là Thái Thanh cung, nếu vậy Việt sử lược chép không sai (do đó giải thích giúp chúng ta vì sao có cái tin đồn mà người phương bắc nghe được rằng Thiên Tộ bị gọi là Lê vương) và hiển nhiên nó là một nghi vấn rất lớn, nhưng đành phải bỏ ngỏ. 

Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tự viết: “Tháng 9 năm mậu ngọ (1138) lại tiến phong Phụ quốc thái úy và ban quốc tính họ Lý, việc quân đội không việc gì không do Thái úy nắm giữ (…) Chúa thượng ban tặng lụa tốt để khen ngợi. Ba phủ Nghệ An, Thanh Hóa và Phú Lương đều là đất phong của Thái úy” (Vbtl, tr.266)

Toàn thư chép: “Nhâm Tuất [1142] Mùa đông tháng 10, sai thủ lĩnh phủ Phú Lương là Dương Tự Minh đến châu Quảng Nguyên để chiêu tập người châu ấy (…) Quý Hợi [1143] Mùa thu tháng 8, xuống chiếu cho Dương Tự Minh cai quản việc công các khi động dọc theo biên giới về đường bộ (…) Giáp Tý [1144] Mùa xuân tháng 2, gả công chúa Thiều Dung cho Dương Tự Minh, phong Tự Minh làm Phò mã lang” (Tt, tr.324)

Trên đã đề cập đến việc các sự kiện được Toàn thư chép muộn một năm so với Việt sử lược, dựa vào các sử liệu của người phương bắc chép về thời điểm sắc phong cho Thiên Tộ làm Giao Chỉ quận vương thì lại chứng tỏ thêm sự sai lệch ấy, tuy nhiên Toàn thư đã kịp điều chỉnh khi chép hai sự kiện đổi dùng niên hiệu và từ mùa xuân đến mùa hạ không mưa vào năm 1140, thế nhưng sự sai lệch lại trở nên nghiêm trọng hơn khi Toàn thư xác định cuộc nổi loạn của Thân Lợi được kết thúc vào tháng 10/1141 mà sử thực phải là tháng 10/1139 như Việt sử lược chép, chúng ta biết được điều này bởi vì đến năm 1157 (tương ứng với năm 1155 trong Việt sử lược) có hai sự kiện giúp kiểm chứng (thông qua sách sử của phương bắc) ấy là việc tiến phong Thiên Tộ làm Nam Bình vương và gia thêm chức Kiểm hiệu thái sư vào năm kế (Ngoài ra còn có thêm: một là Mộ chí của Đỗ Anh Vũ cho biết vào thời điểm ngài được tiến phong làm Phụ quốc thái úy thì tại vùng kê động, có kẻ yêu đồng, ngụy xưng là con côi của Nhân Tông, tiếm hiệu là Bình Nguyên đại tướng, trong khi Việt sử lược ghi nhận Thân Lợi làm loạn trước tháng 2/1139, còn Toàn thư chép sau tháng 10/1140; hai là mộ chí cho biết triều đình chuẩn theo lời tấu của thái úy về việc sai quân sĩ luyện rèn, dạy nhân dân đánh trận vào năm 1144, trong khi Toàn thư chép tháng 8/1146 triều đình xuống chiếu tuyển chọn dân đinh để sung bổ vào cấm quân; ba là các bộ sử đều chép thống nhất việc đổi niên hiệu thành Đại Định (大定) vào tháng 1 (hoặc 2) của năm 1140) tới đây hẳn là các tác giả của Toàn thư cũng nhận ra sự sai lệch và để khắc phục điều đó, họ đã bỏ chép các thông tin ở hai năm 1155-1156 trong cuốn sử của Lê Hưu, cũng như thực hiện việc chép đồng bộ với sử cũ từ năm 1157.

Theo như chuông Sùng Khánh thì đất Phú Lương nhiều đời thuộc sự quản lí của Dương tộc, vào năm 1113 Phò mã lang là Cảnh Thông giữ chức Thứ sử châu Phú Lương kiêm Tiết độ quan sát sứ châu Quảng Nguyên và Tư Lang, nhưng dựa trên ghi chép của Toàn thư thì thấy vào tháng 1/1125 có vị Trung thư là Lý Hiến được giao trông giữ Phú Lương phủ, đến tháng 4/1139 người Kê Động là Thân Lợi tấn công và chiếm giữ trị sở, rồi tiến về kinh sư toan cướp nhưng bị thái úy Anh Vũ đánh bại, khoảng cuối năm Quán Thế được triều đình ban đất 3 phủ là Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Lương làm ấp phong, tháng 10/1140 Thủ lĩnh phủ Phú Lương (Việt sử lược chép tháng 10/1056 đổi Đại thủ lĩnh làm Thứ sử) là Dương Tự Minh được sai đến châu Quảng Nguyên để chiêu tập, tháng 12/1140 triều đình tha tội cho bè đảng của Thân Lợi, tháng 8/1141 chiếu cho Dương Tự Minh cai quản việc công của các khê động dọc biên giới đường bộ, vào tháng 2/1142 Tự Minh được phong làm Phò mã lang, đến tháng 5/1142 Mâu Du Đô giữ chức Thái sư và xa lĩnh công việc coi trị kê động vùng biên giới đường bộ, thay cho họ Dương (Đại Định thứ 5 trong Toàn thư tương ứng với  năm thứ 3 trong Việt sử lược) rồi năm 1145 Đỗ Anh Vũ đi phủ Phú Lương khảo xét quan liêu và định số mục hộ tịch, từ đó cho thấy rõ ràng là thái úy đã tác động đến quyền lực của họ Dương.

Theo ghi chép của Toàn thư thì vào tháng 9/1124 Thành Khánh hầu chết, người viết thấy có vài điểm đáng ngờ như sau: Thứ nhất là tới tháng 10 triều đình cho xây đài Uất La (鬱羅) người viết xin lưu ý cái nghĩa uất ức, oán hận của chữ (鬱). Thứ hai là đến tháng 12 phu nhân của hầu là Hà thị uống thuốc độc chết theo chồng, mà sự việc không khỏi khiến Ngô sử gia phải ngạc nhiên, cho là khó với người thường (theo Toàn thư vào năm 1039 khi Nùng Tồn Phúc khởi binh thì thủ lĩnh châu Tây Nông là Hà Văn Trinh tấu lên triều đình, tháng 5/1117 thủ lĩnh châu Tư Nông là Hà Vĩnh Lộc hiến con ngựa hồng có cựa, tháng 3/1129 thì Đại thủ lĩnh châu Tây Nông là Hà Văn Quảng dâng hai khối vàng sống). Thứ ba là trong cùng tháng 12 Lê Bá Ngọc được phục lại chức Thị lang bộ lễ (mà trước đó vào tháng 10/1119 khi Nhân Tông đi đánh động Ma Sa thì Thành Khánh hầu làm tiền quân, lúc đến bờ thác Long Thủy, ngài dâng rùa mắt sáu con ngươi và trên ức có chữ Ngọc (Vsl) lại thêm vào tháng 10/1117 khi Nhân Tông có chiếu lựa con trai họ tông thất để nuôi trong cung, thì Sùng Hiền hầu và Thành Khánh hầu được nêu tên trước).

Cũng trong tháng 12/1124 Tiểu thủ lĩnh của châu Quảng Nguyên là Mạc Hiền trốn sang động Cống thuộc địa giới Ung Châu, hẳn là phải có lý do nào đó thì ngài mới phải bỏ đất dời đi, tháng 1/1125 phương bắc bắt được thủ lĩnh giao trả cho người Lí, triều đình đày Mạc Hiền vào châu Nghệ An, vợ con ngài đều bị sung làm quan nô, vì thế mà thân tộc của châu Quảng Nguyên là Mạc Thất Nhân và Nùng Quỳnh làm phản, tháng 11/1125 triều đình buộc phải cử Nhập nội lễ bộ thị lang Lê Bá Ngọc đi đánh, qua sự kiện họp quân thề ngoài cửa Đại Hưng thì rõ ràng đây là một cuộc chiến qui mô và cũng chứng tỏ thủ lĩnh châu Quảng Nguyên là Dương Tự Hưng (tháng 4/1124 dâng hươu trắng) không kiểm soát được các Tiểu thủ lĩnh, tuy đại quân đánh tan được thế giặc nhưng phải tới tháng 11/1127 khi người Tống ở Khâm Châu bắt được và trao trả ngịch đảng Mạc Thất Nhân thì vùng biên giới mới tạm yên. Thứ nhất là Toàn thư chép tháng 12/1127 gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phú Lương phủ là Dương Tự Minh nhưng lại không phong cho ngài làm Phò mã lang như các trường hợp khác, thứ hai là thời điểm ban hôn diễn ra rất gần với việc bắt được người làm phản của châu Quảng Nguyên, thứ ba là cuộc chiến kéo dài 3 năm, khi họ Mạc trốn qua đất Tống và chính người phương bắc bắt được thì rất khó để nghĩ đại quân đóng giữ tại Quảng Nguyên, vậy thì khi Lễ bộ thị lang trở lại kinh sư thì vị nào tiếp tục làm các công việc còn chưa xong, thứ tư là chủ lực của Mạc Nùng tuy bị tiêu diệt, nhưng không có gì đảm bảo những thuộc hạ cũng như các tiểu thủ lĩnh không khởi binh nữa, nên từ các chứng cớ đó người viết phỏng đoán rằng công chúa Diên Bình được gả cho thủ lĩnh châu Quảng Nguyên là Dương Tự Hưng và ngài có mối quan hệ thân tộc với Phò mã lang Cảnh Thông nên dẫn đến nhầm lẫn của Ngô sử gia.

Việt sử lược chép: “Mậu Thìn [1148] Tháng 9, vua xét án quan thái úy Đỗ Anh Vũ, đày Anh Vũ làm Thăng điền hoành” (Vsl, tr.145)

Sự biến diễn ra vào tháng 9/1148, ban đầu Phò mã lang Dương Tự Minh, Điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái dẫn quân đến Việt Thành, thấy thái úy bèn hô to Anh Vũ ra vào cấm cung làm nhiều điều ô uế, nhân đó tạm giữ, cùng lúc ấy Nội thị Đỗ Ất đến tấu xin hoàng đế lệnh bắt giam thái úy và được phê chuẩn, Đỗ Anh Vũ bị trói ở hành lang Cụ Thánh, để chờ Đình úy tra xét, Lê thái hậu sai người mang cơm đến, đồng thời đút lót cho Vũ Đái với đề nghị giữ an toàn tính mạng, Hỏa đầu của đô Cụ Thánh là Nguyễn Dương biết chuyện, toan giết Quán Thế nhưng bị Tả Cụ Thanh Đàm (tuy Toàn thư chép rõ là Đàm Dĩ Mông nhưng người viết ngờ rằng có sự nhầm lẫn, bởi Việt sử lược mục năm 1214 chép việc Đàm thái úy chống nhau với Trần Tự Khánh nếu vậy khi ấy Dĩ Mông cũng phải khoảng 80 tuổi, vì thế mà người viết để nguyên văn như ghi chép của Việt sử lược là Tả Cụ Thanh Đàm) ngăn cản, có thể trong diễn biến ấy, ngài đã làm hại tới tính mạng của Hỏa đầu nên đành tạo dựng hiện trường giả. Sau khi Đình úy tra xét thì tấu lên hoàng đế, do sự tác động từ phía Lê thái hậu nên Thiên Tộ đày Quán Thế làm Cảo điền nhi, trong thời gian chịu tội nhờ bà trưởng hết sức giúp đỡ, cuối cùng Anh Vũ được phục nguyên chức tước, trở lại chính trường thái úy thành lập đô Phụng quốc vệ và thực hiện sự trả thù như giáng Trí Minh vương xuống tước hầu, Bảo Ninh hầu xuống tước Minh tự, Bảo Thắng hầu xuống tước Phụng chức, Nội thị Đỗ Ất cùng 5 người bị cưỡi ngựa gỗ, Hoả đầu đô Ngọc Giai là Đồng Lợi cùng 8 người bị chém ở chợ Tây Giai, Điện tiền đô chỉ huy Vũ Đái cùng 20 người bị chém bêu đầu ở các bến sông, Phò mã lang Dương Tự Minh cùng 30 người bị tội lưu đày ở nơi xa độc, những người dự mưu đều bị tội đồ làm điền hoành, khao giáp (đoạn liệt kê những kẻ tham gia cùng mưu bắt giữ thái úy thấy có Hoả đầu đô Quảng Vũ là Lương Thượng Cá nhưng danh sách những kẻ bị trả thù lại không đề cập đến, lại thêm Bảo Thắng hầu bị giáng xuống tước Phụng chức nhưng không được liệt kê trong đám người lên kế hoạch ám hại thái úy, nhưng khó mà nghĩ rằng Thượng Cá là Bảo Thắng hầu, ngoài ra còn thấy khi quan nội thị tấu lên thì hoàng đế có chiếu sai cấm quân đến trói giam thái úy, phải chăng người thừa lệnh là Hỏa đầu Lương Thượng Cá của đô Quảng Vũ).

Toàn thư chép: “Mậu Dần [1158] Mùa xuân tháng 2, Nguyễn Quốc sang sứ nước Tống về, dâng tâu (…) cho đặt cái hòm ở giữa sân để ai có trình bày việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy. Bấy giờ có người ngầm bỏ thư nặc danh nói là Anh Vũ làm loạn, tìm xét không biết là ai. Anh Vũ vu cho Quốc làm, đày Quốc đến trại đầu ở Thanh Hóa. Không bao lâu, vua gọi Quốc về. Anh Vũ lại đưa cho Quốc rượu có thuốc độc, Quốc tự nghĩ không khỏi bị hại, bèn uống thuốc độc chết” (Tt, tr.333)

Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tự viết: “Tháng 8 năm Mậu Dần (1158) Thái úy ốm nằm tại phủ riêng ở hương Điển Lệnh (…) Thái úy mất ngày 20 bính tí tháng giêng, ông giúp vua 22 năm, thọ 46 tuổi (…) Thái phó Tô công phụng chỉ giúp đỡ việc ma chay và Chu Trung trong coi việc nghi lễ” (Vbtl, tr.267)

Chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được tại sao Phò mã lang lại tham gia vào binh biến Việt Thành, mà không những thế Việt sử lược khi chép (đã chỉ) nêu tên 2 người là Dương Tự Minh và Điện tiền chỉ huy sứ (ghi chép như vậy là hoàn toàn hợp lý bởi xem số lượng người chịu tội cùng Vũ Đái và Phò mã vượt trội hơn hẳn so với những kẻ khác) thêm nữa nếu Điện tiền chỉ huy sứ có lòng muốn giết thái úy thì cớ gì lại nhận đút lót của thái hậu, xem vậy đã rõ ai là kẻ chủ mưu, nhưng chưa hẳn là người duy nhất bởi trong những vị chịu tội tử thì đám nội thị Đỗ Ất gồm 5 người là kinh hoàng nhất với hình thức thượng mộc mã, nhưng vì cớ gì, phải chăng do chức vụ nhỏ nhất hay vì ngài giữ vai trò liên hệ giữa đám thực hiện binh biến với trùm cuối vì thấy rằng một là xuất hiện chiếu lệnh cho phép bắt giữ; hai là hoàng đế có tham dự buổi xét án; ba là có nhiều người giữ vị trí quan trọng trong chính quyền tham gia, gồm một vị vương, hai vị hầu, một vị phò mã lang, một vị điện tiền chỉ huy sứ, hai vị hỏa đầu, một vị nội thị; bốn là thái úy phải tạo dựng đô Phụng quốc vệ rồi mới tiến hành trả thủ; năm là sau cuộc binh biến (tuy là trên danh nghĩa) triều đình (có) ban vài sắc lệnh, nhưng dựa vào nội dung thì rõ ràng nó bảo vệ quyền lực của thái úy (còn về Phò mã lang thì bị tội lưu đày, chúng ta chưa rõ 30 người cùng chịu mức phạt là những ai và hành trạng của công chúa Thiều Dung (韶容) sau sự biến ra sao, nhưng thấy Toàn thư có chép đến vị công chúa Thiệu Dung (紹容) mất vào tháng 5/1153 thì đến tháng 10 chép thêm hai việc là sao Tuế Tinh phạm vào sao Thái Bạch và liền sau là việc sai thợ dựng phủ tại Phú Lương, rõ ràng là rất trùng hợp).

Sự biến đổi về quyền lực sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn, thực vậy: thứ nhất là qua ghi chép của Toàn thư về việc làm phản của rợ núi ở Đại Hoàng là Nùng Khả Lai năm 1152 thì thấy rằng sử gia chép rất kĩ về cuộc đích thân đi dẹp loạn chính thức đầu tiên của Anh Tông, thứ hai là Việt sử lược có chép ẩn dụ sự kiện mặt trời và mặt trăng đánh nhau năm 1157 và hệ quả là ra đời vài luật lệnh mới (dựa vào lệnh cấm hỏa đầu của các đô không được phục dịch tư gia thì có thể nghĩ rằng ấy là bảo vệ quyền lực của hoàng đế, nhưng lại có luật cấm các vương hầu không được đi lại trong thành vào ban đêm, mà lệnh ấy hoặc tương tự với nó đã được thấy ban hành vào năm 1148) thứ ba là trường hợp của Viên ngoại lang Lý Quốc, nhờ mưu kế mà liệt được các tội của thái úy, nhưng cũng chính vì thế mà ngài bị trả thù, sự kiện vua muốn gọi Quốc về và thái úy buộc phải đầu độc ngài cho thấy Thiên Tộ với Quán Thế có xung đột, thứ tư là sau khi thái úy mất vào tháng 1/1159 thì triều đình có sự sắp xếp lại nhân sự (cụ thể gồm hạ chiếu cho các chức Nội minh tự, Đại liêu ban xưng hô là Thái phó; Lang tướng, Thượng chế, Sùng ban, Cung phụng, Thị cấm, Điện trực xưng hô là Thái bảo. Người không chức quan gọi là Quản giáp; Chi hậu, Hỏa đầu xưng hô là Phụng ngự, Tảo hoành gọi là Chủ đô theo như ghi chép của Việt sử lược). Rõ ràng là với các sự kiện trên chúng ta hoàn toàn có thể phỏng đoán rằng đã có một cuộc chiến về quyền lực giữa hoàng tử Thiên Tộ và thái úy Anh Vũ, tuy rằng mộ chí có mô tả sự thương xót của đương kim hoàng thượng đối với đại thần, nhưng đó có thể là sự phóng đại của người viết văn bia, chẳng thế mà tác giả đã lờ đi sự biến năm 1148.

(D.15) CAO TÔNG THÁI THƯỢNG HOÀNG

* Toàn thư chép: “Giáp Ngọ [1174] Mùa thu tháng 9, Thái tử Long Xưởng có tội, phế làm thứ dân và bắt giam. Trước đó, Long Xưởng thông dâm với cung phi, vua không nỡ bắt tội chết, cho nên có mệnh này (…) Ất Mùi [1175] Mùa xuân tháng giêng, sách lập Long Trát làm Hoàng thái tử, ở đông cung. Phong Tô Hiến Thành làm Nhập nội kiểm hiệu thái phó bình chương quân quốc trọng sự, tước vương, giúp đỡ đông cung” (Tt, tr.336)

Việt sử lược chép: “Giáp Ngọ [1174] Giáng Thái tử Long Xưởng làm Bảo Quốc vương. Lập Long Cán làm Thái tử (…) Bà Nguyên phi là Từ thị được vua yêu, Hoàng hậu bèn sai Long Xưởng lén lút đến tư tình để mê hoặc, muốn vì thế bị vua xa lánh. Từ thị cứ tình thực tâu. Vua giận, bèn phế Long Xưởng (…) Cao Tông khóc mãi, nhà vua lột cái mũ đội cho, thì Cao Tông ngừng khóc, vua lấy làm lạ. Tháng 11 lập làm Thái tử và giáng Long Xưởng làm vương” (Vsl, tr.153)

Đối chiếu giữa ghi chép của Việt sử lược với Toàn thư, người viết phỏng đoán rằng vào khoảng tháng 9/1174 thái tử Long Xưởng bị phế làm thứ dân, đồng thời bị bắt giam, đến tháng 11 thì nhờ hoàng hậu tấu xin nên ngài được ban tước vương, tới tháng 1/1175 Anh Tông lập Long Trát làm thái tử, Việt sử lược cho biết vào năm 1138, Thiên Tộ lập hoàng hậu một người, có lẽ vị hoàng hậu ấy là mẹ của Long Xưởng chăng, bởi theo ghi chép của Toàn thư (mục năm 1151) thì ngài là con trưởng, tuy không đề cập đến đích thứ, song do thân mẫu của ngài được phong thái hậu (và cũng từng là hoàng hậu) trong khi cháu của thái úy khi nhập cung năm 1150 cũng chỉ được làm phu nhân (sau mới phong hoàng hậu) mà so với thời điểm sinh hoàng trưởng tử (1149) còn sau một năm. Ngoài ra có một điểm khá khó hiểu trong việc lập Long Trát làm thái tử, ấy là theo mộ chí thì năm 1154 phu nhân Thụy Châu đã sinh thái tử Thiên Bảo, năm 1156 sinh tiếp hoàng tử thứ hai, năm 1158 sinh thêm hoàng tử thứ ba, trong khi Long Trát là con thứ sáu, thế thì tại sao lại bỏ con lớn mà lập con nhỏ với sự lo âu sợ không đương nổi (theo Thiền uyển tập anh truyện thiền sư Đại Xả thì Lý Anh Tông có lần vời sư đến than rằng trẫm nhiều phiền cảm, có phép gì chữa khỏi không). Thấy rằng Toàn thư chép tới 2 chỗ phong cho Tô Hiến Thành làm thái úy, ấy là vào năm Quán Thế mất và ngay sau thời điểm Long Trát lên ngôi, thứ nhất là theo như ghi chép của Ngô sử gia thì vào tháng 1/1175 triều đình phong Tô Hiến Thành làm Kiểm hiệu thái phó, thứ hai là Việt sử lược chỉ chép ngài được phong làm thái úy vào tháng 9/1175, vậy thì sự nhầm lẫn ở đâu hẳn là đã rõ. Theo ghi chép của Thiền uyển tập anh thì thiền sư Trí Bảo người Ô Diên, Vĩnh Khương họ Nguyễn là cậu của Hiến Thành, ngoài ra chúng ta hiện chưa có bằng chứng về mối quan hệ giữa thái úy và vị Phụ kỳ lang họ Tô trên bia chùa Hương Nghiêm, ngoại trừ một thống kê (trong Thanh Hóa chư thần lục) mà theo đó ở đất ấy có khoảng 72 đền thờ Hiến Thành (rồi lại thấy việc Tả gián nghị đại phu Lưu Cao Nhĩ có tội về sai quân luật dẫn đến bại trận nhưng không người nào dám bàn đến thì hẳn là ngài có mối quan hệ với các thế lực đương thời, lại thấy khi Dương Hoán lên ngôi có phong cho Lưu Ba làm Thái phó, tước Đại liêu ban, rồi cùng với Lê Bá Ngọc, Mâu Du Đô đem lễ vật của Nhân Tông ban tặng cho Sùng Hiền hầu, mà như[36] Nhị Lưu thái phó thần sự trạng chép thì ngài là em trai của Khánh Đàm, còn theo Lưu xá Báo Quốc tháp tự thì Lưu Ba mất năm 1130). Một là Toàn thư cho biết phu nhân của Đỗ Anh Vũ họ Tô; hai là mộ chí có đề cập đến vị Thái phó họ Tô phụng chỉ giúp đỡ việc ma chay; ba là khi thái úy cầm quyền thì Hiến Thành tham gia việc triều chính; bốn là thái phó hết sức tận lực vì người cháu của Quán Thế trong việc dìu Long Trát từ đó nếu cho rằng Tô thị có mối quan hệ thân tộc với Hiến Thành cũng chưa hẳn là không có cơ sở.

Toàn thư chép: “Kỷ Hợi [1179] Thái uý Tô Hiến Thành chết. Trước đây khi Tô Hiến Thành nằm bệnh (…) Thái hậu thân đến thăm, hỏi rằng nếu có mệnh hệ nào thì ai là người có thể thay ông. Hiến Thành trả lời Trung Tá có thể thay được, Thái hậu khen là trung nhưng cũng không dùng lời ấy. Lấy Đỗ An Di làm phụ chính (…) Tân Sửu [1181] Mùa xuân tháng giêng, Thái tử cũ là Long Xưởng cầm đầu bọn gia thuộc nô lệ trộm cướp bừa bãi, muốn mưu làm loạn. Mùa hạ tháng 4, đói to dân chết gần một nửa (…) Nhâm Dần [1182] Mùa xuân tháng giêng, đắp đàn phong tướng, lấy Ngô Lý Tín làm Thượng tướng quân, đem quân thủy bộ đi tuần bắt trộm cướp. Lấy Lý Kinh Tu làm Đế sư, trong thì hầu việc giảng sách, ngoài thì dạy dân trung hiếu, từ đấy Chiêu Linh thái hậu không dám manh tâm mưu khác nữa” (Tt, tr.339-340)

Việt sử lược chép: “Nhâm Dần [1182] Mùa hạ, Lấy viên Trung thư hỏa là Chu Toại Trung làm chức Trung thư sảnh lệnh thư gia, lấy Đỗ An Thuận làm Thái sư phụ chính.  Người thời bấy giờ kinh sợ cái oai quyền của ông” (Vsl, tr.158)

Người viết cho rằng sau khi Tô Hiến Thành mất, thái hậu đã theo lời thái úy, cho Trần Trung Tá làm phụ chính (Toàn thư cho biết Trung Tá giữ chức Gián nghị đại phu, công việc của chức này đại thể là can gián vua, còn vị Trần công trên mộ chí của Phụng Thánh phu nhân thì làm Thái phó, nên rất khó để xác định hai vị có phải là một không) đến năm 1181 Bảo Quốc vương cùng bọn gia thuộc làm loạn, lại gặp nạn đói nên trộm cướp gia tăng, để đối phó triều đình lấy Ngô Lí Tín làm Thượng tướng quân, Đỗ An Thuận làm Thái sư phụ chính và đó mới là nguyên cớ khiến thái hậu Chiêu Linh không dám khơi loạn. Theo Thiền uyển tập anh truyện thiền sư Đại Xả thì ngài họ Hứa người phường Đông Tác từng dựng chùa ở gò Hồ Nham núi Tuyên Minh để giáo hóa, học trò đến học rất đông, người ta nghi ngờ sư có yêu thuật, nên trong niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175) ngài bị bắt đem về giam ở thành nội (tuy truyện chép là Đỗ Anh Vũ nhưng vị thái úy bắt sư phải là Tô Hiến Thành) và nhờ sự vận động của công chúa Thiên Cực mà ngài được thả, thời điểm bắt và thả khá trùng hợp với thời gian thái tử Long Xưởng bị giam và ban tước vương, chưa rõ là Đại Xả có dính líu gì tới thái hậu Chiêu Linh không, nhưng thấy thêm một sự việc rất hi hữu xảy ra với các tăng sư, ấy là vào tháng 2/1180 ngài uống thuốc độc mà qua đời, thời điểm này Đỗ thái hậu đã nắm quyền, em trai là Đỗ An Di cũng đã tham dự triều chính và tháng giêng năm sau Bảo Quốc vương làm loạn. Thấy mộ chí của Đỗ Anh Vũ chép năm 1154 phu nhân Thụy Châu sinh thái tử Thiên Bảo (dựa vào mộ chí của Phụng Thánh thì tên gọi thái tử không có gì đáng bàn, nhưng trong trường hợp này thì có vẻ không giống, vì như 2 người con sau của phu nhân chỉ được gọi là lang và không được nêu tên) xem thế chúng ta có thể ngờ rằng dưới tác động của Đỗ Anh Vũ, Thiên Bảo được lập làm thái tử, nhưng có lẽ sau khi thái úy mất, Anh Tông nắm triều chính nên đã phế lập chăng? Toàn thư cho biết hoàng trưởng tử Long Xưởng sinh tại hành cung Ứng Phong, chẳng bao lâu (tầm) được phong làm Hiển Trung vương, người viết hiện chưa thấy thêm tài liệu nào để thu hẹp các biến cố, ngoại trừ những gì đã được chép trong sách ấy gồm: một là hoàng trưởng tử sinh sau thời điểm của cuộc binh biến Việt Thành, hai là vào tháng 8 hoàng đế còn xem đua thuyền tại cung Quảng Từ, thì khi ấy hẳn là long thai đã rõ, nên việc thực hiện chuyến đi tới hành cung Ứng Phong, rồi không trở lại kinh thành hoặc như chủ đích sinh nở ở đó (tất nhiên là với điều kiện không thể như hoàng cung được) thì cũng khá khó hiểu, còn như hoàng hậu muốn sống tại nơi ấy thì cũng trái với tình cảm thông thường, bởi hoàng cung có điều kiện vật chất tốt, cũng như thường xuyên gần gũi long thể, nhưng nếu nói hoàng hậu có liên quan tới biến loạn nên phải ra đó sống thì cũng không có cơ sở.

Toàn thư chép: “Mậu Thân [1188] Thái sư Đỗ An Di chết, lấy Thái phó Ngô Lý Tín làm Phụ chính” (Tt, tr.341)

Việt sử lược chép: “Kỷ Dậu [1189] Vua sai Thái phó Ngô Lý Tín, Đô quan lang trung Lê Năng Trường xét việc kiện Thiếu sư Mạc Hiển Tích. Bọn Lê Năng Trường sợ Mạc Hiển Tích không dám truy cứu (…) Lúc bấy giờ vua còn non nớt, Hiển Tích tư thông với Thái hậu, cho nên người đương thời sợ Hiển Tích (…) Canh Tuất [1190] Mùa xuân tháng 2, Thái hậu từ trần, đặt tên thụy là Linh Đạo. Tháng 3, vua xuống chiếu đày Mạc Hiển Tích đi trại Qui Hóa. Thái phó Ngô Lý Tín chết, lấy Thái phó Đàm Dĩ Mông làm Phụ chính” (Vsl, tr.161)

Nguyên văn là Hiển Tích thông ư (通於) thái hậu, như thế thì cũng chưa hoàn toàn mô tả rõ cái ý thông dâm, mà có thể tác giả muốn thể hiện nội dung là vua thì chưa vững quyền lực trong khi thiếu sư lại cùng phe đảng với thái hậu nên Ngô phụ quốc và Lê đô quan không dám truy cứu, cho đến khi Đỗ thái hậu mất, không còn chỗ dựa nên thiếu sư liền bị đày lên Qui Hóa, lại thấy Toàn thư mục năm 1086 chép rằng Mạc Hiển Tích được bổ làm Hàn lâm học sĩ (như thế tính ra ở thời điểm bị xét xử ngài cũng khoảng 115 tuổi) tuy nhiên Việt sử lược không chép sự kiện đó và khi thực hiện đối chiếu thì thấy rằng sách ấy chép nhiều đầu việc hơn Toàn thư trong mục năm 1086, vì thế chúng ta có thể nghĩ rằng vốn sử của Lê Văn Hưu không có sự kiện ấy, là do Ngô Sĩ Liên tham khảo tài liệu khác để chép thêm mà thôi. Thứ nhất là theo Đại Nam nhất thống chí thì trong khoa thi Thái học sinh năm 1165 người đỗ đầu là Trần Đăng Nguyên, thứ hai là giống như Toàn thư mục năm 1088, ghi chép của Việt sử lược mục năm 1150 cũng có hai sự kiện gồm: mùa xuân dâng rùa và tổ chức khoa thi, thứ ba là Chiêm Thành bỏ cống nhiều năm, mãi tới 1160 mới thực hiện bổn phận của nước chư hầu, nên nếu có nhầm lẫn thì tại thời điểm này chăng?

* Việt sử lược chép: “Quý Hợi [1203] Tháng giêng, xây cất cung mới ở phía tây tẩm điện (…) Tháng 9, người Đại Hoàng là Phí Lang làm phản” (Vsl, tr.166-168)

Trong thời gian xây dựng cung điện mới, người phụ trách là thượng tướng quân Nguyễn Bảo Lương bị thái phó phụ quốc Đàm Dĩ Mông sai lấy roi đánh do làm gác Thánh Nhật chậm không đúng hạn, qua đó cho thấy thứ nhất là vị liệt hầu thực sự rất uy quyền và thứ hai là nó tác động rất nhiều đến nhận thức của những người đang thi công, cùng với một là vào tháng 8 châu Nghệ An bị người Chiêm Thành tấn công, hai là ấp Lâm và Đà Mỗ làm phản, ba là người châu Đại Hoàng cũng từng khởi binh vào năm 1198, nên Phí Lang cùng người của ngài (ngừng xây cửa Đại Thành) trốn về rồi tụ binh, nhân việc đó Thượng tướng quân cùng Thượng thư bộ lại là Từ Anh Nhĩ tấu hặc, do vậy mà giáng chiếu phế Dĩ Mông xuống hàng Đại liêu ban và lệnh cho Chi hậu phụng ngự Trần Hinh dẫn đại quân từ Thăng Long cùng Anh Nhĩ lấy quân ở phủ Thanh Hóa tiến đánh, Trần Hinh giao chiến với Phí Lang trước và bị thua, tuy được Anh Nhĩ cứu viện nhưng vẫn không thắng, cuối cùng Lại bộ thượng thư bị giết, còn Chi hậu phụng ngự buộc phải lui quân.

Toàn thư chép: “Giáp Tí [1204] Mùa xuân tháng giêng, sai Đỗ Kính Tu đi đánh bọn làm phản ở Đại Hoàng giang, không thắng” (Tt, tr.345)

Việt sử lược chép: “Giáp Tí [1204] Tháng 10, sai Dĩ Mông đem binh các đạo đi đắp lũy từ đường nhỏ Bà Câu về phía bắc, dọc theo cửa Lộ Giang đến trại Văn Lôi để phòng ngự người Đại Hoàng (…) Đinh Mão [1207] Người Đại Hoàng là Phí Lang lại làm phản, đánh ấp Tạp Tự” (Vsl, tr.169-172)

Sau trận thua lớn triều đình lại cử Thái bảo đi đánh Phí Lang nhưng Kính Tu (làm Phụ quốc từ tháng 9/1203) sợ nhát không dám tiến, bèn tấu kể những điểm khó khăn (hẳn là để xin rút quân) đến mùa hạ thì được triệu về, rồi đến tháng 5/1204 triều đình tiếp tục cử Nội hầu là Đỗ Anh Doãn tiến đánh Đại Hoàng nhưng cũng không thắng và buộc phải lui binh, hẳn là khi ấy thế quân của Phí Lang phải lớn lắm, vì thấy đến tháng 10 triều đình (dùng lại Đàm Dĩ Mông nhưng) chỉ có thể đắp lũy mà phòng ngự, chúng ta có thể nghĩ rằng vì nạn cướp biên giới phía bắc mà Dĩ Mông được triệu về kinh (Tt) nên nhân đó người Đại Hoàng tấn công thành lũy, quân triều đình đóng tại đó tan vỡ (1205) thuận thế Phí Lang thống suất bọn Quan Sản thuộc man lão Chí Thổ đánh chiếm cả dải hương thôn đến tận hành cung Ứng Phong, nhưng khi tới động Nghiễn thì bị người ở đó đón đánh phải lui, triều đình bèn tận dụng thất bại đó, nên vào tháng 8/1205 sai Thị vệ đô hỏa đầu (Hỏa đầu của đô Thị vệ) là Nguyễn Vị đi chiêu dụ người Đại Hoàng, rồi nhân Phí Lang cùng đám hào trưởng hơn 170 người ra hàng, triều đình bèn đổi dùng niên hiệu Trị Bình Long Ứng, xem thế loạn ấy rất lớn (Toàn thư cho biết vào tháng 2/1206 phong Dĩ Mông làm thái bảo).

Nhưng tới đầu năm 1207 thì người Đại Hoàng khởi binh trở lại, kế đến (tháng 3) người châu Quốc Oai là Đoàn Khả Liệt và Vương Mãn cũng nổi lên, tuy nhiên chúng ta không thấy có ghi chép nào về việc đánh dẹp hai châu này (mà Việt sử lược chỉ cho biết đến tháng 4 lại cho Đàm Dĩ Mông làm phụ chính) nhưng đến tháng 8 khi người vùng Hồng khởi binh thì triều đình lại huy động rất nhiều đạo quân binh cùng tiến đánh Đoàn Thượng, có thể (đối với Thăng Long thì người vùng Hồng là mối nguy rất lớn hoặc) quan điểm đánh dẹp của hai vị phụ chính là khác nhau, cũng bởi từ cuộc đại tiến binh ấy mà hình thành những liên kết và đối kháng giữa các thế lực, người viết thấy trong những vị quan được cử đi đánh Đoàn Thượng thì có Chi hậu hỏa đầu Trần Hinh, lại thêm vào năm 1159 triều đình có chiếu cho Hỏa đầu và Chi hậu gọi nhau là Phụng ngự, vì thế mà ngài Trần Hinh của năm 1207 cũng chính là người đem đại quân đánh Phí Lang năm 1203, do đó mà người viết cho rằng Chi hậu phụng ngự đã không chết trong cuộc tấn công vào châu Đại Hoàng như sách sử đã chép.

Việt sử lược chép: “Mậu Thìn [1208] Tháng chạp, lấy Phạm Du coi việc quân châu Nghệ An (…) Kỷ Tị [1209] Mùa xuân tháng giêng, Bỉnh Di lại đốc xuất người Đằng Châu và Khoái Châu đánh Du (…) Tháng 3, Bỉnh Di lại đánh người vùng Hồng là Thượng và Chủ tại Vệ Kiều. Vua sai Chi hậu phụng ngự Trần Hinh triệu Du về kinh sư” (Vsl, tr.173-174)

Hoàng đế Cao Tông tỏ ra tin tưởng Thượng phẩm phụng ngự là Phạm Du nên vào tháng 12/1208 sai coi việc quân của châu Nghệ An, nhân đó chiêu nạp bọn vong mệnh, tụ tập giặc cướp (gọi là hầu nhân) ngang nhiên cướp bóc, không sợ gì cả, bởi vậy mà đồng đảng của Phạm Du là đám người Quốc Oai đến đóng đồn ở Tây Kết, người trại Văn Lôi đóng đồn ở sông Đà Mạc, làm cho đường bộ bị cắt đứt, đường sông thuyền bè không qua lại được, nên triều đình cử Thượng phẩm phụng ngự là Phạm Bỉnh Di đem người châu Đằng ra phòng ngự, vì thế đã khiến Phạm Du trở về hương Cổ Miệt, rồi muốn cùng hợp quân với người vùng Hồng tiến đánh châu Đằng, tuy nhiên Bỉnh Di phát binh trước nhưng không thắng, qua tháng 1/1209 Bỉnh Di đem thêm người châu Khoái tiến đánh, Phạm Du thua buộc phải rút chạy về vùng Hồng nương nhờ Đoàn Thượng, đến tháng 3 Bỉnh Di tiến đánh, người vùng Hồng tan vỡ, Đoàn Chủ bị Hà Văn Lôi giết chết.

Trên văn bia chùa Báo Ân có nhắc đến vị Tể tướng Phạm Côn người Ninh Sơn, trúng ất khoa, được vào chầu sân rồng, hàm Tòng nhị phẩm, từng theo lệnh của vua tuyển chọn võ tướng, đất Ninh Sơn thuộc phủ Quốc Oai, mà như chúng ta đã thấy khi Phạm Du làm loạn thì người Quốc Oai hùa theo, có khi nào ngài cùng gia tộc với vị tể tướng trúng ất khoa kia không, rồi lại thấy sau khi Phạm Du thua chạy thì liền bị Bỉnh Di tịch biên tài sản đem đi đốt, như thế rõ ràng Thượng phẩm phụng ngự có nhà cửa tại hương Cổ Miệt, hương này được sử gia Trần Quốc Vượng chú thích là thuộc miền Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ (Hưng Yên) mà trong bia chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt (Mỹ Văn, Hưng Yên) có chép đến Quốc Hiền là con của Kim bộ viên ngoại lang họ Phạm, được thừa hưởng tài sản của bên ngoại là họ Đỗ, không lẽ Thượng phẩm phụng ngự Phạm Du là con cháu của Quốc Hiền, nhưng cũng chính bởi việc giao tài sản lại cho Quốc Hiền mà từ đó chúng ta có thể đặt nghi vấn rằng Đỗ Anh Vũ có con (trai) không, hay là thừa kế thời ấy còn nhiều điểm chúng ta chưa rõ, chẳng phải thế mà chính thân phụ của ngài là người hương Tây Dự nhưng lại ở rể tại thôn Cổ Việt đó sao?

Việt sử lược chép: “Kỷ Tị [1209] Mùa thu tháng 7, Bỉnh Di về kinh sư, vua sai bắt Bỉnh Di và con là Phụ giam ở Thủy Viện, muốn thi hành hình phạt (…) Ngày nhâm dần, Nguyên tổ thống xuất thủy quân đến kinh thành, rước Vương tử Sảm, rồi tôn Vương tử Thầm lên ngôi (…) Vua sai Phạm Du đi Hồng Lộ huấn luyện quân sĩ định đánh người Thuận Lưu (…) Mùa thu tháng 8, Thuận Lưu và Khoái vì việc Bỉnh Di chết, mà đem thủy quân đến đánh kinh sư (…) Canh Ngọ [1210] Mùa xuân tháng giêng, Tô Trung Tự thấy nhận riêng tước phong của Vương Tử Sảm thì sợ tội đến mình, bèn đem binh đánh người Khoái. Nhân đó đến Hải Ấp bắt Vương tử Sảm đem về kinh sư” (Vsl, tr.174-176)

Thua trận nên rơi vào tình thế hiểm nghèo, Phạm Du bèn nhờ Trần Hinh tầu xin tha tội, Cao Tông chấp thuận nên khi được triệu trở về kinh thành thì lại xàm tấu, vu cho Bỉnh Di, vì thế vào tháng 7 triều đình lệnh cho Thượng phẩm phụng ngự rút quân, khi ngài cùng con là Phụ vào diện kiến thì bị bắt giữ, bộ tướng Quách Bốc biết tin liền phá cửa Đại Thành dẫn binh tiến vào, Cao Tông thấy việc gấp bèn sai dẫn Bỉnh Di tới thềm Kim Tinh, tại đó Phạm Du và em là Kính dùng thương giết chết cha con ngài, đám quân sĩ do Quách Bốc sai đột nhập vào xứ Lương Thạch, tới nơi thì sự đã rồi, nên đành đưa thây của cha con Bỉnh Di theo cửa Việt Thành ra bến Triều Đông, rồi nảy ra ý định mời Vương tử Thầm và Vương tử Sảm, nhưng chỉ đón được vương tử Thầm tại cung Vạn Diên về Hải Ấp nên (ngày nhâm dần) Trần Lý phải thống suất thủy quân đến kinh thành, rước vương tử Sảm cùng mẹ là nguyên phi Đàm thị và hai em gái ruột về nhà Đoàn thị ở Hải Ấp, tại đây đám người đó tôn vương tử Thầm lên ngôi hoàng đế và Quách Bốc được trọng dụng, nhưng Đàm hoàng hậu thì muốn giành ngôi vị cho con nên mệnh cho gia thần là Lưu Thiệu bàn việc phế lập với Trần Lý và Phạm Ngu, hai người (phải) đưa vương tử Sảm về Mang Nhân lập làm (Thắng) hoàng đế, do vậy mà xảy ra xung đột với Quách Bốc, nhưng rồi phe tôn vương tử Sảm giành chiến thắng (Lý Thầm bị giáng làm vương và xử tội đám Quách Bốc theo các mức độ khác nhau) nên sau đó Thắng hoàng trở về thôn Lưu Gia tại Hải Ấp, đồng thời lấy con gái thứ của Trần Lý làm Nguyên phi, dùng Đàm Dĩ Mông làm Thái uý, Nguyễn Chính Lại làm Tam tri chính sự, Trần Lý làm Minh tự, Phạm Ngu làm Thượng phẩm phụng ngự, Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ, ngoài ra mỗi người đều có phân biệt, chưa rõ là Lưu Thiệu được phong chức không, nhưng thấy Cương mục chua rằng thôn Lưu Gia là xã Lưu Xá thuộc huyện Hưng Nhân, mà đất ấy vốn có anh em Khánh Đàm rất quyền thế, lại thấy một là Trần Lý đưa được toàn bộ mẹ con An Toàn hoàng hậu, hai là Dĩ Mông giữ chức vụ quan trọng, ba là Đàm thị chủ động bàn việc phế lập, xem vậy thì trong việc đưa vương tử Sảm về Hải Ấp hẳn là phải có sự đồng thuận từ phía hoàng hậu và có lẽ Lưu Thiệu là kẻ liên lạc chăng?

Thấy rằng trong tháng 7 (dựa trên mối quan hệ với Đoàn Thượng nên) hoàng đế đã lệnh cho Phạm Du đi Hồng Lộ để huấn luyện quân sĩ, toan đánh đám vương tử Sảm (nhưng việc không thành) và đến tháng 8/1209 người Thuận Lưu là Trần Lý cùng người đất Khoái (tiếng là vì việc của Bỉnh Di nên hẳn đám này cũng là bộ tướng như Quách Bốc, chứ ngờ rằng phe phái của vương tử Sảm biết được kế hoạch tiến đánh của hoàng đế từ việc bắt giết Phạm Du nên quyết định) đem thủy quân tiến đánh kinh sư (trước) tuy nhiên thất bại, nên hẳn là Thăng Long phải do quân triều đình nắm giữ, nhưng qua việc vương tử Sảm rời đến Hải Ấp, cũng như Toàn thư chép rõ Cao Tông lánh nạn đến Quy Hóa giang và An Nam chí lược còn cho biết thêm là nương tự nhà Hà Vạn, thì việc hoàng đế không ở kinh thành có lẽ là đúng (Đối chiếu với ghi chép của Việt sử lược thì thấy rằng Toàn thư đã chép lược những sự kiện liên quan tới Trần Lý như đem thủy quân tới kinh thành đón mẹ con Đàm thị hoặc rước vương tử Sảm về Mang Nhân lập làm Thắng hoàng, trong khi lại chép tương đồng với An Nam chí lược, đặc biệt là câu anh em họ Trần họp hương binh để dẹp loạn, rước vua về cung thì có vẻ như cấu trúc đã được định hình với sự can thiệp từ các sử gia triều Trần) lại thấy một là bia chùa Báo Ân được dựng vào tháng 12/1209 có nhắc đến đương kim hoàng thượng và thái thượng hoàng, hai là Việt sử lược chép tháng 1/1210 đám điện tiền chỉ huy sứ trở giáo, ba là Toàn thư cho biết vào tháng 3/1210 Cao Tông sai rước vương tử Sảm từ nhà Tô Trung Từ, xem vậy thì chúng ta có thể phỏng đoán rằng vào mùa xuân năm 1210 Long Trát trở về Thăng Long. Trong cuộc tấn công của người Thuận Lưu và Khoái vào kinh thành thì thấy tiền quân đậu ở Đông Bộ theo cửa nách bên trái vào thẳng cấm thành cướp lấy các bảo vật, còn đại quân đậu tại bến Thiên Hà, toan theo cửa Thiên Thu mà vào, đến quán Vũ Sư bị Liệt hầu Cao Kha nấp ở Chẩm Viên, xạ nhất tốt trúng nhũ, đại quân hẳn do người chỉ huy thống lĩnh, nhưng chỉ vì một tên lính bị bắn trúng ngực mà sĩ tốt tan chạy, lại thêm khi nấp bắn thì hẳn phải nhằm người chủ tướng, nên người viết ngờ rằng kẻ bị trúng tên là Trần Lý (xem đoạn chép ấy của Việt sử lược thì không thấy tác giả gọi đám người Thuận Lưu và Khoái là giặc, hẳn vì kiêng né chăng) thêm bằng cớ nữa cho phép chúng ta nghĩ rằng Trần Lý chết trong cuộc tấn công vào kinh thành, ấy là khi đám tôn vương tử Sảm mất trọng tướng khiến vài người trở nên hoang mang, vì thế mà đám Tô Trung Từ sợ tội nên trở giáo đem binh đánh người Khoái, rồi nhân đó đến Hải Ấp bắt Vương tử Sảm đem về kinh sư xin chuộc tội, còn Đàm Dĩ Mông cố gắng chuộc tội bằng việc truyền hịch mộ quân để đánh những người ngoan cố chống đối tại hương Tức Mặc.

Toàn thư chép: “Canh Ngọ [1210] Mùa đông tháng 10, vua không khỏe gọi Đỗ Kính Tu vào nhận mệnh ký thác” (Tt, tr.347)

Việt sử lược chép: “Canh Ngọ [1210] Tháng 11, Minh tự ở Thuận Lưu là Trần Tự Khánh đem thủy quân đến bến Tế Giang, xin cậu là Tô Trung Từ cho cùng dự tang lễ Cao Tông (…) Lấy Thái phó Đỗ Kính Tu làm Thái úy. Tháng chạp, Chi hậu phụng ngự Đỗ Quảng bắt Kính Tu đưa cho Trung Từ đem dìm ở bến Đại Thông, lấy cớ rằng Kính Tu mưu giết Trung Từ” (Vsl, tr.177)

Đám người kinh thành đánh tan cuộc tấn công vào tháng 8/1209 hẳn là những vị cựu thần Đỗ Quảng, nhưng khi vương tử Sảm lên ngôi, cùng với mẹ coi chính sự, lại muốn dựa vào Đỗ Kính Tu (để thâu tóm quyền lực) bèn lấy ngài làm thái úy quản việc quân sự, nhưng vì không có binh lính nên dẫn đến chết thảm (chúng ta thấy Toàn thư chép Kính Tu họ Lí năm 1182, còn Việt sử lược chép Kính Tu họ Đỗ với chức Thái bảo năm 1204, vậy thì hoặc có thể ngài bị thu quốc tính hoặc là 2 người khác nhau hoặc không loại trừ Ngô sử gia đã lượm lặt dã sử để biên chép thêm). Qua việc Đỗ Quảng giao Kính Tu cho Tô Trung Từ thì ngờ rằng khi Điện tiền chỉ huy sứ trở giáo bắt đưa Thắng hoàng về kinh thành, đã nhờ Chi hậu phụng ngự tấu xin với Cao Tông và giữa hai nhóm người có sự liên hiệp (Trần Tự Khánh không những nối chức tước của cha, mà còn sở hữu đất đai của Trần Lý, theo chú thích trong bản dịch Việt sử lược của sử gia Trần Quốc Vượng thì Thuận Lưu gần Văn Giang và Khoái Châu, nên khi Bỉnh Di đánh Phạm Du vào tháng 1/1209 có thể Trần Lý đã tham gia).

Việt sử lược chép: “Canh Ngọ [1210] Tháng chạp ngày đinh tị, Trung Từ biết tin Quan nội hầu Đỗ Thế Qui cùng Chi hậu phụng ngự Đỗ Quảng, Tiểu thị vệ nhân hỏa đầu Phí Lệ mưu phế lập (…) Tân Tị [1211] Mùa xuân tháng giêng, vua lại sai đón con gái thứ họ Trần. Tự Khánh không chấp thuận (…) Tháng 4, thiên tướng của Nguyễn Tự là Nguyễn Thử nói với Trung Từ rằng: Tự định giết con rể ông là Nguyễn Ma La rồi làm phản đấy. Trung Từ giận, đoạt hết binh quyền của Tự. Nguyện Tự sợ, chạy lên Quốc Oai (…) Tháng 6, Trung Từ đang đêm sang phủ đệ Gia Lâm cùng công chúa Thiên Cực tư thông, bị chồng của công chúa là Quan nội hầu Vương Thượng giết (…) Tự nghe tin Trung Từ đã chết, bèn về kinh, ban đêm đem đồ đảng ăn trộm báu vật, vua giận dữ, xuống chiếu bắt Tự ngay lập tức, Tự trốn đến sơn lão ở Khô Sách (…) Nguyễn Ma La thấy Trung Từ đã chết, đến nói với Thái tổ xin đem binh đi vỗ yên các ấp Khoái. Ma La cùng vợ là Tô thị lên thuyền định đến Thuận Lưu, trên đường gặp tướng của Trung Từ là Nguyễn Trinh, bị Trinh giết chết cướp lấy Tô thị đem về, Tô thị sai người báo với thái tổ, thái tổ đến Hải Ấp, sai người triệu Trinh, Trinh không đến, bèn sai Tô thị dụ rồi giết đi” (Vsl, tr.177-181)

An Nam chí lược chép: “Bắt được gian phu, được tự chuyên giết chết. Đời gần đây, mới ra lệnh cho gian phu được lấy 300 quan tiền chuộc tội chết” (Ancl, tr.242)

Liên minh lỏng lẻo giữa đám cựu thần với nhóm tôn vương tử Sảm xảy ra xung đột, khi cả hai bên đều muốn kiểm soát triều chính, qua việc sau một đêm số lượng quân sĩ của Trung Từ được tăng thêm, cùng với đó là Dĩ Mông được phong làm thái úy cũng như tước vương sau mưu biến phế lập cho vương tử Thầm vào tháng 12/1210 của đám Đỗ Quảng thì đoán rằng Chiêu thảo đại sứ đã liên kết với Đàm thái phó, tuy rằng lúc đầu có ưu thế nhưng lại không thể tiêu diệt hoàn toàn, đến tháng 2/1211 (Tt) thì Trung Từ bị yếu thế hơn, đành phải lấy danh là xin rước Trần thị nhưng thực chất là mượn quân của người cháu Tự Khánh, nên sau khi giành chiến thắng Chiêu thảo đại sứ đã kiểm soát triều chính, đồng thời giữ chức thái úy thay thế Đàm Dĩ Mông (vào tháng 3/1211) Tự Khánh được phong làm Thuận Lưu bá (Tt).  

Chúng ta không biết rõ bối cảnh của vụ án mạng, nhưng qua việc người con rể là Nguyễn Ma La và con gái là Tô thị phải rời khỏi kinh thành thì rõ ràng đã có một thế lực đứng sau cái chết của Trung Từ, người viết phỏng đoán rằng sau khi cậu cháu Tự Khánh liên kết với nhau, thế lực trở nên rất mạnh, đó là mối nguy hại đối với hoàng đế, vì vậy Đàm thái hậu bèn bí mật liên kết với Nguyễn Tự để lật thái úy, nhưng việc không thành, do vậy phe phái của Huệ Tông đã cùng với công chúa Thiên Cực lên kế hoạch giết Trung Từ, Toàn thư cho biết năm 1042 triều đình ban chiếu kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta mà bị người chủ đánh chết ngay lúc bấy giờ thì không bị tội, Lê Tắc cho biết thêm đời gần đây mới có lệnh cho phép dùng tiền để chuộc tội, xem thế chưa hẳn đã có việc tư thông, mà có thể công chúa chấp nhận tiếng xấu để hợp pháp cái chết của thái úy. Thứ nhất là sau khi Trung Từ mất thì người con rể lại đến nói với Trần Thừa là nên đem quân đến vỗ yên đất Khoái, thế thì có thể đất ấy thuộc quyền cai trị của thái úy (từ sau cuộc tấn công vào tháng 1/1210) nhưng đã giao cho bộ tướng trông coi, thứ hai là vợ chồng Nguyễn Ma La muốn đi Thuận Lưu (để đến với người anh họ Tự Khánh) nhưng bị bộ tướng của thái úy là Nguyễn Trinh giết chết, mà Tô thị lại sai người báo cho Trần Thừa chứ không phải là người anh họ, thế thì vợ chồng Ma La ở gần với thái tổ hơn, nói cách khác lúc xảy ra án mạng thông dâm thì Trần Thừa đang ở kinh thành (vào tháng 2/1211 khi hộ tống Trần thị về kinh sư thì không thấy đề cập tới Trần Thừa, nhưng sau đó thì có nhiều sự kiện như phong Trần thị làm Nguyên phi, xử án Đỗ Quảng vào tháng nhuận hoặc tháng 3 thì phong chức tước cho Tô Trung Từ và tháng 4 thì án táng Cao Tông) thứ ba là khi Tô thị bị bắt nhưng Trần Thừa chẳng thể đem binh tới đánh Nguyễn Trinh dù rất phẫn nộ, vậy thì không chỉ có vợ chồng Ma La mà cả thái tổ cũng phải rời kinh thành để trở về Hải Ấp do thế lực của hoàng đế đang lớn mạnh từ sau cái chết của thái úy.

(D.16) THUẬN LƯU CHƯƠNG THÀNH HẦU

Việt sử lược chép: “Tân Mùi [1211] Tháng 6, người Hồng đánh ải Hoàng Điểm (…) Tháng chạp, Tự Khánh phát đại binh đến bến Tế Giang (…) Nhâm Thân [1212] Mùa xuân tháng giêng, vua và thái hậu ngự ra bãi Lãnh Kinh (…) Tháng 2, Nguyễn Tự đánh người Cát Lợi là Ngô Thưởng Vu và Vũ Cao” (Vsl, tr.181-183)

Thái úy chết, người vùng Hồng bèn đem binh đánh chiếm đất Khoái, Trần Tự Khánh thấy vậy nên lệnh cho Lại Linh mang quân trợ giúp tướng trấn thủ là Nguyễn Đường, nhưng không thành công, Đoàn Thượng còn nói gièm với hoàng đế việc Tự Khánh sắp đem binh về kinh mưu toan việc cải lập, vì thế mà vào tháng 7/1211 Huệ Tông phế nguyên phi Trần thị làm ngự nữ, cho Đàm Dĩ Mông dự triều chính, phong cho Đoàn Thượng lên tước hầu, đồng thời chiếu lệnh binh lính các đạo đi đánh dẹp Tự Khánh, vào tháng 12/1211 Tự Khánh đem đại binh đến bến Tế Giang, thái hậu lại càng ngờ âm mưu phế lập nên liền bắt Nhân Quốc vương cùng hoàng tử thứ sáu và thứ bảy dìm chết tại giếng nhà ngự đường, việc sát hại ba vị vương tử hẳn đã khiến Tự Khánh rất tức giận, nên Thuận Lưu bá tiến về kinh sư, thái hậu thấy vậy bèn rời đến Lãnh Kinh để đề phòng biến loạn, Nguyễn Tự cũng đem quân về kinh thành, có lẽ là sau khi nghe tin hoàng đế đã rời đi (việc Nguyễn Tự không được phong chức tước cho thấy đó là quyết định của riêng ngài và hẳn là với mục đích chiếm giữ kinh thành) kết quả là ra đời thỏa thuận phân chia lộ giới, trong đó mạn đông bắc do Tự Khánh quản, còn phía tây nam do Nguyễn Tự quản, hai bên thề làm bạn sống chết, tận trung báo quốc, hẹn tới tháng 3 cùng đánh người vùng Hồng, với hiệp ước đó thì hoàng đế và thái hậu có thể phần nào yên tâm trở lại kinh sư trước lời thỉnh cầu của trăm quan, hẳn người đứng đầu quần thần xin rước xa giá là em trai của thái hậu và ngài đi đón vua về kinh là theo gợi ý của Tự Khánh, do vậy mới có chuyện cho Đàm Kinh Bang cùng dự triều chính, thăng tước cho Tự Khánh lên hầu hiệu là Chương Thành.

Việt sử lược chép: “Nhâm Thân [1212] Tháng 2, vua cùng Thái hậu ngự ra nhà Đại liêu ban Đỗ Thưởng ở Đông Ngạn, định đi Lạng Châu. Tự Khánh nghe tin đó bèn dẫn quân đến kinh sư, sai tướng Lại Linh, Phan Lân đem binh đến nhà Thưởng đón xa giá về cung (…) Mùa đông tháng chạp, Đàm Kinh Bang đem tội trạng của Nội minh tự Doãn Tín Dực nói với Tự Khánh” (Vsl, tr.183-184)

Trong khi Chương Thành hầu rút về (có lẽ là trước khi hoàng đế trở lại kinh thành) đóng tại bến Tế Giang đồng thời sai tướng Đinh Khôi đánh Lạng châu, cướp lấy tài vật của nhà công chúa Thiên Cực, thì Nguyễn Tự đánh người Cát Lợi, bị trúng tên bèn về ngõ Tây Dương, hơn tuần sau thì chết, nên phó tướng Nguyễn Cục tạm giữ binh quyền, vua sai sứ đến chiêu hàng liền giết, nên Huệ Tông tức giận, thân đi đánh dẹp nhưng thất bại, nhân đó Nguyễn Cục gây áp lực lên kinh thành buộc hoàng đế và thái hậu phải đến Đông Ngạn, toan về với vợ chồng công chúa Thiên Cực, không rõ là Đỗ Thưởng hay Trần thị đã mật báo với Tự Khánh, ngài bèn sai Lại Linh đến ngăn cản hoàng đế, chúng ta cũng không biết được lời than của Huệ Tông tại cung Thánh Nghị là ngài đang thử lòng Tự Khánh hay là mưu kế không nhận ngôi lần thứ nhất của Chương Thành hầu, chỉ biết sau khi về kinh sư thì hoàng đế có chiếu văn võ bá quan đều phải nghe lệnh của Trần Tự Khánh, sau đó hoàng đế muốn dùng Doãn Tín Dực để thoát nạn chim lồng cá chậu, nhưng chưa rõ vì sao em trai của thái hậu lại báo với Chương Thành hầu, để rồi Nội minh tự bị bắt đem về Mỹ Lộc.

Việt sử lược chép: “Quí Dậu [1213] Mùa xuân tháng giêng, Thái hậu ngầm sai tên Tiểu thị vệ hỏa đầu Vương Thường vời bọn tướng đạo Phù Lạc là Phan Thế, đạo Bắc Giang là Ngô Nãi hẹn đến ngày giáp dần cùng phát binh đánh Tự Khánh. Ngày giáp dần bọn Thường, Thế tiến đánh quân Tự Khánh ở cửa Đại Hưng, định nhân đó sẽ vào hậu cung bắt mẹ Tự Khánh là Tô thị. Phạm thị biết mưu đó bèn ngầm đem Tô thị đi qua thành, lên thuyền chạy trốn (…) Tự Khánh sai người đi Bắc Giang triệu viên tướng Nguyễn Nộn (…) Vua sai vương tước thái úy ở dinh Thượng Khối là Dĩ Mông và Hồng hầu Đoàn Thượng đều tới hội (…) Tháng 9, Tự Khánh cởi trói cho Nguyễn Nộn (…) Tướng của Khánh là Đinh Khôi làm phản” (Vsl, tr.184-186)

An Nam chí lược chép: “Lúc ấy tướng giặc châu Quốc Oai là Nguyễn Niên, xưng hiệu Kim Thiên đại vương, cùng với người Hồng Lộ là Đoàn Ma Lôi nổi dậy làm phản” (Ancl, tr.227)

Kế hoạch của Doãn Tín Dực thất bại, thái hậu bèn mật lệnh cho Phan Thế và Ngô Nãi tới hộ giá (vào tháng 7/1209 Phạm Du bị người Bắc Giang là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nãi bắt giao cho Thắng hoàng, qua đó cho thấy việc vương tử Sảm lên ngôi được biết đến rộng rãi và số lượng người nhận phong chức không ít, chúng ta thấy vị tướng người Bắc Giang được thái hậu vời mang họ Ngô, có thể là sử quan chép nhầm chăng, người viết phỏng đoán Phạm thị là vợ của Tự Khánh và có quan hệ họ hàng với Thượng phẩm phụng ngự Phạm Ngu) khi kinh thành bị tập kích, Tự Khánh đang đóng quân ở bến Đại Thông, biết tin bèn đem quân lấy lại nhưng không thắng, thoát khỏi sự giam lỏng Huệ Tông lệnh cho Vương tước thái úy và Hồng hầu Đoàn Thượng đến hội tại kinh sư để đánh Chương Thành hầu.

Viên tướng Nguyễn Nộn được giao nhiệm vụ trấn giữ đất Bắc Giang (theo An Nam chí lược thì Nguyễn Nộn người Quốc Oai) nhưng đã để Ngô Nãi qua mặt, nên Tự Khánh đã triệu về rồi bắt giam để hỏi tội, vì việc ấy và cũng nhân hoàng đế đích thân đi đánh Tự Khánh tại Mễ Sở vào tháng 2/1213 mà người Quốc Oai khởi binh chống lại Chương Thành hầu nên ngài phải đem quân đánh dẹp, qua các sự kiện xảy ra trong tháng 3/1213 như hoàng đế và thái hậu rời đến cung Thánh Nghi, thì có thể trận đầu quân triều đình không giành ưu thế, nhưng rồi Tự Khánh phải thả Doãn Tín Dực, cũng như vua và thái hậu trở lại đại nội thì có vẻ như quân của Thuận Lưu dần yếu thế hơn, nhưng muốn giành chiến thắng triều đình mưu tính sai Dĩ Mông đi Tam Đái giang lấy thêm quân vào tháng 4/1213 (người vùng Hồng đánh Phạm Vũ tại Nam Sách hàng được vào tháng 10/1211, bèn sai Đoàn Trì Lỗi trông giữ, nhưng bị Phạm Vũ nổi dậy giết chết, người vùng Hồng tức giận đem binh qua sông đánh giết Phạm Vũ, có lẽ là thuộc tướng Phạm Dĩ cầu cứu Tự Khánh nên Chương Thành hầu sai Đinh Khôi đem quân đánh bại người vùng Hồng) đến tháng 7/1213 Phạm Dĩ nổi dậy đánh Đinh Khôi phải bỏ chạy, hẳn là việc để mất đất đã khiến Tự Khánh rất tức giận và đã trách phạt, vì thế mà Khôi toan làm phản nhưng bị Chương Thành hầu giết vào tháng 9/1213.

Việt sử lược chép: “Giáp Tuất [1214] Tháng giêng, Chương Thành hầu Tự Khánh họp binh các đạo thề ở đền Đỗ thái úy ở Đông Phù Liệt, định đánh kinh sư (…) Tháng 2, Chương Thành hầu Tự Khánh triệu tập các vương và bách quan bàn việc cải lập, bèn sai người đón con vua Anh Tông là Huệ Văn vương đến Hạc Kiều lập làm vua” (Vsl, tr.186-189)

Việc nhờ Doãn Tín Dực tấu xin với triều đình không thành công, Trần Tự Khánh dự tính tổ chức cuộc tấn công vào kinh thành, để phục vụ cho kế hoạch, Chương Thành hầu quyết định thả Nguyễn Nộn, cũng như gả em gái (con của dì) và tặng hai đất Thần Khê, Cả Lũ cho Kim Thiên đại vương. Tháng 1/1214 quân chia làm hai hướng đông tây cùng tiến về kinh thành, quân bộ phía tây do Phan Lân, Nguyễn Nộn xuất phát từ Quốc Oai, quân thủy phía tây do Vương Lê, Nguyễn Cải thống xuất, quân thủy phía đông xuất phát từ sông Đà Mạc do Tự Khánh, Trần Thừa đánh bên hữu ngạn, còn Thủ Độ, Hiến Sâm, Nguyễn Ngạnh đánh bên tả ngạn; Quân triều đình thua, hoàng đế ra ngự ở Thiên Đức toan đi Lạng châu, Dĩ Mông xin lưu lại đồng thời triệu người Hồng, quân cứu viện không đến, thái úy phải đi đốc suất, nhưng không thấy nên vua đành đến nhà quan nội hầu Vương Thượng; Tự Khánh chiếm được kinh thành cho Thủ Độ giữ Lãng Ải, Phạm Ngữ giữ Bần Ải, Nguyễn Nộn giữ Bắc Giang; Thủ Độ giao chiến với Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi, Đoàn Khả Như; Nguyễn Nộn giao chiến với Thân Trường, Thân Cải; Chương Thành hầu sai Đàm Kinh Bang đến nhà Vương Thượng rước vua nhưng Thái hậu không chịu. Tháng 2/1214 hoàng đế và thái hậu đi Nam Sách, Tự Khánh không có được Huệ Tông bèn lập con của Anh Tông là Huệ Văn vương làm vua (sao không lập người con khác của Cao Tông cho chính danh hơn) đồng thời bắt giam em trai của thái hậu nhằm uy hiếp.

Việt sử lược chép: “Giáp Tuất [1214] Mùa hạ tháng 4, tướng quân Cam Giá là Phan Cụ làm phản. Nguyễn Nộn ở Bắc Giang làm phản (…) Tháng 6, cho tướng quân đạo Bắc Giang là Nguyễn Nộn lên tước hầu (…) Thái hậu mật chiếu cho tướng quân đất Phù Lạc là Phan Thế dụ giết Ô Kim hầu là Nguyễn Bát (…) Tháng 9, Tự Khánh sai Nguyễn Ngạnh đưa Đàm Kinh Bang về kinh sư” (Vsl, tr.190-191)

Việc Chương Thành hầu cải lập hoàng đế (vào tháng 3/1214) tạo ra những phản ứng trái chiều, như tướng quân Phan Cụ bất tuân, bị Tự Khánh bắt về giam ở Mỹ Lộc, vì thế tướng của Phan Cụ là Đỗ Bị cũng bất tuân, Chương Thành hầu sai Phan Lân, Lại Linh, Trần Thừa đi đánh nhưng không thắng, còn Nghĩa Tín vương thì đề nghị liên kết với Nguyễn Nộn và khi thấy Chương Thành hầu đánh không thắng Đỗ Bị bèn chấp thuận, Nguyễn Nộn tiến đánh Thăng Long, sự việc quá bất ngờ khiến Tự Khánh không trở kịp nên chỉ có thể tức giận mà giết Nghĩa Tín vương, cũng như đốt kinh thành, rồi trở về giữ bến Đại Thông, sau đó Chương Thành hầu dùng vợ của Nguyễn Nộn (là con gái của dì) làm mật thám, còn Nguyễn Nộn thì thông mưu với tướng quân Phan Lân làm phản, việc bại lộ nên Tự Khánh bèn giết, đến tháng 6/1214 Chương Thành hầu đem quân đánh kinh thành nhưng không thắng, Nguyễn Nộn sai người rước hoàng thượng và thái hậu từ Nam Sách về cung, nhân đó được phong Bắc Giang hầu, trở về đại nội thái hậu mật sai cho Phan Thế dụ giết Nguyễn Bát nhưng không thành, Ô Kim hầu bị thương ở má nên chạy về giữ ngõ Tây Dương (người viết chưa rõ mối quan hệ giữa Nguyễn Cục và Nguyễn Bát, chỉ biết rằng với những gì sách sử mô tả thì có vẻ như Ô Kim hầu là người kế tục) đến tháng 8/1214 Bắc Giang hầu đem quân đánh Nguyễn Bát, vào tháng 9/1214 Tự Khánh sai Nguyễn Ngạnh đem trả em trai của thái hậu, nhân đó do thám tình hình, Huệ Tông phòng biến bèn lánh đến ngõ Phiên Cầm, chúng ta chưa rõ vì sao Nguyễn Chính Lại tự tiện lấy khí giới của triều đình để rồi hoàng đế phải xuống chiếu bắt giữ, chỉ biết rằng sau 4 ngày thì Tự Khánh dẫn binh xâm phạm cửa khuyết, dường như đã có sự thông đồng, cái khó hiểu là Tả phụ chạy về Bắc Giang, vào thời điểm Tự Khánh đem quân tấn công vào kinh thành thì chỉ có hoàng đế cùng thái hậu hội binh, mà không thấy đề cập tới Nguyễn Nộn, có lẽ sau khi dẫn quân đi đánh Ô Kim hầu thì ngài trở về Bắc Giang, người viết chưa rõ vì sao, có thể là Tự Khánh điều binh mạn Bắc Giang để buộc Nguyễn Nộn phải trở về trấn giữ, nên việc Chương Thành hầu sai Đàm Bật dâng vua thổ sản (vào tháng 8/1214) ngoài việc thăm dò ý tứ của mẹ con Đàm thị, thì còn quan sát xem Kim Thiên đại vương đã rời kinh thành chưa?

Việt sử lược chép: “Ất Hợi [1215] Mùa xuân tháng giêng, Tự Khánh dẫn quân đến đóng đồn ở Cứu Liên (…) Tháng 5, Trần Tự Khánh gả em gái là Trần tam nương cho Nguyễn Đường (…) Bính Tí [1216] Tháng 3, vua sai Hiển Tín vương Bát đánh Đỗ Ất (…) Tháng 5, vua ra trại Ngoài, sai người đến xin quân của Tự Khánh để đánh Đỗ Nhuế (…) Mùa thu tháng 8, Hiển Tín vương Bát làm phản” (Vsl, tr.192-194)

Thiệu Long tự bi viết: “Tiếp cấp nhập nội thái tử Đỗ Năng Tế (…) Tiên khảo người quận Kinh Triệu, lấy vợ là con gái lệnh tộc họ Trần (…) Bấy giờ Kiến Quốc đại vương thấy ông có công lao (…) đem con gái lệnh tộc họ Đặng gả cho ông để kết làm đôi lứa. Lại trao trấn lớn Binh Hợp cho ông để làm đất thang mộc” (Vbhnvnlt, tr.333-335)

Hoàng đế trở lại thấy kinh thành bị tàn phá, bèn ban chiếu lệnh cho các đạo tiến đánh Tự Khánh vào tháng 1/1215, Chương Thành hầu đến đóng tại Cứu Liên, sai tướng Khoái Lộ là Nguyễn Đường giữ Địa Dân (chưa rõ người đất Khoái qui phụ lại Tự Khánh từ khi nào, có thể là sau cuộc tấn công vào kinh thành tháng 1/1214 chăng) Nguyễn Nộn liền thông mưu với Nguyễn Đường đánh Tự Khánh, Chương Thành hầu bèn cử Lại Linh giữ Phù Liệt, để tự đi đánh Đường Nộn, Huệ Tông nhân đó đem quân đến đánh Phù Liệt, với công lao ấy vào tháng 2/1215 thăng cho Nguyễn Nộn lên tước vương, tháng 3/1215 Tự Khánh đánh đất Khoái, Nguyễn Đường ra hàng, nên Nguyễn Nộn dẫn binh đánh Khoái Lộ nhưng được Tự Khánh đem quân tới cứu, đồng thời sai Hiến Sâm, Đào Phán, Thủ Khánh (守慶 chép nhầm Thủ Độ 守度 chăng) đóng đồn tại Lan Kiều và đánh thắng tướng của Nguyễn Nộn là Phí Thám (rồi phải chăng sau đó Thuận Lưu bá giành ưu thế vượt trội và đe dọa trực tiếp lên kinh thành nên) vào tháng 5/1215 hoàng đế lại muốn thoái vị, tuy quần thần can ngăn nhưng ngài không nghe, đã cùng thái hậu cạo tóc và (gấp gáp trong ngày hôm đó) ngự đến nhà Đặng Lão tại Trương Canh (có thể là đến khi) Tự Khánh đánh Đại Hoàng nhưng thua, Nguyễn Đường bị chết đuối, thì Huệ Tông mới lại hồi giá về nhà Nội kí ban Đỗ An ở ngõ Chỉ Tác tại cầu Tây Dương, ngoài ra sự kiện Chương Thành hầu đốt cung Động Nhân vào tháng 7/1215 cũng chứng tỏ ngài có thể tiến binh về kinh thành.

Vào tháng 3/1216 vua sai người bắt cướp ở ngõ Cơ Xá nhưng bị tướng đất Cảo là Đỗ Ất chống lại nên lệnh cho Nguyễn Bát đi dẹp nhưng không thắng (có lẽ Ô Kim hầu qui thuận từ khi Nguyễn Nộn đem quân đến đánh, rồi thêm nhiều lần giúp vua đánh chống Tự Khánh nên được thăng lên tước vương, hiệu là Hiển Tín) đến tháng 5/1216 tướng đất Cảo là Đỗ Nhuế đánh nên hoàng đế phải lánh ra trại Ngoài, vương tử Sảm thuận theo Trần thị xin binh của Tự Khánh nên Đỗ Nhuế phải chạy về Bắc Giang, khoảng 45 ngày sau được Trần thị thuyết phục nên ban đêm vua đi Thuận Lưu (thời điểm ấy ngự nữ đang bầu nên hẳn đã tác động rất lớn đến quyết định của Huệ Tông) bỏ thái hậu cùng vương tử, công chúa tại Ô Kim (công chúa thì có thể là 2 người em gái cùng mẹ của Huệ Tông, còn vương tử thì không rõ) nhưng rồi khoảng 40 ngày sau thì Đàm thị đến An Xướng, nhân đó Nguyễn Nộn và Hà Cao (ở Qui Hóa) lấy mệnh lệnh của thái hậu tiến đánh Từ Liêm, được khoảng 25 ngày thì Nguyễn Bát xin theo về với hoàng đế, sau đó khoảng 55 ngày Chương Thành hầu mượn danh Huệ Tông tiến đánh Từ Liêm, vào tháng 8/1216 Hiển Tín vương làm phản, đem quân đánh trấn Binh Hợp, buộc Đỗ Năng Tế chạy về Đan Phượng.

Việt sử lược chép: “Bính Tí [1216] Mùa đông tháng chạp, lấy Tự Khánh làm Thái úy (…) Đinh Sửu [1217] Mùa hạ tháng 4, Thái úy chia quân thành 6 đạo đi đánh Nguyễn Nộn (…) Tháng trọng hạ, người Hồng là Đoàn Thượng cùng binh chúng ra hàng (…) Mậu Dần [1218] Tháng 5, Thái tổ và Thái úy gả em gái là Trần tam nương cho Hồng hầu Đoàn Văn Lôi” (Vsl, tr.194-196)

Toàn thư chép: “Mậu Tí [1228] Tháng 12, Nguyễn Nộn đánh giết Đoàn Thượng. Con của Thượng là Văn đem gia thuộc đến hàng” (Tthvl, tr.12)

Vào tháng 12/1216 cho con cả của Tự Khánh là Trần Hải tước vương; Trần Thừa tước Liệt hầu chức Nội thị phán thủ; Phùng Tá Chu, Lại Linh, con cả của Trần Thừa là Trần Liễu tước Quan nội hầu, đến tháng 4/1217 thái úy chia quân 6 đạo tiến đánh Nguyễn Nộn, Bắc Giang vương dụng binh đánh Phạm Ân ở Lãnh Kinh, thừa thắng đánh Ải Đạo, giao chiến với Tự Khánh nhưng bị thua, kết quả ấy tác động mạnh tới tâm lý của Đoàn Thượng nên vào tháng 5/1217 người vùng Hồng xin hàng, được gia phong tước vương (thấy rằng Đoàn Thượng từng được ban tước hiệu Hồng hầu nên Đoàn Văn Lôi là con trai của Đoàn Thượng, Toàn thư thu lượm tài liệu trong dân gian để biên chép nên khuyết mất tên húy Lôi) nhân uy thế đó thái úy tiến đánh Phong châu (bình được) và Hiển Tín vương, buộc Nguyễn Bát (thua) chạy lên sách An Lạc, đến tháng 5/1218 Trần Thừa và Lại Linh đem quân đánh Bắc Giang, Nguyễn Nộn lui giữ Phù Ninh, triều đình chiêu hàng thông qua chiếu tha tội vào tháng 2/1219.

Việt sử lược chép: “Kỷ Mão [1219] Mùa đông tháng chạp, Nguyễn Nộn bị bệnh nặng (…) Canh Thìn [1220] Tháng 6, hai mặt trời cùng xuất hiện” (Vsl, tr.197-198)

An Nam chí lược chép: “Trần Thừa cùng em là Kiến Quốc đánh không yên được, bèn giảng hoà với Ma Lôi, hợp sức đánh Niên, bị Niên đánh bại. Sau Niên chết, loạn mới yên” (Ancl, tr.227-228)

Vào tháng 6/1219 thái úy sai Vương Lê đem binh đến Nam Sách cùng Phạm Dĩ đánh Nguyễn Nộn nhưng Phạm Dĩ bị bệnh chết, Nguyễn Nộn nhân đó đánh chiếm ấp Bình Cảo, Vương Lê sợ hãi bèn rút quân, tới giữa đường thì gặp Tự Khánh dẫn quân đến nên thái úy bèn sai Nguyễn Cải, Nguyễn Mộc đem (thủy) binh đi lối tắt để đánh Bình Cảo, Nguyễn Nộn cử (bộ tướng cũ của Phạm Dĩ là) Hoàng Cá Tốt và Nguyễn Lợi giữ ấp ấy, đồng thời tự đem quân trấn giữ tại động An Đinh để ngăn chống Tự Khánh, Chương Thành hầu tiến binh theo đường bộ, giao chiến với Bắc Giang vương nhưng không thắng, bèn tới đánh Bình Cảo thắng được. Vào tháng 10/1219 triều đình lại chiêu hàng, đồng thời sai Kim Thiên đại vương đem quân đi đánh người Man ở Quảng Oai (tháng 10/1218 thái úy đem quân đi đánh nhưng không thắng) đến tháng 12/1219 thì Nguyễn Nộn chết[37] (An Nam chí lược cho biết Nguyễn Niên chết trước khi Trần Thừa xin cho con kết hôn với công chúa Chiêu Thánh) tướng là Phí Thám nộp thái hậu cùng vương tử, công chúa cho thái úy để xin hàng. Vào tháng 4/1220 Thái úy và Trần Thừa đánh Quy Hóa, Phan Cụ bị tướng của Hà Cao là Nguyễn Nãi chém (có thể từ khi Nguyễn Nộn được Tự Khánh giao quyền giữ Bắc Giang vào tháng 1/1214 thì Nguyễn Nãi về với Hà Cao) đến tháng 6/1220 có hai mặt trời cùng xuất hiện, rồi thì tháng 8/1220 cung mới hoàn thành.

(1F) SÁCH SỬ PHƯƠNG NAM

Căn cứ vào Toàn thư biểu do Lễ bộ Hữu thị lang, Triều liệt đại phu, kiêm Quốc tử giám tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn Ngô Sĩ Liên viết năm kỉ hợi niên hiệu Hồng Đức thứ mười (1479) chúng ta biết Đại Việt sử kí toàn thư gồm 15 quyển được soạn trên cơ sở 2 bộ Đại Việt sử kí và có tham khảo thêm các dã sử, nhưng căn cứ vào chú trong Toàn thư chỗ năm canh thìn (980) thì chính tác giả cũng cho rằng người sau sao chép bậy đến nỗi Lê Văn Hưu phải chịu tiếng oan, thế nghĩa là bản Đại Việt sử kí mà Ngô Sĩ Liên có (tạm gọi là bản A) không phải bản gốc của Lê Văn Hưu, một là (1) bản A có chép bốn chữ “cải nguyên xưng đế” vậy thì nó khá gần với bản gốc (chúng ta cũng chưa thể biết giữa bản gốc với bản A có tồn tại bản trung gian nào nữa không) hai là (2) chỗ năm tân tị (981) Ngô Sĩ Liên cho biết các bản lịch đại niên kỉ đều chép là năm Thiên Phúc thứ nhất, như vậy nghĩa là trong khoảng thời gian nào đó đã tồn tại sự phổ biến của nhận thức rằng năm 981 là Thiên Phúc thứ nhất. Việt sử lược có đặc điểm (2) nhưng không có đặc điểm (1) tức là không ghi “cải nguyên”. Qua đối chiếu những chỗ chép giống nhau đặc biệt giữ Việt sử lược và Toàn thư, sử gia Trần Quốc Vượng cho rằng Việt sử lược là bản tóm tắt Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, nhưng người viết cũng nhận ra nhiều điểm khác biệt giữa hai bộ sử mà khó có thể là do người biên chép, chẳng hạn như nếu muốn tự soạn tuổi thọ của Đại Thắng Minh hoàng đế, Lê Trung Tông, Lê Ngọa Triều thì phải biết được năm sinh và năm mất, nhưng cả 2 bộ sử chỉ cho biết năm mất mà không cho biết năm sinh, thế thì tuổi thọ được đề cập ở 2 sách là do sao chép, mà thấy trong Toàn thư và Việt sử lược lại sai lệch, vậy thì nguồn tài liệu của chúng cũng phải khác nhau, lại thêm dựa vào Phụ Trần triều kỉ niên chúng ta có thể cho rằng Việt sử lược được soạn vào năm đinh tị niên hiệu Xương Phù thứ nhất (1377) như thế hẳn là nó phải được soạn từ bộ sử (tạm gọi là bản B) hội đủ 2 đặc điểm gồm không phải là, nhưng lại phải tương đồng với Đại Việt sử kí. An Nam chí lược cho biết Trần Tấn được Thái vương dùng làm Tả lang, thăng chức Hàn Trưởng, làm sách Việt chí và Lê Hưu làm Kiểm pháp quan, sửa sách Việt chí, rõ ràng là bộ Việt chí hội đủ 2 đặc điểm trên. Lại dựa vào Ngoại kỉ toàn thư tự do Ngô Sĩ Liên viết rằng đến Trần Thái Tông mới sai học sĩ Lê Văn Hưu soạn sửa lại từ Triệu Vũ Đế trở xuống đến Lí Chiêu Hoàng, bản triều vua Lê Nhân Tông lại sai quan tu sử Phan Phu Tiên chép nối từ Trần Thái Tông trở xuống đến khi người Minh về nước (1427) đều gọi là Đại Việt sử kí, như thế có nghĩa tuy Việt chí ra đời trước song Đại Việt sử kí mới được coi là bộ chính sử và hẳn nguyên nhân là do thế giới quan của người biên soạn, mà Việt sử lược lại chép rất nhiều những điềm báo nên thời đại Hùng vương được biên vào cũng không có gì khó hiểu, người viết cho rằng B là bản trung gian giữa Việt chí và Việt sử lược. Tóm lại người viết cho rằng: (nhánh một) Việt chí à Đại Việt sử kí à Bản A à Đại Việt sử kí toàn thư (nhánh hai) Việt chí à Bản B à Việt sử lược (tác giả Trần Việt Bắc trong Tìm hiểu sách Đại Việt sử lược cho biết: học giả Yamamoto Tatsuro với giả thuyết là Trần Tấn (Trần Chu Phổ) viết sách Việt Chí, Lê Văn Hưu dựa vào Việt Chí để soạn Đại Việt Sử Ký, sau đó Hồ Tông Thốc dựa vào đây để viết Việt Sử Cương Mục và quyển này cũng là Việt Sử Lược; Tứ khố toàn thư (của Trung Hoa) với giả thuyết Đại Việt Sử Lược có thể là sách Việt Chí do Trần Phổ và Lê Văn Hưu soạn; Trần Quốc Vượng coi Việt Sử Lược là bản tóm tắt của Đại Việt Sử Ký; Trần Văn Giáp khẳng định Việt sử lược làm xong sau sách của Lê Văn Hưu và nêu lên giả thiết có thể Trần Chu Phổ là tác giả Việt Sử Lược; Trần Bá Chí chứng minh tác giả Việt Sử Lược là Sử Hy Nhan; A.B. Polyakov cho rằng Việt Sử Lược gồm 3 quyển theo quá trình biên soạn như sau Đỗ Thiện viết sách Sử Ký 2 quyển, từ nhà Triệu đến cuối đời Lý Nhân Tông. Trần Chu Phổ (khoảng 1233) sửa lại tác phẩm của Đỗ Thiện và viết tiếp quyển 3 cho đến hết triều Lý, đổi tên sách là Việt Chí; P.V. Pozner cùng thuyết với Polyakov và cho biết thêm là khoảng 1377-1378 sách Việt Chí được đổi tên là Đại Việt Sử Lược và bổ sung thêm bản kỷ niên các vua triều Trần; học giả Trần Kinh Hoà đưa ra giả thuyết Việt Chí của Trần Chu Phổ có thể là Đại Việt Sử Lược và Lê Văn Hưu đã soạn lại bộ sử đó rồi viết thành Đại Việt Sử Ký; các học giả L. Cadière, P. Pelliot và E. Gaspardone cho biết Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu là Việt Chí).

(2F) NGỌA TRIỀU HOÀNG ĐẾ

Toàn thư chép: “Kỷ Dậu (1009) Nhân yến tiệc, giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích” (Tt, tr.239)

Việt sử lược chép: “Bính Ngọ (1006) Đêm khuya vua sai giết mèo (猫) ban cho các vương ăn. Ăn xong vua giơ đầu mèo cho xem, các vương đều môn mửa cả” (Vsl, tr.66)

Tuy khác nhau về sự việc nhưng tựu chung cả hai cuốn sử đều cho thấy khi các vương công biết mình ăn thịt mèo thì rất sợ hãi đến mức nôn mửa, vì sao lại vậy, con mèo có gì đặc biệt mà khiến các vương phải sợ thế, lại thấy trong bài Hình tượng rồng trong văn hóa Việt của tác giả Nguyễn Minh Triết viết: “Rồng Việt tìm thấy in trên mảnh sành được phát hiện ở Bắc Ninh có đầu ngắn hơn và cổ dài, thân mèo, vây lưng là những đường vạch dài. Đến thời đại nhà Ngô hình tượng rồng thể hiện trên một viên gạch tìm thấy ở Cổ Loa cũng thân mèo nhưng chiều dài chung ngắn hơn thời trước và lưng có vây cá” nên từ đó người viết đặt giả thuyết rằng vào thời Ngô Đinh Lê mèo là con vật thiêng được phối với rồng.

Việt sử lược chép: “hoặc dần dạ sát miêu, tứ chư vương thực, thực tất dĩ miêu đầu kỳ chi, chư vương giai ẩu thổ” (Quyển thượng)

Trong tiểu đoạn trên có chữ Dần (寅) là chi thứ 3 trong địa chi, vì nó đi cùng chữ Dạ nên phải hiểu Dần Dạ là Giờ Dần, tức là từ 3 giờ sáng đến 5 giờ sáng, như thế là Lê Ngọa Triều sai giết mèo vào giờ đó để ban cho các vương, qua chi tiết “sau khi các vương ăn xong vua giơ đầu mèo ra cho xem” người viết phỏng đoán là các vương tụ tập ăn uống tại một nơi, chứ không có lý nào vua sai người đem đầu mèo tới từng nhà các vương, bằng chứng khác là cặp từ “thực tất” nghĩa là ăn xong, nếu như các vương dùng bữa tại tư gia thì làm sao mà Lê Ngọa Triều biết được khi nào ăn xong để mà giơ đầu mèo ra, từ đó chúng ta có thể phỏng đoán một lối sinh hoạt vào buổi sáng của triều Tiền Lê là vào giờ dần (3h-5h) triều đình nấu món ăn, các vương công tụ tập để dùng bữa sáng (liền sau tiểu đoạn đang bàn, Việt sử lược chép thêm việc coi chầu nên đoán rằng) buổi chầu diễn ra vào giờ mão (5h-7h).

Toàn thư chép: “Mỗi khi ra chầu, tất sai bọn khôi hài hầu hai bên, vua có nói câu gì thì bọn ấy nhao nhao pha trò cười để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính” (Tt, tr.239)

Việt sử lược chép: “Mỗi khi coi chầu, vua sai tên hề nói liến thoắng để làm rối việc tâu của các quan chấp chính” (Vsl, tr.66)

Toàn thư chép: “Mùa đông tháng mười ngày tân hợi, vua băng ở tẩm điện gọi là Ngọa Triều, vì vua mắc bệnh trĩ phải nằm mà coi chầu” (Tt, tr.239)

Rõ ràng là hoàng đế (qua ghi chép của sử sách thì dường như ngài là người rất thích sự vui vẻ) coi việc chầu chỉ là một trò chơi, một thú vui, một buổi trình diễn sân khấu của những tên hề và quan chấp chính, hẳn là ngài rất lấy làm vui thích và cười ngả nghiêng, nhưng trong những hoàn cảnh ấy việc ngồi trên ghế sẽ rất bất tiện nên có thể Long Đĩnh đã ngồi coi chầu trên một không gian lớn hơn (kiểu như cái sập) để có thể cười lăn cười bò bất cứ khi nào, rồi thêm yếu tố tam sao thất bản nên bị người đời gọi là Ngọa Triều, nhưng có thể nghĩ rằng đây là ghi nhận về hình thức diễm xướng sân khấu đầu tiên tại An Nam.

(3F) THẦN BẠCH MÃ

Tài liệu cổ xưa nhất chép về đền là Việt điện u linh, nhưng xem sách ấy thì không thấy có chỗ nào nhắc đến chữ Bạch Mã, thực vậy Việt điện u linh viết rằng khi Cao Biền trấn yểm thì có thần tự xưng là Long Độ vương khí quân[38] xuất hiện, xem thêm truyện thần Tô Lịch và truyện thần Khai Nguyên trong cùng sách sẽ thấy tên đất Long Độ, mà theo mô tả thì thôn An Viễn nằm giữa 2 huyện Từ Liêm và Long Độ, rồi lại viết thêm rằng thời Lý Công Uẩn đóng đô, muốn mở rộng chợ phía đông, nhưng cứ dựng lên thì đến đêm lại đổ, chỉ riêng có đền của thần là không bị gì, Thái tổ lấy làm kinh dị bèn phong thần làm Quảng Lợi vương (làm lợi rộng khắp). Người viết thấy rằng Nam Hải Quảng Lợi vương Ngao Khâm là một trong bốn vị Tứ Hải Long vương nên ngờ rằng chiếu lệnh của triều đình là thể hiện tín ngưỡng thờ thủy thần, bởi phía đông của kinh thành là nơi chịu thiệt hại nhiều từ nước mà Việt sử lược còn chép chuyện năm 1165 là dời thành Đại La phía cửa Triều Đông lùi sâu vào 75 thước. Ngoài ra, Lĩnh Nam chích quái cũng có chép về đền nhưng truyện Vương khí Long Độ thuộc phần Tục biên, tức là được biên chép sau thời Trần, nhưng nội dung thì căn bản giống với Việt điện u linh, chỉ có đôi chỗ dị biệt, cuối truyện có chi tiết “chùa ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương nay gọi là đền Bạch Mã”. Thứ nhất là tên gọi Bạch Mã đã xuất hiện (cũng có nghĩa là sự tích đã hình thành) nhưng mới chỉ gần thời điểm truyện được biên chép và thứ hai là chưa rõ nghĩa như đánh giá của Chư Cát thị trong Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập, mà cụ thể là “xét sách Lĩnh Nam chích quái có chép chuyện Vương Khí Quân Linh Ứng, ý nghĩa của hai chữ Bạch Mã vẫn chưa rõ, cho nên cùng chép ra đây để đợi xem xét rõ ràng danh hiệu Bạch Mã Đại Vương”, qua Bạch Mã thần từ khảo chính tác giả Trịnh Tuấn Am đã có dẫn vài đạo sắc của các triều, phong cho thần Bạch Mã như năm Cảnh Trị 8 (1670) Dương Đức 3 (1674) Vĩnh Khánh 2 (1730) Cảnh Hưng 42 (1782) hoặc như Đại Nam nhất thống chí thì sự tích đã chính thống hơn khi chép “đời Lý Thái Tổ dời kinh đô đến Thăng Long, vì đó thành hễ đắp lại lở, sai người đến đền cầu đảo, chợt thấy con ngựa trắng đi từ trong đền ra, qua thành một vòng, đi đến đâu có dấu vết ngựa đi để đắp thành, thì thành không lở nữa, bèn thờ làm Thành hoàng Thăng Long, các triều sau cũng theo đấy phong làm Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần”, đó là sự tiếp biến trong tín ngưỡng của người Thăng Long và có hai yếu tố tác động hình thành gồm: chính là mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên (nếu như thời trước người kinh sư còn sợ nên thờ cúng nước thì thời sau với việc chế ngự được mối lo, con người chuyển sang thờ cúng cái đại diện cho thế lực chiến thắng thủy thần) phụ là trong vốn văn hóa (như Toàn thư chép tại mục năm 1012 là trong tàu ngựa nhà vua, có con ngựa trắng, mỗi lần vua sắp đi thì nó hí lên trước nên vua đặt tên là Bạch Long thần mã) có những sự kiện mà dân gian có thể dùng để kiến tạo lớp văn hóa tín ngưỡng mới.

(4F) CHÙA DIÊN HỰU

Toàn thư chép: “Kỉ Sửu [1049] Mùa đông tháng 10, dựng chùa Diên Hựu (…) Tân Tị [1101] Sửa chùa Diên Hựu (…) Ất Dậu [1105] Mùa thu tháng 9, làm 2 ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu, 3 ngọn tháp chỏm đá ở chùa Lãm Sơn. Bấy giờ, vua sửa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ, đào hồ Liên Hoa Đài, gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy chung quanh, ngoài hành lang lại đào hồ gọi là hồ Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây bảo tháp” (Tt, tr.276,293,295)

Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1121 tại núi Đọi viết: “Mở chùa Diên Hựu ở tại vườn tây. Dấu vết theo quy mô thuở trước, lo toan thánh ý ngày nay. Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột có một đóa hoa sen nghìn cánh xòe ra, Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm, trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang bao bọc, ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Ở sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp báu lưu ly” (Vbhnvnlt, tr.211)

Không khó để nhận ra điểm giống nhau giữa ghi chép của Toàn thư và Bia tháp, nhưng cái thú vị không nằm trong tiểu đoạn mà nằm trong toàn văn, xem từ đầu tới cuối bia tháp sẽ nhận ra, văn bản được trình bày theo trình tự thời gian, đặc biệt thấy rằng việc ngự tại điện báu Linh Quang bên sông biếc hướng Trường Lô hoặc dựng đài cao Quảng Chiếu trước đoan môn (cửa thành phía nam) hoặc mở rộng chùa Diên Hựu ở tại vườn phía tây, được chép trước việc đánh châu Ung, như thế rõ ràng việc đào ao thơm Linh Chiểu phải xảy ra trước trận Như Nguyệt.

Việt sử lược chép: “Nhâm Tí [1072] Mùa thu tháng 7, vua ngự ra hành cung Giao Đàm. Vua đi lễ ở núi Tản Viên. Dời phường Phủng Nhật đến chợ phía Nam. Xây cửa Trường Quảng, cửa Thái Bình, cửa Thượng Thủy Hà, đền Nghênh Thu, trạm Quy Nhân, cả thảy năm nơi” (Vsl, tr.99-100)

Dời phường Phủng Nhật đến chợ phía nam chẳng phải để xây đài Quảng Chiếu trước đoan môn sao, trong đặt tòa thêu cao vọi, để nhà vua rộng tầm mắt nhìn xa, cho thể nữ được sẵn sàng hầu cận chẳng phải mô tả cung cấm đấy sao và tại cung cấm thì dốc châu báu trang hoàng, đủ ba cung nhà cửa chẳng phải là Trường Quảng, Thái Bình và Thượng Thủy Hà sao, rõ ràng là theo mô tả của bia tháp thì việc đào ao Linh Chiểu, Bích Trì và dựng hành lang tại chùa Diên Hựu là một hạng mục trong tổng công trình tu bổ kinh thành Thăng Long khi Càn Đức lên ngôi năm 1072 chứ không phải được thực hiện vào năm 1105 như sách sử đã chép.

Việt sử lược chép: “Tân Tị [1101] Xây chùa Diên Hựu (…) Ất Dậu [1105] Mùa thu tháng 9, xây hai tháp bằng sứ trắng ở chùa Diên Hựu” (Vsl, tr.109-110)

Toàn thư cho biết năm 1049 chùa Diên Hựu được dựng, năm 1101 chùa được sửa và năm 1105 chùa được mở rộng, trong khi Việt sử lược cho biết năm 1101 chùa Diên Hựu được dựng, năm 1105 chùa được sửa, rõ ràng là đã có sự bất nhất về sử liệu trong việc khởi dựng chùa Diên Hựu.

Diên Hựu tự ký của Lương Thế Vinh (1441-1496): “Thần nghe phía tây Đại Nội, mộng trông Phật hiện (mà) Diên Hựu thành tên. Ai người sáng tạo sau Lý Thánh Tôn (…) Linh Cảm hoàng hậu thời Lý Nhân Tôn, chính trị đang hưng, tuổi vừa xế bóng, những mong con cháu tạo phúc hưng khánh, công đức dài lâu. Vì thế nên chùa mới dựng (…) Ôi! Từ Lý tới Trần, từ Trần tới Hồ, đến nay đã mấy trăm năm mà vẫn nguy nga tồn tại” (Bkcdh, tr.286-289)

Trước hết trạng nguyên Lương Thế Vinh và sử gia Ngô Sĩ Liên là hai người cùng thời, sau cùng bài ký cho chúng ta biết Linh Cảm hoàng (thái) hậu dựng (tác) chùa Diên Hựu thời Lý Nhân Tông, vậy rốt lại ai mới là người tạo dựng chùa Một Cột?

Toàn thư chép: “Kỉ Sửu [1049] Trước đây vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Khi tỉnh dậy, vua đem việc ấy nói với bầy tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa đất, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột đá như đã thấy trong mộng. Cho các nhà sư đi vòng lượn chung quanh tụng kinh cầu vua sống lâu. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (…) Canh Thân [1080] Mùa xuân tháng 2, đúc chuông lớn cho chùa Diên Hựu. Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng nó đã thành khí, không nên tiêu hủy, bèn đem bỏ ở Quy Điền của chùa. Ruộng ấy, thấp ướt, có nhiều rùa, người bấy giờ gọi là chuông Quy Điền” (Tt, tr.276,290)

Theo như đó vào năm 1049 chùa Diên Hựu chỉ gồm một cột đá, ở trên có một tòa sen, trên tòa sen đặt tượng phật, có lẽ vì thế mà chưa thể gọi kiến trúc ấy là chùa, nhưng cho đến khoảng năm 1072-1073 khi Linh Cảm thái hậu dựng thêm tòa lầu trên tòa sen, lúc ấy kiến trúc đó mới trở thành chùa, chúng ta có thể chắc chắn rằng vào năm 1080 trên đài sen đã dựng lầu, vì có dựng lầu thì mới đúc chuông để treo, nhưng khi chép Toàn thư vì đã hiểu rõ lịch sử của chùa Diên Hựu nên Ngô sử gia đã dùng tên của giai đoạn sau để gọi tên cho giai đoạn trước.

Việt sử lược chép: “Mậu Tuất [1058] Tháng 6, xây điện Linh Quang (…) phía trước điện dựng lầu chuông 1 cột 6 cạnh hình hoa sen” (Vsl, tr.91)

Sử liệu này cho thấy, lầu chuông trước điện Linh Quang có kiến trúc tương tự với kiến trúc đang bàn, như thế rõ ràng là kiến trúc (mà ngày nay gọi tên) chùa Một Cột không phải là duy nhất dưới thời Lý Thánh Tông, Việt sử lược chép tháng 9/1105 xây 2 tháp bằng sứ trắng ở chùa Diên Hựu, Toàn thư cũng chép như thế, nhưng sau đó nói thêm việc đào ao Linh Chiểu và Bích Trì, chúng ta biết rằng việc đào ao thơm Linh Chiểu, Bích Trì đã được triều đình thực hiện khoảng năm 1072-1073 nên có lẽ trong việc sao chép hoặc dùng từ, Toàn thư đã nhầm chữ (時) [thời, thì] đúng phải là chữ Sơ, lại thêm bia tháp Sùng Thiện Diên Linh soạn hoàn thành năm 1121 nên không loại trừ khả năng năm 1072 Linh Cảm thái hậu chỉ dựng ngôi lầu trên tòa sen, đào ao thơm Linh Chiểu, dựng hành lang bao quanh và đào ao ngoài Bích Trì, đến năm 1105 thì mới cho dựng thêm 2 tháp bằng sứ trắng tại 2 bên cầu, nhưng tới khi Nguyễn Công Bật soạn bia tháp thì đã gộp chung lại.

Huyền Quang thiền sư (1254-1334) có viết bài thơ về chùa Diên Hựu như sau: “Si vẫn đảo miên phương kính lãng – Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn – Vạn duyên bất nhiễu thành già tục”. Bản dịch nghĩa như sau: “Bóng xi vẫn nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá – Hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt – Muôn vàn nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục”.

Có vẻ như chùa Diên Hựu trong mô tả của thiền sư Huyền Quang chỉ gồm “hai ngọn tháp” rất phù hợp với ghi chép của bia tháp Sùng Thiện Diên Linh là “tả hữu phạn lưu li bảo tháp”.

Thiền uyển tập anh chép: “Tăng thống Huệ Sinh người Đông Phù Liệt, họ Lâm tên Khu. Lý Thái Tôn nghe tiếng sai sứ đến mời (…) Bấy giờ các vương công như: Phụng Yết Thiên Vương, Thái tử Vũ Uy, Hỷ Từ, Thiện Huệ, Chiêu Khánh và Hiển Minh, Thượng tướng Vương Cường, Thái sư Lương Nhậm Văn, Thái bảo Đào Xử Trung và Tham chính Kiều Bồng đều tới lui hỏi đạo, giữ lễ thầy trò (…) Năm Giáp Thìn Gia Khánh thứ 6 [1064] sư an nhiên mà mất” (Ncvtuta, tr.306-308)

Chúng ta có thể biết sư Thiền Tuệ (禪慧) người đã tư vấn cho Lý Thái Tông dựng kiến trúc đang bàn là ai không, chữ (禪) có âm Hán Việt là Thiền và Thiện, chữ (慧) có âm Hán Việt là Huệ và Tuệ, như thế tên sư có thể là Thiền Tuệ và cũng có thể là Thiện Huệ, người viết phỏng đoán rằng thiền sư Thiền Tuệ trong Toàn thư chính là thái tử Thiện Huệ trong Thiền uyển tập anh.

Tiểu kết: Vào năm 1049 Lý Thái Tông cho dựng một cột đá trên có đóa hoa sen với tượng phật quan âm, kiến trúc ấy có tên Diên Hựu, khoảng năm 1072-1073 Linh Cảm thái hậu dựng thêm tòa lầu trên đóa hoa sen, đồng thời cho đào ao trong Linh Chiểu và ao ngoài Bích Trì cũng như dựng hành lang giữa 2 ao và cầu cong để đi lại, vào năm 1105 triều đình cho dựng thêm 2 bảo tháp bên tả hữu bằng sứ trắng ở trong sân phía trước cầu, cuối cùng theo như lời của trạng nguyên Lương Thế Vinh thì trải Lý Trần Hồ Lê mấy trăm năm vẫn nguy nga tồn tại (Toàn thư cho biết vào năm 1249 triều đình thực hiện trùng tu chùa nhưng hẳn là cấu trúc không bị thay đổi).

(5F) THƯỢNG LÂM VĂN MIẾU

Toàn thư chép vào tháng 8/1070 tu (脩) Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu công cùng Tứ phối, vẽ tranh Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế và hoàng thái tử đến đó học, thứ nhất là Việt sử lược không chép sự việc này và thứ hai là Tu mang nghĩa sửa chữa, rồi Toàn thư lại chép vào tháng 12/1156 kiến (建) miếu Khổng Tử, còn Việt sử lược chép vào tháng 10/1156 khởi (起) hành cung Quốc Oai cùng đền thờ Khổng Tử, cả Kiến và Khởi đều có nghĩa là xây mới (vì là Việt sử lược chép tháng 10, còn Toàn thư chép là tháng 12 nên chúng ta có thể phỏng đoán rằng vào tháng 10/1156 là xây dựng hành cung Quốc Oai, còn vào tháng 12/1156 là xây dựng đền thờ Khổng Tử) nhưng đền thờ Khổng Tử dựng năm 1156 có phải là đền thờ được sửa chữa năm 1070 không, vì nếu đúng thì hóa chẳng phải đã đảo ngược thứ tự sửa rồi xây hay sao. Nhưng lại chính Toàn thư mục năm 1253 chép là tháng 6 lập (立) Quốc học viện, đắp tượng Khổng Tử, Chu công, Á thánh, vẽ tranh Thất thập nhị hiền để thờ, rồi đến tháng 9 chiếu cho các nho sinh trong thiên hạ đến Quốc tử viện giảng giải về Tứ thư Lục kinh, không khó để chúng ta nhận ra cấu trúc rất giống nhau trong ghi chép của Toàn thư tại mục năm 1070 và mục năm 1253. Ngoài ra người viết lại thấy rằng cả Toàn thư và Việt sử lược đều chép năm 1171 triều đình có chiếu lệnh tu sửa Văn Tuyên vương miếu nên cho rằng Việt sử lược chép đúng, cụ thể là vào năm 1156 Anh Tông cho dựng đền thờ (riêng) Khổng Tử với tên chính thức là Văn Tuyên vương miếu (thời điểm đó chưa hẳn đã đắp tượng).

Việt sử lược chép: “Ất Tị [1065] Tháng 8, khai Thượng Lâm viên (…) Canh Thìn [1100] Mùa thu tháng 7, lấy Kiểu Văn Tư làm Thượng Lâm quốc sĩ sư (…) Mậu Ngọ [1198] Vua ngự ở điện Thiên Khánh xét xử việc án Thượng Lâm viện (…) Kỷ Mão [1219] Mùa hạ tháng 6, lấy Lưu Viêm làm Thượng Lâm viện sĩ sư” (Vsl, tr.109,164,196)

Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh viết: “Triều Nhân Tông được triều đình chọn làm Thượng Lâm đệ tử: giỏi kỹ năng của Phi Yến, thông âm luật của Tần Thanh, được vua xếp vào hàng đầu” (Vbtl, tr.245)

Sùng Thiện Diên Linh tháp bia viết: “Thượng Lâm đệ tử cầm lọng trĩ cán son, thét thất thanh xô đến trước vua, đắp bãi rộng làm nơi săn hổ, kéo cung ruổi bắn, rút kiếm dạo quanh, người khoe dũng trong chốc lát, kẻ tranh đón lúc đương thời” (Vbtl, tr.170)

Theo các tài liệu trên thì vào năm ất tị Thánh Tông cho mở vườn Thượng Lâm, đến triều Nhân Tông xuất hiện thêm chức sĩ sư làm công việc xét án, đồng thời thực hiện chức năng đào tạo (đệ tử). Lại thấy Toàn thư chép năm 1185 tổ chức thi sĩ nhân trong thiên hạ, lấy 30 người vào hầu vua học ở ngự điện, đám không trúng thì giữ lại học, Việt sử lược chép năm 1197 chiếu cho con em các quan (quốc tử) vào học, như thế rõ ràng là có tồn tại ngôi trường do triều đình thành lập, phải chẳng nó là Thượng Lâm viện, thêm nữa cả Toàn thư và Cương mục đều chép việc Phạm Ứng Thần được làm Thượng thư, kiêm giữ chức Đề điệu trông coi Quốc tử viện vào năm 1236, không lẽ vào thời Trần thì Thượng Lâm viện được đổi thành Quốc tử viện. Cứ vào truyện Thiền sư Mãn Giác chép trong Thiền uyển tập anh thì khi Càn Đức chưa lên ngôi triều đình đã có chiếu cho con em các danh gia vào hầu thái tử học, như thế thì ghi chép của Toàn thư không phải vô căn cứ, nên ngờ rằng vào năm 1070 Thành Tông sửa chữa vài ngôi nhà để thái tử đến học, nhưng khi đó nó có tên là Thượng Lâm viện. Tuy Toàn thư cho biết vào năm 1076 triều đình chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám, còn Cương mục thì chép thêm việc lập nhà Quốc tử giám, nhưng chúng ta biết rằng chiến tranh Tống Lý đến năm 1077 mới kết thúc, vậy thì thật khó để nghĩ rằng vào năm 1076 trong lúc đương xảy ra giao tranh, triều đình lại có tâm trí và sức lực để phát triển giáo dục, nên e rằng trong ghi chép này Cương mục có nhầm lẫn chăng, còn như đối với ghi chép của Toàn thư thì có thể Ngô Sĩ Liên đã sử dụng tên gọi của giai đoạn sau để biên soạn cho thời kỳ trước và lặp lại tương tự chỗ mục năm 1243. Khoảng thời gian ấy Quốc tử viện vừa là tên gọi của cơ quan và cũng là tên gọi của trụ sở, nhưng đến năm 1253 triều đình muốn mở rộng đào tạo đối với người trong nước, vì thế mà đổi cơ quan Quốc tử viện thành Quốc học viện, còn việc giảng dạy thì vẫn thực hiện tại trụ sở Quốc tử viện (nôm na là tên cơ quan thì đổi nhưng tên trụ sở thì không đổi) nên Toàn thư mới chép là tháng 6/1253 lập Quốc học viện và tháng 9/1253 chiếu vời nho sĩ trong cả nước tới Quốc tử viện nghe giảng tứ thư lục kinh. Đồng thời với những hoạt động trên thì triều đình cho đắp tượng Khổng Tử, Chu công, Á thánh và vẽ tranh Thất thập nhị hiền (cũng đồng nghĩa là mở rộng thêm đối tượng thờ bái) tất nhiên cơ sở đền miếu ấy thuộc quản lí của Quốc học viện.

(6F) LỊCH SỬ HÓA

* Miếu Hàm Rồng thuộc xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm thờ hoàng tử Lý Bát Lang, con trai của Hậu Lý Nam Đế Lý Phật Tử, người viết cho rằng Lang là tên chung nên vị hoàng tử được thờ tên riêng là Bát, Việt sử lược có chép đến Hiển Tín vương Nguyễn Bát, người kiểm soát vùng đất từ Ô Kim đến cầu Tây Dương rất gần với Từ Liêm, lại thêm vào thời Trần vì kiêng húy Nguyên Tổ nên đổi chép họ Lý sang họ Nguyễn, do đó ngờ rằng hoàng tử Lý Bát Lang là hình ảnh trong dân gian của nguyên mẫu Ô Kim hầu Nguyễn Bát. Đền Đức Bà thờ Xuân Nương công chúa, nàng được cho là nữ tướng của Hai Bà Trưng, có công đánh đuổi Thái thú Tô Định, chùa Phúc Thánh thờ phu nhân của Lý Thần Tông là Lê Thị Lan Xuân, thú vị là đền Đức Bà và chùa Phúc Thánh đều thuộc xã Hương Nộn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, người viết cho rằng Nương là tên chung nên vị công chúa được thờ tên riêng là Xuân, khi đó trùng tên với con gái của Phụ Thiên đại vương nên ngờ rằng Xuân Nương công chúa chỉ là kiến tạo của dân gian từ nguyên mẫu Phụng Thánh phu nhân.

* Trên chúng ta đã thấy những kiến tạo của dân gian từ các sự kiện lịch sử, tuy nhiên nó còn khá giản đơn, giờ hãy cùng tìm hiểu truyện Triệu Việt vương và Lí Nam đế trong Việt điện u linh để thấy những cấu trúc phức tạp. Thực vậy: Việt vương họ Triệu húy là Quang Phục (光復) theo nghĩa là Lấy lại được cái đã mất và đến khi chiếm đóng thành Long Biên thì tự xưng Nam Việt quốc vương (Nam Việt của Triệu Đà). Toàn thư thừa nhận sử cũ không chép nên thu lượm dã sử (Việt điện u linh) mà biên soạn, nhưng tác giả đã gặp trường hợp khó xử, vốn Dương Phiêu (Lương thư) Dương Sàn (Toàn thư) Dương Sằn (Việt điện u linh) chỉ là một người, nhưng dã sử chép sai lệch từ thứ sử thành lưu tướng, Ngô sử gia vì thế mà ngờ rằng thứ sử Dương Thiêu (mục năm 545) không phải là tì tướng Dương Sàn (mục năm 550). Chuyện tình của Nhã Lang với Cảo Nương (tên đất) là bản sao cóp của Mị Châu với Trọng Thủy, chỉ khác chỗ để phù hợp với thực tế lịch sử thì vai diễn phải được đổi lại. Nam đế phong cho anh là Xương Ngập (Thiên Sách vương) làm Thái Bình hầu, phong Đại tướng quân Lí Tấn Đỉnh làm An Ninh hầu (Trần Liễu) ngoài ra liên kết các thông tin trên sẽ nhận thấy hình ảnh của Nam Tấn vương Ngô Xương Văn đánh hai thôn ở Thái Bình, Nam đế chết con là Sư Lợi lên làm vua, Giao châu đại tổng quản Khâu Hòa có con trai là Khâu Sư Lợi.

* Trải các đời Khúc, Dương phương nam tự trị, đến thời Ngô thì đã xưng vương, sang đời Đinh bắt đầu xưng hoàng đế, ý muốn khẳng định rằng đất phương nam hoàn toàn tách biệt với đất phương bắc nên đất phương nam phải do người phương nam làm chủ. Sau chiến thắng của Lê Hoàn trước phương bắc, tinh thần độc lập càng lên cao, vào thời điểm đó một câu hỏi rất lớn được đặt ra không chỉ đối với các vương triều mà còn với cả người dân phương nam, ấy là nguồn gốc của tộc người Giao Châu. Đối diện với người dân phương nam, các vương triều cai trị phải chứng tỏ được rằng vùng đất mà họ đang cai trị là hoàn toàn độc lập với phương bắc, chứ họ không phải là những người nằm trong hệ thống hành chính của phương bắc, giải quyết được nan đề này thì các vương triều đã chuyển sự phục tùng của dân chúng từ phương bắc sang phương nam. Khi người dân tin rằng họ hoàn toàn độc lập với phương bắc thì vị thế của các vương triều trong mối quan hệ với phương bắc cũng được nâng lên, trước những đòi hỏi lịch sử đó, Hồng Bàng thị được kiến tạo, giúp cởi trói về mặt tư tưởng cho người Giao Châu! Nếu như truyền thuyết về nguồn gốc của các tộc người láng giềng là riêng có thì của người Việt lại chung gốc với người Hán, nó cho thấy hai việc mà trực tiếp là thể hiện sự độc lập của phương nam đối với phương bắc thông qua thân thế và sự nghiệp của Thủy tổ Kinh Dương vương, thực vậy Hồng Bàng truyện cho biết cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh, vị vua này sinh được con cả là Đế Nghi và con thứ là Lộc Tục, rồi Đế Minh cho Đế Nghi coi phương bắc, đồng thời cho Lộc Tục coi phương nam, Đế Nghi sinh con là Đế Lai, còn Lộc Tục sinh con là Lạc Long Quân, thế nhưng chính trong lúc khẳng định sự độc lập thì nó lại gián tiếp để lộ ra việc chủ nhân của Hồng Bàng truyện chịu ảnh hưởng rất mạnh từ nền văn hóa phương bắc.

(7F) GIẢ THUYẾT VỀ BỘ LỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ

Trống đồng Hoàng Hạ được tìm thấy năm 1937 tại xóm Nội, thôn Làng, xã Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Mặt trống trang trí hình mặt trời 16 tia và 15 vành hoa văn. Vành số 6 trang trí hình người nhảy múa, nhà cầu mùa mái tròn, người giã gạo, nhà sàn mái cong, cảnh đánh trống đồng … đối xứng qua tâm, chia thành 5 nhóm, trong đó có nhóm trang trí hình 6 người (Tđvn, tr.22)

(Mặt trống đồng[39] Hoàng Hạ)

Trống đồng Ngọc Lũ I được tìm thấy vào năm 1893 tại làng Như Trác, huyện Nam Xang, tỉnh Hà Nam. Mặt trống trang trí hình mặt trời 14 tia và 16 vành hoa văn. Vành số 6 trang trí hình người nhảy múa, nhà cầu mùa mái tròn, nhà sàn mái cong, người giã gạo, cảnh đánh trống đồng … đối xứng qua tâm, chia thành 5 nhóm (trong đó có một nhóm trang trí hình người nhảy múa từ trái sang phải, gồm 6 hoặc 7 người). Vành số 8 có hai nhóm hoa văn hươu, mỗi nhóm 10, đực cái xem kẽ, giữa hai nhóm là hình 14 con chim lạc (nhóm 6 con và nhóm 8 con) xếp ngược chiều kim đồng hồ. Vành số 10 là hình 36 con chim (18 con bay và 18 con đậu) phân bố ngược chiều kim đồng hồ (Tđvn, tr.19)

(Mặt trống đồng[40] Ngọc Lũ)

(Mặt trống đồng[41] Sông Đà)

Trống đồng Sông Đà thuộc về viên quan lang người Mường vùng sông Đà thuộc tỉnh Hòa Bình. Điều khác biệt nằm tại vành có 18 hình chim, gồm 16 hình chim bay và 2 chim đứng. Thú vị ở chỗ diện tích mà 2 hình chim đứng bằng với diện tích của 1 hình chim bay, vì thế cho thấy. Nghệ nhân làm trống ban đầu có ý định khắc 18 hình chim bay nhưng do sơ ý chia thành 17 ô, do đó phải khắc phục sai sót bằng cách khắc 2 hình chim đứng vào 1 ô. Nói cách khác con số 18 (thông qua số lượng hình chim) phải mang thông điệp nào đó chứ không phải là việc chạm khắc ngẫu nhiên. Thêm nữa, tại vành 8 của trống đồng Ngọc Lũ có 2 nhóm hươu (mỗi nhóm gồm 10 con) và 2 nhóm chim bay (nhóm có 6 con và nhóm có 8 con). Nếu chỉ đơn thuần là hoa văn trang trí thì 2 nhóm chim thường có số lượng bằng nhau khi đó mới đảm bảo tính thẩm mỹ, nhưng đằng này lại có sự sai khác về số lượng khiến cho tính cân đối bị mất đi, do vậy chỉ có thể kết luận, việc phân chia này là sự cố ý của đúc trống.

Trong bài đồng dao[42] của người Việt: Mồng một lưỡi trai – Mồng hai lá lúa – Mồng ba câu liêm – Mồng bốn lưỡi liềm – Mồng năm liềm giật – Mồng sáu thật trăng – Mồng bảy thượng huyền – Mười rằm trăng náu – Mười sáu trăng treo – Mười bảy sảy giường chiếu – Mười tám rám trấu – Mười chín đụn dịn – Hăm mươi giấc tốt – Hăm mốt nửa đêm – Hăm hai hạ huyền – Hăm ba gà gáy – Hăm bốn ở đâu – Hăm nhăm ở đấy – Hăm sáu đã vậy – Hăm bảy làm sao – Hăm tám thế nào – Hăm chín thế ấy – Ba mươi chẳng thấy – Mặt mày trăng đâu và câu nói dân gian tối như đêm 30. Cho chúng ta biết trong bộ lịch cổ, ngày cuối tháng mới là ngày không có trăng (lịch của người Mường cũng tương tự) và với sự xuất hiện của từ Mồng (là biến âm của từ Lôồng trong tiếng Mường) trong bài đồng dao để chỉ 10 ngày đầu tháng (từ ngày thứ một đến ngày thứ mười) gợi ý cho chúng ta về nhóm đơn vị 10 ngày liên tục.

So sánh giữa trống đồng Ngọc Lũ với trống đồng Hoàng Hạ thì nhận thấy: Trống đồng Ngọc Lũ có chạm khắc hoa văn gồm 2 nhóm chim (14 con) và 2 nhóm hươu (20 con) ở vành 8, trong khi trống đồng Hoàng Hạ không có, thay vào đó là 29 hình tròn cong liên tục. Các trống sông Đà, Bản Thôm, Quảng Xương cũng không có vành chạm khắc nào giống với vành số 8 của trống Ngọc Lũ, thậm chí là trên các trống này còn không thấy sự xuất hiện của vành chạm khắc (phán đoán là) mang chức năng của vành số 8 trên trống Ngọc Lũ và vành có 29 hình tròn cong liên tục trên trống Hoàng Hạ. Do vậy có thể đặt ra giả thuyết rằng: vành số 8 trên trống đồng Ngọc Lũ là vành được thêm vào để ghi chú, giải thích cho các vành hoa văn khác (hoa văn ban đầu). Ở đây chúng ta lại thấy sự xuất hiện của nhóm đơn vị gồm 10 con hươu.

Tại vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trên trống đồng Hoàng Hạ theo chiều ngược kim đồng hồ lần lượt gồm: Hình 4 người đánh trống đồng – 1; hình 6 người hoá trang – 2; hình nhà có một người – 3; hình 2 người đang giã – 4; hình nhà có nhiều người – 5; hình 4 người đánh trống đồng – 6; hình nhóm 6 người hoá trang – 7; hình nhà có một người – 8; hình 2 người đang giã – 9; hình nhà có nhiều người – 10. Chúng ta thấy rằng tính cân xứng là rất cao và có 10 nhóm hình. Tại vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trên trống đồng Ngọc Lũ theo chiều ngược kim đồng hồ lần lượt gồm: Hình 4 người đánh trống đồng – 1; hình nhóm 6 người hoá trang – 2; hình nhà có một người – 3; hình 3 người – 4; hình nhà có nhiều người – 5; hình 4 người đánh trống đồng – 6; hình 7 người hoá trang – 7; hình nhà có một người – 8; hình 3 người – 9; hình nhà có nhiều người – 10. Chúng ta thấy rằng tính cân xứng đã bị mất đi và cũng có 10 nhóm hình (sự phá vỡ tính cân đối trên trống đồng Ngọc Lũ cho thấy sự cố tình của nghệ nhân trong việc tạo ra nó) Tuy vậy chúng ta vẫn biết được rằng vành chạm khắc cảnh sinh hoạt (có thể) vẫn biểu hiện nhóm đơn vị gồm 10 hình. Thực vậy, nhóm 3 người trên trống đồng Ngọc Lũ gồm 1 người gọi chim và 2 người đang giã, có thể được tách thành 2 hình khi đó nhóm đơn vị sẽ gồm 12 hình chứ không phải 10, tuy nhiên vì trên trống Hoàng Hạ nhóm đơn vị chắc chắn gồm 10 hình, lại thêm đó việc chạm khắc thêm 1 hình người gọi chim ngay cạnh hình 2 người đang giã có tính đối xứng rất cao (ở cạnh 2 hình người đang giã vốn có tính đối xứng nay lại được chạm khắc vào bên cạnh mỗi hình ấy 1 hình người gọi chim giống hệt nhau nên vẫn đảm bảo tính đối xứng) trong khi không cần thiết (vì các hình khác đã được chủ động làm sai khác đi, đành chấp nhận mất tính đối xứng để đảm bảo tính thông điệp) gợi ý chúng ta rằng: Hình thêm vào này (hình người gọi chim) với mục đích làm phong phú nội dung đời sống sinh hoạt, chứ không phải mang một thông điểm nào đó. Do đó vẫn có thể xếp hình 1 người gọi chim và hình 2 người đang giã vào thành 1 hình, vì thế mà vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trên trống đồng Ngọc Lũ cũng như Hoàng Hạ, đều là nhóm đơn vị gồm 10 hình. Nhận định này được củng cố khi trên vành 8 (vành có chức năng giải thích cho các vành hoa văn khác) có 2 nhóm hươu mà mỗi nhóm gồm 10 con. Như vậy những dấu vết đều gợi ý cho chúng ta là hoa văn chạm khắc cảnh sinh hoạt ở vành 6 của trống đồng Ngọc Lũ nên hiểu là nhóm gồm 10 hình.

Nếu chúng ta gạch nối giữa nhóm gồm 10 hình với nhóm gồm 10 ngày Mồng thì chúng ta có được: Cảnh sinh hoạt của 10 ngày Mồng trên trống đồng. Theo đó giả sử rằng: Mồng 1 – Lễ cầu (hình nhà 1 người); Mồng 2 – Giã gạo (hình 3 người); Mồng 3 – Tại gia (hình nhà nhiều người); Mồng 4 – Hội trống (hình 4 người đánh trống); Mồng 5 – Đi săn (hình 6 người hoá trang); Mồng 6 – Lễ Cầu (hình nhà 1 người); Mồng 7 – Giã gạo (hình 3 người); Mồng 8 – Tại gia (hình nhà nhiều người); Mồng 9 – Hội trống (hình 4 người đánh trống); Mồng 10 – Đi săn (hình 7 người hoá trang). 

Cảnh sinh hoạt thường ngày thì rất nhiều không thể chạm khắc hết được, nên những chạm khắc ở trên trống đồng là những cảnh sinh hoạt tương đối cơ bản trong đời sống và những cảnh sinh hoạt cơ bản này (phải) có tính chu kỳ do đó chúng ta phán đoán rằng: mồng tiếp theo (hay 10 ngày mồng tiếp theo) các hoạt động sinh hoạt cũng sẽ diễn ra lặp lại như giả sử. Chúng ta tạm gọi 10 ngày mồng là tuần. [1 tuần = 1 mồng, 1 mồng = 10 ngày (hay 10 ngày mồng), ngày 1 là mồng 1; ngày 10 là mồng 10]

Nếu giả sử của chúng ta là đúng: Tức là tồn tại quãng đơn vị thời gian có tính chu kỳ bao gồm 10 ngày mồng (tương ứng với 1 tuần) thì thời gian có tính chu kỳ (nếu có) lớn hơn hoặc nhỏ hơn đơn vị tuần sẽ như thế nào? Chúng ta thấy tại vành 10 có 36 con chim trong đó có 18 con chim bay và 18 con chim đậu. Con số 18 (thường là chim bay) xuất hiện trên nhiều trống đồng, đặc biệt là trống đồng sông Đà gợi ý cho chúng ta về tính chu kỳ tuy nhiên trên trống đồng Hoàng Hạ thì chỉ có 14 con chim bay (trùng với 14 tia sáng mặt trời trên trống đồng Ngọc Lũ). Nếu con số 18 có tính chu kỳ thì đó là chu kỳ của cái gì? Vành số 10 là vành cuối cùng chạm khắc nhóm hoa văn người, động vật nên nếu có thì nó sẽ thể hiện chu kỳ ở mức độ rộng nhất của thời gian. Nó có thể là chu kỳ của năm không? Giống như 1 giáp (60 năm) trong lịch của người Hán, nếu vậy thì trên trống Ngọc Lũ là chu kỳ 18 (hoặc 36) năm nhưng như vậy thì phải có thông tin về năm, thông tin này nếu có tôi cho rằng nó nên nằm từ vành số 6 trở đi. Nó khó có thể nằm trên vành số 6 vì việc 1 vành hình khó có thể mang (biểu hiện) 2 thông tin (đơn vị) trong cùng hệ thống trường hợp này là thời gian. Nó cũng khó mà nằm ở vành 7 và 9 vì như thế sẽ rất khó để người xem biết được trong khi đây là quãng thời gian quan trọng. Vành số 8 tôi cho rằng nó là vành chú giải hơn là vành chứa thông tin của quãng thời gian độc lập nào đó nên quãng thời gian năm khó mà nằm trên vành này. Như vậy từ vành 6 tới vành 10 chúng ta có 2 vành là: Vành 6 và vành 10 mang thông tin khả dĩ về quãng thời gian độc lập. Trong khi vành 6 đã thể hiện quãng thời gian 10 ngày mồng (quãng thời gian tuần) và nếu vành 10 thể hiện quãng thời gian có tính chu kỳ của năm (gồm 18 hoặc 36 năm) thì không tìm thấy dấu vết của quãng thời gian năm nghĩa là có sự đứt quãng về đơn vị thời gian hay không tìm thấy dấu vết hoá thạch của “loài trung gian” giữa đơn vị tuần và chu kỳ của năm. Đơn vị trung gian ấy có thể là tháng, năm hoặc một đơn vị thời gian nào đó đã mất. Sự đứt quãng này gợi ý chúng ta rằng: Nếu kết luận vành 10 là thể hiện của chu kỳ gồm 18 (hoặc 36) năm sẽ dẫn đến sự không vững chắc và không rõ ràng. Do vậy mà vành 10 phải thể hiện quãng thời gian ít hơn chu kỳ của năm nhưng nhiều hơn tuần (10 ngày mồng) [Quãng thời gian lớn hơn tuần (10 ngày mồng) nó có thể là tháng, năm hoặc quãng thời gian nào đó mà ngày nay không còn và nếu có thì nó cũng phải nằm từ vành 6 trở ra] Tôi phán đoán nó thể hiện năm thời gian!

Chúng ta có tuần gồm 10 ngày, chúng ta lại có chu kỳ thời gian là 36, vậy nếu liên hệ 2 thông tin này thì chúng ta có: 10 x 36 = 360 ngày (36 tuần). Tôi cho rằng 36 con chim ở vành 10 của trống đồng Ngọc Lũ là thể hiện 36 tuần (mỗi tuần gồm 10 ngày) và đó chính là độ dài thời gian của 1 năm (1 năm[43] có 360 ngày). So với dương lịch là ít hơn 5 ngày 6 giờ.

Tại vành 6 mồng 5 – đi săn, trong hình 6 người có 1 người đi đầu cầm ngọn giáo có mũi đâm xuống, tương ứng với nó ở vành 8 là con hươu đầu tiên trong nhóm 10 con hươu và tương ứng với nó là con chim đang bay ở vành số 10. Nếu chúng ta lấy cây giáo làm điểm bắt đầu thì: Nhóm 10 con hươu ở vành số 8 tương ứng gọn gàng với 10 con chim (5 con chim bay, 5 con chim đậu) ở vành số 10; 6 con chim ở vành số 8 tương ứng không gọn gàng với 6à7 con chim (3 con chim đậu, 3à 4 con chim bay) ở vành số 10; 10 con hươu ở vành số 8 tương ứng không gọn gàng với 11à12 con chim (6 con chim đậu, 5à6 con chim bay) ở vành số 10; 8 con chim ở vành số 8 tương ứng gọn gàng với 8 con chim (4 con chim bay, 4 con chim đậu) ở vành số 10. Như vậy là trong 4 điểm giao giữa các nhóm chim bay và hươu ở vành số 8 tương ứng với 36 con chim ở vành số 10 thì có 3 điểm giao gọn gàng và 1 điểm giao không gọn gàng. Nếu chúng ta gọi 4 nhóm chim và hươu ở vành số 8 là lời chú giải cho 36 con chim ở vành số 10 thì chúng ta sẽ có 4 quãng thời gian trong 1 năm, tôi cho rằng nó rất có thể là quãng thời gian của 4 mùa. Vì tiết khí thời điểm giao giữa mùa đông và mùa xuân không quá rõ ràng nhất, nên có thể nó tương ứng với điểm giao không gọn gàng. Lần lượt tượng tự chúng ta có giao của 3 điểm gọn gàng còn lại với giao của các mùa. Vậy thì mùa đông có trong khoảng 6à7 tuần (khoảng 60-70 ngày); mùa xuân có trong khoảng 11à12 tuần (khoảng 110-120 ngày); mùa hạ có khoảng 8 tuần (khoảng 80 ngày); mùa thu có khoảng 10 tuần (khoảng 100 ngày).

Như vậy cuốn lịch trên trống đồng Ngọc Lũ: 1 năm được chia thành 4 mùa và 36 mồng, mỗi mồng gồm 10 ngày.

Trong các trống đồng thì tâm trống luôn là hình ảnh của mặt trời, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng đó là biểu tượng của tín ngưỡng thờ mặt trời tuy nhiên những tia sáng phát ra từ mặt trời lại có số lượng khác nhau. Trống Hoàng Hạ có 16 tia mặt trời, trống Ngọc Lũ và trống sông Đà có số lượng bằng nhau và bằng 14 tia, trống Khai Hoá và trống Bản Thôm có số lượng cùng bằng 12 tia, trống Quảng Xương chỉ có 8 tia. Xem xét các hình khắc trên các trống, đặc biệt là chạm khắc cảnh sinh hoạt, thì chúng ta dễ dàng nhận ra giữa các hoa văn có những nét tương đồng do đó mà rất có thể khi đúc trống các nghệ nhân đã tham khảo những khuân mẫu của các trống trước đó vì thế mà những nội dung trong các hoa văn về cơ bản giống nhau rất cao. Thế nhưng những tia sáng từ mặt trời ở tâm trống thì lại liên tục khác nhau, có vẻ như tia sáng ở mỗi trống đồng có một ý nghĩa khác nhau, chứa những thông điệp khác nhau. Chúng ta cũng đã thấy vai trò của con số 18 trong tâm thức của nền văn hoá trống đồng, phần lớn con số 18 được thể hiện qua số lượng chim bay ở vòng ngoài cùng. Việc phải khắc chạm 2 con chim đậu do chia số lượng ô thiếu trên trống đồng sông Đà là bằng chứng vững chắc nhất về sự tồn tại ý nghĩa (có thật) của con số 18, thế nhưng trên trống Hoàng Hạ thì lại không hề tìm thấy dấu vết của con số 18 nào cả? Số lượng chim bay là 14. Lời giải thích hợp lý cho hiện tượng này có thể là: Mỗi một trống đồng mang những thông điệp nhất định, các thông điệp này có thể giống nhau hoặc khác nhau ở một số trống đồng, không phải mọi trống đồng đều có thông điệp giống nhau. Do đó mà bản thân những hình chạm khắc cảnh sinh hoạt tuy là cùng mô típ, cùng tham khảo khuân mẫu nhưng ở mỗi trống đồng lại có sự thay đổi không nhiều để cho phù hợp với thông điệp mà trống đồng đó mang. Chúng ta thấy rằng ở trống Quảng Xương có 6 con chim bay trong khi phần lớn các trống khác có 18 con chim bay, đặc biệt là trống Ngọc Lũ có tới 36 con chim, do 6 và 18 đều có bội là 36 nên có thể đó (con số 36) mới là con số đúng để tìm thông điệp, trong các trống đồng thì con số 18 (con chim bay) chiếm là phần lớn.

Trong trường hợp của trống Ngọc Lũ thì cứ sau một năm, lịch trống đồng sẽ thiếu so với dương lịch (ngày nay) là 5 ngày 6 tiếng vậy nên ở năm thứ 2 sẽ có thêm 1 mồng và vẫn thiếu 12 tiếng do đó sau 4 năm sẽ thiếu 1 ngày nên ở năm thứ 40 thì có thêm tới 2 mồng, khi ấy không còn dư thiếu so với lịch dương nữa. Việc cứ 2 năm có thêm 1 mồng nữa có lẽ liên quan tới con chim bay và con chim đậu trong 36 con chim, như được thể hiện trên trống đồng thì con chim bay và con chim đậu giống 1 cặp hơn là 2 con riêng lẻ hay gợi ý cho chúng ta rằng 2 năm sẽ thành 1 nhóm. Chủ nhân của trống đồng có biết tới mồng nhuận hay không? Chắc chắn là có vì họ quan sát mùa và trăng là có thể biết được. Tuy nhiên tôi cho rằng họ dễ dàng nhận biết được mồng nhuận ở năm thứ 2 và có ít nhất 1 dấu hiệu trên trống đồng thể hiện điều này nhưng tôi cũng ngờ rằng họ không biết đến sự tồn tại của mồng nhuận sau 40 năm vì sự sai khác là rất nhỏ và cần rất nhiều năm (khoảng 40 x 30 x 3 = 360 năm) để nhận biết ra nó, hơn thế nữa tôi không nhận thấy dấu vết nào của chu kỳ 40 năm trên trống đồng Ngọc Lũ.

Khó khăn lớn nhất vẫn chỉ là những tia sáng phát ra từ mặt trời ở tâm trống, có lẽ chúng ta phải chấp nhận rằng: ở mỗi trống đồng khác nhau, những tia sáng này mang những ý nghĩa khác nhau, có lẽ chỉ có thế mới giải thích được sự khác nhau rất lớn về số lượng tia sáng. Những tia sáng này có thể chỉ số tháng trong 1 năm (loại tia có số lượng 12) nó cũng có thể là số thị tộc, ở thời điểm của nền văn hoá trống đồng thì cơ cấu xã hội vẫn là chế độ thị tộc, bộ lạc. Trống đồng trước hết là trống, nhưng trong quá trình sử dụng, trống đồng còn mang thêm nhiều chức năng khác, như thể hiện đời sống xã hội của thị tộc, chứa đựng những thông tin, tri thức quan trọng của xã hội và cũng thể hiện quyền uy của người tù trưởng, người đứng đầu thị tộc hoặc bộ lạc. Với ý nghĩa đó, trống đồng cũng góp phần thể hiện cơ cấu quyền lực trong xã hội thông qua số tia sáng, người đứng đầu thị tộc sở hữu trống đồng có thể không có tia sáng nào, chỉ là hình tròn trên mặt trống. Trong khi những tổ chức lớn hơn thị tộc, gồm nhiều thị tộc là bộ lạc, những bộ lạc này tuỳ theo lịch sử phát triển mà có số lượng thị tộc khác nhau và người đứng đầu bộ lạc, vị tù trưởng này sẽ đúc trống đồng có số tia sáng bằng với số lượng thị tộc của bộ lạc ấy.

Trong trường hợp của trống Ngọc Lũ, số lượng tia sáng là 14, con số này khó có thể là số tháng được, nó có thể là số lượng thị tộc trong bộ lạc mà người tù trưởng đứng đầu không? Có thể lắm! Tuy nhiên do rằng nếu như trống Ngọc Lũ mô tả về ngày tháng, thì số tia sáng cũng nhiều khả năng là cùng mang ý nghĩa đó, trong các quãng thời gian mà chúng ta biết tới thì các hình hoa văn khắc trên trống đồng đã thể hiện gần hết chỉ còn có thời gian trong 1 ngày là chưa có đề cập gì và nếu có thì cả chu kỳ trăng tròn. Liệu rằng 14 tia sáng này có thể hiện 14 giờ trong 1 ngày hay không? Như chúng ta đã nói, vành 8 là sự chú thích cho các vành khác và lần này còn số 14 tia sáng mặt trời được chú thành nhóm 6 và nhóm 8 con chim, nghĩa là 14 tia sáng không thể hiện con số 14 mà là thể hiện con số 6 và con số 8, thế nhưng con số 6 và con số 8 có ý nghĩa gì? Trống đồng sông Đà cũng có 14 tia sáng giống tương đối với trống Ngọc Lũ, số lượng người hoá trang trong vành chạm khắc cảnh sinh hoạt cũng được chia thành nhóm 6 người và nhóm 8 người, nhưng vậy con số 14 chắc chắn nên hiểu là con số 6 và con số 8. Tuy nhiên khi sang trống Ngọc Lũ thì nhóm 8 người trong vành khắc cảnh sinh hoạt lại biến thành 7, ở trống Hoàng Hạ thì có 2 nhóm, mỗi nhóm có 6 người, trong khi số lượng tia sáng là 16, như vậy ở trống Hoàng Hạ, số lượng người hoá trang (12) không còn tương ứng với số tia sáng, trống Ngọc Lũ cũng vậy, số người hoá trang là 13 trong khi số tia sáng là 14, như vậy số người hoá trang đã không còn mang ý nghĩa giải thích cho số tia sáng ở trống Hoàng Hạ và Ngọc Lũ, nó đã mang một ý nghĩa khác. Đối với trống sông Đà có lẽ nhóm 6 người và nhóm 8 người trong vành khắc cảnh sinh hoạt vẫn còn là sự giải thích chi tiết cho số tia sáng mặt trời. Tuy rằng ở trống Ngọc Lũ hình người hoá trang trên vành 6 không còn giữ chức năng là lời giải thích cho số tia sáng mặt trời như ở trống sông Đà nhưng việc chú giải cho số tia sáng ở tâm trống được chuyển cho một hình chạm khắc khác đảm nhiệm và chúng ta biết phải tìm hình chạm khắc đó nằm ở đâu, nó nằm trên vành có chức năng giải thích cho các vành hoa văn khác và đó là hình 6 con chim và 8 con chim trên vành số 8. Chúng ta thấy rằng nhóm 6 người và nhóm 8 người trên trống sông Đà còn được chia nhỏ thành 4 nhóm, 2 nhóm 4 người và 2 nhóm 3 người. Nếu như số tia sáng mặt trời chỉ đơn giản là thể hiện số lượng thị tộc của bộ lạc thì có lẽ không cần phải thể hiện một cách chi tiết như vậy do đó chúng ta có thể nghĩ sự chi tiết này là thể hiện một cái gì đó cần sự phức tạp như số giờ trong 1 ngày chẳng hạn. Một ngày có thể được chia là ban đêm và ban ngày, nếu như thời gian của ngày là 8 thì thời gian của đêm là 6 và ngược lại nếu như thời gian của ngày là 6 thì thời gian của đêm là 8, tuy theo mùa, nhưng tổng thời gian của ngày là bằng nhau và bằng 14. Người Việt có câu “đêm tháng năm chưa nằm đã sáng” là để chỉ đêm ngắn ngày dài và “ngày tháng mười chưa cười đã tối” là để chỉ ngày ngắn đêm dài. Nhóm 6 con chim ở vành 8 tương ứng với mùa đông, thể hiện ngày ngắn đêm dài trong khi nhóm 8 con chim ở vành 8 tương ứng với mùa hè, thể hiện ngày dài đêm ngắn. Như đã biết 1 ngày dễ dàng được nhận biết thành ban ngày và ban đêm, rồi ban ngày thì cũng dễ dàng nhận ra sáng và chiều, ban đêm thì cũng dễ dàng nhận ra tối và khuya, do đó dễ dàng chia ngày thành 4 quãng thời gian lớn như được thể hiện trên trống sông Đà. Chúng ta để ý thấy rằng tương ứng gọn gàng với 2 nhóm hươu, mỗi nhóm 10 con ở vành 8 là 2 nhóm tia sáng, mỗi nhóm gồm 4 tia ở trung tâm trống và tương ứng gọn gàng với 2 nhóm chim 6 con và 8 con ở vành 8 là 2 nhóm tia sáng, mỗi nhóm gồm 3 tia ở trung tâm trống. Việc xác định giờ người Việt cổ có lẽ dựa trên các hiện tượng tự nhiên hoặc đặc tính của các loài động vật do đó mà việc xác định có lẽ chỉ mang tính tương đối.

Một lưu ý nữa là trên trống đồng sông Đà chỉ có 2 con chim trên vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trong khi ở trống đồng Hoàng Hạ con số là 10, còn trên trống Ngọc Lũ con số chỉ là 5. Con số 5 này có thể là số ngày thiếu được nhận biết sau nhiều năm quan sát giữa việc lấy 1 chu kỳ gồm 36 mồng với sự sai lệch về mùa, chỉ cần sau khoảng 6 năm là có thể nhận biết được dấu hiệu của sự lệch về mùa. Nhưng đâu là dấu hiệu chỉ ra rằng con số 5 (con chim) là thể hiện của 5 ngày dư thừa? Có lẽ là do thứ nhất đó là sự trùng hợp và thứ hai là do 5 con chim này nằm trên vành thể hiện quãng thời gian ngày.

Hiện tượng trăng tròn là một hiện tượng chắc chắn sẽ gây nhiều ấn tượng cho người Việt cổ và theo chu kỳ thì khoảng 29,5 ngày trăng lại tròn nghĩa là sau khoảng 29 hoặc 30 ngày thì trăng sẽ lại tròn tuy nhiên con số 29 và 30 được thể hiện như thế nào trên trống đồng? Như đã biết trên trống sông Đà có 2 nhóm người hoá trang có tổng là 14 trong khi trống Hoàng Hạ có 2 nhóm người hoá trang với tổng là 12 người, tuy nhiên ở mỗi trống các con số lại mang những ý nghĩa khác nhau, ở trống Ngọc Lũ thì đặc biệt hơn, đúng ra thì nó (số lượng người hoá trang) phải cùng mang ý nghĩa như trên trống sông Đà, song trên trống Ngọc Lũ ý nghĩa của con số này (con số 14 thể hiện ở số lượng tia sáng mặt trời) đã được thể hiện ở nhóm 6 con chim và 8 con chim. Vậy thì đúng ra sẽ không cần nhóm người hoá trang nữa hoặc nhóm người này ở đây là với một ý nghĩa khác, số lượng người hoá trang đã có sự thay đổi, ở nhóm đáng lẽ là 8 người thì bây giờ chỉ còn có 7 người và điều đặc biệt là người thứ 7 này khá nhỏ so với những người còn lại. Nếu hiểu đây là người được thêm vào thì không phải không có cơ sở khi đó nó có ý nghĩa là tháng nhuận nghĩa là tháng thứ 13 sau 12 tháng trong năm. Nhưng ở đây tôi muốn đề cập tới chiều ngược lại nghĩa là người này mang ý nghĩa bớt đi, nếu chúng ta cho rằng trống Ngọc Lũ là biến thể trên cơ sở của trống Hoàng Hạ về nhóm người hoá trang thì đó đúng là thêm vào, nhưng nếu chúng ta nhìn trên cơ sở của trống sông Đà thì nó lại mang ý nghĩa bớt đi, mà ở đây có vẻ như trống Ngọc Lũ có tự dạng giống với trống sông Đà hơn là trống Hoàng Hạ! Vậy nếu đây là người có ý nghĩa bớt đi thì chúng ta phải hiểu các con số này ra sao? Để ý thấy rằng nếu tính cả người nhỏ này thì (ban đầu vốn có) số lượng người hoá trang của 2 nhóm là: 6 + 7 = 13; trong khi nếu không tính người nhỏ này (bớt đi) thì số lượng người hoá trang của 2 nhóm là: 6 + 6 = 12. Một điều khá trùng hợp là: Tổng số 1 nhóm hươu và 1 nhóm chim là 16 và tổng số 1 nhóm hươu và 1 nhóm chim còn lại là 18. Khi chúng ta đem 1 nhóm hươu cộng 1 nhóm chim ở vành 8 cộng với tổng số lượng người hoá trang ở vành 6 ta được (một cách có chủ ý): 16 + 13 = 29 và 18 + 12 = 30. Đây có thể hiểu là số ngày trong tháng, cũng là số ngày mà trăng tròn trong các tháng khác nhau của năm. Có một điều khá đặc biệt nữa, đó là người hoá trang ở vị trí cuối cùng trong nhóm 6 người ở vành 6 khác với những người hoá trang còn lại, trang phục mà người này mặc kín, không có những khe hở như những người khác, thêm nữa lại có 1 thanh gậy và 1 nửa hình elip, kiến ta liên tưởng tới cái đèn lồng, từ đó gợi ý chúng ta người này có thể là tượng trưng cho ngày tối, tức là ngày không có trăng và theo như dân gian thì đó là ngày cuối tháng, ngày 29 hoặc 30.

Như vậy là chúng ta đã tìm thấy được hầu hết các dấu vết của 1 bộ lịch trên trống đồng Ngọc Lũ, nói chính xác hơn là các hình khắc trên trống Ngọc Lũ gợi ý về một cuốn lịch, nghĩa là nó chỉ có tính gợi ý, chứ không thể chắc chắn nó là một bộ lịch. Vẫn còn một số vẫn đề chưa rõ ràng tuy nhiên do vấn đề ấy không ảnh hưởng nhiều tới mục đích của chúng ta nhưng tôi vẫn xin nói đến, đó là: Tôi vẫn tin rằng trống đồng là biểu tượng của tù trưởng, của thị tộc, do đó mà quyền uy của tộc trưởng và thị tộc phải được biểu hiện trên trống tuy nhiên tôi không thấy nó được biểu hiện như thế nào trên trống đồng? Chỉ còn 2 thông tin trên trống đồng Ngọc Lũ là chưa khai thác đó là hình thuyền trên thân trống, đó là hình chạm khắc của thuyền chiến, có thể hình chạm khắc ấy thể hiện tình trạng của thị tộc, cũng như uy quyền của người tù trưởng. Và thông tin còn lại là số lượng vòng tròn đồng tâm trên mặt trống, ở mỗi trống số lượng vòng tròn đồng tâm này khác nhau, liệu rằng số lượng vòng tròn có thể nào là biểu tượng quyền uy của người tù trưởng, người tù trưởng là trung tâm và số lượng vòng tròn là số lượng mà chịu sự cai trị của ông. Tôi vẫn còn chút nghi ngại về con số 3 và số 4 được thể hiện bằng số lượng người hoá trang trên trống sông Đà và hiểu nó là sự thể hiện số giờ trong ngày. Thời gian trong một ngày được tính ra sao, tôi vẫn chưa tìm hiểu kỹ, chỉ phán đoán con số 14 là thể hiện của nó mà thôi, những dấu hiệu chứng tỏ điều này khá là mờ nhạt.

Trên trống đồng Ngọc Lũ chúng ta thấy:

Vành chạm khắc cảnh sinh hoạt (vành số 6) gồm có 10 hình tương ứng với 10 ngày mồng trong 1 tuần mồng. Lần lượt là: ngày mồng 1 – lễ cầu (hình nhà 1 người); ngày mồng 2 – giã gạo (hình 3 người); ngày mồng 3 – tại gia (hình nhà nhiều người); ngày mồng 4 – hội trống (hình 4 người đánh trống); ngày mồng 5 – đi săn (hình 6 người hoá trang); ngày mồng 6 – lễ cầu (hình nhà 1 người); ngày mồng 7 – giã gạo (hình 3 người); ngày mồng 8 – tại gia (hình nhà nhiều người); ngày mồng 9 – hội trống (hình 4 người đánh trống); ngày mồng 10 – đi săn (hình 7 người hoá trang) [Trong bộ lịch xuất hiện 2 đơn vị thời gian là: tuần mồng và ngày mồng; cứ 1 tuần mồng gồm có 10 ngày mồng]

Vành 36 con chim (vành số 10) tương ứng với 36 tuần mồng trong 1 năm. Vành 36 con chim lại được chia thành 2 nhóm (nhóm gồm 18 chim bay và 18 chim đậu) tương ứng với 2 năm trong / tạo ra 1 chu kỳ [Trong bộ lịch xuất hiện thêm 2 đơn vị thời gian là: năm và chu kỳ của năm (tạm gọi là NL). Cứ 1 năm gồm có 36 tuần mồng, tương đương 360 ngày mồng, cứ 1 NL gồm có 2 năm]  

Vành chạm khắc cảnh sinh hoạt (vành số 6) gồm có 5 con chim tương ứng với 5 ngày thiếu của 1 năm.

Vành số 8 khắc 4 nhóm hươu chim đan xen, lấy 2 nhóm hươu chim cộng lại được 2 số là 16 và 18. Vành số 6 gồm có 2 nhóm người đi săn với tổng số 13 người, nhưng có 1 người khác biết với 12 người còn lại (nhỏ hơn rất nhiều) nên 2 nhóm người đi săn vừa thể 13 người lại vừa thể hiện 12 người. Lấy 18+12=30 và 16+13=29, đây chính là thể hiện của số ngày trăng tròn (xem thêm trong bài để rõ cách tính cũng như cách thể hiện 4 mùa trong 1 năm trên trống đồng)

Tâm trống đồng là hình mặt trời có 14 tia sáng tương ứng với 14 giờ trong 1 ngày mồng.

Vẫn còn một khó khăn nữa mà chúng ta cần đề cấp đến ở đây là sắp xếp thời gian như thế nào trên trống đồng Ngọc Lũ đây? Nếu lấy người cầm giáo trong nhóm 6 người hoá trang làm điểm giao và lấy người mặc áo đen cầm lồng đèn cũng trong nhóm 6 người làm điểm cuối của tuần trăng thì ta thấy tháng bắt đầu từ người nhỏ trong nhóm 7 người hoá trang rồi tính ngược kim đồng hồ lần lượt hết 7 người, tiếp theo sẽ tính vòng xuôi kim đồng hồ từ con chim trong nhóm 6 con rồi tới con hươu nhóm 10 con, khi tới con hươu cuối thì tính tiếp từ người cầm giáo rồi lần lượt tới người mặc áo đen và cầm đèn. Tháng tiếp theo thì bắt đầu từ người đứng trước người nhỏ rồi tính ngược kim đồng hồ lần lượt hết 6 người sau đó tính từ con hươu trong nhóm 10 con, tính ngược kim đồng hồ, rồi đến con chim nhóm 8 con lần lượt tới hết, khi tới con chim cuối cùng thì tính tiếp từ người cầm giáo và xuôi kim đồng hồ tới người cầm đèn và mặc áo đen. Đối với mồng thì có lẽ sẽ lấy con chim bay trong nhóm 36 con chim ở vành 10 tương ứng với người cầm giáo để tính thời điểm bắt đầu, nó tương ứng với đầu mùa hè, mồng 1 lấy nhà cầu mùa (hoặc sinh hoạt tôn giáo) trước người cầm giáo để tính.

PHỤ LỤC 01: TRÍCH LƯỢC LỤC ĐỘ TẬP KINH VÀ LỊCH SỬ KHỞI NGUYÊN DÂN TỘC TA CỦA TÁC GIẢ LÊ MẠNH THÁT

Nước ta gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam cho đến năm 43 vẫn là một nước độc lập, các vua Hùng vẫn cai trị và nước có tên là Việt Thường hay Việt Thường thị. Nếu vậy, làm thế nào giải thích sự kiện năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 tdl) Vũ đế đã đặt 9 quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai và Đàm Nhĩ thuộc Hán? Câu trả lời rõ ràng là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đã được (bị) gom vào một cách vô căn cứ, qua 3 chứng cớ sau: Thứ nhất, Hồ Quảng ký nói “Hán đã định đất Nam Việt, đặt Thứ sử Giao Chỉ, khác với các châu, sai cầm cờ tiết, đóng ở Thương Ngô”. Vậy cứ Hồ Quảng ký ngay khi chiếm được Nam Việt, Vũ đế đã cho đóng một đơn vị hành chính quân quản (vì thứ sử có cầm cờ tiết, biểu thị cho tình trạng chiến tranh) tại Thương Ngô. Điều này ghi nhận tình huống là quân Hán chưa bao giờ với tới Giao Chỉ. Thứ hai, là sự kiện Vương Mãng đày cha con Đổng Cung và Khổng Hương hầu Phó Yến cùng gia thuộc đi Hợp Phố. Việc Mãng chỉ đày những gia đình này tới Hợp Phố, tuy không phải quyết định, nhưng cũng biểu thị biên cương tối đa của nhà Hán thời Vương Mãng chưa vượt quá Hợp Phố. Thứ ba, đoạn nhận xét của Tư Mã Thiên trong Sử ký 129 tờ 9b2 về “Phiên Ngung cũng một đô hội”. Đây là khá khác thường, bởi vì chỉ một so sánh thống kê đơn giản thôi cũng đủ cho thấy về mặt nhân khẩu Phiên Ngung chưa phải là một “đô hội” đáng kể, cứ Tiền Hán thư 28 hạ, tờ 9b2-10b10 thì Nam Hải có 6 huyện mà chỉ có gần 95 nghìn khẩu, vậy mỗi huyện, trong đó có Phiên Ngung trung bình chỉ có trên dưới 15 nghìn dân. Trong khi Giao Chỉ có 10 huyện, mà có tới 750 nghìn khẩu, mỗi huyện từ đó có đến 75 nghìn khẩu, gần bằng với cả quận Nam Hải, thế mà Sử ký lẫn Tiền Hán thư lại bảo “Phiên Ngung là một đô hội” thì không khác thường sao được?

Trong phần đế kỷ, Tiền Hán thư 12 tờ 2a2-4 chỉ ghi: “Nguyên Thỉ năm thứ 1 (1 sdl) mùa xuân tháng giêng, Việt Thường thị trùng dịch dâng trĩ trắng một con, trĩ đen hai con, vua xuống chiếu sai Tam công đem cúng tôn miếu. Quần thần tâu nói Đại tư mã Vương Mãng công đức sánh Châu Công, ban hiệu An Hán công” nhưng đã không nói rõ lý do. Truyện Vương Mãng ở Tiền Hán thư 99 thượng tờ 5a11-b7 mô tả kỹ hơn: “Mãng mới bảo Ích Châu khiến mọi rợ ngoài biên tái dâng trĩ trắng. Nguyên Thỉ năm thứ 1, tháng giêng, Mãng bạch thái hậu xuống chiếu đem trĩ trắng cúng tôn miếu”. Thế đã rõ, việc “Việt Thường thị dâng trĩ trắng 1 con” vào năm 1 sdl không phải do Việt Thường thị chủ động tự ý đem đi, mà có sự gợi ý của Ích Châu và Ích Châu đến lượt nó lại thi hành lệnh của Vương Mãng, tìm cho được nước Việt Thường thị dâng trĩ trắng, giống như sự việc đã xảy ra cho Châu Công Đán thời Châu Thành vương trước đó hơn cả ngàn năm, để có thể sánh Vương Mãng với Cơ Đán. Cho nên, tuy chỉ ghi lệnh cho “Ích Châu khiến mọi rợ ngoài biên tái dâng trĩ trắng” cũng xác nhận một sự thực là Việt Thường thị quả là một quốc gia đang tồn tại vào năm 1 sdl và cả Vương Mãng lẫn Ích Châu đều biết đến nó, chứ không phải đám quan lại Ích Châu bày đặt một Việt Thường thị không có để lừa dối Vương Mãng. Đặc biệt hơn nữa, khi nhận được trĩ, thái hậu và Mãng đã đem cáo tôn miếu, vì thế càng không có chuyện bày đặt mới nói, hơn nữa việc dâng trĩ trắng ấy là để tạo uy tín cho Vương Mãng đối với quan và dân Trung Quốc nên càng không thể dối.

Điều may mắn cho chúng ta là có một người không những sống ở miền nam Trung Quốc mà có một thời gian dài sống ở nước ta, đó là Tiết Tôn (180-243). Trong lời giải thích cho chữ Việt Thường trong Lưỡng đô phú của Trương Hành, mà Tiêu Thống cho chép lại trong Văn tuyển, Tiết Tôn viết “nay Cửu Chân”. Như thế đối với Tiết Tôn, Việt Thường hay Việt Thường thị là Cửu Chân. Tiểu sử của Tôn trong Ngô chí 8 tờ 6a8-8a13 nói Tôn đến ở nước ta từ nhỏ với bà con, rồi theo Lưu Hy học và ra làm việc với Sĩ Nhiếp (137-226) cho tới năm 210. Cho nên khi Tôn viết “Việt Thường nay Cửu Chân” xác định này có một giá trị thực tế cao, có thể tin cậy được. Xác định Việt Thường là Cửu Chân đưa ta đến một số kết luận. Thứ nhất, quốc gia Việt Thường này cho đến năm 1 sdl vẫn còn tồn tại và có quan hệ ngoại giao ít nhiều với Trung Quốc, qua việc biếu trĩ cho vua Bình đế. Thứ hai, Việt Thường là tên một nước độc lập, mà sau năm 43, khi Mã Viện đã đánh bại Hai Bà Trưng, một bộ phận đất đai đã biến thành Cửu Chân. Thứ ba, sự tồn tại quốc gia Việt Thường độc lập đó sẽ giải thích và được chứng minh bởi việc có mặt của bộ Việt luật, mà Mã Viện phải “điều tấu hơn mười việc” cho hợp với Hán luật, sau khi đánh bại Hai Bà Trưng.


* Tài liệu tham khảo và viết tắt

– Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 2011 (Tt)

– Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 2009

– Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb. Thuận Hóa, năm 2005 (Vsl)

– Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb. TP Hồ Chí Minh, năm 1993

– Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 1997 (Tb)

– Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo Dục, năm 1998 (Cm)

– Lê Tắc, An Nam chí lược, Nxb. Lao Động, năm 2009 (Ancl) 

– Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Trịnh Đình Rư dịch, Nxb. Hồng Bàng, năm 2012 (Vđul)

– Đại Nam nhất thống chí, 5 tập, Nxb. Thuận Hóa, năm 2006

– Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb. Giáo Dục, năm 2005

– Ngô Thì Sĩ, Việt sử tiêu án, Nxb. Văn Sử, năm 1991

– Tư Mã Thiên, Sử ký, tập 1, Phan Ngọc dịch, Nxb. Văn Học, năm 2018 (Sk, t.1)

– Tư Mã Thiên, Sử ký, tập 2, Phan Ngọc dịch, Nxb. Văn Học, năm 2018 (Sk, t.2)

– Tư Mã Thiên, Sử ký, Phạm Hồng dịch, Nxb. Văn Học, năm 2016 (Skph)

– Châu Hải Đường, An Nam Truyện ghi chép về Việt Nam trong chính sử Trung Quốc xưa, Nxb. Hội Nhà Văn, năm 2018 (Ant)

– Trần Thọ, Tam quốc chí, Bùi Thông dịch, bản pdf (Tqc)

– Nguyễn Văn Thịnh, Hoàng Văn Lâu, Phạm Văn Ánh, Văn bia thời Lý, Nxb. Đại Học Quốc Gia Hà Nội, năm 2010 (Vbtl)

– Đinh Khắc Thuân, Văn bia Hán Nôm Việt Nam từ khởi thủy đến thời Lý Trần, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 2017 (Vbhnvnlt)

– Đặng Công Nga, Những cột kinh phật Hoa Lư thế kỷ X, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6.2010

– Thơ văn Lý Trần, tập 1, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 1977 (Tvlttm)

– Lâm Giang, Phạm Văn Thắm, Phạm Thị Thoa, Văn bia thời Lý Trần, năm 2007, bản pdf

– Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, Nxb. Tổng Hợp TPHCM, năm 2006 (Lđtk)

– Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb. Phương Đông, năm 2005 (Ncvtuta)

– Lê Mạnh Thát, Lịch sử phật giáo Việt Nam, tập 1, Nxb. Thuận Hóa, năm 1999

– Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga dịch, Nxb. Văn Học, năm 1990

– Nguyễn Lang, Việt Nam phật giáo sử luận, Nxb. Văn Học, năm 2014

– Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nxb. Hà Nội, năm 2010 (Ltk)

– Hà Văn Tấn, Chữ trên đá chữ trên đồng minh văn và lịch sử, Nxb. Tri Thức, năm 2019

– Hà Văn Tấn, Về tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn thắng ở thế kỷ X, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1.2004 (Vtnckp)

– Phạm Lê Huy, Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường, Luận án tiến sĩ lịch sử, Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2017 (Lats)

– Phạm Lê Huy, Về một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 9.2009 (Tlanttđ)

– Phạm Lê Huy, Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 12.2012 (Kndt)

– Phạm Lê Huy, Trần Quang Đức, Khảo cứu về Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh (1113), Tạp chí Hán Nôm, số 4.2013 (Tlcskcm)

– Phạm Lê Huy, Nhân Thọ xá lợi tháp và văn bia tháp Xá Lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh, nguồn link http://phamlehuy.blogspot.com/2013/04 (Ntxlt)

– Phạm Lê Huy, Tin đồn về Đại Việt trên đất Tống, nguồn link http://phamlehuy.blogspot.com/2013/12 (Tđvđv)

– Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nxb. Văn Hóa Thông Tin, năm 2005 (Lscđvn)

– Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Khoa Học Xã Hội, năm 2017 (Đnvnqcđ)

– Nguyễn Phúc Anh, Về vấn đề nguyên quán của Lí Công Uẩn: Từ góc nhìn sử liệu, nguồn link http://nguyenphucanh.net (Nqclcu)

– Nguyễn Hải Kế, Về gốc/nguồn Lý Công Uẩn, (qua danh hiệu “Hiển khánh vương” và “Gốc người Mân”), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 12.2009

– Hoàng Văn Lâu, Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu, Tạp chí Hán Nôm, số 1.1996

– Hoàng Văn Lâu, Về mộ chí Thái phó Lưu Khánh Đàm, Thông báo Hán Nôm học, năm 1996

– Lâm Giang, Tấm bia đời Lý viết về Lưu Khánh Đàm, Tạp chí Hán Nôm, số 4.2000

– Lâm Giang, Tìm hiểu Lưu Khánh Đàm qua tư liệu Hán Nôm hiện có ở địa phương, Tạp chí Hán Nôm, số 6.2002

– Bửu Cầm, Khúc Thừa Dụ và phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời Đường, Tạp chí Văn Hóa Nguyệt San, số 78.1963, bản pdf

– Hoàng Mai Hương, Bài ký chùa Diên Hựu, Thông báo Hán Nôm học, năm 2003 (Bkcdh)

– Mai Hồng, Về vị thần thờ ở đền Bạch Mã phố Hàng Buồm, Hà Nội, Tạp chí Hán Nôm, số 1.1996

– Keith Weller Taylor, Việt Nam khai quốc, Lê Hồng Chương, Đinh Từ Bích Thủy dịch, bản pdf

– Momoki Shiro, Những người đàn ông ngoài hoàng gia ở triều đình nhà Lý, nguồn link http://chuyencuachi.blogspot.com/2010/02

– Trần Việt Bắc, Giao Chỉ và Tượng Quận, nguồn link http://www.bienkhoi.com/so-34

– Trần Việt Bắc, Tìm hiểu sách Đại Việt sử lược, nguồn link http://www.bienkhoi.com/so-33

– Đặng Hùng, Long Hưng đất phát nghiệp vương triều Trần, Nxb. Hội Nhà Văn, năm 2018

– Phan Huy Lê, Khảo cứu lại cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, Văn hóa Nghệ An, số 146-147-148, năm 2009

– Lê Mạnh Chiến, Phải chăng khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm 713?, Văn hóa Nghệ An, số 230, năm 2012

– Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt: Một lối nhìn khác, năm 2002, bản pdf

– Tạ Chí Đại Trường, Việt Nam ở thế kỷ X: Tài liệu để tìm hiểu thời đại, Tạp chí Xưa và Nay, số 369.2010

– Trần Trọng Dương, Văn bia Đại Tùy – Thứ sử Lê hầu và Lịch sử Việt Nam thế kỷ 6-7, Suối nguồn 15, Nxb. Hồng Đức, năm 2014

– Nguyễn Minh Triết, Hình tượng rồng trong văn hóa Việt, bản pdf

– Chu Văn Khánh, Lịch Tre của người Mường, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 5.2001 (Ltcnm)

– Trống đồng Việt Nam giá trị lịch sử và nghệ thuật, Nxb. Văn Hóa Dân Tộc, năm 2015 (Tđvn)

– Phạm Quốc Quân, Tiền kim loại Việt Nam, năm 2005, bản pdf

– Vu Hướng Đông, Tiền đúc thời xưa ở Việt Nam qua ghi chép của Hồng Tuân về đồng tiền thời Đinh Lê trong sách Tuyền chí, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 8.2006

– Tài liệu sử của Trung Quốc, nguồn link https://zh.wikisource.org; https://ctext.org

 

[1] Độc giả xem thêm Giao Chỉ và Tượng Quận của tác giả Trần Việt Bắc

[2] Độc giả xem thêm Lịch sử cổ đại Việt Nam của học giả Đào Duy Anh

[3] Độc giả xem thêm Lục Độ tập kinh và Lịch sử khởi nguyên dân tộc ta của tác giả Lê Mạnh Thát

[4] Độc giả xem thêm Lịch sử cổ đại Việt Nam của học giả Đào Duy Anh

[5] Độc giả xem thêm Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của tác giả Lê Mạnh Thát

[6] Độc giả xem thêm Đất nước Việt Nam qua các đời của học giả Đào Duy Anh

[7] Độc giả xem thêm Lịch sử Phật giáo Việt Nam của tác giả Lê Mạnh Thát

[8] Độc giả xem thêm Việt Nam khai quốc của học giả K W Taylor

[9] Độc giả xem thêm Nhân Thọ xá lợi tháp và văn bia tháp Xá Lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh của tác giả Phạm Lê Huy

[10] Độc giả xem thêm Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường của Tiến sĩ Phạm Lê Huy

[11] Độc giả xem thêm Đất nước Việt Nam qua các đời của học giả Đào Duy Anh

[12] Độc giả xem thêm Khảo cứu lại cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan của tác giả Phan Huy Lê

[13] Độc giả xem thêm Phải chăng khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm 713 của tác giả Lê Mạnh Chiến

[14] Độc giả xem thêm Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường của Tiến sĩ Phạm Lê Huy

[15] Độc giả xem thêm Một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường của tác giả Phạm Lê Huy

[16] Độc giả xem thêm Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường của Tiến sĩ Phạm Lê Huy

[17] Độc giả xem thêm Khúc Thừa Dụ và phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời Đường của tác giả Bửu Cầm

[18] Độc giả xem thêm Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu của tác giả Hoàng Văn Lâu

[19] Độc giả xem thêm Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh của học giả Lê Mạnh Thát

[20] Độc giả xem thêm Tiền đúc thời xưa ở Việt Nam qua ghi chép của Hồng Tuân về đồng tiền thời Đinh – Lê trong sách Tuyền chí của tác giả Vu Hướng Đông

[21] Độc giả xem thêm Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt: Một lối nhìn khác của tác giả Tạ Chí Đại Trường

[22] Độc giả xem thêm Việt Nam ở thế kỷ X: Tài liệu để tìm hiểu thời đại của tác giả Tạ Chí Đại Trường

[23] Độc giả xem thêm Về gốc/nguồn Lý Công Uẩn của tác giả Nguyễn Hải Kế

[24] Độc giả xem thêm Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh của học giả Lê Mạnh Thát

[25] Độc giả xem thêm Về vấn đề nguyên quán của Lí Công Uẩn: Từ góc nhìn sử liệu của tác giả Nguyễn Phúc Anh

[26] Độc giả xem thêm Chữ trên đá chữ trên đồng minh văn và lịch sử của tác giả Hà Văn Tấn

[27] Độc giả xem thêm Những người đàn ông ngoài hoàng gia ở triều đình nhà Lý của tác giả Momoki Shiro

[28] Độc giả xem thêm Về mộ chí Thái phó Lưu Khánh Đàm của tác giả Hoàng Văn Lâu

[29] Độc giả xem thêm Tìm hiểu Lưu Khánh Đàm qua tư liệu Hán Nôm hiện có ở địa phương của tác giả Lâm Giang

[30] Độc giả xem thêm các bản dịch Hoàng Việt thái phó Lưu quân mộ chí

[31] Độc giả xem thêm Văn bia Đại Tùy – Thứ sử Lê hầu và Lịch sử Việt Nam thế kỷ 6-7 của tác giả Trần Trọng Dương

[32] Độc giả xem thêm Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý của học giả Hoàng Xuân Hãn

[33] Thơ văn Lý Trần tập một để là Trưởng bà Cảm. Văn bia thời Lý do nhóm Nguyễn Văn Thịnh dịch chú để là Trưởng bà Cảm Thánh.

[34] Ghi chú trong bản dịch Việt sử lược của GS Trần Quốc Vượng

[35] Độc giả xem thêm Tin đồn về Đại Việt trên đất Tống của tác giả Phạm Lê Huy

[36] Tìm hiểu Lưu Khánh Đàm qua tư liệu Hán Nôm hiện có ở địa phương của tác giả Lâm Giang

[37] Độc giả xem thêm Long Hưng đất phát nghiệp vương triều Trần của tác giả Đặng Hùng

[38] Độc giả xem thêm Về vị thần thờ ở đền Bạch Mã phố Hàng Buồm, Hà Nội của tác giả Mai Hồng

[39] Hình ảnh lấy từ trang web bacsinguyenxuanquang.wordpress.com

[40] Hình ảnh lấy từ trang web covatvietnam.info

[41] Hình ảnh lấy từ trang web chimviet.free.fr

[42] Độc giả xem thêm Lịch tre của người Mường của tác giả Chu Văn Khánh

[43] Độc giả xem thêm Lịch sử phật giáo Việt Nam của học giả Lê Mạnh Thát

Bình luận về bài viết này