Sử ta, chép hoài chưa trúng- Bài 4

Đỗ Ngọc Giao

   19-Mar-2026

4.     Chuyện kỷ nhà Triệu: khi sử gia ôm chặt thiên kiến

4.1         Định nghĩa

Thiên kiến (tiếng Anh bias) là một thái độ hay gặp trong cuộc sống, thí dụ ta có hai cách A và B để xét điều gì hay làm việc gì đó, nhưng ta luôn ưa dùng A mà ghét dùng B. Thiên kiến làm cho sự vật qua con mắt của ta trở nên méo mó:

Thương thì củ ấu cũng tròn,

Chẳng thương thì trái bồ hòn cũng vuông.

Trong sử học có những loại thiên kiến như sau:

  • quyền lực (power),
  • ý thức (ideology),
  • tôn giáo (religion),
  • nam nữ (gender),
  • chủ nghĩa dân tộc (nationalism),
  • chủ nghĩa thực dân (colonialism).

Lấy thí dụ ‘chủ nghĩa dân tộc’. Sử gia mắc thiên kiến này ưa đề cao ‘văn hóa lâu đời’, ‘luôn chống ngoại xâm’, ‘độc nhứt vô nhị’, bằng cách tạo ra những câu chuyện lạ lùng với vai chánh là những vị anh hùng nửa hư nửa thực trong lịch sử. Loại sử này ít nói kỹ những biến cố phức tạp mà hay mô tả những cặp đối chọi (binary opposition) như ta với địch, anh-hùng với nghịch-tặc, thạnh với suy.

Những loại thiên kiến đó làm cho lịch sử chẳng những sai lệch trên sách vở mà còn sai lệch trong ký ức của xã hội, bởi vậy xã hội đó khó lập được ‘cái riêng’ (self) để tương tác với các xã hội khác.[1]

Sử gia cũng có thể làm cho sử bị sai lệch bằng những việc này:

  1. bóp méo (misinterpret) chứng cớ, thí dụ sử gia đi tìm chứng cớ cho thấy một việc có thể xảy ra, mà bỏ qua chứng cớ cho thấy việc đó không thể xảy ra.
  2. bỏ qua những sự kiện có nghĩa (significant facts) liên quan tới chủ đề, thí dụ sử gia nêu ra nết tốt của một người mà làm lơ tật xấu của họ—nói nôm na là ‘chơi hổng đẹp’ (unfair).
  3. ngầm muốn nói những sự kiện mà có chứng cớ cho thấy là trật, thí dụ sử gia mô tả một cuộc nổi loạn là ‘đấu tranh giai cấp’ khi chẳng có ‘giai cấp’ nào ở đó hết.
  4. giải thích một biến cố lịch sử bằng quan hệ ‘nhơn quả’ mà chẳng nêu hết những nguyên nhơn quan trọng, làm cho người đọc hiểu sai cái quá trình mà biến cố đó nảy ra.

Nếu những việc trên xảy ra ngẫu nhiên, do sơ suất, hiểu lầm, thì đó chưa phải thiên kiến, mà là sử gia còn kém tay nghề. Song le, nếu sử gia cố ý làm những việc đó, nói cách khác là có ‘động lực’ (motivated) để làm như vậy, thì đó là thiên kiến. Thí dụ sử gia viết ‘truyện’ (biography) của ông A, một cách khéo léo, sao cho ông A nổi tiếng, và nhờ ông A nổi tiếng mà sử gia cũng được lợi cho mình, thì chắc chắn đó là thiên kiến, một loại thiên kiến ‘cá nhơn’ (personal bias).

Còn một loại nữa gọi là thiên kiến ‘cộng đồng’ (cultural bias), khi người ta tạo nên một câu chuyện lịch sử để cho một cái cộng đồng cùng được lợi, mặc dù về sau có bằng chứng rằng chuyện đó không có thực.[2]

Ở bài này, ta tìm hiểu thiên kiến trong sử ta, qua chuyện ‘kỷ nhà Triệu’.

4.2         Truyện nước Nam Việt trong sử Tàu

Bổn dịch truyện này [và nguyên cuốn Sử ký] đã có sẵn trên internet, ở đây tôi nêu thêm đôi chút dữ liệu liên quan cho độc giả hiểu rõ hơn.

4.2.1     Dữ liệu địa lý

Ta biết rằng, trước công nguyên, đồng bằng sông Hồng vẫn còn là một vùng đất ngập nước,[3] chẳng khác chi một cái vịnh cạn trong địa đồ của người phương tây đầu thế kỷ 16 (hình 1).

Hình 1. địa đồ Alonso de Santa Cruz (1540).[4]

Một vùng đất ngập nước thì ắt là chưa thuận lợi để lập nên một cái làng ở đó, chớ đừng nói một cái nước. Vậy ta chắc rằng:

Trước công nguyên, chẳng có cái ‘nước ta’ nào hết ở nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng.

Hình 2 là lãnh thổ nước Tần (221–206 BC).

Hình 2.[5]

Lãnh thổ nước Tần chỉ tới mé trên nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng. Vậy ta chắc rằng:

Chẳng có chuyện trào Tần đánh chiếm ‘nước ta’ nào hết ở nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng.

Hình 3 là nước Nam Việt (204–111 BC) gồm ba quận của nước Tần bị Triệu Đà làm phản chiếm lấy lập nên.

Hình 3.[6]

Lãnh thổ Nam Việt cũng chỉ tới mé trên nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng. Vậy ta chắc rằng:

Chẳng có chuyện Triệu Đà đánh chiếm ‘nước ta’ nào hết ở nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng.

Hình 2 và 3 cho thấy Nam Việt đại khái gồm Quảng Đông và Quảng Tây ở đồng bằng Châu-giang miền nam nước Tàu ngày nay. Những quận mà trào Hán đặt ra sau khi chiếm đặng Nam Việt, thí dụ Giao Chỉ, Cửu Chơn, Nhựt Nam, thì cũng ở bên đó.

Vùng đó về sau là nơi xảy ra biến cố ‘hai bà Trưng’.3

4.2.2     Dữ liệu văn hóa

Mục này lấy theo Olivia Milburn, nhà Hán-học (sinologist) người Anh.[7]

Từ thời Xuân-thu (771–475 BC), vua chúa bên Tàu đã cho xây những cái ‘đài’ [bằng cây trên nền đất] dùng làm nơi quan sát, đi săn, hội họp. Thí dụ:

  • Trang-công 莊公 (r 693–662 BC) nước Lỗ 鲁 xây Quỳ toàn đài 逵泉臺,
  • vua Hạp-lư 闔閭 (r 514–496 BC) và vua Phù-sai 夫差 (r 495–473 BC) nước Ngô 吳 xây Cô tô đài 姑蘇臺,
  • vua Câu-tiễn 勾踐 (r 496–465 BC) nước Việt 越 xây Trai giới đài 齋戒臺.

Sau khi nước Việt bị nước Sở đánh bại lối 330 BC, dòng dõi vua Câu-tiễn bỏ đi nơi khác lập những nước Việt mới, thí dụ Mân Việt 閩越, và họ vẫn giữ truyền thống xây đài: ngày nay ở Phước Kiến người ta còn thấy dấu tích những cái đài do vua Mân Việt xây.

Nam Việt thì thực ra khác gốc với những nước Việt kia, bởi Triệu Đà chẳng phải dòng dõi vua Câu-tiễn mà là người Tàu. Dù vậy, Triệu Đà vẫn bắt chước các vì vua Việt cho xây 4 cái đài ở Phiên Ngung 番禺 (nay là Quảng Châu), lần lượt:

  • Trường lạc đài 長樂臺 để ghi nhớ việc trào Hán phong vương cho mình,
  • Bạch lộc đài 白鹿臺 dùng cho việc đi săn,
  • Việt vương đài 越王臺 chưa rõ dùng cho việc gì,
  • Triều Hán đài 朝漢臺 để ngày đầu mỗi tháng Triệu Đà lên đó vọng bái Hán đế.

Âu Đại Nhậm 歐大任 (1516–1595), nhà thơ thời trào Minh, có bài Triều Hán đài hoài cổ 朝漢臺懷古 như sau.

歐駱猶歸粤

河山尚隔秦

誰令南海尉

終作漢藩臣

phiên âm:

Âu Lạc do quy Việt

hà sơn thượng cách Tần

thùy linh Nam Hải úy

chung tác Hán phiên thần

dịch nghĩa:

Âu Lạc vẫn về Việt*

núi sông vẫn cách Tần

ai xui Nam Hải úy

lại làm Hán phiên thần

* Việt ở đây là ‘Lãnh Nam’ chớ chẳng phải ‘đồng bằng sông Hồng’.

Nhận xét

Triệu Đà cho xây Triều Hán đài ngay trên đất Nam Việt, đó là bằng chứng rằng ông ta coi mình như bề tôi (thần) của trào Hán và Nam Việt bất quá cũng như một cái ‘châu’ của trào Hán mà thôi.

Với lập trường như vậy, Triệu Đà khác hẳn những vì vua của nước ta sau này, thí dụ Đinh Tiên Hoàng: dù nhận sắc phong của trào Tống nhưng luôn coi mình là vua một nước độc lập, chớ chẳng bao giờ coi mình như bề tôi của trào Tống.

4.3         Truyện nước Nam Việt trong sử ta

Truyện này sử gia ta theo thời gian diễn giải hai lối khác nhau.

4.3.1     Thời xưa

Ngô Sĩ Liên, sử gia trào Lê (thế kỷ 15), đưa ‘kỷ nhà Triệu’ vô sử ta,[8] cho rằng:

  • Trước công nguyên, ở nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng, đã có ‘nước ta’ với tên gọi lần lượt Văn Lang, Âu Lạc.
  • Triệu Đà lập nước Nam Việt với một phần là Âu Lạc, vậy Nam Việt cũng là ‘nước ta’ và Triệu Đà cũng là một vì vua của ‘nước ta’.

Và ‘nước ta’ có lịch sử trước công nguyên như vầy:

Hùng (Văn Lang) → Thục (Âu Lạc) → Triệu (Nam Việt) → Bắc thuộc

Nhận xét

Ngô Sĩ Liên viết ‘biểu dâng sách’ có mô tả cách chép sử như sau.8

Dùng để chép quốc thống khi tan hợp

Dùng để rõ chính trị khi thịnh suy

Chép chuyện chính trị các vua đời trước

Thường chống chọi các triều phương bắc

Vẫn dõi truyền một cõi trời nam

Ức muôn năm dòng chính đổi trao núi cao, biển cả

Năm bảy lớp sử xưa rực rỡ chúa thánh, vua hiền

Dù hay hèn có lúc chẳng đều

Nhưng hào kiệt chưa đời nào thiếu

Đó là lối chép sử theo thiên kiến ‘chủ nghĩa dân tộc’ nêu ở 4.1.

Sử gia cũng cho biết:

Nghĩ chí cũ chưa đền muôn một

Đem sách xưa thêm sửa ít nhiều

Đủ sự tích vua tôi các triều

Bầy duyên cớ thịnh suy mọi lẽ

Nói trắng ra: sử gia muốn đền ơn nhà vua (Lê Thánh Tông) bằng cách sửa đổi tài liệu xưa để chép thành một cuốn sử mới.

Đó lại là thiên kiến ‘cá nhơn’.

Bởi hai loại thiên kiến nêu trên, mà sử gia muốn tạo ra một ‘nước ta’ lâu đời, có lãnh thổ thiệt lớn (gồm cả miền Lãnh Nam), luôn chống ngoại xâm, qua những cặp đối chọi: bắc-nam, thạnh-suy, tan-hợp.

Sử chép lối này thì tức nhiên bị sai lệch.

4.3.2     Thời nay

Sử gia thời nay,[9] cho rằng:

  • Trước công nguyên, ở nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng, đã có ‘nước ta’ với tên gọi lần lượt Văn Lang, Âu Lạc.
  • Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc ‘nước ta’, gom vô Nam Việt [mà Triệu Đà coi như một ‘châu’ của trào Hán].

Và ‘nước ta’ có lịch sử trước công nguyên như vầy:

Hùng (Văn Lang) → Thục (Âu Lạc) → Bắc thuộc

Nhận xét

Sử chép lối này thì cũng bị sai lệch, vì trái với dữ liệu địa lý nêu ở 4.2.1, theo đó Triệu Đà chẳng có đánh chiếm ‘nước ta’ nào hết ở nơi ngày nay là đồng bằng sông Hồng.

Nếu sử gia chưa biết dữ liệu đó, thì ta hẵng tin vậy (give him the benefit of doubt). Còn nếu sử gia đã biết dữ liệu đó, nhưng vẫn cố ý chép như trên, thì đây là thiên kiến ‘cá nhơn’: đi tìm chứng cớ cho thấy một việc có thể xảy ra, mà bỏ qua chứng cớ cho thấy việc đó không thể xảy ra.

4.4         Thảo luận

Truyện nước Nam Việt trong sử Tàu thì đâu có chi khó hiểu: đó là một biến cố xảy ra trong lịch sử nước Tàu hồi thời Tần-Hán ở miền Lãnh Nam.

Rủi thay, sử gia ta từ xưa tới nay đều hiểu khác đi. Vì ai cũng mắc phải thiên kiến.

Vậy mà lạ thay, thời nay người ta vẫn muốn hiểu truyện Nam Việt theo lối thời xưa. Có một vị còn lấy sử nước Mỹ ra biện giải, cho rằng chuyện ‘Triệu Đà người Tàu làm vua nước Nam Việt độc lập với vua Tàu’ thì cũng giống như chuyện ‘Washington người Anh làm tổng thống nước Mỹ độc lập với vua Anh’ vậy thôi.

Song le, hai chuyện đó có khác một chi tiết ghê gớm.

Đó là Triệu Đà xây đài ngay trên đất Nam Việt để ngày đầu mỗi tháng lên đó trông về phương bắc mà lạy Hán Văn Đế.

Ngược lại, Washington chẳng xây cái đài nào trên đất Mỹ để ngày đầu mỗi tháng lên đó trông về phương đông mà lạy vua George III.

Vẫn là một thí dụ nhìn đời qua cặp mắt của một người ôm chặt thiên kiến ‘cá nhơn’ mà thôi.

Giang-sơn dễ đổi, Thiên-kiến khó dời!


[1] M. Gopi, R. Murugan. The politics of the past: interrogating bias in historical narratives. Historical Research Journal of History and Archaeology, vol 1, no 3 (2023).

[2] C. Behan McCullagh. Bias in historical description, interpretation, and explanation. History and Theory, vol 39, no 1 (2000).

[3] https://nghiencuulichsu.com/2026/02/01/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-2/

[4] https://www.myoldmaps.com/

[5] Kathrin Leese-Messing. The Qin and Han Empires. In Handbook of Ancient Afro-Eurasian Economies, ed Sitta von Reden (2020).

[6] SY, CC BY-SA 4.0, via Wikimedia Commons.

[7] Olivia Milburn. The Towers of Yue. Acta Orientalia 2010: 71.

[8] Đại Việt sử ký toàn thơ. Mạc Bảo Thần dịch (1945).

[9] Vũ Duy Mền et al (2017) Lịch sử Việt Nam, tập 1: từ khởi thủy đến thế kỷ 10.

Bình luận về bài viết này