
Hồ Bạch Thảo
Vào tháng trước Tuần phủ Quảng Tây nhận được tin nhà Tây Sơn cử sứ bộ Nguyễn Văn Điển sang cống, đến ngày 7 tháng 6 [7/7/1791] mới đến tỉnh Bắc Giang; xét về hành trình không thể nào đến Nhiệt Hà kịp vào đầu tháng 8 để cùng với sứ bộ Trần Ngọc Thị dự yến; nên viên Tuần phủ sắp xếp cho đi từ từ để đến dịp lễ phong ấn 30 tháng chạp đến kinh đô. Giải pháp này được Vua Càn Long chấp thuận:
“Ngày 15 tháng 7 năm Càn Long thứ 56 [14/8/1791]. Dụ Quân cơ đại thần; Trần Dụng Phu tâu:
‘Quyền Thông phán Long Châu Vương Phủ Ðường bẩm xưng vào ngày 7 tháng 6 [7/7/1791] nhận được tờ bẩm của Cống sứ Nguyễn Văn Ðiển cho biết rằng đường mưa ngập trở ngại, khó đi lại; hiện đang ở vùng Cần Doanh [Cần Trạm, Bắc Giang] chờ nước rút thì đi tiếp. Tra Cần Doanh thuộc Trấn Bắc, An Nam, cách ải Nam Quan hơn 400 lý. Viên Cống sứ bị mưa đình trệ, không định được ngày đến quan ải, quyết không thể đến Nhiệt Hà vào đầu tháng 8. Nên vẫn tuân theo chiếu chỉ trước, đợi lúc đến quan ải lệnh đi từ từ, đến trước ngày lễ phong ấn thì đến kinh đô.’
Nguyễn Văn Ðiển chưa báo ngày đến quan ải, lúc này đến ngày lễ phong ấn ngày tháng còn xa; sau này khi đến quan ải hãy thung dung đi đứng từ từ để trước ngày lễ phong ấn đến kinh đô, cùng các Sứ thần Phiên nước ngoài dự yến tiệc, thì tương đối ổn thỏa. Nay truyền dụ cho các Tổng đốc, Tuần phủ trên đường Bồi thần đi lúc này chưa cần chuẩn bị; chờ sau khi viên Bồi thần đến quan ải, biết được tin tức về hành trình, thì theo lệ mà liệu biện. Lúc đi qua địa phương, lệnh cho đi từ từ, thì cũng không chậm.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1382, trang 36)
Riêng sứ bộ Trần Ngọc Thị vào đầu tháng 8 đến Nhiệt Hà; được Vua Càn Long ban yến chung với sứ thần các nước và các Vương, Công, Đại thần, trong 5 ngày:
“Ngày 4 Bính Ngọ tháng 8 năm Càn Long thứ 56 [1/9/1791]. Thiên tử ngự tại Quyển A Thắng Cảnh, ban ẩm thực cho Vương, Công, Ðại thần tháp tùng; Vương, Bối lặc, Bối tử, Công, Ngạch phụ, Thai cát Mông Cổ; con của hãn Hàn Lý Tố Sắc Thản thuộc bộ tộc Cáp Tát Khắc (1) là Ha Nhĩ Tái; Thai cát Cổn Bố ,Ðỗ Nhĩ Bá Ðặc, Trát Tát Khắc; Thanh Hải ,Trát Tát Khắc; Bối tử Cố Sơn thuộc Xa Nhĩ Ðăng Ða Nhĩ Tế; Sắc Nhĩ Khả, Ðầu mục Ô Lương Hải; Bồi thần nước An Nam, Trần Ngọc Thị; đến ngày Canh Tuất đều bãi. (Cao Tông Thực Lục quyển 1384, trang 9)
Tiếp theo vào ngày 10 tháng 8 [7/9/1791] nhà Vua ban yến tại vườn Vạn Thọ; ngày 12 tháng 8 năm [9/9/1791] lại yến tiệc tại Quyển A Thắng Cảnh.
Đến ngày 13 tháng 8 sứ bộ Trần Ngọc Thị dự lễ khánh hạ, rồi chuẩn bị về nước:
“Ngày 13 tháng 8 năm Càn Long thứ 56 [10/9/1791]. Thiên tử ngự tại điện Ðạm Bạc Kính Thành; Vương, Công, Ðại thần tháp tùng; Vương, Bối lặc, Bối tử, Công, Ngạch phụ, Thai cát Mông Cổ; Sứ thần bộ lạc Hồi, bọn Bồi thần An Nam hành lễ khánh hạ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1384, trang 21)
Nhân mẹ Tổng đốc Phúc Khang An thọ 70 tuổi, Vua Quang Trung gửi quà mừng; viên Tổng đốc chiếu theo luật bầy tôi không giao thiệp việc riêng với người nước ngoài, nên không dám nhận. Sự việc tâu lên, Vua Càn Long đặc cách cho phép; lại còn đem lời phê vào tấu triệp gửi Phúc Khang An đưa cho Sứ thần Trần Ngọc Thị xem và căn dặn viên Sứ thần kể lại cho Vua Quang Trung nghe:
“Ngày 15 Ðinh Tỵ tháng 8 năm Càn Long thứ 56 [12/9/1791]. Dụ các Quân cơ đại thần; theo lời tâu của Phúc Khang An:
‘Nhận được thư của Nguyễn Quang Bình đề cập đến việc mẹ của thần 70 tuổi, cùng mang lễ vật chúc mừng. Tuy rằng đây là ý tốt, nhưng theo nghĩa bầy tôi không giao thiệp việc riêng với nước ngoài, thể chế không thể vượt, nên hiện tại dùng lời lẽ uyển chuyển phúc đáp. Tương lai sẽ đem cùng với lễ vật, mệnh Thành Lâm giao cho Trấn mục Lạng Sơn mang về.’
Việc này không khỏi quá đáng! Nguyễn Quang Bình giữ chức Phiên phong, cung kính thần phục, được hưởng ân quyến chẳng khác gì cận thần. Năm ngoái viên Quốc vương đến kinh đô chúc mừng, Phúc Khang An ngưỡng theo lòng thể tuất của Trẫm săn sóc nặng ơn, tận tâm lo liệu; trên đường đi, về trong mấy tháng; sáng, chiều trò chuyện, kết giao càng sâu; bạn bè giao tế vãng lai, tình người không thể bỏ. Huống gì ngày sinh nhật của thân mẫu Phúc Khang An, biện lễ chúc mừng, càng không thể từ chối, trái với ý tốt. Những đồ lễ nghi mà Nguyễn Quang Bình đưa đến, Phúc Khang An đáng thu nhận, rồi tìm cách đáp lễ nhiều, để tỏ tình báo đáp; không nên lấy nghĩa bề tôi không giao thiệp tư với ngoại Phiên rồi câu chấp. Trẫm phủ ngự trong ngoài không kỳ thị, bèn đem lời châu phê vào tấu triệp Phúc Khang An cho Bồi thần An Nam Trần Ngọc Thị tại gần đó xem và dặn kể lại cho Nguyễn Quang Bình hay; ngoài ra cũng dụ Phúc Khang An hay biết.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1384, trang 23-24)
Vua Càn Long nhận được lời tâu về việc An Nam mang binh thuyền giúp đánh bắt bọn cướp biển, bèn ban thưởng cho Vua Quang Trung cùng viên tướng chỉ huy cuộc hành quân là Ðô đốc Lê Văn Nhận:
“Ngày 3 Giáp Thìn tháng 10 năm Càn Long thứ 56 [29/10/1791]. Lại dụ:
Cứ theo lời tâu của các viên Tổng đốc, Tuần phủ Quảng Ðông Phúc Khang An, Quách Thế Huân rằng Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình đã điều động bọn Ðô đốc Lê Văn Nhận mang binh thuyền đến biển Quan Lan truy bắt thuyền cướp, đánh giết chìm xuống biển 20 tên, bắt sống 2 tên, đã đưa lên đất liền xử tử. Vẫn như lần trước đem thưởng, lại cho thưởng thêm để biểu thị sự cổ võ.
Bọn cướp biển tại Quảng Ðông, nhân quan quân nội địa truy kích gấp, trốn vào biển An Nam. Trước đây Phúc Khang An báo cho An Nam cùng một lần hợp đồng đánh bắt, nước này bèn điều bát quân lính, nhận rõ bọn giặc nơi đại dương để đánh bắt. Năm ngoái cứ theo nước này tâu, viên trấn tướng Phạm Quang Chương đánh bắt được giặc cướp, từng được gia thưởng. Nay lại được Nguyễn Quang Bình sai phái Ðô đốc Lê Văn Nhận, mang quân truy bắt giặc cướp, giết nhiều tên, bắt sống 2 tên; bèn đem xử tử, không chần chừ lưu lại. Thấy được viên Quốc vương cảm khích ân đức của Trẫm, ra sức báo đáp, thực đáng khen thưởng. Nay ban ơn thưởng cho Nguyễn Quang Bình 2 tấm đoạn hoa nạm vàng, 2 tấm đoạn bát ty, 1 bản hồng ni, 1 hộp trái cây khô, 1 hộp sửa, để biểu thị sự ưu đãi quyến luyến. Lê Văn Nhận được lệnh bắt cướp, nhận rõ công việc tuần tiễu, thuộc loại phấn dõng ra sức, nay ra lệnh gia ơn thưởng 2 tấm đoạn ngũ ty, để biểu thị sự tưởng lệ…” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1388, trang 4-5)
Nhà Thanh chuẩn bị mở cửa buôn bán tại biên giới, giao cho sảnh Long Châu trông coi, nhưng viên Thông phán phụ trách sảnh này cấp bậc thấp, nên Tổng đốc Phúc Khang An xin điều viên Đồng tri đến thay thế; được nhà Vua chấp thuận:
“Ngày 15 Bính Thìn tháng 10 năm Càn Long thứ 56 [10/11/1791]. Bộ Lại bàn, kèm theo lời Hiệp biện đại học sĩ Tổng đốc Lưỡng Quảng Công tước Phúc Khang An tâu:
‘ Long Châu thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Quảng Tây, giáp giới với An Nam; hiện tại mở cửa quan thông thương buôn bán, việc kê tra thương dân quan hệ nặng, chức phận Thông phán tương đối nhỏ, khó dựa vào để đàn áp. Tra thấy chức Ðồng tri phụ tá tại phủ Tầm Châu công việc nhàn, xin được cải thành Thông phán; riêng Thông phán Long Châu thì đổi thành Ðồng Tri; về tiền dưỡng liêm, bổng, phục dịch, tiền ăn vẫn như cũ…’
Bằng lòng theo lời xin.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1388, trang 28-29)
Khoảng đầu tháng 6, An Nam sai sứ bộ Nguyễn Văn Điển sang cống, vào dịp cuối năm sứ bộ đến chiêm bái Vua Càn Long tại cửa Tây Uyển, Bắc Kinh:
“Ngày 21 tháng 12 năm Càn Long thứ 56 [14/1/1792]. Thiên tử đến Doanh Ðài……Chánh sứ nước An Nam Nguyễn Văn Ðiển, Phó sứ Nguyễn Tiến….chiêm cận tại ngoài cửa Tây Uyển.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1393, trang 7)
Đến ngày lễ phong ấn 30 tháng chạp, sứ bộ An Nam đến dự và được ban yến:
“Ngày 30 Canh Ngọ tháng 12 năm Càn Long thứ 56 [23/1/1792]
Thiên tử ngự tại điện Bảo Hòa, ban cho các quan trong triều cùng ngoại Phiên yến tiệc…….Chánh sứ An Nam Nguyễn Văn Ðiển, Phó sứ Nguyễn Tiến…..đến nơi ngự tọa để được ban rượu thành lễ.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1393, trang 16-18)
Về nội bộ nhà Tây Sơn anh em xãy ra bất hòa. Trước đó về đất đai, Vua Quang Trung coi từ núi Hải Vân ra bắc; sau khi xua quân ra Bắc rồi chiến thắng quân Thanh, phe Vua Quang Trung chiếm hết chiến lợi phẩm, lại đòi thêm đất Quảng Nam. Phía Nguyễn Nhạc, tức Vua Thái Đức, bị kết án dâm ô với vợ Vua Quang Trung. Tình trạng hiềm khích đi đến cừu thù, Vua Quang Trung mang quân đánh, vây thành Qui Nhơn mấy tháng. Trong thành cố thủ, quân Vua Quang Trung cho xây núi đất, đặt đại bác bắn vào thành. Tình thế nguy cấp, Vua Thái Đức bèn trèo lên mặt thành nói “ Nồi da xáo thịt, lòng em sao nỡ thế!” Cả hai cùng hướng vào nhau khóc rống lên hồi lâu, rồi rút quân giảng hòa, lấy Bản Tân [ huyện Núi Thành, Quảng Nam] làm biên giới; từ Quảng Ngãi trở về nam là phần đất Vua Thái Đức. Từ khi anh em Tây Sơn bất hòa, lo phòng bị lẫn nhau, không còn dòm ngó đến miền nam nữa.
Riêng Vua Quang Trung lập Lê Thị Ngọc Hân làm Bắc cung Hoàng hậu, cho con đích là Quang Toản làm Thái tử. Thấy Nghệ An là giữa nước, quê quán tổ tiên tại đấy; bèn đắp thành dưới núi Kỳ Lân [cạnh phía tây núi Dũng Quyết, Vinh], làm lầu điện gọi là Trung Đô. Đổi thành Thăng Long là Bắc Thành; chia Sơn Nam thành 2 trấn Thượng, Ha; lỵ sở Sơn Nam Thượng tại Châu Cầu [Hà Nam], Sơn Nam Hạ tại Vị Hoàng [Nam Định]. Đất nước chia thành trấn, đặt chức Trấn thủ, Hiệp trấn; dưới trấn có huyện, coi về văn gọi là Phân tri, võ gọi là Phân suất. Đặt chức Thượng thư cho 6 bộ, dưới có các chức như: Thị trung ngự sử, Hiệp biện đại học sĩ, Đại học sĩ, Thị trung vvv…Dân chia làm 4 hạng: 9 tuổi đến 17 tuổi là hạng vị cập cách, 18 tuổi đến 55 tuổi là tráng hạng, 56 tuổi đến 60 tuổi là lão hạng, 61 trở lên là hạng lão nhiêu. Ruộng chia làm 3 bậc: Ruộng công, nhất đẳng mỗi mẫu nạp 150 bát thóc, nhị đẳng nạp 80 bát, tam đẳng nạp 50 bát; tiền tạp vật mỗi mẫu 1 tiền, tiền khoán làm kho mỗi mẫu 50 đồng. Ruộng tư, nhất đẳng mỗi mẫu nạp 40 bát thóc, nhị đẳng 30 bát, tam đẳng 20 bát; tiền tạp vật như lệ công điền, tiền làm kho 30 đồng.
Lại xét từ sông Gianh [Quảng Bình] trở ra bắc, hộ khẩu phần nhiều ẩn lậu, đòi dân có tên trong sổ họp lại, cấp cho mỗi người một cái thẻ gọi là tín bài, ghi họ tên, quê quán, điểm chỉ, đóng dấu ấn 4 chữ lớn “Thiên hạ đại tín”; ai không có thẻ là dân lậu, sung làm phu dịch.
Khi ấy giặc Tàu Ô tại Lưỡng Quảng bị quan quân nhà Thanh đánh đuổi, phải chạy đến qui phục. Vua Quang Trung thu nhận, kẻ đầu mục cho làm Tổng binh, lại thu nạp đảng Thiên Địa Hội chống Thanh, điều thuyền ra vào cướp phá; vì vậy vùng biển phía nam Trung Quốc không yên.
Riêng Lê Duy Chi em Cựu hoàng Lê Chiêu Thống chiếm cứ địa phương Tuyên Quang, Cao Bằng; từng cho người liên lạc với các dân tộc Vạn Tượng, Trấn Ninh [Xiêng Khoáng, Lào], Qui Hợp [Hương Khê, Hà Tĩnh], Trình Cao; mưu phá thành Nghệ An. Vua Quang Trung sai Đốc trấn Nghệ An là Trần Quang Diệu đem 5000 tinh binh đến đánh. Tháng 6 [1/7-30/7/1791] đánh được Trấn Ninh, diệt Trình Cao, Qui Hợp. Tháng 10 [27/10-25/11/1791] Quốc trưởng nước Vạn Tượng bỏ thành chạy, đuổi dài tận đến tận biên giới Xiêm La. Lê Duy Chi thế cùng, cuối cùng bị hại.
Trước kia vào cuối thời nhà Lê, một số châu, động tại Hưng Hóa, Tuyên Quang bị thổ ty nhà Thanh xâm chiếm, nhiều lần biện bạch mà không lấy lại được. Vua Quang Trung đưa thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng, xin định rõ về cương giới. Tổng đốc Lưỡng Quảng cho rằng cương giới đã định, bèn trả lại thư. Bởi vậy Vua Quang Trung không bằng lòng, bèn luyện tập quân lính, làm các hạng thuyền, ngầm có ý dòm ngó Lưỡng Quảng.
Bấy giờ trong nước đã yên, Vua lưu ý về đường học thuật, bèn đặt Sùng Chính viện, giao cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng. Vua kính trọng Phu tử, nên đặt Sùng Chính viện tại núi Nam Hoa nơi ông ở ẩn và giao cho khảo xét tài năng các Tư nghiệp, Đốc học trong nước:
“Chiếu cho La Sơn dật sĩ Nguyễn Thiếp được biết:
Ông tuổi đức đều cao, tất cả các sĩ phu đều trông ngóng như núi Thái Sơn và sao Bắc Đẩu. Nay trong nước đã yên, Trẫm toan hưng khởi chính học. Ông đã lấy học thuật biện rõ bên tà bên chính trong phép học, Trẫm rất vui lòng. Trẫm định đặt Sùng Chính thư viện tại Vĩnh kinh , tại núi Nam Hoa [Nam Kim, huyện Nam Đàn], Nghệ An, ban cho ông làm chức Sùng Chính viện Viện trưởng. Cho ông hiệu La Sơn Tiên sinh và giao cho ông chuyên coi việc dạy. Nhất định theo phép học Chu Tử (2), khiến cho nhân tài có thể thành tựu, phong tục trở lại tốt đẹp.
Từ rày, phàm trong các viên Tư nghiệp, Đốc học, mỗi năm nếu có ai học hay, hạnh tốt, thì sẽ kê quê quán, tên họ đạt đến thư viện, giao cho ông khảo xét đức nghiệp, hạnh nghệ, tâu lên Triều để chọn mà dùng.
Ông nên giảng rõ đạo học, rèn đúc nhân tâm, để cho xứng với ý Trẫm khen chuộng kẻ tuổi cao đức lớn. Khâm tai! Đặc chiếu.” Quang Trung năm thứ 4, ngày 20 tháng 8 [17/9/1791] (3)
Trước đó 3 năm, khi Vua Quang Trung mang quân ra Bắc đánh quân Thanh; vào ngày 29 tháng 11 [26/12/1788] đến Nghệ An, cho vời La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp vào dinh và hỏi:
“– Quân Thanh sang đánh, tôi sắp đem binh ra chống cự. Mưu đánh và giữ, cơ được hay thua, tiên sinh nghĩ như thế nào?
Thiếp nói:
– Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh nên giữ ra sao. Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, giặc Thanh sẽ bị dẹp tan.” (4)
Mưu lược tốc chiến tốc thắng do Nguyễn Thiếp đề xuất rất hợp ý Vua Quang Trung, kết cục quân ta toàn thắng.
Tại miền Nam vào tháng 8 [ 29/8-27/9/1791], Nguyễn Vương sai viên chỉ huy Tiền phong dinh là Nguyễn Văn Thành đem binh thuyền tiến thẳng đến Quy Nhơn do thám quân giặc, rồi trở về.
Tháng 9 [28/9-26/10/1791], Vương ra lệnh cho các dinh phải xét xong những việc hình ngục. Dụ rằng:
“Việc ngục tụng quan hệ đến mệnh lớn của nhân dân; chính vì vậy Ngu Thuấn nặng lòng thương những kẻ bị hình, Chu Văn Vương để lòng cẩn thận việc hình phạt. Nay ta nghe ở dinh kiện tụng chồng chất, liên lụy đến người không tội, cần đem ngay những kẻ phạm xét hỏi. Tội đáng chết thì dâng biểu xin quyết định, tội đáng đồ thì sung vào dịch phu; những kẻ mới phạm lầm lỗi và oan uổng thì tha đi, không được để đình trệ”.
Tháng 10 [27/10-25/11/1791], lập đền Hiển trung. Vương dụ rằng:
“Đền công báo đức là lẽ thường xưa nay. Nêu trung khen lương là thịnh điển của nhà nước. Từ giặc Tây Sơn nổi loạn, vận nước gian nan, phàm tướng sĩ đi theo ta sang Vọng Các và trải từ các trận Mỹ Lung [Mỹ Lồng, Bến Tre], Hồi Oa [Vĩnh Long], Tinh Phụ [Giồng Sao], Bát Tiên [Vĩnh Long], Trấn Định [Định Tường], Ba Xắc [Sóc Trăng], cho đến Bình Thuận, bốn năm tới nay, ai không may mà chết vì việc nước thì đã từng định công khen tặng, lại ưu đãi cho vợ con được miễn dao dịch để chăm thờ cúng. Riêng nghĩ những người không ai thừa tự, hương lửa chẳng biết nhờ đâu, nếu không lập đền thờ cúng, thì lấy gì để yên ủi người đã mất mà khuyến khích hậu lai ?”
Bèn sai Phiên Trấn [Gia Định] chọn đất xây đền, đặt tên là đền Hiển trung, thờ chung những công thần không người thừa tự, sắc cho Lễ bộ bàn định điển thờ và đồ thờ, hằng năm xuân thu làm lễ tế. Đặt phu coi đền 25 người. Thờ những người chết trận từ Mỹ Lung đến Ba Xắc cộng hơn 320 binh đinh; chết trận tại Bình Thuận cộng hơn 600 binh đinh.
Đặt sở hoạn dưỡng (5) cho những bệnh binh ở các vệ đội thuyền thuộc dinh Trung quân; ở đấy, nhà nước cấp cho thuốc men để điều trị. Các viên quản suất chia ngày với nhau để thăm nom, đem tình trạng báo lên. Ai bị bệnh nặng mà cha mẹ vợ con xin lãnh về nhà nuôi cũng cho.
Tháng 11 [26/11-24/12/1791], sai Tri đồ gia là bọn Phan Văn Tào, Trịnh Phước Thường, Nguyễn Quang Diệu kén chọn trong 62 ty cục tượng [công binh] lấy những người tinh xảo bổ vào các chức Cai đội, Cai quan, Ty quan, Thủ hợp, thứ bực khác nhau, tại Chính dinh, Phiên Trấn, Vĩnh Trấn, Trấn Biên.
Tháng chạp [25/12/1791-23/1/1792], sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn và Cai cơ Lưu Phước Tường sung chức Chánh phó sứ sang Xiêm để giao hiếu. Khi Nhàn ra đi, Vương dụ rằng:
“Nước Chân Lạp, làm tôi thờ phụng triều ta giữ chức phiên thần đã lâu, là nước thần xỉ [môi răng] (6) của ta. Từ khi ta khôi phục đất cũ, Chiêu Chủy Biện đem lòng oán giận, chỉ muốn nhân ta có việc mà làm rối động biên cương. Ta vì cớ đó, chẳng lúc nào quên. Ngươi nên nhân cơ hội này bày tỏ với vua Xiêm khiến họ để ý, nếu không giúp ta thì cũng không nên làm lo cho ta, để cho ta có thể chuyên lòng đánh giặc, không lo ở trong nữa. Ngươi nên nói khéo, đừng làm nhục mệnh!”.
Nhân dân miền Thuận Quảng chán ghét chính sách bạo ngược của Tây Sơn từ lâu, hằng ngày mong đợi quân Nguyễn Vương, mỗi khi thấy gió nồm thổi thì đều nói rằng : “Chúa cũ chúng ta đã đến đấy!”. Kẻ sĩ ở ẩn là Hoàng Quang người xã Thai Dương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên làm bài ca Hoài Nam Khúc bằng quốc âm thuật lại công lao khai thác khó nhọc của các Chúa đời trước, ơn trạch thấm khắp mọi người, cuối cùng truy tội bọn quyền thần, nghiến răng với quân ngụy tặc, lời rất não nùng mạnh mẽ, nhân dân truyền nhau hát. Thái trưởng công chúa là Ngọc Huyên, con gái cả của Thế tông Nguyễn Phúc Khoát, ẩn ở xã Vân Dương, thuộc huyện Hương Thủy, nhận được bài hát ấy, sai người đưa vào Gia Định để hiến. Vương sai đem truyền bá khắp trong quân, nghe lời ca ai cũng rỏ nước mắt. Vương nói :
“Ngày xưa lòng người nhớ nhà Hán, mà tự Bạch Thủy (7) dựng nghiệp trung hưng, lòng người nhớ nhà Đường mà tự Linh Vũ (8) gây nền tái tạo. Nay lòng người như thế, thì bọn nghịch tặc lo gì không dẹp yên?”.
Chú thích:
1.Cáp Tát Khắc: tên bộ lạc, chia làm hai: tả, hữu Cáp Tát Khắc; cả hai đều theo đạo Hồi, nay thuộc Tân Cương, một phần thuộc Liên Xô.
- Chu Tử: tức Chu Hy, được tôn xưng là Chu Tử; là nhà triết học, văn học nỗi tiếng đời Tống.
3.La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2, trang 1067.
4.Hoàng Lê Nhất Thống Chí, bản dịch, hồi thứ 14.
- 5. Sở hoạn dưỡng: Chỗ nuôi quân lính đau ốm.
6.Thần xỉ: Như môi và răng, để che miệng.
7.Bạch Thủy: Một huyện thuộc về tỉnh Cam Túc là nơi Quang Vũ nhà Hán khởi nghĩa đánh Vương Mãng để khôi phục cơ nghiệp nhà Đông Hán.
8.Linh Vũ: Một huyện ở Cam Túc, Trung Quốc; nơi vua Túc Tông lên ngôi để kế nghiệp.