Bài hát Giải Phóng Miền Nam: Một di sản lịch sử (Bài 3b)

Sao cứ nói dai, nói dài về… Đế quốc Mỹ?

 Nguyễn Ngọ

Kỳ Lân K

  1. Chín năm: Tìm chứng cứ tại Việt Nam để Mỹ đúng là đế quốc

Đó cũng chính là quá trình 9 năm (1951-1960) thực thi chính cương và các quyết định do Đại hội 2 đưa ra. Năm thứ 10 thuộc về Đại hội 3, không tính.

– Từ năm 1930, cha-ông ta đã sử dụng “đế quốc”, theo định nghĩa của Lenin.

– Từ Đại hội 2 (1951), các nhà lãnh đạo vẫn nói theo các vị đàn anh, nhưng cũng bắt đầu tìm chứng cứ ngay tại Việt Nam để chứng minh lập luận và củng cố cách gọi này. Đây là thời gian Việt Nam đang chống Pháp (xâm lược lần thứ 2); nhờ vậy, các vị lãnh đạo cuộc kháng chiến – hơn ai hết – có điều kiện thấy rõ vai trò nguy hiểm của “bọn can thiệp Mỹ”. Đây là chứng cứ rất quan trọng

– Pháp rút, lập tức Mỹ thay chân, càng củng cố quan điểm: Mỹ đúng là một tên đế quốc đầu sỏ.  

Mỹ bị ta chính thức coi là đế quốc đầu sỏ tại Đại Hội 2, nhưng..,Luận Cương chính trị năm 1930 do cụ Trần Phú soạn (ở tuổi 26 tuổi) đã nói tới nhiệm vụ “đánh đổ đế quốc Pháp”. Chưa nói tới Mỹ.

Sau đó là Đại hội 1 (1936), trong thảo luận và trong Nghị Quyết vẫn lên án “bọn đế quốc” nhưng chưa coi Mỹ là đế quốc đầu sỏ.

Tới tận năm 1951 mới có Đại hội 2. Trong 15 năm ấy, có 6 năm đại chiến thế giới. Biến cố này khiến Mỹ – từ chỗ là một đế quốc mờ nhạt – trở thành đế quốc cầm đầu phe tư bản, được nhắc đích danh 4 lần trong Báo cáo Chính Trị ở Đại hội 2 và càng được khẳng định về sau.

… nhưng không đúng

Chính là sau đại chiến 2, Mỹ trao trả độc lập cho thuộc địa, do vậy không còn là đế quốc, nếu theo định nghĩa thông thường.

 

  1. Chín năm: Đề ra các nhiệm vụ nhằm thắng đế quốc Mỹ

Sau Đại hội 2, Trung ương Đảng CS đã họp tới 18 lần trong nhiệm kỳ dài 9 năm để quyết định các nhiệm vụ quan trọng nhất. Đủ thấy sự diễn biến phức tạp và dồn dập của tình hình chung trong 9 năm đó. Thêm nữa, đó cũng là sự nóng vội, sốt ruột của các nhà lãnh đạo khi đã quá tuổi trung niên, rất mong tự mình thấy được bóng dáng hiện thực của CHXH – mà từ đáy lòng – các vị tin rằng nó rất tốt đẹp.

Việc đưa ra dồn dập các việc, việc nào cũng lớn, cũng cần làm ngay, mà không cần thí điểm, rút kinh nghiệm, đã nói lên sự vội vã, duy ý chí, tuy rất thiện chí.

Với miền Bắc, phải thực hiện sớm Cải cách ruộng đất (ngay khi đang chiến tranh); tiếp đó là sửa chữa thật nhanh sai lầm, để có thể sớm cải tạo tư sản, sớm xây dựng CNXH… Trong tuyên truyền các vị nói với dân: Đây là chủ nghĩa ưu việt, hợp thời đại, sẽ chắc thắng chủ nghĩa tư bản do đế quốc Mỹ đứng đầu

– Còn với miền Nam: Bắt đầu coi đế quốc Mỹ là kẻ thù chính, coi miền Nam là tiền tuyến để sớm tiến hành chiến tranh giải phóng (nội chiến cách mạng).

  1. Chính Cương của đại hội 2 nêu rõ 3 nhiệm vụ lớn

Thực hiện theo thứ tự thời gian

     Nhiệm vụ 1. “Đánh đuổi đế quốc Pháp, giành độc lập”. Thật sự, rất nhiều chiến sĩ cộng sản đã hy sinh vì nhiệm vụ này và hy sinh ngay từ thời kỳ đảng còn hoạt động bí mật. Đây là nhiệm vụ này kéo dài tới 24 năm (1930-1954). Do vậy đảng CS được coi là đã một mình dương cao ngọn cờ yêu nước, với chiến công oanh liệt và lừng lẫy Điện Biên phủ.

Xin chú thích thêm:Tiếp đó, vẫn dưới ngọn cờ yêu nước (nói trên), đảng CS đã chuyển từ chống đế quốc Pháp sang chống đế quốc Mỹ – cả trong tuyên truyền và trong hành động.

Nhờ vậy, đã huy động được một lực lượng khổng lồ, đi đầu vẫn là các đảng viên – bất chấp gian khổ, hy sinh – đã thành công sự nghiệp “giải phóng miền Nam”. 

                   Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước.

                   Diệt Đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước…

     Nhiệm vụ 2.Xóa bỏ tàn tích phong kiến, thực hiện người cày có ruộng”. Và ngay sau đó là “cải tạo tư sản” để công nhân làm chủ nhà máy, xí nghiệp.

Tóm lại, đây là sự nghiệp xóa bỏ mọi bóc lột, tạo điều kiện để toàn miền Bắc “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên CNXN.

     Nhiệm vụ 3. Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. Đó là bước trung gian để tiến lên CNXH.

  1. Đưa nội dung tuyên truyền vào chương trình giáo dục

Sau Đại Hội 2, việc tuyên truyền chống Pháp và chống can thiệp Mỹ là không ngơi nghỉ. Nhưng cách đưa nội dung tuyên truyền vào chương trình giáo dục đem lại tác dụng rất hệ thống, rất căn bản và bền vững.

Những năm sau, cách này được áp dụng rất toàn diện, có hệ thống, do vậy càng đem lại kết quả mong muốn. Nhưng đây là chuyện sau này.

Còn ở thời kỳ sau Đại Hội 2, nó giúp mọi trẻ em miền Bắc sớm nhập tâm một chân lý: “Đế quốc Mỹ” là kẻ thù của nhân loại. Việt Nam là nước đi tiên phong chống đế quốc Mỹ, không những vì mình, mà còn vì nhân loại.

Có thể nói, những em bé 10 tuổi thời ấy – nay đa số đã lùi về quá khứ do già nua – nhưng tới khi chết vẫn không nghi ngờ gì về những điều đã được học về đế quốc Mỹ.

Về sau, tình cảm “căm thù đế quốc” được lồng vào nội dung giáo dục rất rộng lớn, gọi là “xây dựng con người mới XHCN”, có yêu, có ghét…

Đúng như Lenin đã dạy: “Hãy cho tôi những đứa trẻ bốn tuổi của bạn, chỉ trong một thế hệ, tôi sẽ xây dựng xong một Nhà nước xã hội chủ nghĩa”.

     https://www.azquotes.com/quote/834145
  1. Sao đến nay vẫn nói dai, nói dài về… Đế quốc Mỹ?

“Mỹ cút, Ngụy nhào” đã được chẵn 50 năm. Nhưng hễ có dịp là cả nước lại được nghe “đế quốc Mỹ”. Bởi vì, nếu Mỹ không phải là đế quốc (tức là không có tham vọng đất đai), thì “ngụy cũng chẳng phải là “bè lũ bán nước” – như câu 2 trong bài hát.

Muốn chính thức khẳng định: Cho đến nay, Mỹ vẫn là đế quốc thì người nói phải có cương vị, phải nói (viết) trên phương tiện truyên thông chính thống.  

Vậy, những loại phát ngôn nào gây được ảnh hưởng?

Có thể chia thành 4 nhóm lớn, nhưng không tách bạch mà có thể đan xen nhau.

– Nhóm nói theo định nghĩa mới (nay đã cũ rích) của Lenin đến nay có lẽ chẳng còn vị nào nữa. Mặt khác, Lenin mất đã đủ trăm năm, quá trình toàn cầu hóa đa đi được những bước rất ài, khiến định nghĩa của Lenin càng xa thực tế.

– Nhóm nói để khẳng định nhứng mục tiêu cao cả

Đó là mục tiêu “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Đây là nhóm rất đông, rất mạnh, đang tả xung, hữu đột… suốt 65 năm nay – từ khi có Nghị Quyết của Đại Hội III (1960) cho đến nay (2025).

Nguyên do là nước ta bị chia làm hai miền, sự khác nhau về ý thức hệ là điều công khai ngay từ đầu. Đó là bên này cho rằng tư hữu sẽ dẫn đến chế độ bóc lột, cần xóa bỏ. Trong khi bên đối lập cho rằng đó là quyền con người (để tự mình mưu cầu hạnh phúc). Chỉ có điều, mỗi bên đều thành tâm tin rằng chủ thuyết của mình là cao cả, sẽ mang lại quyền lợi và hạnh phúc cho muôn dân. Dẫu có cống hiến cả cuộc đời vì chủ thuyết mà mình tin theo cũng xứng đáng.

Để giải quyết vấn đề, lẽ ra có thể dùng đối thoại trong nội bộ dân tộc, nhưng sự đối địch của ý thức hệ trên phạm vi toàn cầu đã biến những người con của mẹ Âu Cơ thành đối thủ, buộc phải dùng xương máu để giải quyết Đúng-Sai. Đó chính là nội chiến, mà cụ Lê Duẩn gọi là “nội chiến cách mạng”.

Còn về mặt tuyên truyền, thì phía XHCN phải khẳng định cho kỳ được (khẳng định đến kỳ cùng) rằng: Đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam, dựng lên một bọn tay sai bán nước, đặt dân miền Nam dưới chế độ nô lệ. Miền Bắc đem quân vào miền Nam là để “chống Mỹ cứu nước”, giải phóng đồng bào, thống nhất non sông. Hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh cao cả vì mục tiêu cao đẹp, cũng đã giết được hàng triệu kẻ theo giặc, phản bội tổ quốc, muốn bán miền Nam cho đế quốc Mỹ.

– Nhóm nói theo quán tính

Do được dạy từ khi còn rất nhỏ, đã nhập tâm những gì… thì nay (nếu có dịp phát ngôn cho nhiều người nghe), cứ nói y như thế.

– Nhóm nói để bảo vệ quyền lợi (vật chất và tinh thần) đang hưởng

Có thể chia nhóm này thành hai nhóm nhỏ: a và b.

a) Nhóm có công

Đó là những người chủ xướng cuộc chiến (nay chỉ còn rất ít) hoặc đã tham gia cuộc chiến, được coi là có công. Một số vị có thể do lòng tin tuyệt đối vào chủ thuyết, nay vẫn còn tin. Các vị này dứt khoát nói Mỹ là đế quốc. Một số vị khác có thể đã nhận ra sai lầm nhưng vì quyền lợi về tinh thần (hoặc vật chất) đang hưởng, nên cũng không thể nói khác.

Nói chung, do tuổi tác, đến nay (2025) số các vị thuộc loại này chỉ còn rất ít, mà cấp bậc cũng không phải là thật cao. Thường các vị im lặng, trừ khi được phỏng vấn nhân dịp một lễ kỷ niệm nào đó.

b) Nhóm chẳng có công trạng gì

Giả sử, một cháu sinh cuối thập niên 50 thế kỷ trước (ví dụ 1956, 1957 hoặc 1958) – nghĩa là năm nay mới chỉ dưới 70 tuổi.

Chiến tranh chống Pháp đã đi qua từ khi cháu này chưa sinh ra. Còn chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc thì cháu vẫn chưa đủ 18 tuổi để làm cán bộ, hoặc làm lính.

Có 3 chữ “nếu” trong trường hợp “giả sử” này:

    – Nếu cuộc chiến Nam-Bắc là chính nghĩa, cháu cũng chẳng có công.

    – Nếu cuộc chiến là sai (không có “đế quốc MỸ”), cháu cũng không có tội.

    – Nếu năm nay (2025) cháu đang là một nhân vật đầy quyền lực, phát ngôn được hàng triệu người nghe… Nghĩa là, cháu (và giới quyền lực) đang nắm giữ cả một gia tài khổng lồ được “Bên Thắng Cuộc” trao lại (gồm đất nước, tài nguyên, của cải, quyền bính và 100 triệu con dân đang buộc phải tuân theo ý mình),

Câu hỏi: Cháu sẽ nói gì nhân kỷ niệm 50 năm “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”?

Trả lời: Cháu sẽ phát ngôn để bảo vệ quyền lợi (vật chất, tinh thần) mà bản thân (và tập thể) đang nắm giữ.  


Bài sau: Bàn câu “phá tan bè lũ bán nước” trong bài hát Giải phóng miền Nam

One thought on “Bài hát Giải Phóng Miền Nam: Một di sản lịch sử (Bài 3b)

  1. Pingback: Bài hát Giải Phóng Miền Nam: Một di sản lịch sử (Bài 5b) | Nghiên Cứu Lịch Sử

Bình luận về bài viết này