Săn lùng Eichmann, truy nã tên quốc xã khét tiếng nhất thế giới (Bài 20)

Neal Bascomb

Trần Quang Nghĩa dịch

25

VÀO BUỔI SÁNG HIU HẮT lạnh giá của chuyến bay trốn thoát, căng thẳng ở Tira trở nên gay gắt hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong nhiệm vụ. Ngay cả khi đang chuẩn bị khởi hành, các thành viên trong nhóm vẫn biết rằng nhiều điều có thể xảy ra khi họ rời khỏi ngôi nhà an toàn.

Mặc dù không có bất kỳ đề cập nào đến Eichmann trên báo chí hay đài phát thanh, nhưng cảnh sát hoặc cơ quan an ninh có thể đã cố tình giữ im lặng về một cuộc khám xét, và không chắc là cộng đồng Đức Quốc xã ở nước ngoài lại đi thông báo rằng chính mình đang truy lùng. Ngoài nguy cơ bị một trong hai lực lượng này phát hiện, đội còn có nguy cơ bị chặn lại bởi một đội tuần tra ngẫu nhiên, tạo cơ hội cho Eichmann lên tiếng là mình đang bị giam giữ trái với ý muốn  – mặc dù Bác sĩ Kaplan đã cho y dùng thuốc an thần gây mê khi  lái xe đến sân bay. Bản thân việc dùng thuốc an thần đã là một thách thức, bất chấp kinh nghiệm của Kaplan với tư cách là bác sĩ gây mê. Đội cũng phải đối mặt với khả năng xảy ra tai nạn trên những con đường hỗn loạn ở Buenos Aires, hoặc lực lượng bảo vệ sân bay có thể tỏ ra siêng năng hơn bình thường. Và tất nhiên, có những nguy hiểm xung quanh chuyến bay.

Đến đầu giờ chiều, cả đội đã hoàn tất phần lớn công việc chuẩn bị và không còn việc gì phải làm ngoài việc chờ đợi thêm thời gian để suy tính xem điều gì sẽ xảy ra ở phía trước. Ngôi nhà an toàn đã ổn định. Malkin đã kiểm nghiệm khả năng cải trang của mình cho Eichmann, người một lần nữa lo sợ họ đang lừa để chuẩn bị giết mình. Bác sĩ đã yêu cầu y phải ăn kiêng nghiêm ngặt để giảm nguy cơ biến chứng do dùng thuốc an thần.

Mọi người đều đã rũ bỏ danh tính cũ của mình để lấy một danh tính mới, và Eitan đã xem xét lại kế hoạch đưa Eichmann đến sân bay vào tối hôm đó. Bên ngoài Tira, các đặc vụ khác đang bận rộn với trách nhiệm của mình. Aharoni đã xóa bỏ mọi dấu vết về sự hiện diện của mình tại ngôi nhà an toàn nơi anh từng ở. Sau đó, anh mặc một bộ vest và đeo cà vạt, trông rất giống tài xế và vẫy một chiếc taxi đến đại sứ quán Israel. Ở đó, Yossef đã cung cấp cho anh ta một chiếc xe limousine Chevrolet mới có biển số ngoại giao để đưa Eichmann đến sân bay. Ông cũng đưa cho anh một hộ chiếu ngoại giao mới xác định anh là nhân viên thuộc văn phòng Nam Mỹ của Bộ Ngoại giao Israel và bằng lái xe quốc tế. Những ngày làm doanh nhân Đức của anh đã kết thúc. Aharoni rời đại sứ quán trên chiếc xe limousine và đi kiểm tra kỹ lưỡng tại một gara. Họ cần phải cẩn thận hơn.

Tại Maoz, Shalom Dani gấp rút hoàn thành giấy tờ cuối cùng cho Eichmann. Y thậm chí còn có giấy chứng nhận y tế chính thức từ một bệnh viện địa phương nói rằng y đã bị chấn thương đầu trong một vụ tai nạn nhưng hiện tại tình trạng đã ổn định và được phép bay. Harel trước đó đã sắp xếp để một sayan (cảm tình viên Israel sống ở Argentina) giả bị thương, đến bệnh viện kiểm tra và lấy giấy xuất viện thực. Dani dễ dàng đổi tên tình nguyện viên thành Zichroni, bí danh của Eichmann. Bây giờ anh ấy đang hoàn thiện hộ chiếu của Zichroni.

Tabor dành phần lớn thời gian trong ngày ở sân bay. Sau khi cùng hai người thợ máy kiểm tra Britannia, anh bắt đầu chuẩn bị một ngăn bí mật để giấu Eichmann trong trường hợp máy bay bị khám xét. Anh dựng một bức tường giả có bản lề trước một trong những nhà vệ sinh ở khoang hạng nhất. Khi Tabor xong việc, không ai có thể ngờ rằng chỗ đó của máy bay lại có phòng toilet.

Avraham Shalom cũng dành nhiều thời gian ở sân bay để đảm bảo rằng những nhân viên bảo vệ mà anh kết bạn trong tuần qua không bị chuyển sang vị trí khác và họ biết anh sẽ ra vào cổng suốt cả ngày. Anh dò ​​lại các con đường từ Tira một lần nữa, không tìm thấy trạm kiểm soát mới nào dọc theo các tuyến đường anh đã chọn. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều nhân viên an ninh trong thành phố và xung quanh sân bay; Shalom rất lo lắng về chuyến đi với Eichmann.

Anh chia sẻ mối quan tâm của mình với Harel, người đã đóng quân tại một nhà hàng ở nhà ga sân bay để điều phối các hoạt động trong ngày. Mặc dù một số cảnh sát và binh lính dùng bữa trong hội trường lớn, nhưng nhà hàng luôn đông đúc, tiếng trò chuyện và tiếng bát đĩa kêu chói tai, và người ta liên tục chen chúc ra vào cửa. Harel có thể ở đó hàng giờ, gặp gỡ tất cả các đặc vụ của mình để họp báo mà không ai thèm liếc nhìn anh lấy một lần. Cho máy bay dự kiến ​​khởi hành vào lúc nửa đêm, ông đã sẵn sàng cho một ngày dài. Harel lắng nghe Shalom với vẻ hiểu biết. Hơn bất kỳ thành viên nào khác trong nhóm, Shalom liên tục xem lại các kịch bản về mọi thứ có thể xảy ra sai sót và các kế hoạch dự phòng sẵn có trong trường hợp có điều gì đó xảy ra.

Những tình huống này đã khiến anh mất ngủ nhiều đêm trong vài tuần qua.

Ngay cả trong những giờ phút lo lắng trước khi đưa Eichmann ra khỏi đất nước, với rất nhiều nguy hiểm, Harel vẫn nuôi hy vọng bắt được Mengele.

Những người Mossad mới đến đang mong đợi cuộc gọi của ông yêu cầu một chiến dịch biệt kích ngay khi tên bác sĩ Auschwitz được tìm thấy.

Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra. Harel đã cử Meir Lavi, tình nguyện viên đã gặp ông vào đêm Eichmann bị bắt và là người mà ông  đã đưa tin nhắn về chiếc máy đánh chữ, để cố gắng đột nhập vào khu nhà trọ ở Vicente López. Lavi, giả vờ có một gói hàng cần giao, đã thất bại trong nỗ lực này, nhưng anh ta đã liên lạc được với người thuê nhà qua điện thoại. Cô ấy không nói được tiếng Tây Ban Nha và khi họ chuyển sang tiếng Anh, giọng nói của cô ấy tiết lộ mình là người Mỹ chứ không phải người Đức. Hilel Pooch về nhà vài giờ sau đó, mặc quần yếm và đeo thắt lưng dụng cụ. Anh ta nói với người phụ nữ rằng mình được gọi đến để sửa máy nước nóng. Pooch cũng xác định cô ấy là người Mỹ và lưu ý rằng cô ấy hành động hoàn toàn thoải mái, công khai tên của mình. Mặc dù cô từ chối anh vào nhà vì cô không được thông báo về bất kỳ cuộc gọi sửa chữa nào, nhưng rõ ràng cô không phải là người Đức và cũng không giấu giếm điều gì. Mengele đã biến mất.

Lavi và Pooch đã gửi báo cáo cho Harel vào đầu giờ tối. Harel rất thất vọng. Ông đã cầu nguyện để có được một cơ hội may mắn, nhưng thời gian đã không còn nhiều nữa. Cuộc săn lùng Mengele sẽ phải chờ thêm một ngày nữa. Lúc 7:30 tối, Shalom và Aharoni đến nhà hàng đầy khói, ồn ào và thông báo với ông rằng cả đội đã sẵn sàng di chuyển ra sân bay. Sau khi nhận được xác nhận từ Klein rằng máy bay và phi hành đoàn El Al cũng đã sẵn sàng, Harel ra lệnh cho các cộng sự của mình tiếp hành hoạt động.

Trở lại Tira, nhóm những người đến sân bay mặc đồng phục El Al và đóng gói những đồ đạc cuối cùng của mình. Sau khi bác sĩ khám sức khỏe kỹ lưỡng cho Eichmann, Malkin đi vào phòng giam để cải trang.

Trước đó vào buổi tối, Eichmann đã trở nên vô cùng kích động khi Aharoni thông báo với y là họ sẽ đưa y đến Israel vào đêm hôm đó, hăm dọa y không nên chống cự. Nhưng bây giờ y có vẻ thoải mái, cam chịu. Malkin nhuộm tóc màu xám cho Eichmann và trang điểm cho khuôn mặt của y, khiến y già đi nhiều hơn bằng cách vẽ các đường trên trán, quanh miệng và tạo bóng cho vùng da bên dưới mắt. Anh dán bộ ria mép xù xì lên môi trên của Eichmann.

Sau đó, anh mặc cho Eichmann một chiếc áo sơ mi trắng gọn gàng, quần xanh, giày bóng loáng và đội mũ El Al có ngôi sao David màu xanh lam ở mặt trước.

Ngay sau khi Malkin đã xong, Aharoni đến cùng với Yoel Goren, một trong những đặc vụ Mossad đã đến trên chuyến bay El Al. Goren là người, hơn hai năm trước, đã điều tra ngôi nhà ở Olivos và loại trừ khả năng Eichmann có thể sống ở một nơi xiêu vẹo như vậy. Bất chấp đánh giá sai lầm của mình, Goren rõ ràng là một lựa chọn để hỗ trợ trong chương cuối cùng này của sứ mệnh vì khả năng thông thạo tiếng Tây Ban Nha và kiến ​​thức về Buenos Aires của anh ấy.

Các đặc vụ dẫn tù nhân xuống bếp và đặt y ngồi trên ghế. Trên bàn có một cây kim và một cái ống tiêm. Bác sĩ Kaplan bước vào bếp, phấn khởi vì được đóng góp sau mười ngày nhàn rỗi. Ông xắn tay áo phải của Eichmann lên rồi thấm cồn vào một miếng vải. Khi ông định ấn tấm vải vào cánh tay của Eichmann, tù nhân lùi lại.

“Không cần thiết phải tiêm cho tôi,” y nói. “Tôi sẽ không thốt ra một tiếng nào. Tôi hứa.”

“Đừng lo lắng,” bác sĩ nói. “Không có gì đâu, chỉ là thứ để kiềm chế sự phấn khích của anh thôi.”

Aharoni nói thêm: “Mày còn một chặng đường rất dài phía trước. Thuốc sẽ giúp mày vượt qua mọi căng thẳng”.

Bác sĩ tiến tới toan tiêm kim vào cánh tay của Eichmann.

“Không, không, tôi sẽ không phấn khích gì hết,” Eichmann cao giọng.

“Làm ơn,” Malkin nói. “Chúng tao phải làm điều này. Chúng tao có lệnh.”

Eichmann đầu hàng và đặt tay lên đùi mình. Bác sĩ đâm kim vào tĩnh mạch và gắn ống vào kim. Sau đó ông ta tiêm một liều thuốc an thần. Eichmann nhanh chóng lẩm bẩm, “Không, không. Tôi không cần nó.”

“Chúng ta đã sẵn sàng lên đường,” bác sĩ nói, đặt ngón tay lên mạch của Eichmann.

Lúc 9 giờ tối, Yakov Gat và Rafi Eitan tóm lấy tay Eichmann và dìu y vào gara. Y vẫn tỉnh táo nhưng hầu như không thể nói được. Y buồn ngủ nhìn những người khác, tất cả đều mặc đồng phục El Al, và nói, “Tôi trông không được lắm. Tôi phải mặc một chiếc áo khoác.” Họ  không mặc cho y áo khoác vì nó che mất cánh tay y khi cần phải chích thêm thuốc, nhưng họ phấn khởi vì Eichmann thực sự như muốn hợp tác. Gat nhảy lên ghế sau của chiếc limousine và kéo Eichmann ngồi xuống cạnh mình. Bác sĩ cũng ngồi ở phía sau, sẵn sàng tiêm thêm thuốc an thần cho bệnh nhân nếu tình hình cho phép.

“Đừng lo lắng,” Eichmann lại lẩm bẩm, ra vẻ hiểu nhiều hơn những gì đôi mắt bơ phờ của y bộc lộ. “Các ông có thể tin cậy vào tôi. Tôi không cần tiêm thêm nữa.”

Aharoni nổ máy và Yoel Goren ngồi vào ghế trước bên cạnh. Malkin mở cổng cho họ – anh và Nesiahu ở lại Tira đề phòng bất trắc và những người còn lại trong đội cần quay trở lại ngôi nhà. Eitan và Tabor đi theo trên một chiếc xe khác. Chiếc limousine rẽ vào đường phố và lao vào màn đêm.

_____

Trong khi đó, Cơ trưởng Wedeles tập hợp các thành viên phi hành đoàn El Al  tại một góc vắng vẻ tại sảnh Khách sạn Quốc tế; họ vẫn chưa được thông báo về lý do chuyến bay. Bảy thành viên bao gồm nhân viên điều hành điện đài, nhân viên tài vụ và tiếp viên. Tất cả họ đã dành 24 giờ qua để tận hưởng khoảng thời gian tuyệt vời ở Buenos Aires, ăn tối với món bít-tết Argentina khổng lồ, tham quan thành phố và mua sắm. Họ không khỏi lo lắng khi thấy Wedeles trông nghiêm túc như thế nào và tò mò tại sao Yosef Klein và Adi Peleg lại đứng bên cạnh anh ta.

Wedeles nói: “Chúng ta đang xúc tiến việc khởi hành trở về. “Xin hãy xuống tầng dưới trong một giờ nữa. Không mua sắm. Không gì cả. Sau đó, các bạn phải đi cùng tôi. Nếu tôi đứng dậy, các bạn cũng đứng dậy cùng tôi. Nếu tôi ngồi xuống, các bạn cũng ngồi xuống – vì tôi muốn các anh em luôn ở bên tôi.”

“Các bạn đang tham gia vào một sự kiện lớn,” Peleg nói và bước tới giải thích. “Đừng hỏi tôi đó là gì, nhưng chúng ta sẽ đưa một người rất quan trọng trở về Israel. Tôi sẽ cho bạn biết danh tính của người ấy sau.”

Wedeles tiếp tục: “Chúng ta sẽ lên máy bay bằng ba chiếc ô tô tại khu vực bảo trì. “Trong một  chiếc xe sẽ có người đàn ông đó.”

Các thành viên phi hành đoàn không quá ngạc nhiên về cuộc họp này, vì hầu hết họ đều đã linh cảm được có điều gì đó bất thường về chuyến bay sắp xảy ra. Tất cả họ phải đảm bảo sắp xếp hành lý  và sẵn sàng đúng giờ. Trước khi họ rời đi, Luba Volk đã đến Internacional. Klein tiếp cận bà ở tiền sảnh. “Bà có định đi ra sân bay không?”

“Tất nhiên,” Volk nói. Mặc dù bây giờ bà biết có nhiều điều đang diễn ra trong chuyến bay này hơn những gì bà thấy, nhưng bà vẫn dự định tiễn bạn bè mình đi.

“Làm ơn, làm ơn, giúp tôi một việc. Đừng đến sân bay,” Klein nhẹ nhàng nói. “Nguy hiểm lắm, đáng tiếc là tôi không thể nói về chuyện đó… nhưng đừng đến sân bay. Hãy quên nó đi. Hãy nhớ rằng bà có một cậu bé.”

Volk nhìn thấy Klein gần như rơi nước mắt, bà hứa sẽ không đi. Bà chào tạm biệt anh và những người khác rồi trở về nhà, biết rõ rằng chính tên mình đã xuất hiện trên giấy tờ nộp cho Bộ Hàng không về chuyến bay.

Phi hành đoàn leo lên chiếc xe buýt nhỏ đang chạy không tải bên ngoài lối vào khách sạn và chờ đợi. Không ai hỏi bất kỳ câu hỏi nào. Klein đã tự mình rời đi để kiểm tra xem mọi thứ đã sẵn sàng cho chuyến bay chưa.

Tại sân bay, trong khu bảo trì hãng hàng không quốc gia Argentina, Avraham Shalom nhìn đồng hồ. Đã hơn mười giờ vài phút. Cơ trưởng Zvi Tohar, một số thành viên phi hành đoàn và hai người thợ máy đã dành hai giờ kiểm tra máy bay. Tohar đã báo cáo rằng mọi thứ đều ở trong trật tự hoàn hảo. Shalom thì đã đi khảo sát các lối vào đến sân bay, để đảm bảo không có lực lượng an ninh đặc biệt đang làm nhiệm vụ cũng không có ai đáng ngờ đang rình rập xung quanh. Không tìm ra nguyên nhân lo lắng, anh ấy đã đi đến ga cuối để thông báo Harel. Sau đó anh đi đến bãi đậu xe của sân bay để chờ Eichmann đến.

_____

Trong văn phòng dịch vụ hàng không ở tháp điều khiển, các hoa tiêu Shaul Shaul và Gady Hassin nghiên cứu dữ liệu khí tượng gần đây nhất giữa Buenos Aires và Dakar, nghiên cứu các biểu đồ dự báo độ cao về phân bố gió, nhiệt độ và các khu vực có thể xảy ra nhiễu loạn. Đường đi thẳng giữa hai điểm hiếm khi là cách bay hiệu quả nhất. Bất kỳ cơn gió thuận nào mà họ tìm thấy hoặc những cơn gió ngược mà họ tránh được đều có thể là sự khác biệt giữa thành công và thất bại, đặc biệt là khi họ đã đẩy phạm vi khoảng cách tối đa của Britannia với chuyến bay dài không ngừng nghỉ, những điều tương tự chưa bao giờ được thử nghiệm với chiếc máy bay này.

Sau khi đã hoàn tất lộ trình của mình, họ kiểm tra cẩn thận thông qua NOTAMS (thông báo cho phi công) về các vùng cấm bay, độ cao hạn chế và các cuộc tập trận quân sự dự kiến ​​trên đường đi của họ. Sau đó, họ điền vào kế hoạch bay cho kiểm soát không lưu – một kế hoạch không giống chút nào với kế hoạch họ vừa vạch ra. Đối với  kiểm soát không lưu, họ dự định đi tới Recife, sau đó tới Dakar – giống như trên chuyến bay đến của họ. Bất cứ điều gì khác sẽ gây ra những câu hỏi không mong muốn. Mặc dù họ đã ấn định thời gian khởi hành là 2 giờ sáng. vào ngày 21 tháng 5, Tohar muốn cất cánh vào lúc nửa đêm, loại bỏ bất kỳ ai định cản trở chuyến bay.

_____

Aharoni lái xe thận trọng trên một tuyến đường vòng đến sân bay, tránh các trạm kiểm soát trên các tuyến đường lớn. Eichmann im lặng ở phía sau – gần như quá im lặng  đối với Aharoni và Gat.

Họ sợ rằng y có thể giả vờ buồn ngủ hơn thực tế để ngăn cản bác sĩ cho thêm thuốc an thần; rồi, vào một thời điểm thích hợp, có lẽ khi lên máy bay, y vùng ra kêu cứu và phá hỏng mọi thứ. Ngoài việc để mắt đến chiếc xe hộ tống phía sau và đề phòng những cuộc tuần tra ngẫu nhiên, không có gì khác phải suy nghĩ trong suốt một tiếng rưỡi lái xe. Họ buộc phải dừng lại ở một ngã tư đường sắt, nhưng nếu không thì cuộc hành trình không hề suôn sẻ. Những chiếc ô tô đã cố gắng tránh mọi trạm kiểm soát cho tới khi đến lối vào chính của sân bay, nơi họ được vẫy tay chào vì có biển số ngoại giao.

Tại điểm hẹn trước ở bãi đậu xe, họ gặp Peleg và chiếc xe buýt nhỏ chở cả đoàn. Shalom cũng ở đó. Lúc đó đã gần 11 giờ đêm. Có người chạy đến báo cho Harel, và ông ta sải bước ra bãi đất. Ông nhìn vào trong chiếc limousine. Eichmann có vẻ như đang ngủ, nhưng bác sĩ Kaplan đảm bảo với Harel rằng y vẫn có thể nhìn và nghe thấy, nhưng không đủ tỉnh táo để biết chuyện gì đang xảy ra xung quanh mình. Quan trọng hơn, y không thể đưa ra bất kỳ sự phản kháng nào. Gat vẫn chưa yên tâm nhưng vẫn giữ canh cánh giữ  nỗi sợ hãi cho riêng mình. Harel ra lệnh di chuyển đến khu vực bảo trì nơi máy bay đang đậu.

Peleg tiếp quản chiếc xe hộ tống mà Eitan đã lái đến sân bay. Shalom ngồi cạnh anh trên ghế trước. Cả hai người họ đã ra vào sân bay thường xuyên đến mức có thể biết tên những người bảo vệ. Họ sẽ dẫn đầu đoàn xe qua cổng vào khu vực bảo trì. Phía sau là chiếc limousine do Aharoni lái, và cuối cùng là chiếc xe buýt nhỏ chở phi hành đoàn trên máy bay.

Dòng xe lùi lại qua cổng chính và vào đường cao tốc vài trăm thước trước khi rẽ phải. Việc này đưa họ đi dọc theo hàng rào bao quanh sân bay cho đến khi đến một cổng khác. Harel đã muốn tất cả họ hành động như đang chếnh choáng say và nói  khàn khàn, qua đó giải thích lý do tại sao một người trong nhóm của họ lại bất tỉnh ở ghế sau, nhưng Shalom đã quyết định bác bỏ đề nghị đó. Anh ta biết khá rõ về những người bảo vệ, và bất kỳ hành vi không đúng mực có thể làm tăng sự nghi ngờ.

Khi họ dừng lại ở cổng, một người lính canh có vũ trang tiến đến chiếc xe đầu tiên, nơi anh ta nhận ra Peleg và Shalom. Anh ta nâng rào chắn lên và vẫy họ về phía trước, vui vẻ hét lên: “Xin chào, Israel!” Chiếc limousine và xe buýt nhỏ chạy chậm lại đủ lâu để người bảo vệ nhìn thoáng qua bên trong để kiểm tra xem mọi người có mặc đồng phục El Al hay không. Họ lái xe vào sân bay, tránh xa các nhà chứa máy bay có đèn sáng và đi đến khu vực của hãng hàng không quốc gia Argentina

“Tuyệt đối im lặng,” Gat cảnh báo Eichmann khi họ đến gần Britannia. “Chúng ta chuẩn bị lên máy bay.”

Tù nhân thậm chí còn không để ý đến lời cảnh báo. Chiếc limousine dừng lại ở cuối bậc thang, nơi Tohar đang đợi họ. Nhận thấy một cảnh sát đang đi về phía đoàn xe, Eitan nhảy ra khỏi phía sau xe hộ tống.

“Làm gì đó với viên cảnh sát đi,” Eitan thì thầm khẩn cấp với cơ trưởng.

Tohar vội vã tiến về phía viên cảnh sát và dẫn gã ra phía sau máy bay, nơi gã không thể nhìn thấy các bậc thang.

Khi con đường đã thông thoáng Gat nhấc Eichmann ra khỏi xe limousine. Đôi chân của y gần như không còn sức lực nên Yoel Goren đã đỡ y từ phía bên kia. Phi hành đoàn El Al bước ra khỏi xe buýt nhỏ.

“Tạo thành một vòng tròn xung quanh chúng tôi và theo chúng tôi lên các bậc thang,” Eitan ra lệnh.

Wedeles ở ngay sau Eichmann khi Gat và Goren đưa y lên bậc thang. Đôi chân của người tù đung đưa , va vào từng bậc thang khi y bước lên. Đèn pha của sân bay quét ngang qua lối đi. Wedeles đặt tay sau lưng Eichmann để giúp đẩy y lên trên. Mọi người đã đông đúc vây quanh, khiến Eichmann trở thành không thể phân biệt được trong đám đồng phục El Al. Sau đo họ đều có mặt trên máy bay.

Trên đường băng, Aharoni hít vài hơi thở sâu nhẹ nhõm, và Yosef Klein tự  trấn an rằng phần việc của họ trong nhiệm vụ đã gần như hoàn thành.

Vào bên trong, Gat và Goren đưa Eichmann ra phía sau máy bay và đặt y vào ghế cạnh cửa sổ trong khoang hạng nhất. Gat ngồi ở ghế đối diện lối đi, và bác sĩ ngồi ngay phía sau để đề phòng. Trong số năm ghế hạng nhất còn lại, Goren chiếm một ghế, và những chiếc còn lại chứa đầy các thành viên phi hành đoàn El Al. Một nữ tiếp viên ngồi cạnh Eichmann và đắp chăn cho anh. Cô vẫn không biết y là ai và suy đoán rằng y có thể là một nhà khoa học nào đó.

“Giả vờ ngủ,” Gat ra lệnh cho tất cả bọn họ.

Một nhân viên tài vụ làm mờ đèn trên cao và kéo rèm che lối vào cabin. Nếu hải quan hoặc cảnh sát lên máy bay trước khi cất cánh, họ sẽ được thông báo rằng phi hành đoàn dự bị đang nghỉ ngơi.

Eichmann vẫn không biết gì về những gì đang xảy ra xung quanh mình.

Lúc 11:15 tối, cửa Britannia đóng lại và Tohar nổ máy. Sau đó máy bay lăn bánh đến nhà ga cuối.

 _____

Khi tàu Britannia đến gần sân đỗ phía trước tòa nhà ga cuối, Isser Harel cảm nhận được tiếng vang từ động cơ của nó đập vào cửa sổ. Họ đã có Eichmann trên tàu. Sau khi phi hành đoàn làm xong thủ tục hải quan và các đặc vụ Mossad sẽ trở về trên chuyến bay đã lên máy bay, họ sẽ chuẩn bị cất cánh. Khoảnh khắc đó không thể đến sớm với Harel. Ông liên tục canh cánh lo sợ cảnh sát hoặc một nhóm cựu phát xít sẽ xông vào sân bay yêu cầu dừng chuyến bay.

Harel rời bàn trong nhà hàng và gặp Klein, người đảm bảo với anh rằng mọi thứ đã sẵn sàng. Sau đó Harel vội vã ra ngoài nhà ga, nơi Eitan và Shalom vừa đến bằng ô tô từ nhà chứa máy bay. Họ báo cáo rằng việc chuyển Eichmann lên máy bay đã diễn ra hoàn hảo. Eitan và Shalom ở lại cùng Malkin để trả xe và xóa bỏ dấu vết cuối cùng về sự hiện diện của họ trước khi tự mình rời khỏi Argentina. Họ bắt tay nhau chúc nhau hành trình may mắn.

Harel quay trở lại phòng chờ hành khách, nơi anh gặp Aharoni, Tabor và hai đặc vụ Mossad đã đến trên chuyến bay El Al. Medad bước vào phòng chờ cuối cùng, xe của anh ấy bị hỏng trên đường đến sân bay. Các đặc vụ đã có hàng đống hành lý để mang về Israel.

Klein tiếp cận Harel. “Ông  làm tôi ngạc nhiên với đám đông này!”

“Họ đều là người của tôi. Đừng lo lắng,” Harel trấn an anh, mặc dù ngay cả ông cũng nghĩ rằng họ quá đông đảo.

Vẫn còn lo lắng, Klein bỏ đi. Đến 11 giờ 30 phút, anh nhận được tin máy bay đã sẵn sàng cất cánh. Những người khuân vác đã chất hành lý lên máy bay, nhưng các nhân viên kiểm soát hải quan và hộ chiếu vẫn chưa xuất hiện để cho phép Harel và đoàn tùy tùng cũng như một số thành viên phi hành đoàn El Al cũng đang đợi lên máy bay. Vì không có chuyến bay nào khác khởi hành vào giờ muộn đó nên không chắc các quan chức đang bận ở nơi khác.

Từng phút trôi qua không có dấu hiệu gì. Khi nửa đêm đến gần, Harel và Aharoni lo lắng bước đi qua lại trong phòng chờ hành khách. Có ai đó phát hiện ra họ bế Eichmann lên máy bay không? Có phải sân bay đã được thông báo rằng có điều gì đó đáng ngờ về chuyến bay? Có phải sắp có một cuộc đột kích? Harel định gửi lời tới Tohar để khởi hành mà không có họ, nhưng ông quyết định đợi thêm vài phút nữa.

Sau đó Klein đã tìm được một quan chức hải quan. Viên sĩ quan cao lớn, râu rậm bước vào phòng chờ và xin lỗi vì sự chậm trễ.

Từ nụ cười ngượng ngùng của gã, họ biết đó chỉ là một sự nhầm lẫn. Viên sĩ quan ra hiệu họ tiến về phía lối ra và đóng dấu vào hộ chiếu, chúc mỗi người một câu “Bon viaje!” nồng nhiệt.

Khi Harel băng qua Britannia và leo cầu thang lên máy bay, ông nhận thấy một người đàn ông mặc vest lao ra khỏi nhà ga từ một lối ra khác và nói chuyện khẩn cấp với một quan chức sân bay. Harel có cảm giác sâu sắc rằng có điều gì đó không ổn. Sau đó, cửa máy bay đóng lại phía sau ông

Trong buồng lái, Tohar cùng phi hành đoàn xem qua danh sách kiểm tra trước chuyến bay. Hệ thống điện. Kiểm tra. Lượng nhiên liệu. Kiểm tra. Tất cả đồng hồ đo cho thấy hoạt động đúng. Kiểm tra. Khi Harel đang thắt dây an toàn vào ghế phụ trong buồng lái, Tohar ra lệnh cho kỹ sư phi hành khởi động động cơ. Cả bốn động cơ cánh quạt đều hoạt động mà không gặp vấn đề gì. Theo thủ tục, Tohar gọi tới tháp điều khiển. “El Al đã sẵn sàng lăn bánh. Yêu cầu thông quan tới Recife.” Sau đó, anh đưa cho họ các điểm kiểm soát và độ cao mà Shaul đã cung cấp cho kế hoạch bay giả của họ đến Brazil.

Tháp kiểm soát trả lời. “El Al, tiến tới đường băng. Chờ lệnh cất cánh trên đường tới Recife.”

Họ gần như đã đi rồi, Harel nghĩ. Gã đàn ông mà ông nhìn thấy chạy ra khỏi nhà ga rốt cuộc không phải là vấn đề. Dù sao đi nữa, Harel ước gì họ đã ở trên không trung.

Tohar nhả phanh và chiếc Britannia lăn bánh về phía trước trên đường lăn đến vị trí cất cánh. Khi máy bay rời khỏi nhà ga sân bay, đài phát thanh lại phát ra. “El Al, giữ nguyên vị trí. Có sự bất thường trong kế hoạch chuyến bay.”

Mọi người trong buồng lái cứng đờ. Harel chắc chắn rằng họ đã bị phát hiện. Tohar không yêu cầu tòa tháp làm rõ thêm. Thay vào đó, ông dừng máy bay và quay người nhìn xem Harel muốn làm gì. Những người còn lại trong buồng lái đều im lặng, nín thở.

“Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta phớt lờ mệnh lệnh của tòa tháp và cất cánh đi Dakar?” Harel hỏi.

Tổ lái biết Tohar là phi công dự bị của Không quân Israel và ông đã trải qua đủ tình huống ngặt nghèo để làm những việc cần làm. Tohar không tin rằng lực lượng không quân Argentina đang ở chế độ chờ, nhưng nếu chuyến bay cất cánh mà không được phép, một máy bay chiến đấu có thể được điều động. Anh có thể bay Britannia thấp sát mặt đất và tránh radar, đầu tiên đi về phía nam thay vì phía bắc tới Recife, bỏ xa những kẻ truy đuổi họ trong một thời gian. Tuy nhiên, ông nói với Harel rằng rủi ro là rất lớn.

“Vẫn còn một lựa chọn nữa,” Tohar nói với vẻ bình tĩnh có chủ ý. “Trước khi để lực lượng không quân Argentina bám đuôi, chúng ta nên kiểm tra xem họ có thực sự biết Adolf Eichmann có mặt trên máy bay hay không. Chúng ta đừng tạo ra một vấn đề không tồn tại.”

Harel gật đầu, mặc dù bất kỳ sự chậm trễ nào nữa sẽ giúp chính quyền có thời gian để cảnh báo lực lượng không quân hoặc ngăn chặn chiếc Britannia rời đi hoàn toàn.

Tohar quay sang Shaul. “Họ đang nói rằng có sự bất thường trong kế hoạch bay. Vì vậy, hãy cử người đã chuẩn bị kế hoạch bay lên tòa tháp để tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra.”

Shaul là hoa tiêu cấp cao; đó là trách nhiệm của anh ấy.

“Nếu anh không quay lại sau mười phút nữa,” Tohar cảnh báo, “chúng tôi sẽ cất cánh mà không có anh.”

Klein đứng trên sân đỗ bên cạnh nhà ga sân bay, hoàn toàn không hiểu tại sao máy bay lại dừng lại. Anh đã kiểm tra đi kiểm tra lại mọi thứ. Không có lý do gì mà Britannia lại không khởi hành – trừ khi hành khách bí mật của nó đã bị lộ. Klein cố gắng giao tiếp bằng mắt với ai đó trong buồng lái, nhưng không ai cử động, họ cũng không mở cửa sổ để gọi anh. Sau một lúc nghe như dài hàng giờ, Klein nhìn thấy một phi công ra hiệu yêu cầu đưa cầu thang lên cạnh máy bay.

Sau đó, cánh cửa của Britannia mở ra và Shaul bước ra ngoài. Klein gặp anh ở cuối bậc thang. “Cái quái gì đang xảy ra?”

“Tòa tháp muốn làm gì đó với kế hoạch bay,” Shaul nói. Klein cảm thấy nhẹ nhõm nhất thời trước lời giải thích, mặc dù anh biết đây có thể chỉ là một cái cớ. Việc một chiếc máy bay dừng lại và người hoa tiêu được gọi đến là điều hết sức bất thường.

“Tôi đi cùng anh nhé?” Klein hỏi.

“Không, đợi đã. Tôi sẽ làm việc đó một mình.”

Shaul bước vào tòa tháp, không biết ai hay điều gì đang chờ đợi mình, chỉ biết rằng nếu anh không quay lại máy bay trong vòng vài phút nữa, Britannia sẽ khởi hành mà không có anh, bỏ mặc anh giữa tâm bão lửa.

Ông bố 30 tuổi của hai đứa con  từ từ leo lên cầu thang như một người phạm nhân đang tiến tới dây thòng lọng của người treo cổ.

“Vấn đề là gì?” anh ta hỏi người điều khiển bằng tiếng Anh, nhìn xung quanh xem có dấu hiệu nào của cảnh sát không. Không có gì cả.

“Thiếu một chữ ký,” người điều khiển nói, giơ bản kế hoạch chuyến bay lên trong tay. “Và phương án thay thế trên đường đi của bạn là gì?”

Shaul tự sáng tác. Nó là một sự pha trộn đơn giản. “Porto Alegre,” anh trả lời trước khi thêm chi tiết vào kế hoạch và ký vào văn bản. Sau đó, anh lao xuống bậc thang và ra ngoài.

“Mọi thứ đều ổn. Có gì đó thiếu sót trong kế hoạch bay,” Shaul nói với Klein, không dừng lại trên đường quay trở lại máy bay.

Có thể thấy rõ sự nhẹ nhõm trong buồng lái khi Shaul kể lại những gì đã xảy ra. Cánh cửa lại đóng lại và Tohar gọi tới tòa tháp. “Đây là El Al. Chúng tôi tiếp tục được không?”

“Khẳng định.”

Vào lúc 12:05 sáng vào ngày 21 tháng 5, máy bay tăng tốc xuống đường băng và cất cánh.

_____

Vào lúc nửa đêm, Nick Eichmann được một người nào đó trong nhóm tìm kiếm của anh cho biết một máy bay chở khách của Israel đã rời Buenos Aires tới Recife. Nick chắc chắn rằng bố anh cũng có mặt trên máy bay. Với sự giúp đỡ của một cựu nhân viên SS, anh ta đã báo cho một người liên lạc trong cơ quan mật vụ Brazil về chuyến bay  và yêu cầu anh ta chặn máy bay khi nó hạ cánh xuống Recife – chính xác là mối đe dọa mà chuyến bay thẳng tới Dakar nhằm mục đích tránh né.

Tất cả những gì còn lại giữa Eichmann và Israel là một chuyến bay xuyên Đại Tây Dương chưa từng được thực hiện với một chiếc  Britannia trước đây – một chuyến bay chỉ được phạm một tỷ lệ sai sót rất nhỏ.

Yosef Klein, trưởng trạm El Al

Zvi Tohar, phi công El Al

Máy bay El Al, chiếc Britannia 4X-AGD, được sử dụng để chở Eichmann về Israel

26

KHI BRITANNIA BAY QUA KHÔNG phận Argentina sau vài phút trong hành trình của họ, trong cabin đã có một sự náo động nồng nhiệt. “Phi hành đoàn El Al” ở khoang hạng nhất đứng dậy khỏi ghế để ôm nhau và chúc mừng thành công của mình. Wedeles và một số thành viên phi hành đoàn thực sự biết danh tính của hành khách đặc biệt cũng tham gia ăn mừng. Sự bộc phát bất ngờ làm Harel ngạc nhiên, và mặc dù ông do dự thông báo cho những người khác trên chuyến bay, việc giữ bí mật giờ đây trở nên vô nghĩa. Ông đã trao cho Adi Peleg vinh dự đó.

Giám đốc an ninh El Al tập hợp phi hành đoàn lại và tuyên bố: “Các bạn đã được ban cho một đặc ân lớn. Các bạn đang tham gia vào một hoạt động có tầm quan trọng tối cao đối với người Do Thái. Người đi cùng chúng ta trên máy bay là Adolf Eichmann.”

Thông báo đã gửi một làn sóng phấn khích đến phi hành đoàn. Cô tiếp viên ngồi cạnh Eichmann cảm thấy tim mình như rớt xuống trong lồng  ngực. Cô ấy không thể tin rằng con người gầy ốm, bất lực đang rít  thuốc một cách bồn chồn, trái khế của y  nhấp nhô lên xuống vì sợ hãi, lại có thể là Eichmann. Với vẻ ghê tởm, cô đứng dậy và rời xa y, trong khi những người khác tiếp tục ăn mừng. Aharoni ngồi lại vào ghế và uống một ly whisky đôi. Anh ta biết chính xác tù nhân là ai và đã phải tốn bao nhiêu công sức mới bắt được y.

Trong buồng lái, tâm trạng tỉnh táo hơn rất nhiều. Máy bay đạt được độ cao và Tohar lái theo hướng đông bắc băng qua Uruguay và vượt qua Đại Tây Dương, theo lộ trình mà Shaul đã vạch ra, tạo cơ hội tốt nhất cho họ đến được Dakar. Kỹ sư phi hành và hoa tiêu đã kiểm tra từng phép tính toán, sau đó những tính toán này được người thay thế kiểm tra lại.

Cơ trưởng, cả hai hoa tiêu và Shimon Blanc đã giám sát chuyến bay kiểm nghiệm của Britannia giữa New York và Tel Aviv vào cuối năm 1957. Cuộc hành trình không ngừng nghỉ đã đi được quãng đường 5.760 dặm trong mười lăm giờ, nhưng trên một chiếc máy bay đã tước bỏ ghế ngồi, kệ bếp và bất cứ thứ gì khác được cho là không cần thiết – kể cả hành khách. Họ cũng đã được hưởng lợi từ một chế độ thuận gió khoảng 65 dặm một giờ. Đối với chuyến bay đó, họ tính ra tầm bay tối đa trong không khí tĩnh lặng của máy bay là khoảng 4.700 dặm.

Buenos Aires tới Dakar là một chuyến bay dài 4.650 dặm. Họ đang mong đợi chiếc máy bay sẽ bay gần mức trần hiệu suất của máy bay, dọc theo tuyến đường mà các dự báo thời tiết dự đoán rằng họ hy vọng gặp phải những cơn gió thuận.  Nhưng họ lại mang thêm trọng lượng khoảng 4 tấn, khiến máy bay phải bay thấp hơn 2.000 đến 3.000 bộ so với chuyến bay kiểm nghiệm, do đó tiêu thụ nhiên liệu nhiều hơn khoảng 5% mỗi giờ. Và không có gì đảm bảo rằng điều kiện gió sẽ có lợi cho họ.

Shaul và Tohar tự tin rằng họ sẽ đến được Dakar, nhưng họ cũng nhận thức được rằng bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Họ có thể bị chết một động cơ, buộc họ phải bay thấp hơn và sử dụng nhiều nhiên liệu hơn. Các dự báo đã dự đoán tốc độ gió là 40 dặm một giờ, nhưng thực tế con số đó có thể chỉ bằng một nửa. Chiếc Britannia đặc biệt này, 4X-AGD, cũng có thể đốt nhiên liệu với tốc độ nhanh hơn biểu đồ hiệu suất đã chỉ ra. Trong vòng mười ba đến mười bốn giờ bay, những sai lệch nhỏ có thể cộng lại và tạo ra những vấn đề lớn. Tốt nhất, họ có thể phải chuyển hướng đến một sân bay khác, có lẽ ở Abidjan, Bờ Biển Ngà. Tệ nhất, họ có thể hết nhiên liệu trên Đại Tây Dương. Tỷ lệ sai sót luôn được đưa vào kế hoạch bay vì mục đích an toàn, nhưng tỷ lệ đó đã giảm đáng kể trong hoạt động này.

Hết giờ này sang giờ khác khi họ bay qua vùng biển Đại Tây Dương trống trải, đầu tiên hướng tới hòn đảo núi lửa nhỏ Trinidad, cách Brazil 680 dặm về phía đông, sau đó gần đến đích. về phía bắc hướng tới Dakar. Theo định kỳ, các nhân viên điều hành điện đài  yêu cầu cập nhật dự báo thời tiết, các hoa tiêu điều chỉnh lộ trình và Harel thò đầu vào buồng lái để hỏi xem mọi thứ có đi đúng hướng không.

Trong khoang hạng nhất, Eichmann vẫn ngoan ngoãn như lúc ở trong ngôi nhà an toàn. Bác sĩ đã ngừng tiêm thuốc an thần khi họ lên máy bay, nhưng ông chỉ cho phép Eichmann ăn ít phòng trường hợp ông cần tiêm lại cho tù nhân. Harel cũng yêu cầu lực lượng của mình phải cảnh giác, mặc dù Eichmann đã bị còng tay và đeo kính vì sợ rằng y có thể định tự sát. Người tù hút thuốc rất nhiều và liên tục bồn chồn trên ghế.

Bây giờ họ đang bay, hầu hết phi hành đoàn El Al đều giữ khoảng cách với y. Chỉ có một vụ đối đầu bộc lộ những cảm xúc tiềm ẩn của họ đối với tên tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã. Lần đầu tiên khi nghe tin y đã lên tàu, người thợ máy trưởng, Arye Friedman, đã choáng váng đến mức không thể làm gì khác ngoài việc khóc sụt sùi. Ở Ba Lan, em trai sáu tuổi của anh, Zadok, đã bị kéo đi và bị lính Đức giết, và Arye còn phải chịu đựng thêm nhiều cơn ác mộng trong các khu ổ chuột và trại tập trung trong suốt cuộc chiến. Trong chuyến bay, Friedman đối mặt với người canh giữ cùng với Eichmann, hét lên: “Cậu đưa thuốc lá cho hắn à! Trong khi hắn đưa hơi độc cho chúng tôi!” Eichmann không nói gì, nhìn về phía Friedman nhưng không thể nhìn thấy anh ta vì kính bảo hộ. Người thợ máy ngồi đối diện với người tù và nhìn chằm chằm vào mặt y, mà như chỉ nhìn thấy Zadok và mẹ anh khi anh hồi tưởng lại quá khứ. Sau đó anh đứng dậy và bước ra khỏi cabin.

Yosef Klein kết thúc công việc của mình ở Buenos Aires vào buổi sáng sau khi chuyến bay khởi hành. Anh thanh toán mọi hóa đơn chưa thanh toán cho các dịch vụ được cung cấp cho El Al và sau đó bắt chuyến bay của Aerolineas Argentinas trở về New York. Không có thời gian cho chuyến đi tham quan ở Brazil mà mình đã lên kế hoạch trong chuyến hành trình của mình. Phần thưởng của Klein là được nhìn thấy đèn hậu của chiếc Britannia biến mất trong màn đêm cùng với Adolf Eichmann trên tàu.

Trên chuyến bay trở về Hoa Kỳ, Klein ngồi cạnh một phóng viên của tờ Daily Express (London), người đang gõ gõ chiếc máy đánh chữ Hermes của mình để viết một phóng sự về tuần trăng mật của Công chúa Margaret, em gái Nữ hoàng Elizabeth. Đây là một “tin độc quyền hoành tráng”, phóng viên nói với Klein, đồng thời giải thích rằng mình đã thuê một chiếc máy bay để bay qua biệt thự bên bờ biển của công chúa. Klein hiểu ý mỉm cười, chỉ muốn buột miệng: “Giá như cậu biết được loại nguồn tin độc quyền đang ngồi bên cạnh cậu!”

_____

Sáng sớm ngày 21 tháng 5, Eitan, Malkin, Shalom, Dani và Nesiahu thức dậy ở Tira, vui mừng vì Eichmann không còn là trách nhiệm của họ nữa và nhiệm vụ của họ đã diễn ra rất tốt đẹp. Họ có một số vấn đề còn dang dở cần phải giải quyết: Họ đã xóa bỏ tất cả dấu tích về sự hiện diện của đội trong các ngôi nhà an toàn khác nhau. Họ đốt sạch hoặc vứt bỏ bất kỳ giấy tờ nào mà họ không có ý định mang theo bên mình. Và họ đã trả lại chiếc xe cuối cùng. Vẫn chưa có đề cập nào đến vụ Eichmann trên báo chí hay trên đài phát thanh, và Ilani đảm bảo với họ rằng đại sứ quán chưa nghe thấy gì về bất kỳ cuộc khám xét nào do chính phủ chỉ đạo đối với bất kỳ tội phạm chiến tranh nào của Đức Quốc xã.

Nhiệm vụ cuối cùng còn lại của các đặc vụ là rời khỏi đất nước. Dani và Nesiahu đã đặt vé trên các chuyến bay vào ngày hôm sau, nhưng do lễ kỷ niệm đang diễn ra sôi nổi nên không có chuyến bay nào còn chỗ trống  cho Eitan, Malkin và Shalom. Vì vậy, vào cuối buổi sáng hôm đó, họ đã mua ba vé đi chuyến tàu hỏa đêm đến Mendoza, ở biên giới giữa Argentina và Chile. Ở đó họ sẽ bắt một chuyến tàu khác xuyên dãy Andes đến Santiago. Harel đã đảm bảo với họ rằng thông báo về việc bắt giữ sẽ không được đưa ra cho đến khi họ trở về Israel an toàn.

_____

Đèn đỏ lóe lên trong buồng lái Britannia khi Tohar hạ cánh về phía Dakar. Họ đã bay được gần mười ba giờ và vượt quá 4.650 dặm dự kiến rất xa. Shaul đã điều chỉnh đường bay và độ cao của họ trong chuyến vượt Đại Tây Dương để tìm những cơn gió thuận lợi hơn. Thời gian dành cho những trò đùa, như khi chỉ huy đi khắp cabin hỏi xem có ai có bật lửa không vì họ cần thu hết nhiên liệu có thể sử dụng, đã qua. Họ đã vượt qua điểm không thể quay lại từ lâu, và họ sẽ đến được bờ biển nơi có sân bay Dakar hoặc sẽ không bao giờ. Đồng hồ đo cho thấy máy bay sắp hết nhiên liệu. Buồng lái im lặng, mọi người căng thẳng. Tohar nhìn ra ngoài cửa sổ, tìm kiếm đất liền. Những ngọn đèn tiếp tục nhấp nháy. Điều này sẽ rất gần, rất gần. Các kỹ sư bay và hoa tiêu biết điều này mà không cần nhìn vào đồng hồ đo mức nhiên liệu. Nếu xảy ra sự cố ở Dakar, nếu đường băng bị đóng cửa vì bất kỳ lý do gì, họ sẽ không có đủ nhiên liệu để bay vòng quanh sân bay chờ được thông quan để hạ cánh hoặc chuyển hướng sang sân bay khác. Và đó  là trường hợp họ đến được bờ biển. Tuy nhiên, phi hành đoàn trong buồng lái vẫn chắc chắn rằng họ sẽ làm được, mặc dù chỉ còn lại vài phút nhiên liệu trong thùng.

Bánh đáp đã được hạ xuống khi họ nhìn thấy đất liền và họ đã thông báo cho tháp điều khiển sân bay rất lâu trước khi họ đến nơi. Tohar dần dần giảm độ cao và cuối cùng, sau mười ba giờ mười phút bay, đã hạ cánh suôn sẻ trên đường băng Dakar. Anh đã tắt hai động cơ ngay khi máy bay giảm đủ tốc độ, không chắc chắn rằng họ có đủ nhiên liệu để di chuyển đến nhà ga hay không.

Harel chúc mừng phi hành đoàn buồng lái về thành công của chuyến bay, nhưng anh lo lắng  chính quyền Argentina đã liên lạc với Dakar trong thời gian đó, thông báo với họ rằng máy bay El Al có thể chở một hành khách đáng ngờ. Nếu đúng như vậy, việc khám xét kỹ lưỡng chiếc máy bay sẽ được đảm bảo. Vì thế trước khi người tiếp viên mở cửa máy bay, bác sĩ Kaplan đã tiêm thêm thuốc an thần cho Eichmann, và Gat ngồi xuống cạnh y. Một lần nữa, tấm màn che khoang hạng nhất lại được kéo lên, đèn tắt.

Trong khi dịch vụ sân bay tiếp nhiên liệu cho Britannia, một người trong phi hành đoàn El Al đã lao vào cabin để báo cho Gat rằng hai thanh tra y tế người Senegal đang đến. Gat nghe thấy ai đó nói bằng tiếng Pháp đang đến gần. Anh đặt đầu Eichmann lên vai mình và giả vờ như đang ngủ. Các thanh tra viên chỉ nhìn lướt qua cabin. Phần còn lại của chặng dừng chân diễn ra suôn sẻ. Phi hành đoàn chất thêm đồ ăn lên máy bay, Shaul và Hassin nộp kế hoạch chuyến bay đến Rome, mặc dù họ sẽ đi thẳng đến Tel Aviv.

Trước khi cất cánh, Harel cảnh báo cơ trưởng rằng người Senegal không phải là mối đe dọa cuối cùng. Ông ấy không muốn bay gần bờ biển Bắc Phi, vì sợ rằng người Ai Cập có thể buộc Britannia phải hạ cánh xuống đất nước họ hoặc bắn hạ nó  khỏi bầu trời nếu họ phát hiện ra rằng chiếc máy bay đang được sử dụng để đưa Eichmann đến Israel. Không ai trong buồng lái cần được nhắc nhở về khả năng này. Chỉ 5 năm trước, một chiếc El Al Constellation bay sát không phận Bulgaria đã bị một chiếc MiG 15 bắn hạ, khiến toàn bộ 51 hành khách và 7 thành viên phi hành đoàn trên máy bay thiệt mạng.

Shaul và Hassin đã vạch ra một lộ trình dài 4.500 dặm, kéo dài 11 giờ, tránh xa không phận Ai Cập. Cả hai đều biết rằng gió xuôi qua Địa Trung Hải mạnh hơn nhiều so với gió ở Nam Đại Tây Dương, có nghĩa là hành trình sẽ không thử thách giới hạn của máy bay về mặt nhiên liệu giống như hành trình đến Dakar. Tuy nhiên, chuyến bay sẽ mất nhiều thời gian hơn ba giờ so với đường đi thẳng.

Một giờ hai mươi phút sau khi hạ cánh, chiếc Britannia rời Dakar. Nó bay tới bờ biển phía tây châu Phi, sau đó về phía đông bắc tới Tây Ban Nha. Máy bay đi qua eo biển Gibraltar trong thời gian tăng tốc nhờ những cơn gió giật khi nó gần như chuyển hướng về phía đông đến Ý. Tổ bay đã thông báo cho tháp kiểm soát không lưu ở Rome rằng họ sẽ tới Athens. Britannia sau đó bay về phía đông nam qua Địa Trung Hải trước khi nhân viên điện  đài thông báo cho Athens rằng họ sẽ đi thẳng đến Tel Aviv. Người Israel băng qua miền nam Hy Lạp, men theo Thổ Nhĩ Kỳ trước khi quay về phía Israel. Họ tránh không phận Ai Cập hơn một trăm dặm, và chuyến bay diễn ra hoàn hảo.

Khi máy bay đang đến gần Israel, Harel rửa mặt, cạo râu và mặc quần áo sạch sẽ, chuẩn bị cho hoạt động gấp rút đang chờ đợi khi ông đến nơi. Ông thông báo cho người của mình về nhiệm vụ của họ khi đáp xuống, sau đó nhìn ra ngoài cửa sổ, háo hức được nhìn thấy bờ biển Israel hiện ra trên bầu trời đang sáng dần.

Vào lúc 6:55 sáng vào Chủ Nhật, ngày 22 tháng 5, Zvi Tohar phát hiện vạt đất ở phía chân trời. Anh cho thiết bị hạ cánh xuống và mười lăm phút sau, bánh chiếc Britannia chạm đất Israel. Không có lễ ăn mừng như khi họ rời Buenos Aires. Phi hành đoàn đã bay gần hai mươi bốn giờ liên tục, và các đặc vụ canh giữ theo Eichmann cũng không nghỉ ngơi. Sự nhẹ nhõm  là cảm xúc ngự trị khắp máy bay.

Tohar đưa máy bay tới trạm cuối để hầu hết phi hành đoàn có thể rời tàu. Harel bắt tay tất cả mọi người. Chỉ huy cũng đánh giá cao nỗ lực của phi hành đoàn, nhiệt liệt cảm ơn mỗi người trong số họ khi họ bước ra máy bay. Các nhân viên  hải quan toan lên máy bay, nhưng họ được thông báo rằng sẽ không có sự kiểm tra cabin. Những cánh cửa đã đóng, và Tohar đưa máy bay đến nhà chứa máy bay của El Al, cách xa nhà ga cuối.

Hai chiếc xe đang đợi họ. Đầu tiên là Mordechai Ben- Ari, phó giám đốc El Al; người còn lại là Moshe Drori của Mossad. Drori lên máy bay trước, nhưng lời chúc mừng của ông nhanh chóng bị lãng quên khi người ta thấy rõ rằng ông chưa chuẩn bị cho việc vận chuyển hoặc giam giữ Eichmann. “Tôi đang đợi anh  và những chỉ dẫn của anh,” Drori yếu ớt nói, lời giải thích của anh ta không xoa dịu được Harel. Ông tức thời xông ra khỏi máy bay.

Harel sải bước vào một nhà chứa máy bay và tìm thấy một chiếc điện thoại lấm lem dầu mỏ, gọi cho trụ sở Shin Bet. “Quái vật đang bị xiềng xích,” ông nói với một người phó của mình trước khi ra lệnh gửi tới một xe tải. Một thời gian ngắn sau đó, một chiếc xe tải màu đen không có cửa sổ xuất hiện bên cạnh máy bay.

Tabor và Gat hộ tống một Eichmann run rẩy,  bị bịt mắt bước xuống bậc thang và vào phía sau xe tải. Harel giải thích với Gat rằng ông dự định đưa Eichmann đến trung tâm giam giữ bí mật của Shin Bet nằm ở một ngôi nhà  Ả Rập cũ ở rìa Jaffa. Gat gật đầu, gợi ý rằng vì hầu hết lính gác ở đó là những người sống sót sau thảm họa Holocaust, nên họ cần xác nhận nhân thân tù nhân là một điệp viên  cao cấp. Tiết lộ danh tính thực sự của y có thể gây ra một cuộc tấn công trả thù. Harel đồng ý và chiếc xe tải phóng đi.

Người đứng đầu Mossad sau đó vội vã tiến về Jerusalem. Ông hy vọng được gặp Ben-Gurion trước cuộc họp nội các thường lệ vào lúc 10 giờ. Ông không muốn thu hút sự chú ý về mình bằng cách xen vào giữa cuộc họp.

Tài xế lâu năm của ông, Yaki, phóng xe nhanh qua Đồi Judean để vào thành phố. Cơn gió lùa qua khung cửa sổ đang mở chẳng làm dịu bớt cái nóng như thiêu như đốt.

Họ đến vài phút trước cuộc họp. Một thư ký dẫn Harel vào văn phòng thủ tướng.

“Tôi mang quà đến cho ngài đây,” Harel nói.

Ben-Gurion ngước lên khỏi chiếc bàn ngổn ngang giấy tờ, ngạc nhiên khi nhìn thấy Harel.

Harel tiếp tục: “Tôi đã đưa Adolf Eichmann đi cùng. Y đã ở trên đất Israel được hai giờ và nếu ngài cho phép, y sẽ được giao cho cảnh sát Israel”.

Ben-Gurion bị kích động bởi tin tức này và trong một lúc, ông ấy im lặng. “Cậu có chắc chắn đó là Eichmann không?”

Đó không phải là một phản hồi mà Harel mong đợi và ông hơi ngạc nhiên. “Tất nhiên là tôi khẳng định. Y thậm chí còn tự mình thừa nhận điều đó.”

“Có ai đã từng gặp y trong quá khứ nhận dạng được y chưa?”

“Chưa,” Harel nói.

“Nếu đã như vậy, cậu phải tìm một người biết mặt y để đến nhận diện Eichmann trong tù. Chỉ sau khi y được xác định chính thức, tôi mới hài lòng rằng đây chính là người đàn ông đó.”

Harel hiểu sự dè dặt của Ben-Gurion, biết ý nghĩa của bất kỳ thông báo nào ngài ấy đưa ra. Mặc dù vậy, trong tâm trí mìn, Harel không một chút nghi ngờ nào rằng họ  tóm được đúng người. Chỉ vài giờ sau, Moshe Agami, người từng là đại diện của Cộng đồng Do Thái trong chiến tranh và đã gặp Eichmann ở Vienna, được đưa đến phòng giam nơi tù nhân đang bị giam giữ. Trong vòng vài phút, Agami đã xác nhận rằng đây chính là người đã bắt mình đứng nghiêm trong văn phòng của y ở Palais Rothschild vào năm 1938 khi ông đến xin phép cho người Do Thái nhập cư vào Palestine. Sau khi Agami rời khỏi phòng giam, Benno Cohen, cựu chủ tịch một tổ chức theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái ở Đức vào giữa những năm 1930, cũng nhận dạng Eichmann. Harel gọi điện cho thủ tướng và báo tin.

Cuối cùng Ben-Gurion cũng cho phép mình thưởng thức thành quả của chiến dịch. Ông muốn thông báo việc bắt giữ vào ngày hôm sau. Harel xin ông đợi thêm chút thời gian; một số đặc vụ của ông vẫn còn kẹt ở Nam Mỹ.

“Có bao nhiêu người biết Eichmann ở Israel?” Ben-Gurion hỏi.

Đã hơn năm mươi rồi, Harel thừa nhận.

“Trong trường hợp đó, không cần chờ đợi. Chúng ta sẽ thông báo!” Sáng sớm hôm sau, ngày 23 tháng 5 – lại một ngày nắng nóng không mây – Eichmann được đưa ra trước mặt Thẩm phán Emanuel Halevi ở Jaffa. Khi thẩm phán hỏi danh tính của tù nhân, y trả lời không chút do dự: “Tôi là Adolf Eichmann”. Với giọng khàn khàn, Halevi buộc y tội diệt chủng và ban hành lệnh bắt giữ chính thức.

Sau đó Harel gọi điện cho Haim Yitzhaki, người liên lạc của ông ta với Fritz Bauer ở Cologne. Harel và Haim Cohen, hiện là thẩm phán của Tòa án Tối cao Israel, đều cho rằng tổng chưởng lý bang Hesse xứng đáng được thông báo về sự thành công của sứ mệnh trước khi nó xuất hiện trên bản tin.

Cuối ngày hôm đó, tại một nhà hàng ở trung tâm Cologne, Bauer đợi Yitzhaki, người đã yêu cầu một cuộc gặp khẩn cấp nhưng giờ đã muộn. Bauer lo sợ rằng có điều gì đó không ổn xảy ra với nhiệm vụ. Cuối cùng, Yitzhaki bước vào nhà hàng và nhanh chóng bước tới bàn, tay và quần áo lấm lem dầu mỡ do thay lốp bị xẹp. Khi Bauer biết tin về Eichmann, ông ta đã nhảy khỏi chỗ ngồi, nước mắt lưng tròng và hôn lên cả hai má Yitzhaki.

Bây giờ đã đến lúc cho phần còn lại của thế giới biết tin.

_____

Lúc 4 giờ chiều, Ben-Gurion bước vào tòa nhà Quốc hội Knesset. Có tin đồn rằng thủ tướng sẽ có một thông báo đặc biệt, nhưng không ai trong số các nghị sĩ, cũng như bất kỳ cơ quan báo chí nào biết ông sắp tiết lộ điều gì. Tuy nhiên, họ vẫn hào hứng đứng chật kín sảnh và hành lang công cộng. Ngay trước khi Ben-Gurion đứng lên phát biểu trước hội đồng, Isser Harel và Zvi Aharoni đã  lẻn vào hành lang. Đây là lần đầu tiên Aharoni đến Knesset và anh ấy rất kinh ngạc trước sự hoành tráng dịu dàng của nó.

Sau đó Ben-Gurion tiến lên bục và cả khán phòng im lặng. Bằng một giọng trang trọng đầy cảm xúc, ông tuyên bố: “Tôi phải thông báo với Knesset rằng cách đây không lâu một trong những tội phạm chiến tranh khét tiếng nhất của Đức Quốc xã, Adolf Eichmann – kẻ chịu trách nhiệm, cùng với các thủ lĩnh Đức Quốc xã, về cái mà họ gọi là ‘Giải pháp Cuối cùng cho Vấn đề Do Thái’, tức là việc tiêu diệt sáu triệu người Do Thái ở châu Âu – đã bị Cơ quan An ninh Israel phát hiện. Adolf Eichmann đã bị giam giữ tại  Israel và sẽ sớm bị đưa ra xét xử ở Israel theo các điều luật xét xử tội phạm Đức Quốc xã và những người giúp đỡ họ.” Không ai di chuyển. Các nghị viên ngồi yên tại chỗ, không chắc liệu họ có nghe đúng lời thủ tướng hay không hay những gì ông ấy nói là đúng hay không. Dần dần, mọi người nhận ra tầm quan trọng của tuyên bố đó, và như thể không khí bị đánh bật ra khỏi lồng ngực của họ. “Khi họ hồi phục sau cú sốc choáng váng,” một nhà báo Israel tường thuật đêm đó, “một làn sóng xúc động nhấn chìm cử tọa, sự xúc động sâu sắc chưa từng được biết đến trước đây ở Knesset.” Nhiều người tái mặt. Một phụ nữ khóc nức nở. Những người khác nhảy ra khỏi ghế, cần phải to tiếng nhắc lại rằng Eichmann đang ở Israel mới tiêu hóa được tin tức. Các phóng viên quốc hội chạy nhanh đến bốt điện thoại để truyền tải bài phát biểu dài 62 từ bằng tiếng Do Thái.

Ben-Gurion sau đó bước xuống và rời khỏi hội trường. Không ai biết chắc chắn phải làm gì khi cả phòng xôn xao bàn tán. Harel và Aharoni lẻn ra ngoài một cách kín đáo như khi họ bước vào.

Golda Meir sau đó đã cố gắng phát biểu theo nghị trình về cuộc khảo sát gần đây của Bộ Ngoại giao về quan hệ quốc tế của Israel, nhưng ít người lắng nghe những gì bà ấy nói.

Eichmann. Bị bắt. Đó là tất cả những gì mọi người trong phòng nghe được. Eichmann. Bị bắt. Trong vòng vài giờ, toàn bộ Israel và phần còn lại của thế giới sẽ bị thu hút bởi thông báo đầy kịch tính này. Sân khấu đã được chuẩn bị cho một trong những phiên tòa quan trọng nhất thế kỷ.

Bình luận về bài viết này