Săn lùng Eichmann, truy nã tên quốc xã khét tiếng nhất thế giới (Bài 19)

Neal Bascomb

Trần Quang Nghĩa dịch

23

TẠI NHÀ CỦA WILLEM SASSEN, trên Phố Liberty trong khu phố yên tĩnh, rợp bóng cây của Florida, Buenos Aires, tình trạng hỗn loạn ngự trị. Đó là ngày 13 tháng 5, hai ngày kể từ khi cha họ mất tích, Nick và Dieter Eichmann vẫn đang điên cuồng cố gắng thành lập một nhóm tìm kiếm. Họ đến vào lúc nửa đêm và đập cửa. Vợ và các con gái của Sassen đã rút vào phòng ngủ, không biết chuyện gì đang xảy ra nhưng sợ có bạo lực. Cô con gái út Saskia cho rằng hai thanh niên với súng giắt trong thắt lưng như những kẻ ngoài vòng pháp luật trông thật điên rồ. Ở tầng dưới trong phòng khách, nhiều tiếng nói vang lên, bọn đàn ông tranh cãi xem ai có thể là người bắt cóc Eichmann và họ sẽ làm gì với việc đó.

Cuối cùng, Sassen đưa hai anh em lên xe của mình để xem liệu họ có thể phát hiện ra dấu vết nào có thể dẫn họ đến chỗ ông  ta hay không. Một số cộng sự của y nghĩ rằng y có thể đã say mèm trên đường từ quán bar về nhà và gặp tai nạn bị thương. Nhưng hai gã con trai đã đưa ra cặp kính vỡ nát của cha chúng  để chứng minh điều này không đúng. Những cuộc điều tra của họ xung quanh San Fernando cũng không mang lại kết quả gì. Không ai nhìn thấy gì vào đêm ngày 11 tháng 5.

Các chàng trai biết rằng họ cần nhiều sự giúp đỡ hơn những gì Sassen có thể cung cấp, không chỉ để tìm cha mà còn để bảo vệ mẹ và em trai trong trường hợp chính những kẻ đã bắt cha họ đến bắt họ làm con tin. Nick và Dieter đã rao bán vài chiếc nhẫn vàng và đồng hồ tại một tiệm cầm đồ để mua ba khẩu súng – một khẩu súng lục cỡ nòng 22, một khẩu .38 và một khẩu cỡ nòng .45. Họ đã vỡ lẽ rằng mình không thể phụ thuộc vào sự giúp đỡ của cộng đồng người Đức. Ngoài Fuldner và Sassen, hầu hết cộng sự của cha họ không muốn dính líu gì đến mình. Họ lo lắng hơn về việc bảo vệ bản thân. Về phía cảnh sát, hai anh em không thể nhận được sự giúp đỡ nếu không tiết lộ danh tính thực sự của cha mình, điều này có thể khiến ông gặp nhiều nguy hiểm hơn hiện tại. Thay vào đó, họ quyết định quay sang mối quan hệ của mình trong một tổ chức tên là Tacuara.

Tacuara là một tổ chức dân tộc cấp tiến được thành lập vài năm trước bởi một nhóm thanh niên, hầu hết là học sinh trung học và sinh viên đại học tư sản, những người lần đầu tiên vận động để phản đối việc thế tục hóa hệ thống giáo dục. Cái tên này được lấy từ tên loại vũ khí thô sơ  được các gauchos (người lai giữa dân định cư Tây Ban Nha và người bản xứ Nam Mỹ) sử dụng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Argentina – về cơ bản là một con dao buộc vào đầu thân cây mía. Là tín đồ Thiên Chúa giáo cuồng nhiệt, Tacuara đã mô phỏng theo phong trào Falange của Tây Ban Nha, do José Antonio Primo de Rivera lãnh đạo. Đó là hiếu chiến, phát xít và chống Do Thái. Các thành viên của nó ủng hộ bạo lực để đạt được mục đích, bao gồm việc giải phóng Argentina khỏi nền dân chủ tự do, chủ nghĩa tư bản và ảnh hưởng của người Do Thái. Các thành viên mới tuyên thệ trung thành trong nghĩa địa, cắt tóc ngắn, được huấn luyện trong các trại chiến binh, mặc áo sơ mi màu xám và đeo băng tay có hình chữ thập Maltese, gọi nhau là “đồng chí”, thần tượng Hitler và Mussolini, sử dụng cách chào của Đức Quốc xã, và tuyên truyền bài Do Thái và chủ nghĩa dân tộc. Người ta thường thấy họ đi lang thang trong thành phố bằng xe máy.

Mặc dù không phải là thành viên của Tacuara nhưng Nick và Dieter cũng có những chia sẻ quan điểm chính trị tương tự và có bạn bè trong tổ chức. Ý tưởng về một nhóm người Do Thái, có thể là người Israel, hoạt động bất hợp pháp bên trong Argentina là một điều đáng căm ghét đối với Tacuara, và một số thành viên của nhóm đã tập hợp lại để tìm Eichmann, bảo vệ gia đình ông và truy lùng những kẻ bắt cóc ông.

_____

Không hề hay biết, Luba Volk đang cung cấp việc ngụy trang để  đưa Eichmann ra khỏi Argentina. Như một phần nhiệm vụ của bà trên chuyến bay đặc biệt El Al, trụ sở chính của hãng hàng không đã chỉ thị bà, theo lời khuyên của Isser Harel, đặt vé cho hành khách tư nhân trong chuyến bay trở về Israel. Họ đã gửi cho Volk những chồng áp phích in và tờ rơi để giúp bà quảng bá chuyến bay, điều mà bà đã thực hiện trong tuần qua thông qua các mối quan hệ của mình trong ngành du lịch Buenos Aires. Bà đã bán gần hết số ghế, nhưng có một trở ngại duy nhất: Bộ trưởng Bộ Hàng không. Bà cần sự cho phép của ông  để chở hành khách tư nhân, nhưng vì không có thỏa thuận qua lại giữa El Al và Aerolineas Argentinas, bà không tin rằng ông sẽ chấp thuận yêu cầu của mình. Vé đã được bán với điều kiện này. Cấp trên của bà ở El Al nói rằng họ hiểu rủi ro này, nhưng bà nghĩ điều bất thường nhất là họ muốn bà tiến về phía trước.

Ngày 14/5, bà nhận được câu trả lời từ Bộ Hàng không. Yêu cầu của bà đã bị từ chối; chuyến bay sẽ không có hành khách tư nhân. Thất vọng, Volk ít nhất muốn làm điều gì đó tốt đẹp cho một phụ nữ Israel lớn tuổi đang bị bệnh cần phẫu thuật và hy vọng có thể quay lại Tel Aviv để phẫu thuật. Volk đã nộp đơn “xin sử dụng cáng”  lên Bộ trưởng để xin phép đưa người phụ nữ trên cáng này bay đến Israel, vô tình khiến chuyến bay càng bị người Argentina xoi mói chặt chẽ hơn.

Yosef Klein không biết về yêu cầu này. Mặc dù rất tiếc vì không thể tiết lộ mục đích của chuyến bay cho Volk do anh được yêu cầu giữ bí mật với baf. Trong mọi trường hợp, anh đã bận bịu túi bụi. Máy bay sẽ đến trong năm ngày nữa. Klein đã đảm bảo tất cả các thủ tục thông quan và đang hoàn thiện các dịch vụ (nhiên liệu, ăn uống, dọn dẹp) cho chiếc Britannia. Anh biết máy bay sẽ đỗ ở đâu và đã được phép tự vận hành nó từ khu vực bảo trì đến cổng. Anh  tiếp tục kết giao với nhân viên sân bay, họ hiện đã cho phép anh đi bộ qua khu an ninh và xung quanh sân bay mà không bị cản trở. Klein cũng đã giới thiệu Shalom và giám đốc an ninh El Al mới đến, Adi Peleg, với các nhân viên sân bay. Cùng nhau, ba người đàn ông đã thăm dò lại sân bay để lên kế hoạch tìm cách kín đáo nhất đưa Eichmann lên máy bay. Thỉnh thoảng khi gặp nhau, Harel sẽ thẳng thắn nhắc nhở Klein về “tầm quan trọng lịch sử” của việc họ đang làm. “Mọi thứ sẽ ổn thôi. Cố lên, cố lên,” Harel nói. Những lần gặp họp này với Harel luôn để lại cho Klein không những thêm tin tưởng hơn vào khả năng của mình mà còn cảm xúc gần như là nghẹn ngào với nhiệm vụ đưa Adolf Eichmann ra trước công lý. Sự động viên của Harel đã xoa dịu nỗi lo lắng của anh về nổi nguy hiểm của hoạt động và vai trò của anh trong việc đảm bảo nó diễn ra thành công.

Giờ đây, khi đã chịu trách nhiệm đưa Eichmann rời khỏi Argentina an toàn, Avraham Shalom không có ý định giao nhiệm vụ này vào tay một thường dân, cho dù một người có năng lực như Klein. Trong hai ngày qua, anh đã cùng Aharoni và Ilani trinh sát bến cảng. Họ là ba thành viên duy nhất của đội Mossad ngoài Harel không bị ràng buộc ngày đêm với Tira. Bến cảng phía Nam tấp nập công nhân bốc xếp và thanh tra hải quan giám sát việc dỡ xếp hàng hóa: quá bận rộn. Bến cảng phía bắc, nơi các tàu du lịch thường cập bến, mang lại nhiều cơ hội hơn, đặc biệt khi đang là mùa đông ở Buenos Aires. Tuy nhiên, Shalom vẫn nghi ngờ về bất kỳ kế hoạch nào đưa Eichmann ra ngoài bằng thuyền, chủ yếu là vì hành trình đến Israel sẽ mất nhiều thời gian và mức độ nguy hiểm tăng lên khi con tàu sẽ cặp các cảng khác nhau trên đường đi. Thậm chí còn có đề cập ngắn gọn về việc thuê một chiếc tàu ngầm để tuồn Eichmann ra khỏi đất nước, nhưng điều này đã bị gạt bỏ như một giấc mơ hoang đường. Máy bay El Al vẫn là lựa chọn tốt nhất của họ, vì vậy đó là con đường mà Shalom tập trung sự chú ý của mình.

Phần lớn thời gian trinh sát của anh dành cho sân bay, nơi anh đóng vai một quan chức ngoại giao giúp sắp xếp chuyến bay El Al. Anh nhanh chóng xác định rằng lực lượng bảo vệ canh gác lối vào bên cạnh khu vực bảo trì sẽ dễ dàng bị đánh lừa. Họ lo ngại về hành vi trộm cắp hơn các loại vi phạm an ninh khác. Với việc Eichmann mặc đồng phục El Al, có lẽ được bác sĩ cho thuốc an thần, họ sẽ có thể đưa y vượt qua mà không gặp khó khăn gì. Đưa tù nhân của họ lên tàu bằng xe chở thực phẩm hoặc hòm ngoại giao sẽ quá phức tạp. Shalom thích đơn giản và dễ thực hiện. Anh dự định sẽ đi qua khu vực an ninh vài giờ một lần trong năm ngày tới để các lính canh quen với việc nhìn thấy anh cũng như nhìn thấy Klein.

Tiếp theo là câu hỏi về việc máy bay có thể cất cánh trong bao lâu, ai sẽ cho phép nó cất cánh và phải làm gì nếu bị chậm trễ. Shalom đã thẩm vấn kỹ lưỡng Klein và Peleg về mọi tình huống. Việc trốn thoát khỏi Argentina phải được lên kế hoạch tỉ mỉ như chính việc bắt giữ.

Do đó, Shalom và Eitan đều rất khổ sở khi Harel đề xuất một nhiệm vụ mới.

_____

“Việc tìm kiếm tên bác sĩ phải được ưu tiên cao nhất”, Harel nói khi đặt tách cà phê của mình xuống bàn vào ngày 15 tháng 5. Ông tiếp tục giải thích rằng ông đã gửi lệnh cử thêm hai đặc vụ Mossad tới Buenos Aires. Họ sẽ tham gia vào một cuộc đột kích của biệt kích để bắt giữ Josef Mengele – nếu họ tìm thấy y – và đưa y trở về Israel trên cùng chuyến bay với Eichmann.

Eitan và Shalom đã nghe báo cáo về việc Mengele đang ở Argentina và đã có một số cuộc nói chuyện trước khi rời Tel Aviv về việc tìm kiếm y khi họ ở đó. Mặc dù vậy, Harel chưa bao giờ nói với họ rằng ông muốn đưa tên bác sĩ đi cùng trong cùng một chiến dịch

“Nhìn này, Isser,” Eitan nói, “Tôi không chắc liệu chúng ta có thể đưa hai người họ đến Israel an toàn hay không. Vì vậy, tôi không muốn mạo hiểm thực hiện một hoạt động khác.”

Harel đã chờ đợi để bất ngờ đưa ra nhiệm vụ cho đội, nhưng với việc Eichmann đã được canh giữ ở ngôi nhà an toàn và không có tin tức gì về việc tìm kiếm y đang được tiến hành, thì thời điểm đã đến. Ông chuyển tiếp kế hoạch truy đuổi Mengele của mình một cách cương quyết và rõ ràng cho Eitan và Shalom.

“Cố bắt thật nhiều,” Eitan nói với nụ cười gượng để xoa dịu sự căng thẳng, “và anh sẽ chẳng bắt được gì cả.”

Mặc dù Eitan và Shalom rõ ràng là không ủng hộ hoạt động thứ hai này, Harel vẫn không nản lòng. Họ có những manh mối cụ thể về Mengele, và Harel không thể yên tâm nếu ông không theo đuổi chúng khi họ ở Buenos Aires. Ông đã rùng mình trước những câu chuyện mà Amos Manor kể về các bác sĩ ở Auschwitz – những câu chuyện đến từ chính trải nghiệm của mình. Sau khi nghe những cuộc trò chuyện đó, Harel đã cháy cả ruột gan, như chính ông đã mô tả, quyết bắt cho được tên bác sĩ đó.

Harel hướng dẫn Eitan và Shalom bảo Aharoni thúc ép Eichmann mạnh mẽ hơn để khai ra Mengele. Người đứng đầu Mossad chắc chắn rằng tù nhân của họ đã nói dối và biết chính xác nơi Mengele sống.

Cuối ngày hôm đó, Aharoni hỏi Eichmann một lần nữa về Mengele. Giờ đây, trong ngày thứ tư bị giam giữ, không biết là ngày hay đêm hay họ sẽ bịt mắt và cùm mình  vào giường trong căn phòng nhỏ bé này bao lâu, người tù dần dần mất đi mọi sự phản kháng đối với những gì y sẽ tiết lộ.

Lúc đầu, Eichmann lại kể câu chuyện của mình về việc không hề biết gì về Mengele. Nhưng sau nhiều lần tra hỏi, y tiết lộ rằng họ đã tình cờ gặp nhau một lần tại một nhà hàng trong thành phố. Tên bác sĩ, y nhớ lại, đã chăm sóc y tế miễn phí cho Eichmann.

Nhưng Aharoni khẳng định rằng Eichmann chắc chắn đã gặp Mengele nhiều lần. Chắc chắn y biết nơi hắn sống. Eichmann kịch liệt phủ nhận điều này, nói thêm rằng y lo sợ cho an toàn của gia đình mình nếu y khai bất cứ điều gì. Aharoni nói với y rằng mình có thể đợi hàng tháng để y trả lời câu hỏi. Không ai tìm kiếm y đâu. Vài giờ sau, Eichmann thú nhận rằng Mengele đã từng nói mình ở trong một nhà trọ do một phụ nữ Đức tên là Jurmann điều hành. Y không biết địa chỉ nhưng nó ở đâu đó trong Vicente López. Nhà trọ Jurmann đã xuất hiện trong sổ tay mã hóa của Harel. Điều này chứng tỏ tình báo của họ rất tốt.

Cảm thấy mình đang đạt được tiến bộ với Eichmann, Aharoni lại thúc ép y ký một tuyên bố rằng mình sẵn sàng đến Israel hầu tòa. Aharoni đã chuẩn bị một văn bản mẫu để Eichmann sao chép và ký tên. Trước sự thất vọng của Aharoni, Eichmann vẫn cố gắng cầm cự. Tại một thời điểm, y.gợi ý rằng thay vào đó y chịu đến Áo.

“Mày chớ có xúc phạm tao nữa!” Aharoni quát lên. “Đó là Israel hoặc không nơi nào cả. Hoặc mày đồng ý hoặc mày từ chối. Nhưng đừng tránh né vấn đề. Nếu mày không phạm tội thì không có gì phải sợ. Hãy suy nghĩ về điều đó. Chúng tao có rất nhiều thời gian.”

_____

Đêm đó, Harel đến thăm Tira để gặp Eichmann và chúc mừng các đặc vụ của mình đã bắt giữ thành công. Trước đó, khi nhìn thấy Eitan, Harel đã bị sốc trước thái độ nghiêm trọng của ông ta. Bây giờ Harel tìm thấy những thành viên còn lại trong đội cũng u ám. Ông không tin việc trông chừng Eichmann sẽ quá căng thẳng, nhưng ông không hiểu được mức độ tinh thần suy nhược cho đến khi lên lầu vào buổi tối hôm đó để gặp chính Eichmann.

Người tù nằm trên giường trong bộ đồ ngủ, đeo kính bảo hộ che mắt. Y không có động thái ngồi dậy cho đến khi được yêu cầu, và thậm chí sau đó, y thu mình trước sự hiện diện của ông. Harel choáng váng khi Eichmann trông tầm thường và đáng thương làm sao.

Bất chấp nỗ lực của Eichmann để thuyết phục Aharoni rằng mình chỉ là một “cái răng nhỏ” trong cỗ máy Đức Quốc xã, Harel biết rằng Eichmann đã thực hiện các hoạt động trên khắp châu Âu. Y đã tước bỏ quyền lợi của toàn bộ người Do Thái, chiếm đoạt của cải họ, đẩy họ vào các khu ổ chuột, sau đó trục xuất họ đến các trại để tiêu diệt ngay lập tức hoặc sau  nhiều tháng phải lao động khổ sai. Y có thể không giết người Do Thái bằng chính khẩu súng của mình, nhưng những nỗ lực của y thậm chí còn tàn khốc hơn. Khi đến Budapest, y đã cho đòi các nhà lãnh đạo Do Thái của thành phố tới văn phòng khách sạn Majestic của mình và hứa: “Một khi đạt được chiến thắng, người Do Thái sẽ được tự do và được phép làm những gì họ muốn. Nói chung, tôi không phải là bạn của vũ lực và hy vọng rằng mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp không cần đến nó.” Ngày hôm sau, Eichmann đã cử chỉ huy vận tải của mình tới Vienna để hoàn thiện các chi tiết về tuyến đường sắt nhằm đưa người Do Thái Hungary đến trại Auschwitz. Trong khi hết cộng đồng Do Thái này đến cộng đồng Do Thái khác ở Hungary bị tiêu diệt, Eichmann đã đi lại khắp Budapest, ngủ với các tình nhân của mình và uống rượu say sưa tại các nhà hàng sang trọng của thành phố. Khi Rezsö Kasztner nài nỉ Eichmann cho phép một số người Do Thái gốc Hungary trú ẩn an toàn ở Budapest, Eichmann đã nổi cơn thịnh nộ và nói, “Một khi tao đã nói không, điều đó là không.  .  . Tao nói thẳng, tao phải dọn sạch lũ Do Thái cặn bã đó ra khỏi các tỉnh. Không cần thảo luận hoặc khóc lóc van xin. “

Việc một gã trông giống một nhân viên bưu điện, một người có ngoại hình và tính khí bình thường đến vậy lại có thể chịu trách nhiệm giết hại hàng triệu người Do Thái thì bản thân nó đã là một điều kinh hoàng. Harel sau đó đã mô tả lại cảm giác của mình vào đêm đó. “Cảnh tượng của tên nhỏ thó khốn khổ đó, kẻ đã mất đi mọi dấu vết của sự vượt trội và sự kiêu ngạo trước đây ngay khi bị tước bỏ đồng phục và quyền lực đã mang lại cho họ cảm giác bị xúc phạm và khinh miệt sâu sắc. Đây có phải là một hiện thân của cái ác? Đây có phải là công cụ được sử dụng bởi một chính phủ ma quỷ? Kẻ vô nghĩa này, mất hết nhân phẩm và niềm kiêu hãnh, đây có phải là sứ giả của cái chết đối với sáu triệu người Do Thái không?”

Chuyến thăm của Harel chỉ có tác dụng tạm thời đến tâm trạng trong ngôi nhà, và ông đã chỉ thị cho Eitan cho phép mỗi đặc vụ rời khỏi nhà một ngày theo lịch trình luân phiên. Khi mặc áo khoác rời đi, ông nói với cả đội: “Tôi biết tất cả những gì các cậu đã trải qua. Tất cả những gì các cậu phải làm là đợi thêm vài ngày nữa.” Nhưng khi  đóng cánh cửa lại sau lưng, Harel sợ rằng nếu có chuyện gì xảy ra với máy bay El Al, họ sẽ phải ở lại nhiều tuần nữa chứ không phải vài ngày.

_____

Vào ngày 16 tháng 5, cuộc săn lùng Mengele bắt đầu một cách nghiêm túc. Thông qua mạng lưới sayanim dường như vô tận của Ilani, Harel đã tuyển dụng một cặp vợ chồng người Argentina gốc Israel,  đã quay lại thành phố để giải quyết một số vấn đề gia đình, để kiểm tra các nhà cho thuê. Vào lúc này, Harel đã quyết định, tốt nhất là không nên chuyển hướng bất kỳ thành viên nòng cốt nào khỏi nhiệm vụ chính của họ. Khi ông gặp “Hilel” và “Neomi Pooch” lần đầu tiên, họ trông và nói chuyện giống như những người bản xứ: lý tưởng cho mục đích của ông. Harel nói thẳng về người họ sẽ truy tìm. Gia đình Pooches chỉ cần một bản mô tả ngắn gọn về những thí nghiệm khủng khiếp mà Mengele đã thực hiện trên các cặp song sinh Do Thái là sẵn sàng hết lòng tình nguyện.

Ngày hôm đó họ bắt đầu nhiệm vụ, theo dõi Nhà trọ Jurmann, một ngôi nhà lớn được bao quanh bởi một hàng rào trắng, tọa lạc trên một con đường hẹp. Họ không nhìn thấy ai giống với bức ảnh họ đã được cho xem, và một vài câu hỏi kín đáo xung quanh hàng xóm cho họ biết không có người Đức nào sống ở nhà trọ.

Harel trở nên lo lắng khi nghe những báo cáo này. Ông có hai nguồn tin riêng biệt, cả hai đều chỉ vào Nhà trọ Jurmann. Vợ chồng Pooche cần phải chủ động hơn trong việc tìm ra ai đã sống ở đó. Harel đã gửi Hilel Pooch trở lại khu phố với một câu chuyện ngụy tạo và hướng dẫn đi rảo xung quanh cho đến khi  gặp được người đưa thư.

Sau vài giờ lang thang trên đường phố vào ngày 17 tháng 5, Hilel tìm thấy người đưa thư và giải thích rằng mình đang tìm người chú, một bác sĩ, người mà anh đã mất liên lạc từ lâu nhưng anh nghĩ vẫn sống trong khu vực này. Tên ông ấy là Bác sĩ Menelle, Hilel nói, thay đổi tên một chút.

“Bác sĩ Menelle,” người đưa thư lặp lại, suy nghĩ về cái tên. Rồi anh chỉ về phía ngôi nhà có hàng rào trắng bao quanh. “Ồ vâng, ông ấy sống ở đó cho đến vài tuần trước, có thể là một tháng.”

“Vậy à, xui xẻo quá. Vậy là tôi đã đến hơi muộn một chút. Ông ấy có để lại địa chỉ mới không?”

Người đưa thư lắc đầu.

“Anh có biết bây giờ ai đang sống ở đó không?” Hilel hỏi, hy vọng những người thuê nhà mới có thể biết.

“Ông ấy là một kỹ sư đến từ Nam Phi. Sao anh không hỏi ông ấy?”

Hilel cảm ơn anh ta và mạo hiểm đi về phía ngôi nhà để tránh cho người đưa thư nghi ngờ về những câu hỏi của mình. Hilel không có ý định gõ cửa.

Mặc dù Harel rất bực bội khi biết rằng họ có thể đã lỡ cơ hội với Mengele chỉ vài tuần, ít nhất họ biết mình đang đi đúng hướng; họ đã lần theo được dấu vết.

_____

Trở lại ngôi nhà an toàn ngày 17/5, tâm trạng càng thêm u ám. Ngày và đêm luôn giống nhau. Hai người trong đội Mossad luôn cảnh giác đề phòng trường hợp cảnh sát xuất hiện. Nỗi lo thường trực rằng họ có thể bị phát hiện khiến thần kinh họ căng thẳng.

Và sau đó là tù nhân. Một thành viên trong nhóm luôn trông chừng Eichmann, dù y đang ăn, ngủ, đi vệ sinh, tắm vòi sen, tập thể dục trong vườn hay nằm dài trên giường. Người tù ngoan ngoãn của họ tiếp tục gây ra nổi ghê tởm và chán nản gần như ngột ngạt cho những kẻ bắt giữ mình,  như thể y đang rút hết ánh sáng và oxy ra khỏi ngôi nhà.

Sự buồn chán cũng ngột ngạt. Ngoài việc nghe radio để ngóng tin tức nào về cuộc săn lùng Eichmann, họ không biết phải làm gì khi không làm nhiệm vụ canh gác. Trong ngôi nhà có vài quyển sách bằng tiếng Anh, nhưng những người có thể đọc được thứ tiếng đó đã nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn cung. Để giết thời gian, họ chơi cờ vua; nhìn ra ngoài cửa sổ, quan sát cuộc sống những người hàng xóm; ngủ trưa trong phòng và thậm chí còn phát minh ra các trò chơi, chẳng hạn như thi ăn táo. Việc không hoạt động chỉ tạo cơ hội cho họ chìm đắm trong nỗi sợ hãi và sự ghê tởm đối với Eichmann, một vòng luẩn quẩn.

Một số nhiệm vụ đã giúp giảm bớt căng thẳng khi trông chừng Eichmann. Tabor đang giám sát việc đóng một chiếc thùng gỗ lớn để đưa tù nhân của họ vào sân bay. Bên trong thùng, họ gắn bốn dây da để cố định tay chân của tù nhân. Họ cũng khoan năm mươi lỗ thở vào gỗ. Họ dán thùng với nhãn BƯU KIỆN NGOẠI GIAO –TỪ: ĐẠI SỨ QUÁN ISRAELI, BUENOS AIRES – ĐẾN: BỘ NGOẠI GIAO, JERUSALEM. Tabor cũng xây dựng một khoang bí mật trong xe đẩy của người cung cấp thực phẩm mà Yosef Klein đã tìm cách lén đưa ra khỏi sân bay. Kế hoạch là đưa Eichmann lên máy bay với tư cách là một phần của phi hành đoàn El Al, nhưng họ có thể cần những thùng chứa này để dự phòng trường hợp đưa Mengele lên máy bay nếu y được tìm thấy.

Nhóm đã dành cả đêm đó để chuẩn bị kỹ lưỡng giấy tờ – bao gồm hộ chiếu Israel, thị thực, bằng lái xe, giấy chứng nhận sức khỏe và huy hiệu El Al cần thiết để xác nhận Eichmann là thành viên phi hành đoàn Zichroni. Dưới sự giám sát của Malkin, Eichmann được cạo râu kỹ lưỡng, trang điểm gương mặt, đội bộ tóc giả cắt  ngắn, màu tối  trên đầu và mặc một bộ vest đẹp. Trông y trẻ hơn và oai phong hơn một cách đáng kinh ngạc, giống như bức ảnh thời chiến của y hơn. Hiệu ứng này khiến mọi người ở Tira lo lắng, nhưng không nhiều như Eichmann. Y tin chắc rằng họ đang chuẩn bị hành hình mình, bất chấp họ đảm bảo ngược lại.

Shalom Dani đến nhà an toàn để chuẩn bị giấy tờ. Anh đã phải chịu đựng sự cô lập của chính mình tại Maoz, thường xuyên không biết chuyện gì đang xảy ra và than thở rằng mình không phải là một phần của cuộc bắt giữ. Kết quả là anh cảm thấy mình vô dụng, nhưng nếu không có anh, đồng đội của anh đảm bảo với anh rằng chiến dịch sẽ không bao giờ có cơ hội thành công. Dani muốn đích thân đối mặt với Eichmann để kể cho y nghe những gì y đã làm với gia đình mình. Đây là cơ hội của anh ấy. Nhưng ngay khi Dani bước vào phòng giam, mặt anh tái mét và tay anh bắt đầu run rẩy. Anh không nói gì với Eichmann, ngoài việc hướng dẫn y cách tạo dáng chụp ảnh, bảo anh ta nghiêng cằm hướng này hoặc quay hướng kia trước ống kính.

Ngay khi chụp ảnh xong, Dani bước ra khỏi phòng. Anh nói với những người khác rằng anh không ngờ cảm xúc lại dâng trào đến vậy. “Ngay cả khi ở cùng phòng với y, tôi đã phải tự ép mình để khỏi cảm nhận gì cả,” anh nói trước khi rút vào một căn phòng khác để làm giả giấy tờ. Khi anh bước ra, anh đưa cho Eitan giấy tờ  và rời Tira mà quên nói lời tạm biệt với những thành viên khác. Trong đầu anh chỉ có một điều: bỏ đi ngay và không bao giờ quay trở lại.

_____

Peter Malkin đang canh giứ thì Eichmann bất ngờ hỏi: “Ông có phải là người đã bắt tôi không?”

“Vâng, tên tao là Maxim,” Malkin ngập ngừng trả lời. Mặc dù mệnh lệnh rõ ràng của Eitan là không được nói chuyện phiếm với tù nhân, Malkin vẫn muốn biết tại sao Eichmann lại dàn dựng cuộc tàn sát đồng bào mình và làm thế nào Đức Quốc xã lại có thể thực hiện những tội ác như vậy. Với Eichmann nói bằng tiếng Đức và Malkin bằng tiếng Do Thái, cuộc trò chuyện nặng nề và lắp bắp.

Malkin nhớ lại khi anh nhìn Eichmann chơi với đứa con trai nhỏ bên ngoài tróng sân nhà y. Malkin nói: “Con trai của mày, nó làm tao nhớ nhiều đến con trai của chị ruột tao.

“Chuyện gì đã xảy ra với cậu bé?” “Không có gì xảy ra cả,” Malkin cay đắng trả lời. Nhưng rồi anh nói tiếp: “Tao chỉ biết một điều: Con trai của mày còn sống, còn con trai của chị tao đã chết”.

“Ông sẽ giết tôi chứ?” Eichmann hỏi.

“Không. Chúng tao sẽ đưa mày ra xét xử, một phiên tòa công bằng: một cơ hội mà mày chưa hề cho những nạn nhân của mày.”

Sau đó anh hỏi Eichmann, “Làm thế nào mà mày lại làm được việc mày đã làm?”

“Đó là lệnh. Tôi phải thi hành mệnh lệnh.”

“Chỉ là một công việc thôi à?” Malkin hoài nghi hỏi.

“Ông không phải là quân nhân sao? Không có lệnh sao? Ông  bắt được tôi. Tại sao ông lại làm vậy? Bởi vì đó là lệnh.”

“Đúng, tao nhận được lệnh bắt giữ mày, nhưng giữa mày và tao có sự khác biệt lớn. Tao được lệnh bắt tội phạm. Nhưng mày lại truy lùng những con người vô tội. Họ chẳng làm gì sai cả. Mày tuân theo những mệnh lệnh đó bởi vì mày ghét những con người này.”

“Không… theo một cách nào đó, tôi yêu người Do Thái.”

Malkin khó có thể tin vào những gì mình đang nghe. Điều này là quá nhiều. “Mày yêu người Do Thái? Vậy thì ngay từ đầu mày đã làm gì trong SS?”

“Tôi muốn họ có đất nước riêng. Tôi muốn mang họ đi. Chúng tôi không muốn làm gì người Do Thái. Lúc đầu, chúng tôi chỉ nói về việc quét sạch người Do Thái ra khỏi Đức. Nhưng không có quốc gia nào chấp nhận họ. Chúng tôi đã bàn về về Madagascar và tất cả các loại kế hoạch khác. Tôi thậm chí còn tới Israel vào năm 1936.” Malkin nghĩ rõ ràng là Eichmann đã chuẩn bị cho việc bào chữa của mình.

Đêm này qua đêm khác, họ nói chuyện. Eichmann  nói với một giọng điệu ngây thơ đến mức giả tạo, như thể y đang muốn lấy lòng người khác. Y phục vụ cái tôi của mình bằng cách khoe khoang về vị trí nổi bật của mình trong SS, nhưng đồng thời y  cũng khẳng định rằng mình không phải là người chịu trách nhiệm về những quyết định đã được đưa ra. Malkin phát ốm vì những lời phủ nhận của y và việc y không chịu nhìn nhận hành động của mình chống lại người Do Thái thông qua bất cứ điều gì khác ngoài lăng kính của tư duy Đức Quốc xã – thậm chí sau mười lăm năm. Sự thiếu vắng hoàn toàn lòng trắc ẩn  của mình đối với các nạn nhân  thật đáng kinh ngạc, ngay cả khi y tuyên bố mình “yêu” người Do Thái.

24

VÀO MỘT CHIỀU TRONG SÁNG tại  Tel Aviv ngày 18 tháng 5, phái đoàn Israel tham dự lễ kỷ niệm Argentina đã lên chiếc máy bay Bristol Britannia 4X-AGD tại Sân bay Lod. Các nhiếp ảnh gia đã chụp ảnh khi các đại biểu leo ​​lên cầu thang di động lên chiếc máy bay dài, bóng bẩy với lá cờ Israel được sơn ở đuôi. Ở đầu bậc thang, Abba Eban, trưởng đoàn, mỉm cười trước ống kính và vẫy tay chào tạm biệt các vị chức sắc đã đến tiễn họ. Cao ráo và nổi bật, Eban chỉ mới được bầu vào Knesset (Quốc hội Israel) gần đây sau khi phục vụ nhiều năm với tư cách là đại sứ Israel tại Hoa Kỳ cũng như tại Liên Hiệp Quốc. Ở tuổi 45, ông là một ngôi sao đang lên trên chính trường Israel và đã giúp David Ben-Gurion tái đắc cử một năm trước đó. Mặc dù là thành viên trong nội các của Ben-Gurion, Eban là một “bộ trưởng không có bộ nào” – nghĩa là không phụ trách bất kỳ bộ nào – điều này khiến ông ta trở nên lý tưởng để làm sứ giả Israel trong dịp này. Ben-Gurion đã đích thân thông báo cho Eban vài ngày trước rằng chuyến bay sẽ được cử đến Argentina để đón Eichmann.

Vì vậy khi Eban lên máy bay, ông đã rất căng thẳng. Đi cùng ông trong phái đoàn có Tướng Meir Zorea, chỉ huy Bộ Tư lệnh phương Bắc của Lực lượng Phòng vệ Israel, cùng một số quan chức Bộ Ngoại giao và gia đình họ. Không ai khác biết dù chỉ một chút về mục đích đặc biệt của chuyến bay, mặc dù Zorea chắc chắn đã phê chuẩn. Sau Thế chiến II ông là thành viên của một nhóm báo thù chuyên săn lùng và tàn sát bọn  Đức quốc xã. Tất cả các hành khách đã được lên lịch trở lại Israel bằng hãng hàng không dân sự Mỹ – bề ngoài là vì Britannia cần quay trở lại sớm hơn cho các tuyến đường thông thường của nó.

Tuy nhiên, mọi nỗ lực giữ bí mật không thể giữ cho thành viên phi hành đoàn khỏi nghi ngờ rằng có thể có gì đó nhiều hơn những gì El Al đã nói với họ về chuyến bay này. Đầu tiên, trong phái đoàn có ba người đàn ông mặc đồng phục El Al mà không ai trong số họ đã từng thấy trước đó. Họ ngồi cùng nhau và không tham gia bất kỳ công việc nào (mặc dù họ đã được liệt kê trên danh sách phi hành đoàn là hoa tiêu, kỹ sư phi hành.và tiếp viên hàng không). Thứ hai, chỉ có một số lượng hạn chế nhân viên El Al tham gia vào “phi hành đoàn kinh doanh khỉ”. Khi chỉ vừa đủ người gom lại để cùng bay, điều đó thường có nghĩa là có một chương trình nghị sự ẩn giấu. Sau khi kiểm tra danh sách phi hành đoàn, Cơ trưởng Shmuel Wedeles, một trong hai phi công phụ được Tohar chọn cho nhiệm vụ, chắc chắn rằng có một động cơ thầm kín. Là một người Do Thái ở Vienna, khi còn nhỏ, đã chứng kiến ​​​​một đám đông cưỡng ép một giáo sĩ lớn tuổi ăn thịt lợn trước khi đốt râu của ông ấy, Wedeles đã trốn thoát một mình đến Israel; phần còn lại của gia đình anh đã chết trong Holocaust. Anh từng là chiến binh Haganah và phi công trong Chiến tranh giành độc lập. Ngay khi nhìn thấy Yehuda Shimoni trên máy bay, anh đã thẳng thừng hỏi: “Họ mang theo ai, Mengele hay Eichmann?” Shimoni phủ nhận hàm ý đó, nhưng vẻ mặt kinh ngạc của anh ấy đã nói cho Wedeles tất cả những gì mình cần biết.

Trưởng tài vụ cũng nghi ngờ. Khi hỏi ông bạn Tohar chuyện gì đang xảy ra, viên phi công nói một cách khó hiểu: “Bạn sẽ không hối tiếc vì đã được chọn tham gia chuyến bay.” Một khi tất cả hành khách đã ổn định vị trí  và phi hành đoàn đã sẵn sàng, loa phóng thanh trong nhà ga và bên lề đường băng vang lên bằng tiếng Do Thái và sau đó là tiếng Anh, “Thông báo khởi hành Chuyến bay 601, Tel Aviv đến Buenos Aires.” Bốn động cơ turbo tăng áp hoạt động và chiếc Britannia, biệt danh là “Người khổng lồ Thì thầm”, lao về phía đường băng. Đúng 1:05 chiều, bánh xe đã rời khỏi đất Israel và hành trình đến Argentina bắt đầu.

Trước  tiên, hành khách có một chuyến đi ngắn đến Rome, sau đó có chuyến bay kéo dài 9 tiếng rưỡi tới Dakar, nơi họ sẽ đón phi hành đoàn El Al thứ hai.

Sau một thời gian tạm dừng ngắn, họ sẽ di chuyển trong sáu giờ qua Đại Tây Dương đến Recife, nơi họ sẽ tiếp nhiên liệu lần cuối trước khi bay bảy tiếng rưỡi về phía nam tới Buenos Aires, dự kiến ​​đến đó vào chiều ngày 19 tháng 5.

Chuyến bay không có gì đặc biệt khó khăn, ngoại trừ việc phi hành đoàn trong buồng lái chưa từng bay đến Nam Mỹ trước đây. Trưởng ban hoa tiêu, Shaul Shaul, đã phải mua bản đồ dẫn đường cho Nam Mỹ ở New York vì El Al không sở hữu bất kỳ bản đồ nào. Đây là lãnh thổ mới cho tất cả mọi người có liên quan.

_____

Ngày 20 tháng 5 là ngày mục tiêu của việc đưa Eichmann lên máy bay và ra khỏi đất nước. Như vậy Harel chỉ còn hai ngày nữa để tìm Josef Mengele. Hilel Pooch đã đến bưu điện ở Vicente Lopez nhưng phát hiện ra rằng Mengele không để lại địa chỉ chuyển tiếp. Những cuộc điều tra sâu hơn xung quanh khu vực lân cận không mang lại thông tin gì mới. Hoặc là mọi người đang bảo vệ y hoặc y đã che đậy dấu vết của mình rất tốt. Địa chỉ nhà trọ không phải là tình báo duy nhất trong Sổ tay của Harel. Ông cũng biết rằng bí danh của Mengele vài năm trước là Gregor Helmut và y sở hữu một cửa hàng thiết bị cơ khí gần nơi y đáng lẽ phải sống. Mặc dù người đứng đầu Mossad vẫn nhất quyết tìm kiếm Mengele, nhưng sự do dự của cả Eitan lẫn Shalom trong việc chuyển hướng tập trung khỏi Eichmann đã gây ấn tượng với ông, và ông quyết định không tham gia cùng nhóm của mình vào cuộc tìm kiếm.

Vì vậy, Harel đã cung cấp cho Pooch một câu chuyện ngụy tạo mới: anh ta đang tìm mua một đơn đặt hàng lớn các loại ốc vít đặc biệt mà anh ấy nghe nói đã được sản xuất bởi cửa hàng của Helmut. Khi chàng trai Israel đến cửa hàng và nói với cô thư ký mình muốn nói chuyện với người chủ, Gregor Helmut, về một đơn hàng lớn, cô ta trở nên cáu kỉnh và rút lui sang phòng bên cạnh. Pooch nghe thấy tiếng thì thầm khẩn cấp, sau đó cô thư ký quay lại. Cô nhìn anh một lúc lâu rồi quả quyết nói rằng không có ai ở cửa hàng tên Gregor và họ không thể giúp anh.

Khi Pooch báo cáo lại với Harel, người đứng đầu cảm thấy rằng họ đang đi đúng hướng nhưng họ cần phải quyết liệt hơn. Cần thêm đặc vụ để giám sát cửa hàng và có khả năng là khám xét nhà trọ để xem liệu Mengele có thực sự rời đi hay không.

Cuối ngày hôm đó, rõ ràng là hành vi giữ bí mật đã trở nên khó khăn hơn nhiều trong thành phố, dù là vận chuyển Eichmann đến sân bay, lén đưa y lên máy bay hay tiến hành một chiến dịch nhằm bắt giữ Mengele nếu y được xác định. Với các phái đoàn quốc tế đến, an ninh được thắt chặt. Tất cả các con đường chính và những con đường dẫn từ sân bay đến thủ đô đều tràn ngập cảnh sát tuần tra. Shalom đã tìm thấy tất cả trạm nhưng không thể lập lộ trình đến sân bay né  tránh hết các trạm kiểm soát cảnh sát.

Các tin tức trên đài phát thanh chỉ ra rằng an ninh thậm chí còn sẽ được thắt chặt hơn. Các quả bom, có thể do nhóm khủng bố thân Perón đặt, đã phát nổ tại công ty điện thoại nhà nước và văn phòng khí đốt, gây thiệt hại đáng kể cho cả hai. Chính phủ đang kêu gọi phong tỏa và phát động truy lùng thủ phạm – một động thái khiến Tira thậm chí còn gặp nguy hiểm hơn trước.

_____

Đêm đó, Nick và Dieter đột nhập vào cửa trước của một giáo đường Do Thái trong thành phố, vung súng. Một cựu sĩ quan SS họ biết qua cha họ đã báo cho họ biết rằng Eichmann có thể đang ở tầng hầm của giáo đường Do Thái.

Cuộc tìm kiếm của họ không tiết lộ gì cả. Hội đường vắng tanh, và họ rời đi mà không hề gặp đối đầu.

Khắp Buenos Aires, các thành viên Tacuara đi tuần tra bằng xe máy, quan sát sân bay cũng như các ga xe buýt và xe lửa. Họ cũng bố trí quanh các giáo đường Do Thái và kiểm tra các bệnh viện cũng như nhà xác ở mọi khu vực lân cận. Sự hiện diện dày đặc của cảnh sát không làm chậm quá trình tìm kiếm của họ.

Nick và Dieter không biết liệu cha mình có còn sống hay không. Theo tất cả những gì họ biết, ông ta có thể đã bị đưa ra ngoài thành phố và bị bắn, thi thể bị chôn vùi. Những kẻ tấn công ông có thể đã đi xa từ lâu rồi. Mỗi ngày trôi qua, hai anh em càng trở nên tuyệt vọng hơn.

Một số tên cuồng tín trẻ tuổi đang giúp đỡ họ đã bị thuyết phục rằng họ cần phải thực hiện một ván cờ táo bạo nếu muốn tìm thấy Eichmann. Họ chắc chắn rằng người Israel đứng sau vụ bắt cóc và họ đề nghị bắt cóc lại đại sứ Israel Levavi, trao đổi với ông ta. Nếu người Israel chần chừ họ sẽ tra tấn đại sứ cho đến khi Eichmann được trao trả.

Kế hoạch này quá hấp tấp đối với Nick và Dieter. Một cựu sĩ quan SS giúp đỡ họ đã cảnh báo: “Đừng làm điều gì ngu ngốc. Hãy hành xử hợp lý. Nếu không các cậu sẽ mất cả chì lẫn chài.” Họ quyết định chỉ dựa vào việc tìm kiếm.

_____

“Hãy để tao hỏi mày điều này,” Malkin nói với Eichmann vào sáng sớm ngày 19 tháng 5. “Khi người ta xác định rằng chính sách không phải là tái định cư người Do Thái mà là giết họ, mày cảm thấy thế nào về điều đó?”

“Không thể làm gì được. Lệnh do chính Quốc trưởng đưa ra.”

“Nhưng mày cảm thấy thế nào?”

“Không thể làm gì được cả.”

“Tao hiểu rồi. Vậy là mày đã trở thành một sát nhân.”

“Không. Điều đó không đúng. Tôi chưa bao giờ giết ai cả,” Eichmann nhấn mạnh và giải thích rằng y đã cố gắng tránh dành nhiều thời gian ở các trại tử thần và hơn nữa, chúng không nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của y. “Tôi chỉ tham gia vào việc thu gom và vận chuyển,” y giải thích.

Malkin không hiểu làm sao Eichmann có thể tin rằng hành động của mình là có đạo đức và đúng đắn, rằng mình không làm gì sai cả. Mệnh lệnh đến từ cấp trên của y; y đã vâng lời họ. Nghĩa vụ đã yêu cầu điều đó.

Eichmann tiếp tục giải thích rằng mình đã chăm chỉ như thế nào trong việc lập lịch trình. Malkin xen vào, “Mày có nhận ra rằng chúng ta đang nói về những người vô tội ở đây không? Trẻ con? Ông già và bà già?”

Eichmann không hề lúng túng trước phát biểu này, và Malkin nhận ra rằng y hoàn toàn không hối hận về hành động của mình. Cuối cùng, Malkin bị ảnh hưởng bởi các cuộc thảo luận nhiều hơn Eichmann. Anh chưa bao giờ nghĩ rằng có thể có một người lại bị què quặt về mặt tình cảm  và lạnh lùng với cảm xúc đến vậy. Anh quay lại với những bức vẽ của mình, thất vọng và buồn bã.

Mặc dù đôi khi anh thôi thúc muốn đập vào mặt Eichmann vì sự thiếu cảm thông của y, nhưng đồng thời cũng cảm thấy thương hại y.

Tối hôm đó, trong phiên anh canh giữ, họ lại tiếp tục cuộc trò chuyện. Eichmann nói về tình yêu của y với rượu vang đỏ, và Malkin coi việc đưa cho y một ly là vô hại. Trong tám đêm liền y bị trói vào giường. Ít nhất y có thể cảm thấy trở lại là con người trong giây lát, Malkin nghĩ. 

Vài phút sau, anh quay lại phòng giam với một chai rượu và máy hát đĩa của Medad. Malkin rót rượu và đưa ly vào tay tù nhân.

“Tôi rất thích rượu,” Eichmann nói sau khi uống cạn ly.

Malkin uống chậm hơn. Anh đặt một đĩa nhạc lên máy nghe nhạc rồi châm một điếu thuốc cho Eichmann.

Tiếng nhạc flamenco tràn ngập căn phòng nhỏ và ngột ngạt. Người tù hít thật sâu vào điếu thuốc cho đến khi chỉ còn mẩu.

“Đừng đốt ngón tay của mày,” Malkin khuyên anh ta.

“Tại sao ông làm điều này cho tôi?” Eichmann hỏi, cảm thấy thoải mái hơn kể từ khi đến đây.

“Tao không biết. Nhưng tao không ghét mày,” Malkin trả lời, nhận ra rằng họ đã xây dựng một mối quan hệ kỳ lạ trong tám ngày qua. “Tao chỉ cảm thấy đó là điều tao muốn làm cho mày.”

Eichmann im lặng.

Malkin nhớ lại lời phát biểu của Aharoni rằng anh đã cố gắng suốt tuần qua mong có được chữ ký của Eichmann. Bây giờ có thể là cơ hội của họ. “Eichmann, tao nghĩ mày  đã nhầm khi không ký vào giấy tờ để đến Jerusalem,” anh nói.

“Tôi không muốn đi. Tại sao tôi không thể đến Đức?”

“Tao sẽ không ép mày làm điều đó. Tuy nhiên, nếu là mày, tao sẽ ký vào giấy tờ và sẽ cho mày biết lý do. Đây là lần duy nhất trong đời mày có cơ hội nói ra những gì mày nghĩ.” Và mày sẽ đứng đó ở Jerusalem và nói với cả thế giới những gì mày cho là đúng, bằng chính lời nói của mày.”

Eichmann đã nốc cạn ly rượu thứ hai, rõ ràng là đang nghiền ngẫm ý tưởng này. Sau đó, y yêu cầu được phép đứng dậy và tháo kính bảo hộ. Malkin làm theo vì biết rằng Eichmann đã nhìn thấy mặt anh vào đêm bị bắt. Tuy nhiên, anh vẫn canh chừng cẩn thận. Đây có thể là một trò lừa, một nỗ lực để trốn thoát.

Cuối cùng Eichmann nói: “Tờ giấy đâu?”

Aharoni đã chuẩn bị một bản dự thảo tuyên bố để Eichmann sao chép, nói rằng y sẽ tự nguyện ra hầu tòa ở Israel. Malkin đưa cho anh ta tờ giấy cùng với một cây bút. Eichmann đọc bản thảo, rồi dựa vào chiếc bàn đầu giường, y viết lời tuyên bố của mình bằng tiếng Đức gọn gàng.

Tôi, người ký tên dưới đây, Adolf Eichmann, tự nguyện tuyên bố rằng, vì danh tính thực sự của tôi đã được phát hiện, tôi nhận ra rằng việc cố gắng trốn tránh công lý là vô ích đối với tôi. Tôi tuyên bố rằng tôi chuẩn bị tới Israel để hầu tòa tại quốc gia đó trước tòa án có thẩm quyền. Tôi hiểu rằng tôi sẽ nhận được trợ giúp pháp lý và tôi sẽ cố gắng giải trình một cách thẳng thắn về các sự kiện trong những năm phục vụ ở Đức để bức tranh chân thực về sự thật có thể được truyền lại cho các thế hệ tương lai. Tôi đưa ra tuyên bố này theo ý chí tự do của riêng tôi. Tôi không được hứa hẹn điều gì và cũng không có ai đe dọa tôi. Tôi mong muốn cuối cùng đạt được sự bình an nội tâm. Vì tôi không thể nhớ tất cả các chi tiết và bối rối về một số sự kiện nhất định, tôi yêu cầu được hỗ trợ trong nỗ lực xác minh sự thật bằng cách được cấp quyền truy cập vào các tài liệu và bằng chứng.

Sau khi viết xong, y quay sang Malkin và hỏi, “Tôi nên ghi ngày nào, hôm qua hay hôm nay?”

“Cứ ghi  tháng 5 năm 1960.”

Y gật đầu và ký vào lá đơn “Adolf Eichmann, Buenos Aires, tháng 5 năm 1960.”

“Mày đã làm một điều rất tốt. Mày sẽ không hối hận đâu,” Malkin nói, đưa cho y một điếu thuốc nữa trước khi đeo lại kính bảo hộ lên mắt.

Đột nhiên, họ nghe thấy tiếng bước chân chạy dọc hành lang và Medad lao vào phòng trong bộ đồ ngủ màu xám. “Cậu đang làm cái quái gi thê?” anh hét lên, nhìn vào rượu và thuốc lá. “Tổ chức một bữa tiệc cho tên sát nhân này à?”

Malkin cố gắng biện minh cho mình, nhưng Medad gốc Séc tái mét, mặt đỏ bừng. “Cậu cho y thưởng thức âm nhạc của tôi à? Tên đồ tể của gia đình tôi?”

Nghe thấy tiếng hét, Eitan, Gat và Nesiahu đều chạy vào phòng. Malkin cố gắng giải thích, cho họ xem bản tuyên bố đã ký tên, nhưng họ bận tâm đến việc trấn an Medad, sau đó mắng mỏ Malkin vì đã không tuân lệnh và nói chuyện với tù nhân.

Cuối cùng, mọi người đã ổn định vị trí và Tabor giải phóng Malkin khỏi ca trực của mình.

Khi Malkin rút lui dọc hành lang, Eitan đã chặn anh ta lại đủ lâu để nói, “Làm tốt lắm.”

_____

Cơ trưởng Shmuel Wedeles là người điều khiển. Lúc 6:25 A.M. vào ngày 19 tháng 5, trên đường từ Dakar đến Recife, ông đã hướng Britannia xuyên qua những đám mây phía trên Nam Đại Tây Dương, và họ băng qua bờ biển Brazil. Họ đã đi đúng hướng với kế hoạch bay của mình.

Mười lăm phút sau, họ đến được trạm tín hiệu vô tuyến của Campina Grande, cách Recife tám mươi hải lý, đồng hồ đo độ cao cho biết họ hiện đang ở độ cao 10.000 bộ. Wedeles chuyển sang hướng đông nam tới sân bay. Sau đó ông liên lạc với trạm kiểm soát không lưu.

“Trạm kiểm soát Recife, đây là El Al 4X-AGD từ Dakar đến Recife, hướng 135, độ cao 7.500, đang đi xuống, ước tính đến Recife đầu giờ.”

“Roger, El Al,” người điều khiển  đáp lại trên máy. “Duy trì lộ trình. Báo cáo khi đạt 2.000.”

Ở độ cao 4.000 bộ, độ cao chân đám mây được dự báo, Britannia vẫn chưa ra khỏi đám mây. Chỉ vài phút nữa họ sẽ có mặt ở sân bay. Cách đó bốn mươi hải lý, họ đã xuống được 2.000 bộ. Wedeles chuẩn bị liên hệ với cơ quan kiểm soát không lưu để thông báo về vị trí của họ khi máy bay cuối cùng ra khỏi đám mây. Đột nhiên, ông nhìn thấy một vạt xanh rộng lớn ngay phía trước. Máy bay đang lao vào một khu rừng trên đỉnh đồi. Wedeles ngay lập tức kéo cần lại, đưa mũi máy bay lên. Đồng thời, ông đẩy ga động cơ về phía trước, tăng tốc độ máy bay để máy bay khỏi thất tốc. Máy bay  lướt là là sát trên ngọn cây. Mọi người trong khoang máy bay nhìn ra ngoài cửa sổ khi họ bay qua khu rừng.cách không tới.một sải cánh.

“Chúa ơi, người Brazil nghĩ và tính bằng mét chứ không phải bộ,” một thành viên trong phi hành đoàn thốt lên khi Wedeles tiếp tục bay ngang tầm với những ngọn cây. Người Israel đo độ cao bằng bộ, cũng như quy định ở Châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Đông và Châu Phi. Nếu chân mây thấp thêm một trăm bộ thì họ đã đâm sầm vào đỉnh đồi.

Mười phút sau, lúc 7:05 sáng. vào ngày 19 tháng 5, chiếc Britannia hạ cánh an toàn xuống Recife. Những rắc rối của người Israel chỉ mới bắt đầu.

Tohar muốn khởi hành ngay sau khi họ tiếp nhiên liệu và dọn dẹp máy bay, nhiều nhất là một giờ. Trước sự ngạc nhiên của họ, khi họ bắt đầu lái bộ về phía nhà ga, họ thấy một quầy lễ tân trải thảm đỏ, trong đó có một ban nhạc địa phương và hàng trăm khán giả đang đợi họ. Đại diện cộng đồng Do Thái địa phương đã cổ vũ sự xuất hiện của phái đoàn. Người chỉ huy sân bay, mặc bộ đồng phục cứng nhắc được trang trí bằng các huy chương, đã chào đón “những khách lạ từ nước ngoài đến với đất nước Brazil xinh đẹp”.

Sau màn đón tiếp lúng túng, phái đoàn và phi hành đoàn đoàn duỗi chân và uống cà phê ở nhà ga sân bay. Một số người mua đồ lưu niệm và trái cây từ những người bán hàng dọc hàng rào chu vi sân bay. Nửa giờ sau, khi Shaul và hoa tiêu đồng nghiệp của anh, Gady Hassin, cố gắng vào tháp điều khiển sân bay để điền kế hoạch bay và thu thập báo cáo khí tượng cho hành trình đến Buenos Aires, họ đã bị chặn lại bởi một người lính giận dữ vẫy họ lại. sủa, “Không được phép đi!” Người lính không hề nản lòng trước sự hiện diện đầy uy nghiêm của Shaul – cao 6 bộ 5 inch, và với đôi mắt sắc sảo, không đùa cợt – có thể là vì hắn ta có khẩu các-bin. Hassin đi tìm Tohar, nhưng ngay cả sự hiện diện của cơ trưởng cũng chẳng mang lại kết quả gì. Người lính nói rõ: “Chỉ huy đang ngủ. Không ai được quấy rầy.”

Tohar lo sợ rằng lý do thực sự của chuyến bay của họ đã bị bại lộ. Để tránh thu hút sự chú ý quá mức, Tohar lùi lại.

Khi tình trạng bế tắc tiếp tục diễn ra, một người phục vụ từ căng tin của nhà ga đến gần. Anh ta ở độ tuổi cuối hai mươi và rất có thể là một đặc vụ của Mossad đóng tại sân bay trong trường hợp tình huống như vậy xảy ra.

Anh ta nói ngắn gọn với người bảo vệ bằng tiếng Bồ Đào Nha trôi chảy, rồi bảo Tohar, “Hãy kiên nhẫn. Tôi sẽ vào thị trấn, và nếu may mắn, tôi sẽ quay lại trong vòng nửa giờ với giải pháp.” Anh đạp xe đi xa.

Nửa giờ sau, một người đàn ông lớn tuổi, là thư ký của trung tâm cộng đồng Do Thái địa phương, bước vào nhà ga sân bay mang theo một chiếc túi da. Ông ta đến gần người lính và nói rằng mình  có một tin nhắn cho người chỉ huy. Người lính biến mất cùng chiếc túi, và chính người chỉ huy xuất hiện sau đó vài phút. Để thể hiện uy quyền, gã tát vào mặt người lính bảo vệ hai cái, chửi rủa cay độc, rồi nhìn thẳng vào Tohar.

“Cơ trưởng,” gã nói, “tại sao anh không nói với tôi anh muốn nói chuyện?”

Sau khi  trả tiền hối lộ, người Israel đã nộp kế hoạch bay của họ. Ba giờ 25 phút sau khi hạ cánh ở Recife, máy bay Britannia di chuyển xuống đường băng và bay lên bầu trời một cách duyên dáng.

_____

Trên đường ra sân bay chờ máy bay El Al đến, Shalom và Aharoni thấy cả Buenos Aires đều nhộn nhịp, báo trước ngày lễ kỷ niệm sôi nổi. Cờ tung bay từ mọi cửa sổ, người dân tràn ngập đường phố và quán cà phê, nhạc tango vang lên ở các quảng trường công cộng. Binh lính và cảnh sát cũng có mặt khắp nơi, chặn xe và kiểm tra giấy tờ. Hai đặc vụ của Shin Bet biết rằng việc đưa Eichmann đến sân bay trong điều kiện này là một rủi ro rất lớn. Trong trường hợp họ bị khám xét, tù nhân của họ sẽ phải mất khả năng lao động và giấy tờ của y phải có trật tự hoàn hảo.

Sau khi bị trì hoãn do một vụ tai nạn giao thông, họ đã đến được Sân bay Ezeiza. Họ phát hiện Isser Harel và Yosef Klein giữa đám đông người đến xem máy bay đầu tiên của Israel hạ cánh xuống Argentina. Một loạt các nhà ngoại giao từ Bộ Ngoại giao Argentina đã có sẵn, cùng với một ban quân nhạc và đội dịch vụ mặt đất sẵn sàng tung ra cuộn thảm màu đỏ thẫm. Kiểu chào đón này là tiêu chuẩn để tiếp rước các phái đoàn quốc tế.

Trong đám đông cũng có rất nhiều nhân viên đại sứ quán Israel và nhiều người trong cộng đồng Do Thái địa phương, bao gồm hơn một trăm đứa trẻ vẫy những lá cờ nhỏ của Israel. Tất cả đều háo hức chờ đợi Britannia đáp xuống

Nhưng máy bay lại trễ. Hai giờ trôi qua. Klein chạy khắp sân bay, nóng lòng muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Anh ấy được biết rằng đã xảy ra một số rắc rối với việc máy bay nhận giấy phép cất cánh ở Recife, mặc dù tất cả các giấy phép đã được thu xếp từ trước. Harel chia sẻ sự lo lắng của Klein, nhưng cả hai đều không thể làm gì khác ngoài chờ đợi và hy vọng.

Cuối cùng, vào lúc 4:05 chiều, muộn hơn ba giờ so với dự kiến, máy bay Britannia từ trên trời lao xuống và chạm xuống đường băng với một tiếng rít. Ban nhạc chờ đợi đã cất lên bài quốc ca Israel, “HaTikvah” (“Niềm Hy Vọng”). Klein đi theo hướng máy bay tiến về phía nhà ga.

Eban bước ra khỏi máy bay tiến đến rừng cờ Israel đang nhiệt liệt vẫy.  Ông chào người Argentina và trước sự ngạc nhiên của mọi người, ông đã có một bài phát biểu ngắn bằng tiếng Tây Ban Nha hoàn hảo. Eban không để lộ dấu hiệu nào cho thấy sự hiện diện của mình không gì khác ngoài một cử chỉ thiện chí ngoại giao. Đứng trên đường băng phía trước máy bay, Luba Volk tận hưởng khoảnh khắc này, tự hào vì sự sắp xếp của mình cho việc tiếp nhận chuyến bay. đã diễn ra suôn sẻ. Sau đó, bà nhận thấy một số người đàn ông mặc đồng phục El Al mà bà không quen mặt bước xuống máy bay. Khi Yehuda Shimoni theo họ ra khỏi máy bay, bà ấy tiến lại gần anh. Sau khi chào hỏi ngắn gọn, bà hỏi thẳng: “Những người đó là ai vậy?”

“Tướng Ben Arzi gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến bà,” Shimoni nói, sửng sốt trước câu hỏi của bà và tránh né nó hoàn toàn bằng cách nhắc đến sếp cũ của bà, người đứng đầu El Al. “Ông ấy nhờ tôi nhắc bà rằng ông ấy vẫn rất quan tâm đến việc bà chấp nhận lời đề nghị quay lại làm việc toàn thời gian cho ông ấy..”

Thay vì trả lời bình luận của anh, Volk nói, “Tôi đã nhận được một bất ngờ khó chịu từ Bộ Hàng không. Tôi muốn yêu cầu lấy cáng nhưng họ từ chối”.

“Bà đã làm gì?” Shimoni nói, bị sốc.

“Có vấn đề gì với việc đó? Việc đó trong quyền hạn của tôi với tư cách là người đại diện ở đây.”

“Tôi không biết… Điều này rất tệ. Được rồi, không sao cả. Bà không liên quan đến những gì xảy ra từ đây trở đi,” anh nói một cách kỳ lạ. Nhìn thấy vẻ ngơ ngác của bà, anh nói thêm, “Tôi cảm thấy rất tệ vì đã không thể cho bà biết chuyến bay này liên quan đến việc gì.”

Một tiếp viên trên chuyến bay xuất hiện và muốn nói chuyện với Volk. Cuộc trò chuyện của bà với Shimoni kết thúc đột ngột, trước khi bà kịp hỏi anh đang nói về cái quái gì vậy. Bị phân tâm bởi những phỏng đoán của chính mình, bao gồm cả suy đoán liên quan đến việc ai đó sử dụng máy bay để đưa Josef Mengele rời khỏi Argentina, Volk cố gắng tập trung chào hỏi những người còn lại trong phi hành đoàn khi họ bước vào nhà ga sân bay.

Cơ trưởng Tohar sau đó đúc kết chuyển bánh với phi hành đoàn, bảo họ hãy tận hưởng chuyến tham quan của mình ở Buenos Aires nhưng phải trở về khách sạn vào đầu giờ tối ngày hôm sau để chuẩn bị khởi hành chuyến về. Không ai được đến muộn. Arye Friedman và Mordechai Avivi, những người thợ cơ khí máy bay, nghĩ rằng họ cũng sẽ có thể tận hưởng Buenos Aires, nhưng Adi Peleg thông báo với họ rằng họ phải ở lại trên máy bay qua đêm tại khu vực bảo trì của Aerolineas Argentinas. Peleg giải thích rằng họ cần phải theo dõi cẩn thận vì một số “cơ quan thù địch” có thể muốn phá hoại Britannia.

Shalom và Aharoni đã theo dõi tất cả những gì diễn ra mà không cho bất kỳ hành khách hoặc phi hành đoàn nào đến nơi biết sự hiện diện của họ. Họ có mặt tại sân bay để trinh sát lại đường đi đến sân bay một lần nữa và đảm bảo rằng máy bay đã được định vị chính xác cho ngày hôm sau. Sau khi hoàn thành việc này, họ đến Maoz để họp lần cuối về chiến dịch trốn thoát.

_____

Trong một quán cà phê gần khách sạn Internacional của sân bay, ngay sau khi máy bay hạ cánh, Harel ngồi xuống với Tohar và Shimoni. Cả hai người đàn ông trông có vẻ kiệt sức. Cơ trưởng giữ kín cho riêng mình sự cố suýt gặp tai nạn trước khi hạ cánh xuống Recife  Thay vào đó, ông nói rất rõ rằng mình sẵn sàng làm bất cứ điều gì Harel yêu cầu ở ông ấy hoặc phi hành đoàn của ông ấy – với một điều kiện: ông ấy dứt khoát từ chối hạ cánh máy bay xuống Brazil lần nữa. Người Brazil không đáng tin cậy. Điều đó cũng ổn với Harel, vì dù sao thì ông cũng muốn bay thẳng từ Buenos Aires đến Dakar để tránh bất kỳ nguy cơ nào cho Britannia bị chặn lại ở Nam Mỹ.

Sau khi giải quyết xong, Harel vạch ra kế hoạch, đó là đưa Eichmann lên máy bay trong bộ đồng phục El Al. Ông ấy sẽ cần phi hành đoàn đi qua khu vực an ninh với tù nhân. Tohar và Shimoni nghĩ rằng đây là một ý tưởng hay hơn là đưa y vào xe chở thức ăn hoặc hòm ngoại giao. Shimoni nói với Harel về chiếc cáng mà Luba Volk đã yêu cầu và anh ta lo sợ rằng điều này có thể làm dấy lên mối nghi ngờ, nhưng người đứng đầu Mossad đã bỏ qua điều đó và chỉ thị cho Shimoni chỉ cần đảm bảo rằng không có hành khách không mong muốn nào trên chuyến bay. Điểm bất đồng duy nhất của họ là thời gian khởi hành. Harel muốn rời đi càng sớm càng tốt vào ngày hôm sau, nhưng Tohar phản đối rằng phi hành đoàn cần nghỉ ngơi nhiều hơn, vì chuyến bay dài tới Dakar và sau đó là Tel Aviv. Họ đang thử thách giới hạn của Britannia. Thêm gánh nặng của một phi hành đoàn mệt mỏi sẽ là một thảm họa. Harel đồng ý. Họ sẽ rời đi vào gần nửa đêm ngày 20 tháng 5.

Tohar đi thẳng từ quán cà phê đến khách sạn Internacional để gặp phi hành đoàn của mình trước khi họ tiến vào thành phố. Ông ta tập hợp hai phi công còn lại là Wedeles và Azriel Ronen; những hoa tiêu, Shaul và Hassin; và các kỹ sư phi hành, Shimon Blanc, một người sống sót trong trại tập trung Dachau, và Oved Kabiri, cùng tập hợp trong phòng trong thượng hạng của ông. Đây là đội bay chịu trách nhiệm đưa Britannia trở lại Israel an toàn. Tohar nghĩ họ xứng đáng được biết mục đích sứ mệnh của mình. Ngoại trừ Wedeles, tất cả mọi người đều rất ngạc nhiên trước lời giải thích của Tohar, mặc dù không phải ai cũng đều biết Eichmann là ai. Sau đó ông ta nói với họ rằng họ sẽ bay thẳng từ Buenos Aires đến Dakar và đã yêu cầu các hoa tiêu của mình vẽ biểu đồ tuyến đường và các kỹ sư phi hành chuyến bay đảm bảo rằng Britannia có khả năng hoàn thành. Ông đã nói rõ rằng nếu lý do chuyến bay của họ bị phát hiện, họ có thể phải thực hiện hành động trốn thoát. Tỉnh táo và được thông báo đầy đủ về những gì họ phải làm, phi hành đoàn giải tán.

______

Ở phía bên kia thị trấn, tại ngôi nhà an toàn Maoz, Harel tham gia vào đội. Malkin, Tabor và Medad ở lại Tira để bảo vệ Eichmann. Lần đầu tiên Harel không có một bài phát biểu hoành tráng nào về tầm quan trọng lịch sử của sứ mệnh của họ. Tất cả công việc của ông đều là: lịch trình, giấy tờ, cải trang, lộ trình, xe hơi, kế hoạch dự phòng, tìm kiếm Mengele, dọn dẹp, kế hoạch trốn thoát cho những người không tham gia chuyến bay.

Eitan rời đi sớm để kiểm tra Tira, và cuộc họp kết thúc vào khoảng nửa đêm. Giấc ngủ không nằm trong kế hoạch của bất kỳ ai trong số họ.

_____

Trong những giờ phút khuya khoắt của đêm cuối cùng của họ tại Tira, Rafi Eitan nghĩ rằng mình đã nghe thấy ai đó di chuyển bên ngoài. Ông chạy qua ngôi nhà, cảnh báo các thành viên khác trong nhóm.

Tabor vội vã đến phòng giam  Eichmann và chuẩn bị nhốt tù nhân vào nơi ẩn náu phía trên căn phòng, trong khi những người khác nhìn ra ngoài qua cửa sổ, tìm kiếm bất kỳ chuyển động nào. Một đặc vụ đã tìm kiếm phía trước nhà, đặc vụ khác tìm phía sau. Đó là một báo động giả.

Mọi người đều ổn định trở lại, mặc dù tâm trạng vẫn còn lo lắng, ai cũng mong được giải thoát khỏi tù nhân của mình và trở về Israel. Không ai có cơ hội nghỉ ngơi; tất cả họ đều bận rộn với nhiệm vụ canh gác, trả lại ngôi nhà về tình trạng ban đầu, kiểm tra danh tính và giấy tờ mới hoặc dọn dẹp – thu thập bất kỳ vật dụng nào (ống nhòm, dụng cụ, hộ chiếu, quần áo, bản đồ, v.v.) cần thiết bị vứt bỏ hoặc tiêu hủy trước khi họ rời đi. Suốt đêm, Eichmann ngồi bên mép giường, rõ ràng là biết có chuyện gì đó sắp xảy ra.

Khi bình minh đến gần, đội phải đối mặt với giai đoạn cuối cùng của nhiệm vụ. Sau đó sẽ là lúc các thành viên phải trốn thoát.

Bình luận về bài viết này