Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần Cuối)

CHƯƠNG 24 : “TÔI SẼ TUỐT GƯƠM RA”

aaa

George J. Veith

Quế Anh dịch

Vũ điệu Ngoại Giao Cuối Cùng

Sau khi quân Bắc Việt tấn công bất ngờ vào Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975, thủ phủ của phía nam Cao nguyên Trung phần, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho các lực lượng quân sự ở Quân đoàn II chiếm lại thành phố. Đạo quân QĐVNCH di chuyển vị trí bị tiêu diệt, khởi động một phản ứng dây chuyền dẫn đến sự tan rã hỗn loạn của Quân đoàn I và việc thất thủ của Huế và Đà Nẵng. Sự sụp đổ của nửa phần lãnh thổ phía bắc miền Nam khiến các chỉ huy Cộng sản có thể tập trung gần như hoàn toàn toàn bộ lực lượng tiến công Saigon.

Nhiều sách đã kể chi tiết về những ngày cuối cùng. Nhiều sách tập trung vào việc Mỹ di tản hoặc các chiến dịch quân sự, nhưng ít sách đào sâu vào những nỗ lực ngoại giao sau cùng của người Pháp nhằm tạo ra một chính quyền miền Nam mới. Paris muốn Thiệu từ chức để một chính phủ liên hiệp với CQCMLT được thành lập nhằm ngăn cản Hà Nội chiếm đoạt hoàn toàn. Chính sách Pháp dựa vào thông tin từ Hà Nội và CQCMLT rằng họ sẽ đồng ý một cuộc ngừng bắn nếu Dương Văn Minh thay Thiệu làm tổng thống. Mặc dù có nỗ lực ngoại giao ngấm ngầm này, vào ngày 30 tháng 4, bộ đội Cộng sản tiến vào Saigon, và cuộc chiến kết thúc.

“LÀM HỌ NUỐT LỜI”

Bất kể vụ pháo kích vào hai trường học ở vùng Cửu Long vào tháng 5 1974, Thiệu vẫn quyết định đưa ra tiếp thương lượng  để chứng minh mình không phải là trở ngại cho hòa bình. Vào ngày 20/7, kỷ niệm lần thứ 20 ngày ký Hiệp định Geneva, ông yêu cầu được đối thoại trực tiếp với Hà Nội. Bộ Chính trị lập tức bác bỏ bất kỳ đối thoại nào. Hoạt động ngoại giao vẫn im ắng cho đến 8/10, khi CQCMLT ra sức đầu tư vào lời kêu gọi Thiệu từ chức của Cha Thanh  bằng cách tuyên bố họ chỉ nối lại đàm phán nếu Thiệu từ chức.

Giữa việc ra đi của Nixon, việc cắt trở lại viện trợ, tình hình khuấy động đường phố, và cuộc chiến đang lớn dần, Thiệu cảm thấy bị cô lập. Tin rằng một cuộc công kích rầm rộ đang lù lù đến, ông âm thầm đưa ra một quyết định trọng đại để cứu lấy đất nước, một quyết định đến giờ mới được biết đến. Ám chỉ đầu tiên xuất hiện vào ngày 23/10, khi Nguyễn Xuân Phong, giờ đang cầm đầu phái đoàn thương thuyết của CQMN ở Paris, yêu cầu được đối thoại với người Mỹ. Phong, gián tiếp trả lời với phát biểu gần đây của CQCMLT, bảo với các viên chức Hoa Kỳ rằng “thời gian sẽ sớm chín mùi cho phía CQMN đưa ra điều gì đó mới mẻ cho phía Cộng sản.” Đề xuất này sẽ “làm lắng xuống bất ổn chính trị ở miền Nam” và sẽ “rất đặc biệt và hấp dẫn.” Trong khi không đưa ra những điều đặc biệt, Phong cho rằng vì CQCMLT đã vừa “tuyên bố công khai rằng họ sẽ không đàm phán” với Thiệu, đề nghị mới này “có thể làm họ nuốt lời.” Hơn nữa mặc dù CQMN xem Hội đồng Quốc gia về Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc như “một yếu tố lật đổ,” CQMN “phải xem xét mình có thể thu dung tính lật đổ này đến mức độ nào … để duy trì được quyền hành toàn bộ của nó.” Vì Hà Nội chắc chắn sẽ bác bỏ lời khẩn khoản của Saigon, Phong gợi ý rằng người Mỹ sẽ ném ý tưởng này đến người Nga và người Trung Hoa. Với cuộc họp của Tổng thống Gerald Ford với người Nga ở Vladivostok vào cuối tháng 11 tiếp ngay sau là chuyện đi thăm Bắc Kinh của Ngoại trưởng Henry Kissinger, Phong hy vọng rằng Hoa Kỳ có thể thuyết phục các đồng minh của Hà Nội có thể gây sức ép cho Bộ Chính trị phải chấp nhận nó.

Mặc dù người Mỹ không chịu hành động theo lời yêu cầu của ông, trong hai sáng kiến ngoại giao được xếp loại cao cấp đầu tiên mà Phong dính líu vào trong những tháng cuối cùng, Thiệu tạo một thay đổi chính sách đột ngột và đầy ấn tượng. Trong nỗi tuyệt vọng dấu kín, Thiệu báo tin Phong là mình sẵn sàng từ chức để đổi lấy sự bảo đảm của Hà Nội về sự tiếp tục tồn tại của chính quyền miền Nam. Phong kể rằng

Thiệu không còn chắc chắn mình có thể lưu nhiệm. Ông gửi một bức điện cho tôi … và bảo với tôi ông sẽ ‘không là một trở ngại cho hòa bình.’ Ông bảo tôi tìm hiểu thông tin về mọi người, họ nghĩ gì. Ông không mong đợi nhiều về đáp ứng từ Hà Nội. ‘Ai có thể được họ chấp nhận? là câu hỏi chủ chốt của ông. Ý định của tôi cũng là để thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ đối với một ‘giải pháp quốc tế’ khả dĩ. Ông hy vọng tôi có thể cứu cho miền Nam không bị miền Bắc thôn tính.

Để hoàn thành sứ mạng của mình, Phong cần tìm một công thức có thể chấp nhận được với cả phe quân sự miền Nam và phe Cộng sản. Mặc dù Thiệu không hình dung một chính phủ liên hiệp, Phong biết rằng đây là một sự đầu hàng ngụy trang. Trong khi tổng thống xem điều này như là việc đổi chác chính mình lấy một dàn xếp chính trị, thì Phong tin rằng lời đề xuất, nếu được chấp nhận, sẽ đơn giản để câu giờ, một dịp để VNCH có thể tự cứu lấy mình. Bất kể là gì, ý tưởng không được Ford lẫn Kissinger đề cập với các đồng minh của Hà Nội. Một phần của lý do là vì Thiệu đã giữ kín sự thay đổi này. Tổng trưởng Vương Văn Bắc phát biểu sau này rằng “Tôi cũng đã từ chức nếu tôi biết.” Tuy nhiên, Hoàng Đức Nhã khẳng định lời kể của Phong. Nhã đặt tên cho đề xuất là một “canh bạc để thấy được thực tế” của thiện chí Hà Nội về đối thoại hòa bình. Thiệu, dù vậy, cảm thấy “sẽ là vô cùng vô trách nhiệm nếu từ chức mà không … biết kẻ địch sẽ lảm gì,” có nghĩa là ông sẽ không từ chức nếu không có bảo đảm.

Đồng thời, CQMN cho công khai một đề xuất ngoại giao khác. Vào ngày 7/11, Bắc làm mới lại đề nghị thương lượng của CQMN, nhưng ông phủ quyết lời yêu cầu Thiệu từ chức của CQCMLT như một điều kiện tiên quyết để đối thoại. Khi CQCMLT cự tuyệt Bắc, Thiệu công khai đề nghị thoả thuận vạch ra những vùng kiểm soát và thiết lập HĐQGHHHGDT. Thêm một lần nữa CQCMLT từ khước, gọi đề xuất của Thiệu là một “mưu mẹo lường gạt.” Không được hậu thuẫn, một lần nữa Phong đến gặp người Mỹ. Lần thứ hai ông gợi ý rằng một “thoả thuận đóng gói” nên được đưa ra, một thỏa thuận vốn sẽ “cung cấp một nhượng bộ hấp dẫn  với phe Cộng sản để đổi lấy một cuộc ‘ngừng bắn thực sự'” Dù vậy, bất kỳ thỏa ước nào của CQMN “không nên gây thiệt hại quá đáng cho quyền hành của VNCH.” Người Mỹ một lần nữa phớt lờ Phong, vào cuối năm 1974, Bộ Chính trị hoàn tất các kế hoạch cho cuộc công kích mùa xuân.

Tuy nhiên, Pháp đã hiểu rõ những ám chỉ của Phong, khiến họ phục hồi sức ép đã có từ lâu là trung lập hoá miền Nam. Paris đã theo đuổi mục tiêu này không ngừng từ năm 1954, thường với sự cổ vũ của Hà Nội. Một bức điện của Bộ Chính trị từ năm 1968 nói rõ suy nghĩ của họ:

Cuộc đấu tranh ngoại giao phải tạo ra một đóng góp tích cực cho các nỗ lực của chúng ta nhằm gây sức ép với Hoa Kỳ thay thế các lãnh đạo tay sai hiện thời và đối thoại trực tiếp với MTGP. Chúng ta phải nói với người Mỹ rằng chỉ nếu họ làm những điều này mới có thể có một cách giải quyết vấn đề miền Nam … Một vấn đề cấp bách hiện giờ là thành lập một chính quyền tại Saigon mà mục tiêu là để bàn bạc những vấn đề chính trị với Mặt Trận và sẽ làm việc với Mặt Trận để thành lập một chính quyền liên hiệp sẽ đòi đế quốc Mỹ rút quân … Để hoàn thành việc này, chúng ta phải sử dụng vai trò của Pháp và phe phái thân Pháp ở miền Nam … Chúng ta phải … kết hợp đấu tranh chính trị và ngoại giao và mưu mẹo mà  chúng ta dùng với người Pháp cùng với một kế hoạch quân sự cực kỳ tích cực, năng nổ để đạt được thắng lợi ở mức cao nhất.

Chính sách của người Pháp sau hiệp định là chỉ công nhận một chính quyền ở miền Nam, nhưng họ nhìn thực thể đó như một chính quyền liên hiệp bao gồm CQCMLT và Lực Lượng Thứ Ba. Các viên chức người Pháp nhiều lần bảo với Phong là “Pháp ở trong một vị thế độc nhất để có thể hành động như một ‘người trung gian’ hiệu quả cho tất cả các bên liên quan và có thể cung cấp ‘chất xi măng’ cho một dàn xếp được thỏa thuận giữa miền Bắc, MTGP, và miền Nam.” Tuy nhiên, người Pháp cần một đối tác, và họ nhắm đến người Trung Hoa. Tổng thống

Georges Pompidou đã tiếp nối chính sách trung lập của Charles De Gaulle. Trong một phát biểu mà Pompidou đọc vào ngày 1/10/1971, với một phái đoàn Trung Cộng đến thăm, ông khẳng định rằng Pháp “vẫn còn trung thành với chính sách trung lập hóa Đông Dương.” Ngoại trưởng CQMN Trần Văn Lắm báo tin cho Thủ tướng Khiêm rằng theo các nguồn tin ở Paris vốn thông thạo về chính tình Pháp, lý do mà Pompidou đưa ra lời phát biểu đó là vì ông ta muốn Trung Cộng công nhận Pháp sẽ đóng một vai trò trong việc giải quyết vấn đề Đông Dương, nhất là giờ đây Nixon đang chuẩn bị viếng thăm Bắc Kinh.

Tuy nhiên, việc phái đoàn Trung Cộng hoàn toàn im lặng về vấn đề này minh chứng rằng họ chỉ muốn nói với Mỹ về vấn đề này.

Pompidou tiếp tục theo đuổi những gắn kết với Trung Hoa, và thế là ông đi đến Bắc Kinh vào tháng 9 1973 để cải tiến mậu dịch. Những bàn luận về các vấn đề quốc tế hầu hết xoay quanh việc tìm kiếm một giải pháp cho Cao Miên, nhưng họ đặt ra nền tảng cho hợp tác tương lai về Đông Dương. Giám đốc lâu năm người Pháp về các Vấn Đề Á Châu Henri Froment-Meurice báo tin cho người Mỹ sau cuộc gặp rằng Pháp “rất quan tâm đến việc phát triển quan hệ với Trung Quốc và người Trung Quốc đã bắt đầu tham vấn thường hơn với người Pháp trên một số vấn đề.”

Với cái chết của Pompidou vào tháng 4 1974 và việc bầu tiếp sau đó Valéry Giscard d’Estaing vào chức vụ tổng thống, chính sách Pháp chuyển từ việc chấp nhận hiện trạng ở Việt Nam đến một vai trò chủ động hơn. Froment-Meurice nhìn thấy việc biểu tình chống đối diễn ra trên đường phố ở Saigon là một cơ hội để loại bỏ Thiệu, và ông báo tin ngay cho miền Bắc. Vào đầu tháng 11, trưởng đại diện CQCMLT ở Paris đánh điện cho Ngoại trưởng VNDCCH Nguyễn Duy Trinh báo rằng

Pháp đang xem xét khả năng Thiệu sẽ bị thay thế và nhận thức được việc chúng ta quyết tâm lật đổ Thiệu… Tổng thống Pháp đang ra sức khám phá thái độ của chúng ta về việc này, cả thái độ của chúng ta trong tương lai trước mắt và thái độ chúng ta trong tương lai xa. Về cơ bản, chính sách Pháp vẫn không thay đổi, nhưng Pháp muốn lợi dụng cơ hội này để mặc cả với Mỹ, và … để cho nước Pháp được đóng vai trò nào đó ở miền Nam. Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta có thể sử dụng người Pháp một cách nào đó để góp thêm tác động buộc Thiệu rơi đài.

Mưu mẹo sử dụng người Pháp của Hà Nội nhằm đạt được các mục tiêu của mình cuối cùng cũng sẽ mang lại kết quả. Nhưng đúng vào lúc các chính khách của Hà Nội đã vạch rõ các chủ tâm của Pháp, thì Lê Duẩn cũng không kém ngờ vực về tham vọng của Trung Quốc. Sau một buổi họp của Bộ Chính trị vào tháng 10 1974 để thảo luận về cuộc công kích mới trong năm 1975, ông viết một bức thư gửi Trung ương Cục miền Nam. Giải thích tình hình quốc tế, ông thừa nhận rằng “một số cường quốc lớn … đang âm thầm hoạt động để trở thành những kẻ cai trị” Đông Dương. Họ “nhìn thấy một Việt Nam độc lập, thống nhất … như là một trở ngại chính cho các mưu tính của họ. Vì lý do đó, họ ra sức ngăn cản những nỗ lực của Việt Nam tiến tới và kéo dài thời gian đất nước ta bị chia đôi để làm chúng ta yếu đi. Để hoàn thành mục đích này, người Mỹ hy vọng Trung Quốc sẽ gây sức ép cho chúng ta dừng lại sau khi chúng ta ký Hiệp định Paris.”

Lê Duẩn tin rằng Trung Quốc trong lòng rất muốn ngăn cản một Việt Nam thống nhất. Lý do này, trong số   một vài lý do, là giải thích tại sao ông ta đẩy nhanh một cuộc công kích khác. Ông ta muốn hành động trước khi Trung Quốc có thể can thiệp không cho ông giành được thắng lợi. Việc ông đánh giá Bắc Kinh sợ một Việt Nam thống nhất là đúng. Với một quân đội Xô-Viết có vũ khí hạt nhân cắm ngay trên biên giới phía Bắc của họ, nếu Hà Nội đồng minh với người Nga, Trung Quốc sẽ bị bao vây. Bắc Kinh, nhận thức rõ kế hoạch của Bộ Chính trị về một cuộc tổng công kích mùa xuân, đã hâm nóng chính sách một chính phủ liên hiệp của người Pháp ở miền Nam để ngăn Hà Nội thôn tính miền Nam. Phong cũng được cho biết một cách độc lập là việc Hà Nội sợ Trung Quốc ngăn cản họ chinh phục Saigon là một lý do chính tại sao có cuộc tổng công kích mùa xuân. Các hành động của Trung Quốc trong những ngày cuối cùng sẽ khẳng định nỗi lo sợ của Lê Duẩn.

CẮT ĐỨT VIỆN TRỢ MỸ

Vào ngày kỷ niệm hai năm ký kết Hiệp định Hòa Bình Paris, tổn thất miền Nam tiếp tục gia tăng khủng khiếp. CQMN ra tuyên bố họ đã chịu “gần 160,000 thương vong kế từ khi thoả thuận ngừng bắn được ký kết.” Phối hợp lời khẩn cầu của Thiệu, các thông điệp rền rĩ của Martin, và tiếng pháo càng ngày càng vang dội đã thuyết phục Tổng thống Gerald Ford yêu cầu Quốc hội phục hồi 300 triệu trong gói viện trợ FY75 1 tỷ đô cho miền Nam mà Quốc hội đã xiết lại. Số tiền cần rất cấp bách. Quốc hội đã ra lệnh trong luật viện trợ rằng chi phí cho miền Nam bình thường do ngân sách hoạt động của Ngũ Giác Đài phát ra phải được tính vào số tiền 700 triệu được phân bổ. Điều đó chỉ còn lại 470 triệu cho hàng tiếp tế thường quy như xăng dầu và quân nhu. Tướng Cao Văn Viên nhức nhối giải thích rằng vào cuối tháng giêng 1975 những hệ lụy bi đát của sắc lệnh này. Thậm chí sau những cắt giảm khắt khe trong chi tiêu của QLVNCH trong FY74, 470 triệu “sẽ chỉ thỏa mãn 38 phần trăm chi phí hành quân của chúng ta” trong năm 1975. Đối mặt với “nhịp độ và cường độ tăng mạnh” của các cuộc tấn công của quân địch, việc cắt giảm thêm nữa sẽ tác hại nghiêm trọng đến khả năng chiến đấu của QĐVNCH và tinh thần chiến đấu của bình sĩ chúng ta.” Vào cuối năm, Viên dự tính rằng dự trữ đạn pháo, lượng khí tài cấp thiết vốn được duy trì để phòng một cuộc công kích trên toàn quốc, sẽ bị giảm xuống chỉ dùng được trong 37 ngày. Thời gian đợi từ lúc đặt hàng đến khi quân nhu Mỹ chở đến là từ 60 đến 90 ngày. Tệ hơn nữa, “lượng xăng dầu tiếp tế cho chúng ta sẽ hết sạch vào cuối tháng 12.”

Mặc dù Tướng Viên giải thích rành mạch tác hại hủy diệt của việc cắt viện trợ, nhưng lập luận của ông chỉ như nước đổ lá sen. Tháng 11 1974 cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Hoa Kỳ cho kết quả Đảng Dân Chủ càng chiếm đa số lớn hơn, và chống Thiệu càng ầm ĩ hơn. Giữa tin buồn về kinh tế Mỹ và tình cảm phản chiến mạnh mẽ, lời khẩn cầu viện trợ không hề có chỗ đứng. Tuy nhiên, không phải chỉ có Quốc hội mới có lỗi. Một cuộc thăm dò ý kiến của Gallup tiến hành vào đầu tháng 2 1975 cho biết 78 phần trăm dân chúng Mỹ chống đối tiếp tục viện trợ. Những năm tháng xung đột trong lòng xã hội Mỹ về vấn đề Việt Nam và các nhận thức cho Saigon là một ổ tham nhũng đã nhổ tận gốc chủ trương hậu thuẫn cho cuộc chiến. Sau đó Ford yêu cầu Quốc hội cử một phái đoàn thị sát Đông Dương và viết báo cáo. Ông hy vọng một báo cáo nói rõ chi tiết về tình hình nguy kịch sẽ thúc đẩy Quốc hội suy nghĩ lại sự chống đối của mình. Dân biểu John Flynt (bang Georgia), cầm đầu nhóm, đến Saigon vào cuối tháng 2. Sau khi gặp giới lãnh đạo miền Nam và các viên chức Mỹ, Flynt cổ vũ Thiệu mở cửa chính quyền cho các nhân vật đối lập nhiều hơn nữa, một đề xuất của Mỹ có từ thời Diệm. Thiệu đáp lại với câu trả lời ruột của mình: “Trong tình hình hiện tại, ưu tiên chính của tôi phải là sự sống còn của chính quyền.” Nhiều người chỉ trích, và “đôi khi chỉ trích đó được biện minh,” nhưng “chỉ trích thì dễ hơn là thực sự chịu trách nhiệm cai trị.” Để đạt được hòa bình, ông đã đề nghị cho phép CQCMLT “tham gia vào đời sống chính trị của Việt Nam. Đó không phải là một đề nghị dễ dàng để chủ trương đối với một người đã chiến đấu với VC quá lâu rồi.” Về việc viện trợ, Việt Nam không phải là một “hố không đáy.” Xứ sở chỉ cần thêm ba hoặc bốn năm nữa cho đến khi “nó có thể đứng vững trên đôi chân của mình. Trong thập niên 1960 Việt Nam buộc phải kêu gọi đến binh sĩ Mỹ giúp phòng thủ nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ cần đến binh sĩ của các ông nữa, chỉ cần hậu thuẫn vật chất.” Lập luận của Thiệu cũng như báo cáo của phái đoàn dân biểu Mỹ không lung lạc được quốc hội. Vào ngày 12 và 13 tháng 3, ngay sau khi Cộng quân phát động cuộc công kích mới, Quốc hội Mỹ bỏ phiếu chống áp đảo việc viện trợ tiếp tục.  Chuẩn tướng Trần Văn Hai, người chỉ huy Sư đoàn 7, cay đắng nhận xét, “Chúng ta chiến đấu trong cô độc và tuyệt vọng.”

ÉP THIỆU TỪ CHỨC

Viện trợ quân sự không phải là vấn đề duy nhất của Saigon. Những rạn nứt nội bộ như tham nhũng và tỷ số thất nghiệp tăng cao một cách dai dẳng tiếp tục phát sinh hỗn loạn xã hội. Vào ngày 1/2/1975, Cha Trần Hữu Thanh lưu hành một bài tố cáo gay gắt mới chống Thiệu. Được biết dưới tên “Bản Cáo Trạng Số 2″, ông kêu gọi xét xử Thiệu”tội phản quốc” vì tổng thống đã “hủy diệt chính nghĩa Quốc gia.” Hơn nữa, Thiệu “không thể mang hoà bình cho Việt Nam” vì ông đang sử dụng “chiến tranh như một cái cớ để củng cố quyền lực và tài sản của riêng mình.”

Bực bội, Thiệu lập tức đóng của 5 tờ báo đã đăng “Bản Cáo Trạng Số 2”. Hơn 20 nhà báo, trong đó nhiều người đã bị bí mật điều tra vì tình nghi cấu kết với Cộng sản, bị bắt. Việc bắt giữ, lại xảy ra ngay trước phiên phúc trình về viện trợ tại quốc hội Mỹ, rõ ràng là vô cùng thất lợi, vì Thiệu một lần nữa được xem là áp bức tự do ngôn luận. Tuy nhiên, một vài nhà báo thật ra là cán bộ Cộng sản nằm vùng. Một thông tín viên, Nguyễn Văn Hồng, thuộc về ổ gián điệp A10 của An Ninh Nhân Dân. Phó Chủ tịch Lý Quý Chung khẳng định chủ tịch của Hội Nhà Báo Việt Nam và vài người khác là các cán bộ Cộng sản chính thống. Phe chống đối Thiệu kiên quyết nổi giận vì đâp trả của ông. Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu cho rằng Thiệu đang “bắt chước Park Chung-hee thẳng tay trừng trị kẻ đối lập với mình.” Dương Văn Minh và hơn 40 dân biểu ký tên vào một bức huyết thư đòi Thiệu từ chức.

Tuy nhiên, người mưu tính chủ chốt là Trần Quốc Bửu. Lãnh tụ lao động bình thường nằm trong bóng tối của vũ đài chính trị Saigon, nhưng tình hình nghiêm trọng buộc ông đang xem xét nghiêm túc việc ra tranh cử tổng thống trong kỳ bầu cử sắp đến. Sau bài diễn văn của ông vào cuối năm 1974, bước tiếp theo của Bửu là nhào nặn một ủy ban gồm “những người miền Nam rất có uy tín” sẽ đưa ra “lời kêu gọi mạnh mẽ đến mọi người Quốc gia đoàn kết với nhau dưới sự lãnh đạo của ủy ban để bảo vệ miền Nam khỏi cuộc xâm lăng của Cộng sản.” Bùi Diễm, Trần Văn Đỗ, và Đặng Văn Sung đều là thành viên của ủy ban. Bị đánh động trước sự xấu đi nhanh chóng của miền Nam, họ quyết tâm ép buộc tổng thống kiến tạo một chính quyền mở rộng hơn để tập kết dân chúng trước khi búa tạ của Cộng sản bổ xuống. Họ gửi một bức thư cho Thiệu “đề nghị rằng ông mời tất cả nhóm chống đối thảo luận một Chính quyền Liên minh Quốc gia,” bao gồm “một sự tái tổ chức nội các và cải cách nghiêm túc.” Nếu ông từ chối, họ sẽ công khai kêu gọi ông từ chức. Tuy nhiên, ngay lập tức Bửu bỏ đi Mỹ nhằm thuyết phục Quốc hội Mỹ nới lỏng khoá tủ sắt. Khi ông trở lại, Cộng quân đã phát động cuộc công kích của họ. Những lời yêu cầu Thiệu từ chức hoặc bổ sung các nhân vật đối lập vào chính quyền lại nổi lên. Chẳng bao lâu chúng sẽ mang  lại kết quả.

Vài ngày sau khi phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ rời Saigon, QĐNDVN cắt đứt ba con đường chủ yếu đi vào Cao nguyên Trung phần, báo hiệu trận mở màn của cuộc công kích mùa xuân. Lần thứ 4, Hà Nội đã phát động một cuộc tấn công bởi vì họ nghĩ Saigon là một miếng mồi dễ xơi. Giống như những năm trước đây, Bộ Chính trị cho rằng miền Nam yếu nhớt và đang tan rã. Vì Hà Nội đã tính sai trong ba lần đầu, nên lần này họ thận trọng hơn. Trong khi họ không nghĩ là cuộc tấn công này sẽ làm kẻ tử thù của mình sụp đổ, họ chỉ hy vọng sẽ thu phục được  những vùng nông thôn rộng lớn và buộc Thiệu từ chức. Đúng như Lê Đức Thọ đưa ý kiến tại Paris vào, năm 1972, Bô Chính trị xem việc loại bỏ Thiệu là cách bảo đảm nhất để đánh bại miền Nam. Loại bỏ Thiệu sẽ là chiến lược ngoại giao chủ yếu của Hà Nội để hoàn tất việc chinh phục của mình.

Tuy nhiên, có một sự khác biệt chết người giữa 1975 và những năm trước. Quân đội Nhân dân, trong khi vào năm 1972 không phải là vô địch, đã khắc ghi những bài học xương máu từ cuộc công kích đó. Phiền bản này của QĐNDVN đã có thêm hai năm tái thiết lại các sư đoàn rệu rã của mình. Kết quả là giờ đây nó đã là bậc thầy trong các lĩnh vực chủ chốt của tài thao lược quân sự: kế hoạch tham mưu sáng tạo, liên lạc siêu đẳng, dự trù hậu cần, và linh hoạt chiến thuật. Lực lượng phòng không đã mở xa tận phía nam, cũng như đường xá, một đường ống dẫn dầu, và nhà kho tiếp tế. Không có oanh tạc cơ Mỹ ném bom hủy diệt chúng, và nhìn thấy một QLVNCH mất hết nhuệ khí, Hà Nội thêm một lần nữa tung quân đội của minh vào miền Nam. Lần này, họ tính đúng.

Sau khi cắt hết đường xá, vào ngày 10/3, Cộng quân tấn công và tràn ngập thành phố Ban Mê Thuột. Trong Quân đoàn III, các trận tấn công dữ dội đe doạ cô lập Saigon, trong khi ở Quân đoàn I phía bắc, các đơn vị địch tấn công Tỉnh Quảng Trị và phía nam Huế. Dân chúng từng hàng ngàn người ở Quảng Trị lập tức chạy về Huế lánh nạn . Đối mặt với cuộc xua quân này và tin tức viện trợ bị bác bỏ, Thiệu đưa ra hai quyết định quân sự đã dán dấu niêm phong cho sự thảm bại của mình. Đầu tiên, ông bảo Trung tướng Ngô Quang Trưởng chuyển Sư đoàn Dù từ Quân đoàn I về Saigon để yểm trợ việc phòng ngự thủ đô. Vào năm 1972, ông đã ra lệnh Tướng Viên giữ Kontum và chiếm lại Quảng Trị vì để mất những vùng này có thể làm sụp đổ quốc gia. Quyết định chống giữ vững chắc  của Thiệu được yểm trợ bởi hoả lực khủng khiếp và hậu cần của Mỹ. Nhận thức được rằng các B-52 sẽ không quay trở lại, và lượng tiếp tế rất hạn chế , ông tin rằng hy vọng duy nhất của ông là thay đổi chiến lược. Ông quyết định rút quân đến những vị trí dễ phòng thủ hơn ở nửa phần phía bắc của xứ sở để giải phóng lực lượng nhằm bảo vệ nửa phần phía nam trù phú, một kế hoạch ông gọi là “Nhẹ  ở Đỉnh,  Nặng ở Đáy.”

Tuy nhiên, việc rút lui của Nhảy Dù buộc Trưởng phải chuyển lực lượng của ông để bù đắp, tạo ra lỗ hổng trong phòng tuyến và khiến dân chúng kinh hoảng. Tệ hơn nữa, một tin đồn độc địa loan truyền rằng “các cường quốc” đã nhượng hầu hết Quân đoàn I cho Hà Nội. Giữa sự rút đi của Nhảy Dù và tin đồn, dân chúng hoảng kinh, và vài trăm ngàn người dân tháo chạy tán loạn về Đà Nẵng.

Ngày hôm sau, Thiệu ra lệnh Tư lệnh Quân đoàn II Thiếu tướng Phạm Văn Phú chiếm lại Ban Mê Thuột. Với con đường duy nhất từ Pleiku đến thành phố bị phong tỏa, Phú chọn cách di chuyển lực lượng của mình dọc theo một con đường xấu ít được sử dụng dẫn ra bờ biển. Từ đó, ông dự tính tấn công theo hướng tây dọc Đường 21 và chiếm lại Ban Mê Thuột. Cuộc điều quân được lên kế hoạch tồi tệ lập tức tan rã khi hàng ngàn dân địa phương đi theo đạo quân đang rút đi. Các đơn vị Cộng quân bám sát và tiêu diệt lực lượng của Phú.

Thất thủ Ban Mê Thuột lập tức làm sống lại các lời kêu gọi Thiệu từ chức hoặc từ bỏ quyền lực. Hy vọng tập kết được phe đối lập để hậu thuẫn CQMN, vào ngày 15/3, Bùi Diễm, Trần Văn Đỗ, và Trần Quốc Bửu đến gặp tổng thống. Đỗ bảo ông rằng “một vực thẳm đang tồn tại giữa chính quyền và nhân dân và giờ là lúc cần thiết để làm làm một điều gì đó.” Họ đề xuất thay đổi nội các để mang vào chính quyền “những thành viên thuộc ‘phe đối lập thực sự.'” Thiệu đồng ý, như lúc nào cũng vậy, nhưng ông yêu cầu một đề xuất được viết tay, chủ yếu để trì hoãn.

Tuy nhiên, tình hình quân sự xấu đi nhanh chóng buộc ông phải hành động. Vào ngày 25/3, ông chỉ đạo cho Khiêm thành lập nội các mới. Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn cho biết Thiệu muốn tái tổ chức “nội các nhằm đưa vào một số lượng lớn các chính đảng, hiệp hội, phe nhóm khác nhau từ khắp đất nước. Ông muốn đạt được sự đoàn kết quốc gia để chúng ta có thể động viên tinh thần ái quốc … của nhân dân và ưu tiên cao nhất là hậu thuẫn tiền tuyến.” Trong một tuần, Khiêm đi gặp nhiều đại biểu, nhưng ông thất bại.

Tuy nhiên, Trần Văn Đỗ cho rằng Thiệu không tìm kiếm một chính quyền mở rộng mà vận động để qua mặt nhóm của mình. Đỗ đã âm thầm bàn bạc với Nguyễn Cao Kỳ, một chỉ dấu cho thấy nhà chính khách lão thành của miền Nam đã lo âu đến vận nước nhiều như thế nào. Đỗ đã thúc giục Thiệu ứng cử tổng thống năm 1967, và ông và Kỳ từ lâu xung khắc nhau. Vậy mà bây giờ ông ép Kỳ chường mặt ra từ chốn nghỉ hưu và trở lại sân khấu chính trị. Kỳ đồng ý, và vào ngày 26/3, ông tổ chức một buổi họp báo báo tin thành lập Uỷ ban Cứu Quốc, một phiên bản của Chính quyền Liên minh Quốc gia của Bửu. Được nhiều nhân vật đối lập tham gia, Kỳ nhấn mạnh Thiệu hoặc phải từ chức hoặc trao quyền hành lại cho nhóm của ông để họ có thể tập kết đất nước. Kỳ muốn nắm quyền cầm đầu lực lượng vũ trang, tin rằng mình có thể thi triển tài lãnh đạo cho một quân đội đã mất hết nhuệ khí. Kỳ nhấn mạnh rằng ông không chủ trương một cuộc đảo chính, cũng không có ý tìm kiếm quyền lực; ông chỉ muốn cứu lấy đất nước. Một khi tình thế đã ổn định, ông sẽ mở ra những thương thảo với Hà Nội hoặc CQCMLT. Bộ Nội vụ đáp trả ngay trong đêm đó bằng cách bắt giữ 10 nhân vật đối lập âm mưu đảo chính, một hành động chỉ bóp nghẹt thành ý của phe chống đối muốn tham gia chính quyền.

Với sự thất thủ của Quân đoàn I vào ngày 31/3 và tin truyền hình về cảnh tượng kinh hoàng của người người hoảng loạn tìm đường thoát khỏi Đà Nẵng, các tàn tích cuối cùng của sự tín nhiệm Thiệu đã bốc hơi. Các đối thủ chính trị của ông và thậm chí những người ủng hộ ông bắt đầu bao vây ông. Quả đấm đầu tiên là bức thư riêng từ nhà lãnh đạo Phật giáo Thích Tâm Châu vào ngày ¼ yêu cầu Thiệu từ chức. Ngày hôm sau, Dương Văn Minh một lần nữa kêu gọi Thiệu từ chức để “một chính quyền mới có thể được thành lập … nhằm kiến tạo hoà bình.” Tuy nhiên, Minh không hậu thuẫn những nỗ lực của Đỗ và Bửu. Vẫn còn trông ngóng vào Ấn Quang, ông ta phát biểu rằng “Phật tử không tán thành công thức này.” Ông ta cũng không hậu thuẫn Kỳ “sau những gì ông ta đã làm với Phật tử hồi năm 1966.” Đồng thời, Nghị sĩ Trần Văn Lắm vận động được một cuộc bỏ phiếu “bất tín nhiệm” không rằng buộc về mặt pháp lý trong Thượng viện. Sau đó ông đến gặp tổng thống và yêu cầu Thiệu, Hương và Khiêm hãy bước xuống. Theo hiến pháp, Lắm sẽ kế vị Thiệu và Hương, và ông tuyên bố một chính quyền mới do ông lãnh đạo có thể đàm phán một chính phủ liên hiệp với CQCMLT. Ông ta cũng muốn giao Kỳ quyền hành quân sự. Cuối cùng, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình lưu hành một tuyên bố góp thêm tiếng nói của mình vào yêu cầu một đường hướng mới. Đúng ra mọi khối quyền lực trong nước trừ phe quân sự giờ đều đòi hỏi Thiệu từ chức.

Thiệu hất đi tất cả. Ông có thể bám lấy quyền lực vì bốn lý do. Thứ nhất, trong khi một số sĩ quan trẻ đang buông lời hăm dọa điên cuồng, không sĩ quan cao cấp nào nghĩ đến chuyện đảo chính. Các tướng lĩnh muốn loại bỏ Thiệu thông qua hiến pháp. Thứ hai, Hoa Kỳ có vẻ ủng hộ Thiệu hay ít ra cũng không tỏ ra bất đồng. Thứ ba là sự ương ngạnh xấu xa của ông. Ông nhất định không chịu bị đẩy khỏi quyền lực, nhất là bởi Mình và Kỳ. Cuối cùng, phe chống đối ông vẫn còn yếu. Tuy nhiên, điều đó sắp sửa thay đổi.

Những người muốn lật đổ Thiệu có động thái nốc ao cột trụ chống đỡ cuối cùng của chế độ: quân đội. Kỳ là người xúi giục chính. Đại sứ Martin được gọi tới văn phòng Khiêm vào ngày 4/4 để gặp Tướng Viên và thủ tướng. Họ có hai thông điệp cho ngài đại sứ. Thứ nhất, Viên nói, Kỳ đã tiếp cận với mình để yêu cầu Martin đề xuất với tổng thống rằng Thiệu, Hương, và Khiêm hãy từ chức để Nghị sĩ Lắm có thể nắm lấy quyền lực và bổ nhiệm Kỳ làm thủ tướng điều hành cuộc chiến. Khi Martin thoái thác, Viên liền nhờ ông nói với Kỳ và ngăn ông ta không nên đảo chính. Khi vị đại sứ một lần nữa chần chừ, Viên bảo với ông Thiệu đã ủy quyền cho mình đi gặp Kỳ.

Với sự tán thành của Thiệu, Martin đi gặp Kỳ. Vị cựu phó tổng thống nhấn mạnh lại những điểm ông nói trước đây với Martin. “Để nâng cao tinh thần binh sĩ,” Thiệu và Khiêm phải đi. Ký sẽ làm thủ tướng, và một khi mặt trận được ổn định, đàm phán có thể bắt đầu. Dù vậy, Kỳ nhấn mạnh, “sẽ không có đảo chính” vì như thế chỉ có Cộng sản được lợi. Kỳ đang giấu giếm; ngày 2/4 ông đã nhờ Viên hậu thuẫn một cuộc đảo chính, nhưng Viên đã khước từ. Viên lập tức báo với Khiêm, nhờ vậy họ mới yêu cầu được gặp Martin. Lời khiển trách của vị đại sứ có kết quả, và Kỳ dẹp bỏ kế hoạch đảo chính của mình.

Dù vậy Kỳ không phải là người  âm mưu duy nhất. Sáng sớm hôm đó, cố vấn pháp luật trước đây của Thiệu, Nguyễn Văn Ngân, bị bắt vì tội âm mưu đảo chính. Thiệu kết án Ngân đã đồng loã với Nghị sĩ Lắm thuyết phục Thượng viện thông qua cuộc bầu cử bất tín nhiệm vào ngày 2/4. Điều đó đúng, nhưng Ngân vận động đó động cơ muốn trả thù Thiệu vì bị đuổi ra cách đây một năm hơn là muốn dảo chính. Dù đã họp với Martin, Khiêm cũng bí mật bày mưu loại bỏ Thiệu. Vị thủ tướng đã thăm dò các tướng lĩnh khác nhau, trong đó có Viên, nhưng họ đều thoái thác.

Nghe được hơi gió về mưu tính của Khiêm, sau khi Martin rời Dinh, Thiệu cho đòi Khiêm đến văn phòng. Trước khi Khiêm có thể nói, Thiệu đã bảo ông ta từ chức. Khiêm đã bác bỏ điều này, nói rằng mình từ chức do đề nghị của Trần Văn Đỗ hơn là bị Thiệu cưỡng chế. Khiêm “biết trước thế nào cũng phải đàm phán với Cộng sản,” và sự hiện diện của ông khiến điều ấy không thể. Dù sự thật như thế nào, vị thủ tướng phục vụ lâu năm ra đi. Sau đó Thiệu thông báo với quốc gia Nguyễn Bá Cẩn sẽ là thủ tướng mới cầm đầu chính quyền thời chiến và liên minh quốc gia, theo chính xác những gì Trần Văn Đỗ đã đề nghị ba tuần trước. Hoàng Đức Nhã cho rằng Tổng thống đang cố gắng “thoả mãn phe Bùi Diễm/Bửu/Đỗ nửa vời … một động thái tuyệt vọng của Thiệu để tránh bị người Mỹ hạ bệ mình.” Dù vậy Thiệu chỉ huýt sáo trong bóng tối và động thái tuyệt vọng của ông gần như là động thái cuối cùng.

KẾT THÚC MỘT KỶ NGUYÊN

Sáng sớm ngày 8/4, Trung úy Nguyễn Thành Trung lái chiến đấu cơ F5E của anh trên đường băng Phi trường Biên Hòa. Vũ trang hai quả bom, sứ mạng của Trung sáng hôm đó là yểm trợ cho một đơn vị QĐVNCH. Nhưng Trung có một kế hoạch khác. Sau khi ra hiệu cho máy bay yểm trợ mình biết là máy bay mình có trục trặc về điện phải quay về hăng-ga sửa chữa, máy bay kia liền bay đi trước. Trung đợi 10 giây, và rồi đẩy cần ga tới trước và cất cánh. Nhưng thay vì bay về hướng tây, anh quay sang hướng đông về phía Dinh Độc Lập. Trung đã bí mật tham gia MTGP vào năm 1960 khi ông chỉ 13 tuổi, và theo sáng kiến riêng anh, anh quyết định xử Thiệu. Trung nhanh chóng đến được dinh. Chúc xuống thấp, anh ném quả bom đầu tiên. Quả bom ném hụt tấm đệm đáp trực thăng được gia cố bê tông và làm thủng mái dinh. Nó rơi vào tầng 4 nhưng không nổ. Trung quành lại và ném quả bom thứ hai. Lần này quả bom đánh trúng sân dinh và phát nổ, thổi nát nhiều cửa sổ. Sau đó Trung bay đi và đáp xuống một sân bay đã bị Cộng quân đánh chiếm ở Phước Long. Vụ ném bom, làm nhớ lại âm mưu ám sát Tổng thống Diệm vào tháng 2 1962, có một điểm giống nhau khác rất đặc biệt. Cả hai quả bom ném đầu tiên đều không nổ. Nếu nổ, chúng đã giết được cả hai tổng thống. Dựa vào cuộc phỏng vấn với trưởng tùy viên quân sự của Thiệu, người đứng đầu an ninh dinh và tùy viên quân sự của Nhã thì đây là lần đầu tiên những gì xảy ra trong dinh được kể ra.

Như mọi ngày, Thiệu đang ăn sáng trên tầng 4. Tùy viên quân sự của ông, Thiếu tá Nguyễn Xuân Tâm, trao cho tổng thống hai báo cáo mỗi buổi sáng, mà tổng thống đọc lúc ăn sáng. Sau khi ăn xong và đọc xong 2 báo cáo, Thiệu đi đến văn phòng ở tầng 2. Vì Tâm đã chưa nhận được một báo cáo, Thiệu ăn hết chén súp và đi xuống tầng trệt. Vài giây sau khi ông đi, quả bom đầu tiên của Trung đánh trúng mái dinh. Nó “vỡ thành hai phần,” một phần trúng cách nơi Thiệu vừa ngồi 10 mét. Nửa phần thứ hai lăn xuống cầu thang và bắt lửa vào vài tấm màn cửa. Tâm đẩy Thiệu xuống tầng trệt về phía boong-ke bê tông trong hầm. Trong khi đó, Đại tá Trần Thanh Điền, chỉ huy đơn vị an ninh dinh, từ nãy giờ đang ở bên ngoài thanh sát các trạm gác  khi quả bom thứ nhất bắn hụt. Điền vội nhảy vào một boong-ke vừa mới đào gần đó. Khi Trung bay đi, Điền chạy về phía dinh. Ngay khi đến, Thiệu và Tâm đang đi khỏi cầu thang.

Điền nhớ Thiệu vừa cười vừa nói với mình, “Anh đã ở đâu?”

Thiệu bảo Tâm xem gia đình mình thế nào. Tâm đi lên tầng trên đến phòng ngủ, nhưng cửa phòng bị khóa chặt. Ông phá cửa vào và thấy bà Thiệu và trưởng nữ của họ đang trốn trong góc phòng, sợ chết khiếp. Thiệu ra lệnh Tâm chở họ về Cần Thơ bằng máy bay. Sau đó Thiệu hỏi Tâm, “Làm sao Minh (Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không lực VNCH) lại ném bom xuống chỗ tôi kìa?” Tâm gọi điện Minh và bảo ông ta đến dinh báo cáo. Khi Minh đến, một tùy viên quân sự khác, Đại úy Đoàn Hữu Định, đến hộ tống ông ta đến tổng thống. Nhận ra Định, Minh toát cả mồ hôi, vội vàng tháo thắt lưng đạn và khẩu súng lục đặt xuống sàn và lớn tiếng tuyên bố, “Tôi không can dự gì với chuyện này!” Mối ngờ vực lập tức rơi xuống Kỳ. Nhưng Kỳ cũng kịch liệt phủ nhận mình có liên can.

Mặc dù quả bom đã giết hụt Thiệu trong vài giây, không ai bị thương trừ một sĩ quan trượt trên một mảnh kính vỡ và gãy tay. Nếu quả bom đầu tiên của Trung, mà Đại tá Điền nói không nổ bởi vì nó có ngòi nổ xuyên vỏ thép, đã đánh trúng đệm đáp trực thăng, nó ắt đã nổ và giết chết Thiêu. Nếu thay vào đó nó có ngòi nổ loại tiếp xúc, nó cũng sẽ nổ khi đánh trúng mái dinh. Nếu Thiệu còn ngồi tại bàn điểm tâm khi quả bom thứ nhất rơi xuống, ông có thể đã bị giết chết. Chỉ trong gang tấc, Thiệu đã thoát khỏi bàn tay của tử thần. Dù chỉ là một sự cố biệt lập, người ta có ấn tượng là QLVNCH đang rạn nứt. Quan trọng hơn, vụ mưu sát thất bại của Trung bắt đầu giờ phút đếm ngược trước khi Thiệu bị hạ bệ.

Như Khiêm, Nguyễn Bá Cẩn cũng gặp khó khăn trong việc lập nội các, nhưng cuối cùng, vào ngày 14/4, ông tuyên bố chính quyền mới của mình. Cẩn mất 10 ngày để gom góp thành phần này, 10 ngày trong đó tình hình quân sự xấu đi nhanh chóng khi QĐNDVN ào ạt tiến xuống bờ biển, chỉ để lại một phần của Quân đoàn III và toàn bộ Quân đoàn IV còn trong tay QĐVNCH.

Cao Miên cũng đang trải qua cơn quằn quại chết chóc. Khmer Đỏ đã tràn chiếm hầu hết lãnh thổ và đã vây hãm Nam Vang. Vào ngày ¼, Lon Nol từ chức người đứng đầu chính quyền trong hy vọng khốn cùng là đàm phán hòa bình có thể xảy ra sau đó. Nhưng Khmer Đỏ bác bỏ thương lượng, và trận đánh ác liệt nuốt chửng những vị trí còn lại của Cao Miên. Vào ngày 17/4, Khmer Đỏ đánh tan những phóng tuyến kháng cự cuối cùng của quân đội và tiến vào thủ đô. Khmer Đỏ gom nhiều sĩ quan và viên chức chính quyền Cao Miên, và không lâu sau đó hành hình tất cả. Trong thời gian ít năm sau đó, một làn sóng diệt chủng quét qua đất nước chùa tháp. Hơn một triệu người dân Cao Miên bị thảm sát. 

Vào ngày Nam Vang thất thủ, Đại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon đến gặp Thiệu. Ông ta đến để ép Thiệu từ chức. Mérillon nhận xét rằng “thời điểm thật xúc động. Thậm chí một nhà ngoại giao cũng có thể cảm nhận được điều ấy. Nhưng nhiệm vụ của tôi là phân tích chính tình một cách thực tiễn.” Ông ta thúc giục Thiệu từ chức để đàm phán có thể bắt đầu. Pháp đang can thiệp vào vấn đề nội bộ miền Nam bởi vì “chúng tôi có một cái nhìn bao trùm về vấn đề và chúng tôi là những người duy nhất ở trong một tư thế đối thoại trực tiếp, và được sự tin cậy, với Mỹ, Xô-Viết, Trung Quốc, Bắc Việt và Việt Cộng.”

Thiệu, theo Mérillon, nói rất ít. Vài ngày sau, trong khi Thiệu còn chần chừ, Đại sứ Martin cũng đến gặp ông. Ông cũng mang theo cùng một thông điệp: Thiệu cần phải từ chức. Martin bảo với ông rằng tình hình chiến sự đã vô vọng, rằng viện trợ Hoa Kỳ sẽ không xuất hiện như một phép lạ, và rằng “thời gian là cấp bách.” Trong khi chỉ còn le lói một tia hy vọng cho cuộc đàm, Martin, cũng như Mérillon, muốn cố gắng. Thiệu nói mình sẽ làm điều gì tốt nhất cho miền Nam. Báo cáo của vị đại sứ gửi đến Kissinger kết thúc nói rằng sau đó ông đã đi tắm và đã “kỳ cọ rất kỹ với loại xà bông mạnh nhất mà tôi có thể tìm được.”

Với “Thiên Mệnh” đã bị thu hồi, ngày hôm sau Thiệu triệu tập các cố vấn thân cận nhất của mình. Ông đã quyết định từ chức, nhưng ông muốn tuân thủ hiến pháp. Trong một cuộc phỏng vấn thời hậu chiến, Thiệu cho rằng ông biết yêu sách đòi mình  từ chức trước khi bắt đầu đàm phán là một “mưu mẹo của Cộng sản,” nhưng ông muốn “chứng tỏ rằng mình không cố bám lấy chiếc ghế tổng thống. Như thế đồng bào sẽ cho rằng tại tôi và sự ương ngạnh của tôi mà họ không thể đàm phán để có hòa bình.” Vì duy trì hiến pháp là điều tối thiết, ông sẽ trao quyền lại cho Hương, không phải cho Minh. Thủ tướng Cẩn cũng từ chức, nhưng ông được yêu cầu ở lại một thời gian ngắn.

Vào tối ngày 21/4, Nguyễn Văn Thiệu nói lời cuối cùng với đồng bào mình. Trong một diễn văn nảy lửa, ông tố cáo người Mỹ đã bỏ rơi nhân dân mình. Người đàn ông đã buộc chặt mình với số phận của miền Nam trong hơn một thập niên đã ra đi. Ông đã giám sát sự ra đời của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, nuôi dưỡng nó qua hai cuộc công kích dữ dội, quản lý việc ra đi của người Mỹ, và đưa ra một đề xuất hòa bình lâu dài. Vậy mà dường như ông vĩnh viễn bị bôi nhọ đã bao che cho tham nhũng nảy nở, và bị lên án có thái độ hiếu chiến và bị bêu riếu là độc tài. Các cáo buộc này đã bắn trật mục tiêu. Ông chiến đấu một cuộc chiến lâu dài vì miền Nam với quyết tâm và lòng can trường, buộc giới ưu tú còn hoài nghi phải tuân theo khái niệm về luật hiến pháp, và sống còn qua những cuộc khủng hoảng có thể sẽ giày xéo một người kém cỏi hơn. Dù bị mắc kẹt giữa các đòn bẫy nghiến nát trong cuộc huynh đệ tương tàn và các xu hướng ly tâm của miền Nam, ông đã thiết kế và chỉ đạo cuộc hiện đại hóa cấu trúc kinh tế, chính quyền và hành chính của đất nước mình, những khối xây dựng thiết yếu cho một nhà nước có thể tồn tại. Ông biến đổi xứ sở mình trong khi không đếm xỉa gì đến những bêu riếu liên tục của bọn bất mãn ăn không ngồi rồi trong khi đồng thời chống chọi với tình hình bị trói tay của một đồng minh đã bỏ đi. Trong tâm trí những người đã từng hiểu và làm việc với ông, ông là nhà ái quốc. Những người khác cho rằng ông có trách nhiệm để mất miền Nam. Cả hai quan điểm đều có phần đúng.

Sau khi Thiệu kết thúc bài diễn văn, Hương tuyên thệ nhậm chức. Vào ngày 26/4, Thiệu, Khiêm, và các phụ tá bay đi đến Đài Loan. Cho dù có tin đồn, Thiệu không đem theo số vàng của miền Nam. Giờ ông đã đi rồi, vũ điệu ngoại giao cuối cùng có thể bắt đầu.

MỘT MÀN HOẢ MÙ KHÉO LÉO

Với thảm bại quân sự ở Quân đoàn I và II, Nguyễn Xuân Phong nỗ lực lần thứ ba vận động người Mỹ hỗ trợ tìm giải pháp ngoại giao, nhưng bây giờ ông sốt vó tìm cách tránh sự sụp đổ hoàn toàn của nền cộng hòa. Vào ngày 20/3, Phong đưa ra xác quyết rằng “CQMN sẽ nên nhanh chóng đảm đương một hoạt động chính trị chủ chốt.” Ông đề nghị “một vai trò mở rộng hơn nữa cho HĐQGHGHHDT hoặc một phát triển chính trị về hướng một chính quyền chuyển tiếp của liên minh quốc gia.” Kế hoạch tuyệt vọng của Phong là giao cho HĐQGHGHHDT nhiều quyền hành hơn chứ không chỉ để tổ chức bầu cử: “CQMN hiện thời sẽ được thay thế bằng một tập hợp nền tảng rộng lớn hơn những người Quốc gia… Sau đó chính quyền này sẽ kêu gọi CQCMLT tham gia để mở rộng hơn nữa.” Lặp lại những lời cầu khẩn trước đây, Phong nói rằng mình cần “sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Hoa Kỳ” để thuyết phục Hà Nội rằng nó “không chỉ là một kế hoạch vặt vãnh. Việc người Mỹ can thiệp với Mát-cơ-va và Bắc Kinh … sẽ giúp gây sức ép với Việt Cộng chấp nhận đề nghị.”

Phong không có ảo tưởng là Hà Nội đã từ bỏ ước mơ chinh phục, nhưng “hy vọng cuộc sắp xếp … sẽ kéo dài một ít năm,” đủ để cho phe Quốc gia “một chút không gian dễ thở.” Kissinger phủi tay cách tiếp cận của Phong, phát biểu rằng “bất kỳ cơ hội ngoại giao nào xuất hiện, chúng tôi sẽ trông cậy vào các đảng phái miền Nam giải quyết những vấn đề ông ấy đưa ra.” Vị ngoại trưởng đang đi theo con đường riêng của mình với người Xô-Viết. Cho dù nếu Phong đã thuyết phục được người Mỹ hỗ trợ, liệu ông có thể tìm thấy ở Hà Nội một đối tác có thiện chí hay không?;Câu trả lời là không. Chiến lược ngoại giao của Bộ Chính trị sau khi ký hiệp định tập trung vào ba quan niệm. Thứ nhất là bôi nhọ Thiệu bằng cách sử dụng các “điều khoản thuận lợi của Hiệp định Paris (yêu cầu các quyền dân chủ) để xúi giục một phong trào trên thế giới  lên án các hành động có hệ thống của CQMN nhằm phá hoại và chống đối Hiệp định Hòa Bình vừa mới ký kết.” Thứ hai, bằng cách tô vẽ Saigon như là kẻ gây hấn, Hà Nội nhắm “tranh thủ tình cảm, đồng thuận, và cuối cùng hậu thuẫn tích cực cho việc chúng ta sử dụng bạo lực chính trị và lực lượng vũ trang trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ tay sai.” Nói cách khác, Hà Nội tìm cách thuyết phục thế giới rằng những hành động quân sự của họ ở miền Nam đã được biện minh. Thứ ba, sau khi phát động cuộc công kích 1975, “vai trò cơ bản của hành động ngoại giao là để giám sát khả năng người Mỹ có thể một lần nữa can thiệp về quân sự và tranh đấu để phong tỏa khả năng ấy.”

Sau chiến thắng Ban Mê Thuột, Bộ Chính trị phát động một nỗ lực thứ tư. Lê Duẩn tin rằng chiến lược của Thiệu là cầm cự ở Quân đoàn III và IV rồi thương lượng ngừng bắn. Lê Duẩn, mặc dù quyết liệt chống lại đàm phán, và Bộ Chính trị đã bày ra một kế mưu gạt gẫm về ngoại giao nhằm ngăn cản một sự can thiệp khác của người Mỹ và ngụy trang những chủ định thực sự của mình cho một thắng lợi quân sự.

Những đường nét của mưu kế này được Hà Văn Lâu tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn đầu chiến tranh bởi nhà báo Pháp Olivier Todd. Lâu từng là thành viên cao cấp trong phái đoàn đàm phán của Hà Nội tại Paris, và khi nói chuyện với Todd, ông đang là đại sứ của Việt Nam tại Pháp. Lâu nói rằng vào ngày 15/3/1975, Bộ Chính trị đã lập ra một tổ bí mật, tổ này nghĩ ra một chiến lược nhằm “lợi dụng mọi xung khắc của phía địch và cho các địch thủ cảm giác giữa lập trường VNDCCH và CQCMLT có một độ chênh nhỏ.” Quan điểm là để khai thác ước muốn ngừng bắn của người Pháp bằng cách giả vờ là người Cộng sản miền Nam quan tâm đến hoà bình qua một chính phủ liên hiệp trong khi Hà Nội thì không. Bằng cách đu đưa một giải pháp chính trị với yêu sách loại bỏ Thiệu, Bộ Chính trị hy vọng tiêu hủy được khả năng kháng cự của Saigon. Sau đó, Hà Nội sẽ nắm quyền kiểm soát bằng một cuộc đảo chính đẫm máu.

Thoạt đầu, Hà Nội muốn Trần Văn Đôn thay thế Thiệu. Sau khi chinh phục Quân đoàn I, tuy nhiên, Hà Nội chuyển sang đòi Minh. Một bài báo thời hậu chiến dựa chủ yếu vào nguồn tin của các nhà ngoại giao Pháp, cho rằng sau những cuộc tấn công mở màn, người Cộng sản khẳng định rằng một “nhân vật Saigon giống như Đôn” là có thể chấp nhận được để “thương lượng một chính phủ liên hiệp với CQCMLT.” Nhưng sau khi Huế thất thủ, Đôn bị “, loại ra xem là không cần thiết,” và CQCMLT sau đó tập trung vào Minh. Thú vị thay, bài báo lập luận rằng CQCMLT “thích đàm phán vì sợ mất phần và bị lấy mất quyền lực” nếu Hà Nội giành được thắng lợi quân sự hoàn toàn, và đó chính là điều đã xảy ra.

Sự kiện đầu tiên cho thấy cuộc công kích ngoại giao của Hà Nội đến vào ngày 21/3 khi CQCMLT yêu cầu thay thế Thiệu bằng một chính quyền hậu thuẫn “hòa bình, hoà giải dân tộc, độc lập, và dân chủ.” Mặc dù vào ngày 18/3 Bộ Chính trị đã bí mật quyết định sẽ chinh phục miền Nam trong năm 1975, còn CQCMLT thì phát ngôn điều ngược lại. Nó “sẵn sàng thương thảo với một chính quyền như thế với một quan điểm nhanh chóng giải quyết những vấn đề của miền Nam.” Trong khi chỉ là lặp lại lời đề xuất của họ vào 1háng 10 1974, đề nghị dường như đưa ra một phương thức để ngừng cuộc tàn sát.

Nỗ lực thứ hai đến vào ngày hôm sau. Tại một buổi chiêu đãi ở Hà Nội, Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng kéo đại sứ Pháp, Philippe Richer, sang một bên để hội ý. Đồng phát biểu rằng Pháp nên giúp đỡ kết thúc tình hình bị đát ở miền Nam bằng cách loại bỏ Thiệu để thương lượng có thể bắt đầu. Richer tin rằng việc nhắn gửi của Đồng chứa nhiều thông điệp. Theo Richer, Đồng tuyên bố Hà Nội đã thắng cuộc chiến, và ông ta muốn đạt được mục tiêu của mình mà không cần đổ máu thêm nữa. Richer cảm thấy rằng Đồng “đang nhờ chúng tôi lãnh một vai trò tích cực.” Về cơ bản, “một vai trò thậm chí phải đi xa hơn và lý giải sự nhấn mạnh khẩn khoản của thủ tướng như một lời nhắc nhở riêng lẻ là chúng tôi nên … điều chỉnh lập trường của chúng tôi đối với chính quyền ở Saigon trước khi quá muộn.” Tất nhiên, “nếu chúng tôi cố thuyết phục Mỹ bỏ rơi Thiệu chúng tôi sẽ về phe Phạm Văn Đồng.” Việc này có nguy cơ gây đổ vỡ với người Mỹ, nhưng “dường như đối với tôi mức độ ảnh hưởng của chúng tôi ở Hà Nội trong khuôn khổ Đông Dương tương lai tùy thuộc vào những gì chúng tôi quyết định làm hoặc không làm trong tương lai gần.” Richer tế nhị yêu cầu Paris quyết định bằng cách kết luận “ai biết khi nào chuyển tàu hỏa cuối cùng rời ga?”

Việc Đồng muốn thôn tính miền Nam một cách hòa bình là điều nực cười. Tại một buổi họp của Bộ Chính trị vào ngày 25/3, ông ta đã hô hào một thắng lợi quân sự đến nhanh chóng. Chính xác là Đồng đang lèo lái  Richer theo kế hoạch trò chơi, trong khi CQCMLT cũng đang đóng vai trò của nó. Vào ngày 25/3, CQCMLT tổ chức một buổi họp báo ở Paris và lặp lại phát biểu ngày 21/3 rằng nếu Thiệu bị loại bỏ, CQCMLT sẵn sàng đối thoại.

Báo cáo của Richer, cuộc giao chiến ác liệt, và phát biểu của CQCMLT làm khởi động những nỗ lực nghiêm túc của Pháp nhằm thay thế Thiệu bằng một chính phủ liên hiệp. Vào cuối tháng 3, người Pháp tin vào sự bảo đảm của CQCMLT là họ chấp nhận Đôn đứng đầu chính quyền chỉnh sửa của miền Nam. Người Pháp lặng lẽ báo tin với Đôn rằng họ sẽ đóng vai trung gian giữa các bên đối địch nhưng chỉ nếu Đôn chịu tham gia. Nhưng khi Quân đoàn I thất thủ vào ngày 31/3, Hà Nội loại bỏ Đôn và chọn Minh. Bà Nguyễn Thị Bình của CQCMLT cũng thuộc tuồng. Vào ngày 2/4, bà tuyên bố ở Paris Mặt Trận sẽ đối thoại với Minh về hòa bình. Đôn không còn được đề cập đến.

Với tuyên bố của bà Bình, người Pháp bắt đầu tham gia một cách công khai. Vào ngày 5/4, Paris phát đi tuyên bố họ sẽ cung cấp viện trợ nhân đạo cho cả hai bên và yêu cầu một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột. Ba ngày sau, Ngoại trưởng Pháp tóm lược cho Tổng thống D’Estaing rằng

sự tiến hóa của quyền lực ở miền Nam đã buộc chúng ta xem xét lại mối quan hệ của chúng ta với những đảng phái miền Nam khác nhau trong một nỗ lực tái lập một sự cân bằng …. Chính quyền Pháp dự tính đóng góp tích cực cho một tiến trình sẽ đưa đến một giải quyết chính trị ở miền Nam phù hợp với Hiệp định. Mối quan hệ của chúng ta với Lực Lượng Thứ Ba ở Saigon và đặc biệt với các đại diện của CQCMLT và VNDCCH ở Paris đã được đẩy mạnh. … Việc Thiệu ra đi dường như đối với chúng ta là một điều kiện tiên quyết cho việc tìm ra một giải pháp tuân thủ Hiệp định Paris. Hơn nữa, chúng tôi cho rằng sẽ hữu ích nếu thông báo cho Liên Xô và Trung Quốc về bản chất tổng quát của hành động và lập trường của chúng ta. Dường như nếu Tổng thống Thiệu chịu  nhường đường cho một tập thể mới chấp nhận được, cơ hội

có thể được đưa ra, dù phải nhận là rẩt mong manh, để giữ gìn bản chất và cá tính của một miền Nam tách biệt khỏi miền Bắc.

Ngày hôm sau, tổng thống Pháp công khai yêu cầu một giải quyết chính trị thông qua Hiệp định Paris. Trong khi không công khai kêu gọi loại bỏ Thiệu, nhưng đó là chủ ý của họ. Thiệu nổi giận, và khi Mérillon xin được tiếp kiến, Thiệu từ chối. Một tuần trôi qua trước khi ông cho phép ông ta được gặp mặt. Dù Thiệu giận dữ, sĩ quan tình báo của Mérillon trong sứ quán Pháp ở Saigon, Pierre Brochand, bắt đầu tiếp xúc với các nhân vật thuộc Lực Lượng Thứ Ba để thuyết phục họ  tham gia chính quyền của Minh. Đối với Brochard, chính sách Pháp cô đặc với hai mục tiêu đơn giản. Thứ nhất, đó là một

 

 nỗ lực cao quý nhằm cứu vớt phương diện nào đó của một miền Nam không cộng sản. Thứ hai, đó là một nỗ lực nhân đạo. Chúng ta có 15,000 công dân Pháp ở Saigon, và chính quyền Pháp không muốn di tản họ. Để bảo vệ công dân chúng ta, chúng tôi muốn tránh một cơn hoảng loạn kiểu Đà Nẵng tại Saigon, vì thế chúng ta phấn đấu tìm kiếm một sự chuyển tiếp trật tự. Người ta cho rằng CQCMLT chơi xỏ chúng tôi, nhưng chúng tôi dư sức biết họ không tách biệt với Hà Nội.

 

Tuy nhiên, người Pháp không phải là con mồi liên hiệp duy nhất  đang hoạt động. Thomas Polgar, trưởng trạm CIA tại Saigon, bắt liên lạc với một viên chức cao cấp trong phái đoàn ICCS của Hungary, cũng đang rỉ tai với ông cùng một câu chuyện mà CQCMLT đang bán rao cho người Pháp. Nếu Thiệu bỏ đi, một chính quyền mới của Minh được thành lập, và người Mỹ cam kết không can thiệp, một thoả thuận có thể đạt được. Cùng lúc, đại sứ Ba Lan trong ICCS cũng đang lặng lẽ chuyển cho Martin những câu chuyện tưởng tượng tương tự. Đây đúng là việc tung hoả mù ngoại giao lợi hại. Như nhà phân tích CIA Frank Snepp chỉ ra, thông tin ông nhận được vào ngày 8/4 từ điệp viên giõi nhất của cục tình báo ở miền Nam khẳng định rằng Hà Nội đang chuẩn bị tàn sát. Các cuộc thương lượng cho một chính quyền liên hiệp “chỉ là một mưu mẹo để miền Nam lúng túng và gieo rắc ngờ vực giữa họ và người Mỹ.”

Trong khi đó, Kissinger đang cố thuyết phục người Xô-Viết hạn chế Hà Nội bằng cách đưa ra cùng gói đề xuất: loại bỏ Thiệu và một chính quyền liên hiệp. Ông đồng thời phản đối chiến thuật của người Pháp, thích để người Xô-Viết bắn một phát. Như theo cách nhìn của ông, “để khiến cách tiếp cận của người Xô-Viết có hiệu quả, chúng ta cần một cấu trúc ở Saigon có thể được biến đổi sau khi cách tiếp cận của chúng ta đã được chấp nhận.” Đề xuất của Pháp, Kissinger viết, “đòi hỏi chính xác điều ngược lại,” một sự giải tán chính quyền. Người Xô-Viết, như người Hung và Ba Lan, đánh lừa người Mỹ, giữ một giải pháp vừa ngoài tầm với cho đến khi quân đội của Hà Nội đã hoàn toàn án ngự quanh Saigon.

Khi Hương tìm cách giữ gìn tính hợp hiến của CQMN và từ chối bước sang bên nhường chỗ cho Minh việc này khiến phát sinh việc vận động không kết quả giữa Hương, Minh, Đôn, và những người miền Nam khác về vấn đề ai sẽ thay thế Cẩn làm thủ tướng. Khiêm được gửi đi để thuyết phục “Minh làm thủ tướng dưới quyền Hương để xem bên kia  có chấp nhận cách dàn xếp như thế không. Sơ dĩ có lựa chọn này vì điều kiện … Minh thay thế Hương sẽ có nghĩa là xé toạc hiến pháp của chúng ta và hủy hoại nền tảng hợp hiến, hợp pháp của VNCH.” Minh cự tuyệt đề xuất ấy, và khi Cộng sản tuyên bố rằng chính quyền của Hương chẳng khác chính quyền Thiệu, Hương cuối cùng nhượng bộ. Vào ngày 26/4, ông triệu tập quốc hội và yêu cầu họ quyết định liệu Minh lên  nắm quyền tổng thống hay không. Ngày hôm sau, các dân biểu nhất trí, còn Nghị sĩ Lắm lên lịch phiên họp vào ngày 28/4 chính thức bổ nhiệm Minh.

Sau đó khoảng 5 giờ chiều thứ hai ngày 28/4/1975, Dương Văn Minh tuyên thệ là vị tổng thống cuối cùng của miền Nam. Tuyên bố rằng vài năm nay ông đã chủ trương một chính quyền của hoà bình, giờ đây ông sẵn sàng nhào nặn một chính phủ liên hiệp với CQCMLT để ngừng đánh nhau. Để trả lời, các sư đoàn Hà Nội, vốn đã phát động cuộc công kích vào thủ đô ngay vào ngày 26/4, chỉ gia tăng sức ép chống lại sức kháng cự của Saigon.

Một tuần trước đây, Phong đã nhận được một bức điện ngắn, đầy xúc động đánh từ Saigon: “Hương cần gặp Phong.” Trước khi khởi hành, Phong báo cho đại sứ Mỹ rằng “ông sẽ thúc đẩy cật lực để nhanh chóng áp dụng các ý tưởng ông đã trình bày trước đây … Ông tin CQCMLT … có thể sẵn sàng cho phép tiếp tục … duy trì một miền Nam độc lập, trung lập và không cộng sản.” Phong bảo ông ta rằng Paris “có thể khá hữu ích” trong việc thuyết phục Hà Nội đồng ý ngừng bắn. Rõ ràng, vị đại sứ viết, “Phong đã đối thoại” với người Pháp. Phong không chỉ có đối thoại với người Pháp. Khi đáp chuyến bay Air France cuối cùng về đến thủ đô trong khói lửa của mình, Phong đang mang theo cái bí ẩn to lớn, cuối cùng của Chiến Tranh Việt Nam.

VAI DIỄN CUỐI CÙNG: TRUNG QUỐC

Tiết lộ sau đây đã được trích xuất từ hơn một thập niên phỏng vấn và trao đổi thư điện tử với Nguyễn Xuân Phong cho đến khi ông qua đời vào tháng 7 2017. Trong hơn 30 năm qua, ông không bảo với ai về sứ mạng âm thầm cuối cùng của mình nhằm cứu lấy đất nước. Ông ghi chép rằng trong lúc ngồi tù sau chiến tranh, “tôi đã bị thẩm vấn suốt hai năm để moi ra chuyện gì đã xảy ra với người Trung Quốc, nhưng tôi không khai cho họ biết.” Một lần, lính gác đánh ông thậm tệ và làm gãy hai xương sườn, nhưng ông vẫn tiếp tục kín miệng về các hành động can thiệp của Trung Quốc trong những ngày cuối cùng.

Tuy là người lịch thiệp, thích họp mặt, và dí dỏm hay chấm phá các lời đối đáp bằng các tiếng lóng thời thập niên 1960, chỉ sau khi đưa cho ông nhiều tài liệu của Pháp và Mỹ đã được giải mật mô tả chi tiết về những nỗ lực ngoại giao của cả hai nước vào tháng 4 năm 1975, cuối cùng ông mới tiết lộ thực chất của thông điệp bí ẩn của mình. Dựa vào các bàn luận này, và nghiên cứu sâu hơn chắp vá với nhau một tập hợp chứng cứ thứ hai dường như chứng minh cho lời kể của ông, nhưng không may, không có chứng cứ về tài liệu nào đã được ấn hành để khẳng định điều này. Lời kể này chứa những điểm then chốt của câu chuyện đầy mê hoặc của ông, một câu chuyện lật úp lại đoạn lịch sử đã được nhìn nhận về những ngày cuối cùng của chiến tranh.

Khi Phong bay về Saigon, ông quyết tâm ngăn cản một “trận đánh vào Saigon.” Các đại diện VNDCCH đã ngỏ lời với ông, người Pháp, và những người khác rằng nếu Minh không được dựng lên vào ngày 26/4, họ sẽ san bằng Saigon với 20,000 quả pháo. Liệu đây có phải hù doạ hay không thì không chắc chắn, nhưng quả là mối đe doạ chết chóc, một mối đe doạ mà Phong cho là rất nghiêm trọng. Khi Phong về đến, ông lập tức đến gặp Hương. Bởi vì ông  quen biết với vị phó tổng thống nay đau mai yếu này nhiều năm rồi, ông không thể nói thẳng với người bạn già hãy bước xuống. Thay vào đó, trong văn phòng của ông ta, Phong  chỉ khẳng định với ông già không còn hy vọng gì để thương lượng. Hương lắng nghe chăm chú, và ngày hôm sau, ông triệu tập quốc hội . Phong không đề cập đến thông điệp ông mang theo, vì ông biết rằng sự kiện khỏi động là việc Mình lên nắm quyền và chấp nhận liên hiệp với CQCMLT.

Vài ngày sau, Phong gặp Trần Văn Đôn và một đại diện của CQCMLT để bàn luận về khả năng liên hiệp. Trần Ngọc Liểng, đặc vụ Cộng sản nằm vùng, có mặt làm người đại diện Minh. Phong tế nhị thông báo cho viên chức CQCMLT tại buổi họp này rằng Pháp và các nước khác sẽ hỗ trợ chính quyền mới, nhưng ông trình bày mơ hồ một cách có cân nhắc. Đây là nỗ lực duy nhất của Phong trong sự kiện chuyển giao công văn bùng nổ của mình. Ngày hôm sau, Minh tuyên thệ, nhưng cuộc tiến công thần tốc của QĐNDVN nhanh chóng trấn áp các lực lượng phòng thủ của QĐVNCH quanh Saigon, và chiến tranh kết thúc.

Thông điệp Phong mang đến là gì? Người Trung Hoa, ông nói, rất muốn CQCMLT lên nắm quyền thông qua công thức của người Pháp để ngăn Bắc Việt thôn tính miền Nam. Sau khi chính phủ liên hiệp được thành lập, Minh sẽ phát đi lời kêu gọi cầu viện. Người Pháp sẽ lên tiếng rằng một lực lượng quốc tế sẽ tiến vào miền Nam để bảo vệ chính quyền mới. “Gân cốt” ban đầu, như cách nói của Phong, sẽ là “hai sư đoàn Dù của Trung Cộng vào Biên Hòa.” Bắc Kinh yêu cầu bốn ngày để chuẩn bị binh lính và chuyển quân như con thoi đến phi trường. Phong lý giải suy nghĩ của họ:

Bắc Kinh không thể đường đột làm chuyện này một cách trực tiếp, nhưng họ muốn người ta biết rằng họ đang … để người Pháp làm chuyện này! Vì chính trị quốc tế … Bắc Kinh không thể ngang nhiên can thiệp quân sự vào miền Nam. Pháp sẽ cần kêu gọi một vài quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (trong đó người Pháp làm đầu tàu) để cho phép Bắc Kinh can thiệp. Một số vấn đề đang đối mặt với Bắc Kinh vào lúc đó: Số lượng lực lượng quân sự Trung Cộng nên sử dụng và họ phải ở lại miền Nam bao lâu để ngăn cản và đánh dẹp quân đội miền Bắc? Họ hứa sẽ dừng chân lâu mau tùy theo tình thế đòi hỏi, nhưng theo ý họ khoảng 3 đến 6 tháng là thời gian tối đa họ có thể tham gia … vì họ không muốn bị lên án là chiếm đóng miền Nam bằng vũ lực.

Tại sao Trung Cộng muốn can thiệp quân sự để ngăn cản thắng lợi của Bắc Việt, nhất là sau những năm tháng hậu thuẫn Hà Nội? Trung Cộng muốn một miền Nam trung lập chỉ cốt để ngăn ngừa bị bao vây bởi một hiệp ước Mát-cơ-va-Hà Nội tiềm năng. Một sử gia khẳng định rằng “các giới học giả đều đồng thuận là vào năm 1973 giới lãnh đạo Trung Cộng quan ngại sâu sắc về việc Hà Nội nghiêng về phía Mát-cơ-va.” Trong khi mối quan hệ giữa hai siêu cường Cộng sản đã trở nên xấu đi kể từ đầu thập niên 1960, Trung Cộng đã bắt đầu e sợ sự can thiệp quân sự của Nga sau vụ xâm lược Tiệp Khắc vào năm 1968. Tuyên bố tiếp theo đó của Học thuyết Brezhnev cho rằng họ có quyền lật đổ bất kỳ chính quyền Cộng sản nào đi ra khỏi quỹ đạo của Mát-cơ-va càng làm Bắc Kinh thêm quan ngại. Vào tháng 3 1969, các vụ xung đột vũ trang bùng nổ dọc theo biên giới Xô-Viết và Trung Quốc, và người Nga rắp tâm lôi kéo Ấn Độ và Bắc Hàn tham gia một liên minh chống Trung Quốc. Mặc dù nỗ lực của Nga thất bại, động thái này báo động với Băc Kinh. Theo Phong, cuộc gặp gỡ của ông với đặc sứ của Chu Ân Lai vào tháng 12 1970 là nước cờ mở màn của Bắc Kinh với Saigon để ngăn cản một Việt Nam thống nhất.

Không ai bị sốc khi hay biết về thay đổi động trời này trong chính sách Trung Cộng hơn đặc phái viên tổng thống Mỹ Alexander Haig. Gặp Chu Ân Lai vào năm 1972 như một phần công việc của đội tiền trạm trước cuộc viếng thăm của Nixon. Chu báo một tin làm Haig giật mình: “Đừng để bại trận ở Việt Nam.” Mặc dù tất cả những ngôn từ mạt sát Saigon phát xuất từ Bắc Kinh, “điều cuối cùng mà Bắc Kinh muốn,” Chu giải thích, “là một nhà nước chư hầu của Xô-Viết hung hăng và vũ trang đến tận răng ở biên giới phía nam. 

Haig báo cáo rằng Chu “xem thảm bại và việc rút quân của người Mỹ khỏi Đông Nam Á là  … hiểm hoạ đối với Trung Quốc. … Ông dường như đặc biệt quyết tâm cho tôi hiểu được lời ông muốn nói liên quan đến chiến tranh ở Việt Nam. ” Nayan Chanda, thông tín viên đầy uy tín của báo  Far Eastern Economic Review, kể rất chi tiết mối quan ngại của Trung Cộng về một Việt Nam thống nhất. Ông viết rằng Bắc Kinh đã luôn theo đuổi chính sách duy trì bằng bất cứ phương thức nào một Đông Dương phân mảnh ngoài ảnh hưởng của các siêu cường quốc. Những phương thức này bao gồm ngoại giao kín đáo, thuyết phục kinh tế, và, tất nhiên, sử dụng vũ lực quân sự.” Chanda sau đó ghi nhận rằng

người Việt Nam vào tháng 4 1975 cho rằng Bắc Kinh thúc giục Hà Nội không phát động cuộc tấn công cuối cùng vào Saigon. Tuyên bố đó, như quá nhiều tuyên bố khác do người Việt tung ra kể từ khi họ công khai đoạn giao với Trung Quốc, có thể chỉ là tuyên truyền. Nhưng  Philippe Richer, người từng làm đại sứ Pháp tại Hà Nội vào năm 1973-75, sau này khẳng định rằng vào ngày 20/4/1975 – chín ngày trước khi Saigon thất thủ – Bắc Kinh đúng là có cảnh báo với Hà Nội về mối nguy hiểm khi “vươn cây chổi quá xa,” sử dụng lối ẩn dụ mà Mao đã dùng vào năm 1972.

Người Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận với Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trong chương trình Firing Line vào tháng 9 1975, vị phó tổng thống năm xưa tuyên bố rằng đâu đó vào cuối năm 1972, các đặc vụ Trung Cộng đã đến nhà ông tại Saigon. Kỳ nói rằng họ yêu cầu mình lật đổ Thiệu và “tuyên bố miền Nam trung lập, không đứng về phe Nga hay Mỹ.” Nếu ông ta chịu làm điều đó, “người Trung Quốc sẽ hậu thuẫn ông bởi vì chúng tôi đã gặp rắc rối ở biên giới phía bắc với người Nga. Chúng tôi không muốn thấy sườn phía nam của chúng tôi bị một tay sai của Nga chiếm đóng.” Kỳ lặp lại chuyện này trong một bài nói chuyện vào tháng 12 1975 tại Hoa Kỳ, tuyên bố rằng “một nhóm đặc vụ Trung Cộng  đã đến nhà ông … và đề xuất một cuộc đảo chính do Trung Quốc yểm trợ để lật đổ Thiệu.” Tại sao Kỳ không hề đề cập sự kiện này trong các hồi ký của mình là điều khó hiểu.

Vì Thiệu không đáp ứng với lời mào đầu của Trung Quốc, khi vào tháng giêng 1974 Trung Cộng đánh chiếm Quần đảo Hoàng Sa, Bắc Kinh sử dụng sự kiện này để tìm cách bắc liên lạc với ông một lần nữa. Khi người Trung Quốc cho hồi hương những thủy thủ miền Nam bị bắt qua con đường Hongkong, họ đã nhờ vị tổng lãnh sự CQMN trao cho Thiệu một thông điệp xin một cuộc họp bí mật. Tuy Phong không có liên can đến nỗ lực đó, ông được cho biết về việc đó, thêm một nỗ lực thứ hai của người Trung Hoa vào mùa hè 1974 với sứ quán CQMN tại London. Một khẳng định từ kênh Hongkong đến từ Jim Eckes, một bạn thân của Phong, người mà lúc đó là quản lý cho hảng hàng không thương mại tại Saigon. Gia đình Eckes sống tại Hongkong, còn ông đi đi về về. Vị tổng lãnh sự CQMN nhờ Eckes giao thông điệp cho Thiệu, nhưng thay vào đấy Eckes lại chuyển nó cho Đại sứ Martin. “Thông điệp”, Eckes nói, “chết ví trong tay Martin.”

Mặc dù Phong đã thông tin cho Thiệu về màn mở lời của Trung Quốc, vị tổng thống đã bác bỏ đề nghị của họ. Phong phát biểu rằng vào đầu năm 1975, Trung Cộng “thất vọng trước ‘sự thiếu hiểu biết hoàn toàn'” của Thiệu. Tuy nhiên, sau khi mất Phước Long, “những nỗ lực của Trung Cộng trở nên cuống cuồng vào những tháng cuối cùng … với các thông điệp lặp đi lặp lại với tôi ở Paris.”

Vào tháng 3 1975, người Mỹ bắt đầu biết được nỗi bực mình của Trung Cộng trước chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Hà Nội. CIA phân tích rằng “giới lãnh đạo Trung Quốc gần như chắc chắn nhận ra rằng một chiến thắng của Hà Nội sẽ đưa Bắc Kinh vào một cuộc tranh chấp thẳng thừng và mắc mỏ hơn với cả Hà Nội và người Xô-Viết.” Vào đầu tháng 4, Đại sứ Martin thông báo cho Kissinger rằng ông ta đang nhận được “từng mẩu tin về việc qua lại ngoại giao và tình báo cho thấy sự bực bội của Liên Xô và Trung Quốc về … sự hung hăng của Bắc Việt. Tôi nghiêng về việc tin rằng người Trung Quốc chắc chắn cảm nhận theo cách này.” Tin tình báo này bắt nguồn từ các cuộc gặp với các viên chức Trung Quốc và nhà báo ở Hong Kong. Phong nhớ lại rằng vào tháng 3 1975, Trung Quốc đang mất hết hy vọng là họ có thể thuyết phục được CQCMLT chấp nhận đề xuất của mình, họ cũng bực bội Thiệu, và họ sợ Hoa Kỳ sẽ giao Việt Nam cho người Xô-Viết để cải thiện hòa hoãn. Nhưng cuộc tiến quân nhanh chóng của QĐNDVN buộc Trung Cộng hành động mau lẹ để giữ lại một miền Nam tách biệt. Bắc Kinh và Paris muốn Minh cầm đầu chính quyền liên hiệp bởi vì phải cần một tướng lĩnh QĐVNCH để cầm chịch cho quân đội miền Nam, Minh được CQCMLT chấp nhận, và Trung Quốc không muốn giải tán chính quyền.  Theo Phong,

‘liên minh chính trị’ (một liên minh không phò Bắc Việt) ở miền Nam phải có năng lực bảo vệ an ninh quốc gia. Bắc Kinh thề trên đầu con em họ rằng việc cuối cùng họ muốn là làm một lực lượng chiếm đóng ở miền Nam. Vì lý do đó, họ nói rằng chỉ có QĐVNCH mới có thể thi hành sứ mạng này. Vấn đề là vì QĐVNCH không được tiếp vận hoặc không còn trang thiết bị nào, họ có thể làm gì? Họ nói rằng sự hiện diện của một ‘lực lượng quốc tế’ ở miền Nam có thể giải quyết vấn đề này … Điều tôi cũng có thể kể cho ông biết là, việc Hà Nội ngờ vực vào khả năng xen vào của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc …. theo tôi là nguyên nhân chính tại sao Hà Nội không tiến hành giải pháp ngừng bắn và đường lối văn minh để kết thúc chiến tranh bằng một thắng lợi ngoại giao vang dội thay vì một thắng lợi quân sự chết chóc.

Nếu Phong là người đưa tin duy nhất mang thông điệp này, ông có thể dễ dàng bị cho qua. Nhưng ông không. Vị tướng Pháp hồi hưu Paul Vanuxem đã từng quen biết Thiệu và các sĩ quan Việt Nam cao cấp khác ngay từ thời Chiến tranh Đông Dương Thứ Nhất. Ông thỉnh thoảng đến thăm Thiệu trong những năm qua và đã trở lại Việt Nam vào những ngày cuối cùng như một thông tin viên cho tuần báo Carrefour của Pháp. Vanuxem ấn hành một quyển sách mỏng vào cuối năm 1976 mô tả chi tiết những ngày cuối cùng của chiến tranh. Ông ghi nhận rằng ông có mặt tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 để nói chuyện với Minh. Trong khi ông viện dẫn lý do cho mục đích của mình, phát biểu rằng “mọi tâm trí đang tê liệt vì sợ hãi và không còn có khả năng chấp nhận những màn mở đầu được trình bày lúc đó và có thể đã cứu được mọi thứ,” ông nói ra những chi tiết cực kỳ nguy kịch. Có nhiều nhân chứng khác nhau chính mắt nhìn thấy Vanuxem trao đổi với Minh và chuyển đến một thông điệp tương tự như của Phong. Tuy những người này kể các phiên bản hơi khác nhau về cuộc đối thoại, tất cả đều có mặt trong phòng, và một vài người là đặc vụ Cộng sản nằm vùng. Chuẩn tướng QĐVNCH Nguyễn Hữu Hạnh đưa ra tiết lộ đầu tiên vào năm 1981 trong cuộc phỏng vấn cho loạt phim của kênh PBS Việt Nam: Thiên Sử Truyền Hình. Hạnh, mà Minh cho gọi trở lại khi đang nghỉ hưu, là một đặc vụ Cộng sản cắm sâu một thời gian dài. Ông cùng với Minh có mặt tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4. Hạnh kể lại

việc đầu tiên Vanuxem nói là ông đã vừa từ Paris đến. Trước khi đến, ông đã gặp nhiều nhân vật, trong đó có các thành viên của sứ quán (Bắc Kinh). Ông đề nghị Minh ra tuyên bố rằng mình sẽ bỏ Mỹ và đi về phe Trung Quốc. Theo ông ta, nếu chúng ta làm điều đó Trung Quốc sẽ tạo áp lực với Hà Nội để họ ngừng bắn trong phần phía nam Việt Nam. Sau khi suy nghĩ, Minh liền gạt đề xuất đó. Và khi Vanuxem khẩn khoản xin Minh kéo dài tình hình thêm 24 tiếng nữa, Minh cũng bác bỏ ý kiến đó. Sau khi Vanuxem đi rồi, chúng tôi tuyên bố chuyển giao quyền lực.

Nguyễn Văn Diệp, tổng trưởng kinh tế và điệp viên ngầm, đồng ý là “Vanuxem có đến gặp Minh cố gắng cổ vũ và thuyết phục ông ta rằng tình thế vẫn chưa tuyệt vọng. Vanuxem đến ngày sau khi Minh vừa thu băng xong lời tuyên bố đầu hàng.” Sau khi Minh bảo với ông ta là tình thế đã tuyệt vọng rồi, Vanuxem trả lời “vẫn chưa tuyệt vọng. Tôi đã sắp xếp việc này ở Paris. Tôi yêu cầu ngài công khai nhờ đến Quốc gia C (China) bảo vệ ngài.” Vanuxem nhờ Minh cầm cự trong ba ngày, nhưng Mình từ khước.

Dân biểu đối lập Lý Quí Chung, người mà Minh đã bổ nhiệm làm tổng trưởng thông tin, khẳng định rằng

Vanuxem nói rằng mình muốn đưa ra một kế hoạch cho Minh để cứu vớt tình thế tuyệt vọng mà chế độ Saigon đang đối mặt. Vanuxem nói rằng Minh phải đưa ra công khai lời kêu gọi một cường quốc can thiệp, và rằng nếu chính quyền miền Nam phát đi lời yêu cầu chính thức cường quốc này sẽ can thiệp ngay lập tức. Minh cười chua chát và đáp lại, tôi cảm tạ ngài đã có thiện ý, nhưng suốt đời tôi đã phục vụ như một tên đầy tớ cho người Pháp rồi sau đó đầy tớ cho người Mỹ. Như vậy là đủ rồi. Tôi không muốn làm một tên đầy tớ thêm một lần nữa.

 

Những người khác cũng đưa ra những lời kể tương tự. Nguyễn Hữu Thái, lãnh tụ sinh viên lâu năm và đặc vụ Cộng sản bí mật cũng có mặt tại Dinh, phát biểu rằng “Vanuxem yêu cầu được nói chuyện với Tướng Minh. Vanuxem bảo với nhóm, ‘Các ông phải rút lui về Cần Thơ và cố gắng phòng thủ Quân đoàn IV. Trong một ít ngày Trung Quốc sẽ áp đặt một giải pháp trung lập hóa miền Nam.’ Tướng Minh thốt lên cùng lời phàn nàn: “Đầu tiên là người Pháp rồi tới người Mỹ, và bây giờ họ muốn chúng tôi trở thành đầy tớ của người Trung Quốc!” Tùy viên quân sự của Minh, Thiếu tá Trịnh Bá Lộc, người đã phục vụ Minh từ 1957 nhưng không phải là đặc vụ Cộng sản, khẳng định rằng Vanuxem yêu cầu Minh “hoãn lại lệnh đầu hàng. Chính phủ Pháp và tôi sẽ kêu gọi Chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa can thiệp. Với một cái nhìn nghiêm nghị trên nét mặt Tướng Minh trả lời, ‘Chúng tôi vừa yêu cầu người Mỹ hãy rời Việt Nam trong vòng 24 giờ tới. Chúng tôi không thể yêu cầu Trung Cộng can thiệp vào vấn đề nội bộ Việt Nam.'”

Nhà báo Pháp Olivier Todd cũng có cho tin về lời bình phẩm của Vanuxem. Todd viết rằng Vanuxem đề nghị Minh “nên nhờ Trung Quốc xâm lăng miền Bắc. Rồi sau đó Paris sẽ đóng vai trung gian.” Xét việc có gián điệp tại buổi họp với Minh, Hà Nội ắt biết tỏng đề xuất của Vanuxem. Văn Tiến Dũng, vị tướng QĐNDVN chỉ huy cuộc tổng công kích, viết rằng “Vanuxem … vội vã từ Pháp đến Saigon.” Vào ngày 30/4, y ra sức “can thiệp vào cuộn băng Minh đã thu âm … và trình bày một kế hoạch để phong tỏa cuộc tổng tiến công vào Saigon của chúng ta,” mặc dù “vẫn còn chưa thuận lợi để nói nhiều về họ.”

Không có gì ngạc nhiên, mối quan hệ Việt-Trung sau chiến tranh nhanh chóng trở nên chua chát. Gặp Lê Duẩn vào tháng 9 1975, lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khiển trách ông ta vì những tuyên truyền gần đây của Việt Nam cho Trung Quốc như là “mối đe doạ từ phương Bắc … chúng tôi không yên tâm về việc này.” Liệu lời phê phán của Đặng, vốn lên án việc tuyên truyền chống Trung Quốc, cũng phản ánh nỗi e sợ không nói ra là Lê Duẩn cũng đã biết về âm mưu của Trung Quốc hay không, ta không biết được. Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc và Việt Nam giao tranh một trận tuy ngắn nhưng ác liệt trên biên giới vào tháng 2 1979 (vì những lý do không liên quan đến tháng 4 1975), Hà Nội xuất bản một quyển sách lên án “các âm mưu” của Trung Quốc nhằm chống lại Việt Nam. Họ viện dẫn đến biến cố Vanuxem bằng cách tuyên bố rằng Trung Quốc “tìm cách xúi giục các tướng lĩnh Saigon và các viên chức chính quyền hợp tác với họ, và họ thậm chí gửi ai đó cố thuyết phục Tướng Dương Văn Minh … nhằm tiếp tục kháng cự cuộc tổng tiến công và nổi dậy của binh sĩ và nhân dân miền Nam.”

Lê Duẩn, nói sau cuộc chiến biên giới tháng 2 1979, cho rằng ông đã luôn cảnh giác với những mưu đồ của Trung Quốc đối với xứ sở mình. Trong một tài liệu được sử gia  Christopher Goscha phát hiện, Lê Duẩn nói, “Khi chúng ta đánh thắng ở miền Nam, có nhiều nhà lãnh đạo ở Trung Quốc không hài lòng … Sau khi đánh bại người Mỹ chúng ta vẫn giữ nguyên một triệu quân, khiến các đồng chí Liên Xô thắc mắc: ‘Các đồng chí, bộ các đồng chí tính đánh ai nữa sao mà vẫn giữ một quân đội thường trực to lớn như vậy?’ Tôi trả lời, ‘Các đồng chí ạ, sau này các bạn sẽ hiểu.’ Lý do duy nhất chúng ta vẫn duy trì một quân đội thường trực như thế là vì mối đe doạ Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có mối đe doạ ấy, thì quân đội thường trực to lớn đó là không cần thiết.”

Nhân dịp kỷ niệm năm thứ 10 ngày Saigon thất thủ, Hà Nội cuối cùng thừa nhận có mưu toan can thiệp của Trung Quốc. Một viên chức cho rằng “giới thẩm quyền Trung Quốc nuôi dưỡng một âm mưu cực kỳ thâm độc. Như Dương Văn Minh, vị tổng thống cuối cùng của chế độ bù nhìn, tiết lộ: Vào buổi sáng ngày 30/4/1975, qua trung gian của Vanuxem … Trung Quốc yêu cầu Minh cầm cự chiến đấu ít nhất 24 tiếng để có đủ thì giờ tuyên bố đoạn giao với Hoa Kỳ và đồng minh với Trung Quốc. Trung Quốc sau đó sẽ gia tăng sức ép, kể cả việc đem binh sĩ vào Việt Nam nhằm kết thúc hận thù vì lợi ích của Trung Quốc.”

Trong khi nhiều nhân chứng làm chứng cho phát ngôn của Vanuxem, một vài nhân vật chủ chốt nghi vấn việc ông mang một thông điệp từ chính phủ Pháp. Phong nói rằng mình không biết gì về hành động của Vanuxem, mặc dù khi được tác giả thông tin, ông xác nhận Vanuxem “đi với tôi trên chuyến bay Air France đến Saigon trước khi thành phố thất thủ. Tôi chắc chắn ông ta phải nghe điều gì đó về những gì đang xảy ra lúc đó, nhưng tôi cũng chắc chắn ông không có vai trò gì trong đó, mặc dù ông có thể hỗ trợ chút gì đó trong các nỗ lực của Pháp (để thành lập một chính quyền liên hiệp).”

Gia đình Vanuxem cũng không tin rằng chính quyền Pháp đã sử dụng ông như một người đưa tin. Họ lập luận rằng việc ông dính líu vào cú đảo chính thất bại của quân đội Pháp vào tháng 4 1961 (tại Algeria, một thuộc địa Pháp) biến ông thành một kẻ bị hất hủi của chính quyền Pháp. Vanuxem bị hai năm tù, tài sản bị tịch thu, và con cái không được phép đến trường. Ông đến miền Nam đơn giản như một nhà báo, và ông không hề đề cập đến biến cố này với gia đình. Pierre Brochard cực lực khẳng định Vanuxem “không phải là một đặc sứ của Pháp. Tuy là một người thuộc Đông Dương cũ, ông không có mối quan hệ nào với sứ quán, và tôi chưa hề gặp ông ấy.” Trong khi ông nhìn nhận “Người Trung Quốc không vui sướng gì khi Hà Nội nắm quyền kiểm soát,” nhưng Brochard không nhớ có tiếp xúc nào với Trung Quốc, cũng không tin là Bắc Kinh sẽ có toan tính đột nhập quân sự vào tận Biên Hòa. “Lúc đó tình hình tuyệt vọng lắm rồi,” ông nói. Bà xã của Mérillon cũng xác nhận bà chưa hề gặp Vanuxem và rằng Brochard rất thân cận với chồng mình.

Có thể nào Vanuxem đã nghĩ ra trò này theo ý riêng của mình không?  Frank Snepp ở sứ quán Mỹ viết rằng vào buổi sáng ngày 25/4, đài phát thanh Saigon hét tướng lên “Lê Duẩn sát hại đối thủ chính trị chính của mình tại Hà Nội! Quân Trung Cộng tràn qua biên giới vào miền Bắc để trả thù cho người bị hại chết! …. Nhưng tất nhiên, điều đó không gì hơn là một trò chơi khăm, một chiêu chiến tranh tâm lý do giới thẩm quyền Saigon bịa ra để làm bối rối và làm mất tinh thần bộ đội Bắc Việt đang ở trên thềm cửa nhà họ.” Nếu Vanuxem đi trên chuyến bay đáp xuống vào chiều ngày 25/4, hẳn ông có thể đã nghe các tin tức giả mạo này và tưởng là thật. Tuy nhiên, xét các chi tiết đặc biệt trong thông điệp của ông, kịch bản này dường như không chắc chắn. Ông không hề đề cập đến tin phát thanh, cũng không đến cái tin được cho là Lê Duẩn đã chết, và lòi bình luận của ông giống một cách kỳ lạ với thông tin của Phong. Giả sử Vanuxem vẫn còn là một công dân bị hất hủi trong xã hội  Pháp, việc ông mang theo thông điệp của chính quyền Pháp là điều đáng ngờ, nhất là vì đã có Mérillon ở Saigon. Điều dường như chắc chắn hơn là việc người Trung Quốc nhắm vào một đặc sứ khác ngoài Phong. Phong là một nhà ngoại giao dân sự, trong khi Vanuxem có mối ràng buộc mật thiết với các tướng lĩnh QĐVNCH, và ông có một tiểu sử lâu đời hậu thuẫn nền cộng hòa. Ông sẽ là đặc phái viên hoàn hảo để thuyết phục các tướng lĩnh QĐVNCH chống cộng chấp nhận sự giúp đỡ của Pháp và Trung Quốc, nhất là một đề xuất táo bạo như thế này. Hơn nữa, là một người đưa tin cô độc, ông cũng có thể phủ nhận nếu cần thiết. Rằng Vanuxem đã có phát ngôn đó hình như là điều không thể chối cãi. Liệu thông tin của ông hoặc Phong có phải thực sự là chủ định thực của Trung Quốc hay không là điều chưa giải quyết. Điều này có thể là một màn tung hoả mù ngoại giao khác hay không? Đúc nặn một chính phủ liên hiệp chắc chắn là chiêu trò của Hà Nội, một chiêu trò mà các đồng minh của Bộ Chính trị vui sướng phụ họa. Hoàng Đức Nhã tin là như vậy. Ông khẳng định rằng Mérillon đã bảo với ông, như một phần của lời yêu cầu Nhã nên làm thủ tướng mới, rằng “người Trung Quốc sắp sửa đem vào vài sư đoàn để ngăn quân Bắc Việt,” nhưng Nhã ngờ rằng đây chỉ là mưu mẹo của Trung Cộng để bán đứng họ trên một chính phủ liên hiệp. Xét mọi vận động ngoại giao nhằm loại bỏ Thiệu, ý tưởng không thể không kể đến.

Vanuxem mất năm 1979, để lại những hành động của mình không được xem xét, trong khi Phong chưa hề bàn luận về khả năng ông bị lợi dụng. Hơn nữa, trong khi Hà Nội rõ ràng nhìn nhận câu chuyện Vanuxem, nó không thể được khẳng định mà không có chứng cứ hoặc lời thú nhận chính thức của chính quyền Trung Quốc hoặc Pháp. Việc Trung Quốc và Pháp, mỗi nước vì lợi ích của riêng mình, đã thông đồng nhằm tạo ra một miền Nam trung lập và tước đi của Hà Nội thắng lợi từ lâu họ ao ước, vẫn còn là bí ẩn vĩ đại cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam.

KẾT LUẬN

Lịch sử miền Nam không chỉ là một cuộc chiến đắng cay, những mưu tính của các cường quốc vận động trong bóng tối ngoại giao, hoặc một nỗ lực để gieo rắc chủ nghĩa thực dân. Nó cũng là lịch sử cuộc chiến đấu của những người Quốc gia nhằm xây dựng một nhà nước sống còn nơi trước đây chưa từng tồn tại. Nỗ lực hùng tráng đó đã bị phớt lờ hoặc tệ hơn, bị đối xử với sự khinh bỉ. Quyển sách này nhắm mục đích chỉnh  lại điều đó bằng cách phơi bày lộ trình trầm luân của những người Quốc gia để đi đến một điều gì đó giống như một nhà nước hiện đại, để kể lại câu chuyện, nhiều như có thể, từ góc nhìn của họ.

Nền Đệ Nhị Cộng Hòa cho nhân dân miền Nam một cơ hội để tạo ra các định chế vững chãi và kiến tạo đất nước. Vậy mà với tất cả các thành tựu của Thiệu như cải cách ruộng đất và tự trị địa phương, cận kề với thảm bại, giới lãnh đạo chính trị vẫn bám lấy hiến pháp. Hiển pháp cung cấp tính hợp pháp về mặt chính trị, phục vụ vai trò nền tảng pháp lý, xác lập sự tồn tại của Quốc hội, toà án, và nhu cầu phổ thông đầu phiếu. Hơn nữa, hiến pháp nhắc nhở được sự khác biệt giữa chế độ độc tài,  chuyên chính độc đảng Cộng sản, và chế độ pháp trị mới xuất hiện trong nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Saigon nỗ lực thành tựu hai mục tiêu đồng thời: đánh bại người Cộng sản và kiến tạo một nhà nước hiện đại. Nhưng nó không đạt được mục tiêu nào cả bởi vì thất bại ở mục tiêu thứ nhất ngăn cản hoàn thành mục tiêu thứ hai dù đã tiến đến sát nó một cách thật đáng tiếc. Liệu nó có thể đat được mục tiêu đầu tiên vẫn còn không rõ, nhất là khi không có được một đất nước đoàn kết hơn. Không kém quan trọng, tuy các cuộc công kích của kẻ thù trong năm 1965, 1968, và 1972 không giáng những cú chết người cho miền Nam, mỗi cuộc tấn công đều gây thương tích cho nó. Sự khác biệt là sau hai cuộc công kích đầu, người Mỹ cung cấp những phương tiện tài chính để tái thiết một lá chắn an ninh để bảo vệ sự tái thiết. Người Mỹ không làm gì cả sau cuộc công kích 1972. Vào năm 1973, người Mỹ đã ra đi, Saigon có không nhiều bạn bè quốc tế, và miền Nam không thể gượng dậy từ sự tàn phá do Công Kích Phục Sinh gây ra như từ hai cuộc tấn công trước. Mặc dù CQMN nỗ lực phục hồi một cách dũng cảm, giữa việc chiến đấu với một kẻ thù ngay trên mảnh đất của mình và gánh vác một nền kinh tế dãy chết, đất nước đang đứng trước thời điểm không thuận lợi của chu kỳ kinh tế khi một cuộc tiến công được lên kế hoạch hoàn hảo, triển khai xuất sắc vào năm 1975 chống lại một quân đội miền Nam đã mất nhuệ khí và đã yếu đi nhiều cuối cùng đã hoàn thành điều mà các cuộc công kích trước đây đã thất bại: giành được thắng lợi.

Đối với người Mỹ, họ khó có thể chọn được một chiến trường nào gian nan hơn để đầu tư quá đắt đến thế. Người Mỹ nghĩ về cuộc chiến như một trận xung đột không sao thắng được tại đó hai bên đánh nhau mà không có chiến tuyến cố định trong một khu rừng rậm không thương xót, đánh bại  ngay cả các tướng lĩnh và công nghệ tài tình nhất. Đó chỉ là một vế của phương trình. Vế kia là sự khó khăn không thể tin được trong việc xây dựng một nhà nước hoạt động được giữa  lúc bị tấn công, kết hợp với những lỗ hổng thường không vượt qua được về xã hội, ngôn ngữ, và văn hóa giữa các đồng minh. Do đó, khi các vụ tai tiếng của một nền dân chủ phôi thai phơi bày dưới cái nhìn soi mói của báo chí nước ngoài, thì việc chặn đứng các bi kịch, việc áp bức trắng trợn của chính quyền, và sự ù lì chính trị rõ ràng khẳng định hình ảnh một  miền Nam đổ vỡ không thể cứu vãn được. Điều này không có ý nói báo chí “đã làm thua cuộc chiến.” Những người Quốc gia không thể thanh minh một cách thích đáng cho  người nước ngoài ở quá xa. Họ không thể nói rõ với công luận Mỹ một phiên bản khác có thể chấp nhận được của các hình thức cai trị và cấu kết quốc gia kiểu Tây phương rất dễ nhận ra khi thiếu vắng chúng. Saigon vụng về trong các hoạt động thông tin và tuyên truyền trong khi Hà Nội, chỉ cần ra rả lặp đi lặp lại, cuối cùng lại thành công. Tệ hơn nữa, với sự bất tiện không cùng của đặc điểm địa lý Việt Nam và việc cắt giảm sâu viện trợ Mỹ, nền cộng hòa không thể phát triển một vị thế quân sự cố thể chống đỡ cuộc công kích của QĐNDVN. Liệu có một chiến lược riêng biệt nào như thế vẫn còn chưa được biết.

Tuy nhiên, điều đó không phải văn mộ bia của miền Nam. Dù đã chiến đấu với sức chịu đựng lớn lao, nền cộng hòa sụp đổ vì các xe tăng của QĐNDVN đè bẹp nó trước khi nhà nước non trẻ có thể trưởng thành. Vậy mà nhiều người miền Nam lưu vong vẫn còn cảm thấy sức nặng và sự phán xét của lich sử như thế số phận cay đắng của họ đúc kết cụm từ trong Kinh Thánh “ta sẽ quay mặt chống lại ngươi để nhà người phải bị kẻ thù đánh chỉ bại trận. … Ta sẽ phân tán các người khắp các xứ sở và ta sẽ tuốt gươm ra săn đuổi các ngươi.” Nhiều năm rồi, lịch sử đã phán xử họ phải bị ném ra lãnh thổ của mình vì tội tham nhũng, độc tài, và quyết định quân sự lầm lẫn. Có lẽ bây giờ lịch sử sẽ phán xét công bằng hơn.


Dịch xong ngày 5/12/2021

One thought on “Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần Cuối)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s