Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 23)

CHƯƠNG 23 : “CHIẾN TRANH LẠI BẮT ĐẦU”

aaa

George J. Veith

Quế Anh dịch

Miền Nam Bắt Đầu Tan Rã

Mỗi năm từ 1968, Thiệu đều đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng để định hình lại và phát triển kinh tế. Năm 1974, tuy nhiên, lại khác đi. Ông chỉ đơn giản tìm cách tiếp nối những nỗ lực của năm 1973, một phản ánh không chỉ tình hình kinh tế tồi tệ mà còn thiếu có sự lựa chọn  tốt đẹp nào khác. Nhiều người Việt Nam nhìn người Mỹ như đã rửa tay gác kiếm ở miền Nam. Trong khi hô hào các nỗ lực cho hòa bình, Thiệu còn chưa tin Hà Nội sẽ đồng ý tổ chức bầu cử có sự tham dự của CQCMLT. Tiên đoán của ông dường như được minh chứng khi Quân đội Nhân dân phát động những cuộc công kích dữ dội vào ba quân đoàn phía bắc và làm sứt mẻ an ninh lãnh thổ trong vùng châu thổ.

Khi thời gian trôi đi, việc Mỹ cắt viện trợ, phối hợp với viễn ảnh đen tối của hoà bình, và con bệnh kinh tế đã hình thành điều mà chỉ cách đây một năm không thể nghĩ tới được: khế ước xã hội của miền Nam bắt đầu rạn nứt. Sự đứt gãy này xổ lồng cho thử thách thực sự đầu tiên đến quyền lực chính trị của Thiệu từ tháng 5 1968.

Dân chúng khi gặp kẻ thù kề dao tận cổ thường đi tìm kiếm những lãnh đạo mới, hy vọng rằng ai đó có thể cứu vớt họ. Điều đó cũng đúng cho miền Nam. Sức thúc đẩy vì an toàn này làm sống lại khao khát được tự trị trong các nhóm tôn giáo và chủng tộc. Khi phối hợp với nỗi bất mãn nghiêm trọng về kinh tế, bộ khung xã hội miền Nam bị kéo giãn đến điểm gảy đổ.

“CHÍNH CHÚNG TA PHẢI TỰ CỨU LẤY MÌNH”

Vào ngày 15/10/1973, Mặt trận B-2 của Cộng quân ở miền Nam thông báo rằng họ sẽ đóng chiếm những vùng đất “bị địch chiếm đóng bất hợp pháp.” Đó là dấu hiệu công khai đầu tiên cho thấy miền Bắc đang quay trở lại chiến tranh. Vào ngày 4/1/1974, Thiệu đáp trả sự hiếu chiến của Hà Nội. Nói trước một đám đông tại Cần Thơ, ông đổ lỗi cho Hà Nội đã làm mới lại chiến tranh và đe dọa “sẽ có các biện pháp giáng trả chống bọn xâm lược miền bắc,” kể cả “việc tấn công vào căn cứ địa của chúng.” Chiến tranh, Thiệu lên án, “lại bắt đầu,” nhưng “chính chúng ta phải tự cứu lấy mình.” Đồng bào ông đã mệt mỏi vì chiến tranh và căng thẳng về kinh tế đón nhận thêm đợt hô hào kèn trống với sự thờ ơ.

Cùng lúc với chiến tranh trở lại, tình hình ở Biển Nam Hải – người Việt gợi là Biển Đông – cũng thình lình dậy sóng. Cả Trung Hoa và Việt Nam Cộng Hòa đều tuyên bố quyền lãnh thổ trên một vài nhóm đảo nhỏ, đặc biệt đảo Hoàng Sa. Vào đầu tháng giêng 1974, Trung Cộng đổ bộ các ngư phủ lên một vài hòn đảo trong Quần đảo Hoàng Sa. Saigon đáp trả bằng cách phái tàu hải quân đến nơi, chở theo các toán Địa phương quân đuổi ngư phủ đi. Trung Cộng đáp trả bằng cách gửi các tàu vũ trang đến theo dõi một cách hung hăng tàu miền Nam. Vào sáng ngày 19/1, hai bên trao đổi hoả lực và pháo hạm. Một tàu chiến Việt Nam bị chìm, ba tàu khác bị hư hại, và hai tàu Trung Cộng bốc cháy và có thể đã bị bắn chìm. Trung Cộng xua binh sĩ lên đảo và bắt sống các Địa phương quân và một thầu khoán DAO (Văn phòng Tùy viên Quốc phòng của sứ quán Mỹ) đến viếng thăm. Dù Saigon có kêu cứu Đệ Thất Hạm đội Mỹ trợ giúp, nhưng Toà Bạch Ốc từ chối can thiệp. Khi Trung Quốc đưa lực lượng tác chiến hải quân vào hải phận, Hải quân Việt Nam rút lui. Các tàu chiến từ Thế Chiến bị thải ra làm sao chống lại một hạm đội hùng hậu địch, trong khi các chiến sĩ miền Nam chỉ có vừa đủ dầu để đến được đảo và trở về Đà Nẵng. Người Mỹ không tiếp ứng khiến cho miền Nam cảm thấy cô đơn hơn bao giờ.

Việc leo thang chiến tranh ở miền Nam vào cuối năm 1973 đến đúng lúc người Mỹ bắt đầu cắt giảm tài trợ. Các kho khí tài quân sự của Mỹ đã bị rút cạn kiệt để tái tiếp tế cho Israel trong Chiến tranh Kippur, và miền Nam đối mặt với mệnh lệnh của Quốc hội phải cắt giảm yểm trợ cho mình. Vào giữa tháng 12 1973, chiếc búa nện xuống. Quân đội Hoa Kỳ cắt tất cả quỹ tài trợ tác chiến còn lại cho Năm Tài chính 1974 (tháng 10 1973 – tháng 9 1974) Thiếu tướng John Murray, đứng đầu Văn phòng Tùy viên Quốc phòng, bộ phận có trách nhiệm quản lý viện trợ quân sự hiện hành, cực lực phản đối. Khi ông tìm cách xác định số tiền còn lại là bao nhiêu, Ngũ Giác Đài không thể cung cấp con số chính xác. Bực tức, Murray yêu cầu Đại sứ Martin báo tin cho Tướng Cao Văn Viên để giảm bớt lượng tiêu thụ, nhưng Martin thoái thác lời yêu cầu. Vị đại sứ hy vọng thuyết phục được chính quyền Mỹ phục hồi việc tài trợ mà không cần báo tin cho miền Nam. Martin sau đó nhờ Kissinger yêu cầu Quốc hội một gói viện trợ bổ sung 250 triệu đô la, nhưng ông ta từ chối. Ông ta báo cho Martin biết rằng “phản ứng của quốc hội đối với viện trợ nước ngoài…. tiêu cực hơn thường lệ.” Ông ta cũng cảnh báo thêm là Cao Miên cũng đang cần tiền cấp bách, tạo một vấn nạn về chính sách là làm sao phân bố số tiền viện trợ khan hiếm. Trong khi Kissinger nhận thức được rằng “các mức tài trợ này sẽ gây ra những vấn đề thực sự cho Việt Nam,” ông ta sợ rằng việc Quốc hội bác bỏ lời kêu gọi xin viện trợ bổ sung “có thể là một thất bại tâm lý nghiêm trọng cho chính sách Đông Dương của chúng ta.” Martin khăng khăng, nhưng Kissinger cho thấy là mình nói đúng. Vào ngày 3/4/1974, Hạ viện bác bỏ lời yêu cầu vũ khí bổ sung cho Saigon. Martin được lệnh cho Murray ngay lập tức đến báo tin cho Viên giảm ngay chi tiêu, nhưng thiệt hại đã xảy ra. QLVNCH qua bốn tháng đã tiêu hao đồ dự trữ, không biết rằng mình sẽ không được tiếp đầy đủ như trước.

Tin tức chỉ thêm tồi tệ. Vào cuối tháng 5, các ủy ban quốc hội lo về việc duyệt xét tài trợ quốc phòng Năm Tài chính 1975 khuyến cáo cắt giảm viện trợ quân sự cho Saigon. Phe phản chiến tuyên bố rằng Thiệu là vật cản đến hòa bình và rằng chặt đứt sự hậu thuẫn tài chính sẽ, theo quan điểm của họ, buộc được ông ta theo đuổi một giải pháp chính trị. Họ dường như ngây thơ không biết rằng QĐVNCH và ĐPQ/NQ, vốn bị kéo giãn quá mức do đảm đương nhiều vị trí, phải trông cậy vào hoả lực và tính cơ động để đánh trả các cuộc tấn công của kẻ thù. Những cuộc tấn công này giờ đây được tiến hành phần lớn bởi lực lượng quy ước bao gồm pháo binh và phòng không. Những ngày du kích đánh rồi chạy đã qua lâu rồi. QĐVNCH đang yếu thế dần trong khi QĐND đang tích lũy sức mạnh.

Tổng thống Richard Nixon, đã tê liệt vì vụ tai tiếng Watergate, không thể địch với Quốc hội về sự cắt giảm. Dưới sức ép khủng khiếp, vào ngày 9/8/1974, ông phải từ chức và được thay thế bởi Gerald Ford, một thành viên phục vụ lâu năm trong Hạ viện đã trở thành Phó Tổng thống sau khi Spiro Agnew rời nhiệm sở do bị cáo buộc tội trốn thuế. Đồng minh chủ chốt của Saigon đã ra đi, và chính quyền miền Nam và báo chí phản ứng với sự rúng động dễ hiểu. Trong khi đại sứ trấn an Thiệu và Khiêm rằng chính sách Mỹ sẽ giữ nguyên không thay đổi, nhưng cả hai không nghi ngờ gì đều hiểu rằng họ đang bước vào một vùng nước xoáy chưa từng đặt chân đến.

Vào cuối tháng 8 sau khi Nixon ra đi, Quốc hội bỏ phiếu giảm ngân sách viện trợ quân sự 1.6 tỷ của hành pháp cho Việt Nam xuống còn 1 tỷ. Quốc hội sau đó quyết định chỉ trích ra 700 triệu trong số 1 tỷ mà họ đã cho phép. Tệ hơn, họ ra lệnh mọi chi phí liên quan đến Việt Nam phải được tính trong số 700 triệu đó, càng làm giảm số tiền viện trợ hơn nữa. Đúng vào lúc QĐNDVN đang phát động các cuộc tấn công đại quy mô, Quốc hội đã ra lệnh cắt giảm hai phần ba viện trợ quân sự.

Murray, người có một phong cách viết mà bất kỳ quan sát viên nào cũng gọi là sôi sục, nổi giận. Dù chuyến đi của ông gần như kết thúc, ông vẫn hiên ngang tìm cách tập kết giới lãnh đạo Ngũ Giác Đài để chống lại sự cắt giảm bằng cách phác họa tác hại của nó. Trong một cuộc gọi chào tạm biệt với Trung tướng Nguyễn Văn Nghi ở Quân đoàn IV, Murray cho biết Nghi đã vúi đầu vào “biểu đồ hình tháp của thống kê.” Tư lệnh Quân đoàn bảo với Murray rằng “trước khi ngừng bắn ông có được 248,500 đạn pháo 105 mm một tháng để đẩy lùi  các cuộc tấn công của địch (35 trận mỗi ngày). Giờ ông chỉ nhận được 45,000 đạn pháo để truy cản 70 cuộc tấn công mỗi ngày, trong khi pháo 155mm bị cắt giảm 72 phần trăm.” Tệ không kém, phi đạn SA-7 AAA của địch buộc Không lực VNCH phải ném bom từ “độ cao hơn 10,000 bộ, nên thường ném trật mục tiêu, vì thế phải cần nhiều hoả lực hơn” để bù trừ cho sự thiếu hiệu quả của không lực. Nhưng cuộc vận động của Murray không đi đến đâu; Bộ Quốc phòng, đã biết được xu hướng chính trị, thoái thác không kêu gọi đến Quốc hội.

Trong buổi họp cuối cùng vào giữa tháng 8 1974, Murray tháp tùng Đô đốc Noel Gayler, tư lệnh Thái Bình Dương, đến thăm Tướng Viên để thảo luận về việc cắt giảm viện trợ. Cho dù Viên đã nghe theo lời khuyến cáo Murray vào tháng 4 và ra lệnh cắt giảm sâu mức chi tiêu khí tài, nhưng các cuộc công kích ác liệt của quân địch buộc QĐVNCH phải bắn ra “lượng đạn pháo gấp hai lần tiền viện trợ có được.” Gayler đề nghị Viên rút lực lượng trấn giữ các vị trí cô lập về phòng thủ các vùng đông dân. Viên đồng ý nhưng trả lời rằng “một sự thay đổi như thế sẽ kéo theo những hậu quả chính trị,” nghĩa là quyết định gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ của Thiệu vẫn còn là thiêng liêng. Gayler kết luận báo cáo của mình bằng nhận xét rằng “nếu chủ định của Quốc hội … là buộc Thiệu thoả hiệp … ông ta sẽ không thỏa hiệp trên tư thế kẻ mạnh được, thậm chí cũng không ngang bằng, mà là trên tư thế kẻ bại trận.”

Viên đúc kết cho Thiệu về tình hình cắt giảm viện trợ. Tổng thống ra lệnh vị tư lệnh QLVNCH “chiến đấu một trận chiến của một người nghèo” và khẳng định lại đánh giá trước đây của mình rằng “để mất bất kỳ tài sản nào sẽ tạo các vấn đề tâm lý cho CQMN.” Viên cắt giảm thêm việc sử dụng pháo và cắt giảm Không lực VNCH sâu đến tận xương. Ông bảo các tư lệnh Quân đoàn rằng “tài trợ phân bổ cho giờ bay trong FY75 (Năm Tài chính 1975) chỉ còn 44 triệu đô so với 100 triệu đô trong FY74.” Vì chi phí một giờ bay đã tăng lên 20 phần trăm do giá xăng dầu tăng cao và Không lực đã tiêu tốn 20 triệu đô đánh phá cuộc tấn công của địch mùa hè đó, họ được lệnh trùm mền các máy bay cũ và cắt giảm sâu giờ bay cho mỗi vùng quân sự. Ông bảo các tư lệnh rằng “Khí tài Không lực chỉ nên được sử dụng khi tuyệt đối cần thiết … Trong tình thế mức tài trợ càng ngày càng bị hạn chế … Bộ Tham mưu Liên quân thúc giục tất cả đơn vị hãy quan tâm nghiêm túc nhất đối với mọi chỉ thị liên quan đến việc sử dụng khí tài không lực … để tiết kiệm ngân sách quốc gia.” Viên đã áp đặt quân đội trên khẩu phần chết đói. Một bác sĩ ở bệnh viện quân y Đà Nẵng, coi sóc hơn 1,000 thương binh trong khu ông từ các trận đánh gần đây, than thở “chúng ta thiếu thốn mọi thứ – trừ thương binh.” Miền Nam đúng là phải tự cứu mình.

THAY ĐỔI HIẾN PHÁP VÀ CÁI CHẾT CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ

Vào ngày 15/1/1974, các nhà lập pháp thân Thiệu trong quốc hội nộp ba tu chính hiến pháp. Đầu tiên là thay đổi cách thức các thẩm phán Tối cao Pháp viện được bổ nhiệm. Quốc hội, thay vì Luật sư Đoàn, sẽ bổ nhiệm mọi thẩm phán vào Tối cao Pháp viện. Thứ hai cho phép tổng thống tiếp tục bổ nhiệm tỉnh trưởng thay vì tổ chức bầu cử vào chức vụ. Tuy nhiên, thứ ba là việc thay đổi được đồn đại từ lâu là cho phép tổng thống phục vụ một nhiệm kỳ thứ ba liên tiếp. Tu chính cũng kéo dài nhiệm kỳ từ 4 năm đến 5 năm.

Thiệu báo cho Martin rằng ông muốn cải cách bộ máy tư pháp vốn “tham nhũng toàn bộ”. Bầu chọn các tỉnh trưởng trong giai đoạn bạo lực leo thang này chỉ tổ gây thêm “bấp bênh và mất ổn định” thậm chí cho dù miền Nam đã tổ chức bầu cử địa phương thành công nhiều lần.Nhiệm kỳ tổng thống thứ ba, ông nói, cũng để suy trì sự ổn định trong thời buổi khó khăn này. Biết sẽ bị trong nước phản ứng, ông đã đưa ra các tu chính cận ngày Tết vì lúc ấy ai cũng lo tất tả chuẩn bị Tết. Các lãnh đạo quốc hội họp một phiên đặc biệt và thông qua ba thay đổi vào ngày 19/1. Nguyễn Văn Ngân bí mật thuyết phục các dân biểu Hạ viện thuộc đảng PTQGCT của Nguyễn Ngọc Huy hãy bầu cho các tu chính đổi lại Ngân sẽ giúp hợp pháp hóa đảng Liên minh Dân chủ Xã hội theo Sắc lệnh 60. Khối Công giáo và Phật giáo trong Thượng viện chống đối, nhưng không có kết quả. Thượng nghị sĩ Công giáo Nguyễn Văn Huyền giải tán Đảng Tự Do, nhưng Ấn Quang vẫn còn bị sâu xé trong các cuộc đấu tranh nội bộ nên không buồn chống đối quyết liệt. Thiệu có những lý lẽ khác cho tu chính nhiệm kỳ thứ ba ngoài lý do ông bảo với Martin. Ngân, tác giả của tu chính, nhớ lại rằng quyết định tìm kiếm sự thay đổi này xảy ra sau chuyến đi của Thiệu đến San Clemente vào tháng 4 1973. Ông bảo rằng mặc dù Thiệu bề ngoài có vẻ vui sướng vì cuộc họp, nhưng bên trong ông không mấy tin tưởng vào lời hứa của Nixon. “Mục tiêu,” Ngân viết, “thực ra không phải là một nhiệm kỳ ba cho tổng thống. Mục tiêu thực sự của tu chính là minh chứng sự tin cậy và gửi gắm của nhân dân qua hành động của Lập pháp để “tái củng cố vị trí lãnh đạo của Thiệu nhờ đó ông có thể giải quyết tình thế mới.” Ngân sợ rằng Thiệu sẽ sớm trở thành tổng thống vịt què, càng ngày càng bất lực không thể kiểm soát một tình thế xoay chuyển nhanh chóng. Sự thay đổi từ 4 sáng 5 năm được đưa ra vì “chúng tôi muốn tạo một khoảng cách giữa bầu cử tổng thống Hoa Kỳ với bầu cử Tổng thống Việt Nam. Nhiệm kỳ tổng thống Mỹ cũng 4 năm, và mỗi 4 năm Mỹ lại trải qua một thời kỳ xáo trộn chính trị có ảnh hưởng to tát đến bầu cử tổng thống miền Nam.” Tuy nhiên, Thiệu và Ngân phải đợi cho đến sau bầu cử Thượng viện tháng 8 1973, sẽ cho tổng thống hai phần ba đa số họ cần để thông qua tu chính án.

Sau khi thắng trận đấu hiến pháp, Thiệu chuyển sang sắp xếp chính quyền và buộc Thủ tướng Khiêm nhận thêm trách nhiệm thi hành chính sách. Mối quan hệ Thiệu-Khiêm, vốn nhạy cảm nhất trong chính quyền, đã trải qua những thăng trầm nhiều năm qua. Từ cuộc bầu cử độc diễn 1971, Thiệu không ngừng nắm quyền kiểm soát những vấn đề hành chính thậm chí thường nhật là thuộc quyền Khiêm. Khiêm đã phàn nàn về tình trạng này, vì thế tổng thống giờ đây phục hồi lại sự cân bằng đó. Vào ngày 16/2/1974, Thiệu đưa ra động thái đầu tiên của mình bằng cách yêu cầu nội các từ chức. Hai ngày sau, ông bổ nhiệm nội các tinh giản nhất mình từng có, kể cả ba phó tổng trưởng. Nguyễn Lưu Viên giữ vị trí đứng đầu đoàn đàm phán hòa bình, trong khi Phan Quang Đán được thăng lên phó thủ tướng cầm đầu mọi chương trình xã hội, bao gồm chương trình tị nạn. Ngạc nhiên thay, phó thủ tướng thứ ba là Trần Văn Đôn, được giao công việc phi hình tướng là “thanh tra” phát triển quốc gia. Đôn sau đó viết rằng ông nhận thức được Thiệu “muốn có tên tôi trong chính quyền để chứng tỏ sự hòa hợp dân tộc.”

Hầu hết những người tại chức đều được bổ nhiệm lại, kể cả Nguyễn Đức Cường và Vương Văn Bắc, nhưng Thiệu cuối cùng gạt bỏ Phạm Kim Ngọc và thay bằng Nguyễn Tiến Hưng cầm đầu Kế Hoạch Quốc Gia. Một người bắc Công giáo, Hưng từng du học ở Mỹ và giảng dạy kinh tế tại Đại học Howard ở Washington. Ông đã trở về Saigon vào tháng 7 1973 và tham gia tham mưu cho Thiệu như một phụ tá đặc biệt. Những động thái chủ chốt khác bao gồm việc tống khứ Tổng trưởng Cựu Chiến binh Phạm Văn Đông sau khi vợ ông ta bị bắt vì điều hành một hoạt động cờ bạc bất hợp pháp. Đông đã từng bị cho thôi việc vì cùng lý do vào năm 1965 khi ông là thị trưởng Saigon. Một tuần sau, Thiệu có một động thái thứ hai. Ông buộc 12 tướng lĩnh từ chức, trong đó có Hoàng Xuân Lãm, Nguyễn Văn Vỹ, và vị sĩ quan bị kết tội buôn lậu ma túy, Ngô Dzu. Tuy nhiên, sự thay đổi chủ yếu cuối cùng của Thiệu là xén bớt lông cánh hai trưởng phụ tá của mình, Hoàng Đức Nhã và Ngân. Đây là một thắng lợi hành chính đối với Khiêm vốn từ lâu bực mình vì họ cứ qua mặt ông đi thẳng đến Thiệu. Sau khi vị thủ tướng cứ kêu ca với Thiệu về việc Nhã cứ nhúng mũi vào các bộ khác, ông giải quyết bằng cách bổ nhiệm Nhã làm tổng trưởng một bộ trực tiếp dưới quyền Khiêm. Cùng lúc, Thiệu cũng giảm vai trò của Ngân và  Đảng Dân Chủ trong chính quyền. Ông đã âm thầm quyết định giảm sự can thiệp của ĐDC vào công việc hành pháp. Theo lãnh tụ ĐDC Nguyễn Văn Ngãi, Thiệu chỉ bảo cho Khiêm, Ngân và ông. Thiệu xem ĐDC như bộ máy loại bỏ số phiếu bầu, nhưng Ngân lại ước mơ thấy nó kiểm soát chính sách và nhổ tận gốc tham nhũng. Khi Ngân không tán thành, Thiệu không làm gì, chỉ đợi một thời cơ thuận tiện lúc anh chàng Ngân nhiều tham vọng đi quá xa.

Một lý do mà Khiêm phàn nàn về Ngân là tùy viên này của Thiệu đã triển khai một đường dây Đảng Dân Chủ lộ liễu gọi là Hành lang Đỏ chạy từ Thiệu qua Ngân đến các tư lệnh quân đoàn và tỉnh trưởng. Nhiều chỉ thị về chính sách giờ đây chạy qua Hành lang Đỏ hơn là qua con đường hành chính thông thường. Vào cuối tháng 11 1973, Khiêm bảo với Thiệu rằng Ngân tác động “quá nhiều ảnh hưởng lên các quyết định đối nội.” Ông cũng quan ngại rằng Ngân đang tìm cách “loại trừ mọi nhóm đối thủ chính trị,” điều mà Khiêm cho “là một sai lầm.” Khiêm hy vọng thuyết phục được Thiệu rằng “tình hình quốc gia đã thay đổi kế từ khi Sắc lệnh 60 được ban hành.”;

Rồi khi Ngân bắt đầu nhắm đến việc thành lập các ủy ban quân sự ĐDC, không khác các ủy ban mà Ngô Đình Nhu và Đảng Cần Lao đã thành lập, Tướng Viên chống đối quyết liệt. Ông bảo với người bạn già Khiêm là các tướng lĩnh cực lực chống đối việc làm sống lại điều giống như các ủy ban Cần Lao. Khiêm báo cho Thiệu rằng “nếu tình trạng của Ngân không giải quyết, thế thì quân đội sẽ ra tay hành động,” nghĩa là một vụ đảo chính. Xét tiểu sử của Khiêm, Thiệu không thể phớt lờ điều đó. Theo Nguyễn Bá Cẩn, Thiệu nhanh chóng triệu tập một buổi họp với giới lãnh đạo nội các và lập pháp và vẫy cờ trắng đầu hàng. ĐDC sẽ không can thiệp vào hoạt động của chính quyền. Ông ra lệnh đóng Hành lang Đỏ và bảo các tỉnh trưởng chấm dứt dính líu trực tiếp vào đảng. Ngân cũng không còn được diện kiến Thiệu trực tiếp, và vào cuối tháng 5 1974, nhân vật sừng sỏ một thời bị cho nghỉ việc. Trần Văn Đôn chẳng bao lâu được bổ nhiệm làm dây liên lạc mới với quốc hội nhưng sẽ báo cáo cho Khiêm. Đôn, không còn xiên xỏ Thiệu từ chốn bình yên trong quốc hội, mà giờ đây làm công tác trí vận cho hành pháp.

Để xoa dịu thêm quân đội, vào ngày 19/6, Thiệu công khai ra lệnh toàn quân và công bộc nhà nước không được tham gia vào hoạt động chính trị. Đó là một thay đổi kinh thiên động địa nếu so với những ngày tháng của năm 1972 và 1973, khi Thiệu để hết tâm trí vun đắp một đảng cầm quyền cho cuộc đấu tranh chính trị tương lai tiềm năng với phe Cộng. Mặc dù sau này ông làm rõ là mình không hạ thấp đảng, chỉ là ông đang biến đổi nó thành một tổ chức dựa vào quần chúng hơn là một tổ chức gồm những cán bộ chính quyền, lời tuyên bố của ông thật nực cười.

Dù là gì, bài diễn văn ngày 19/6 của ông về thực chất đã kết liễu Đảng Dân Chủ. Vào tháng 11 1974, đại diện sứ quán Mỹ  tại Quân đoàn III, sau khi đi xem qua các trụ sở ĐDC địa phương, nhận thấy rằng “Đảng Dân Chủ đã dừng hoạt động hoàn toàn … không có hội họp, không hoạt động, và các trụ sở chỉ huy đảng đều vắng lặng.”  Các công nhân viên nhà nước chả ai tha thiết vào đảng và chỉ vào đảng vì sợ mất việc. Thiết kế tưởng là hoành tráng của Thiệu nhằm động viên quần chúng đánh thắng cuộc bầu cử đã chết. Đảng Dân Chủ đã chết ngay khi nó được sinh ra: bằng mệnh lệnh từ Thiệu.

TAI ƯƠNG NỘI BỘ

Với việc Quốc hội Mỹ bỏ phiếu về viện trợ đang lù lù đến, Thiệu tìm cách lấy lòng Hoa Kỳ bằng cách phóng thích một số tù nhân nổi tiếng. Vào giữa tháng 2 1974, tình báo Cộng sản Trần Ngọc Hiển, anh trai Trần Ngọc Châu, được trao trả cho phe bên kia. Tuy nhiên, Hiển không được chào đón với tình đồng chí nồng ấm. Ông bị loại ra khỏi Đảng và quân đội vì đã thất bại không chiêu dụ được em trai mình. Các điệp viên bị kết tội Huỳnh Tấn Mẫm và Huỳnh Văn Trọng từ chối đi qua phía bên kia và được chuyển về Bộ Chiêu Hồi. Như một phần của hiệp định, vào giữa năm 1974, CQMN đã phóng thích gần 27,000 tù binh khỏe mạnh và hơn 5,000 tù dân sự. Đổi lại, họ nhận được xấp xỉ 5,400 tù binh và 600 dân thường, hầu hết đều trong tình trạng thể chất yếu kém sau thời gian bị giam giữ trong tù giữa rừng. Nhiều người hơn vẫn còn bị bí mật giam giữ trong các nhà tù miền Bắc.

Trần Ngọc Châu được thả tự do sớm hơn thời hạn sau khi ông đồng ý tránh gặp mặt báo chí và không được tố cáo chính quyền. Ông giữ yên lặng, nhưng Bà Ngô Bá Thành, người đã được thả vào ngày 21/9/1973, lại làm ngược lại. Sau khi hoàn tất án tù thứ ba từ năm 1965, bà nhanh chóng tiếp tục các hoạt động bất đồng chính kiến. Bà dựng lên các vụ biểu tình nhỏ trước quốc hội và tổ chức nhiều cuộc phỏng vấn với báo chí nước ngoài chỉ trích thậm tệ CQMN. Với Dương Văn Minh mơ màng, bà cũng tự tuyên bố mình là lãnh tụ Lực Lượng Thứ Ba. Bà ồn ào đổ lỗi cho Thiệu gây mất hòa bình vì “ông ta không thi hành đầy đủ hiệp định.” Bởi yêu sách hòa bình của bà phản ánh sít sao với yêu sách của CQCMLT, bà đã trở thành hiện thân của chính kiến chống đối cực đoan ở miền Nam.

Dù vậy hoà bình chỉ là ảo ảnh. Đơn vị Biệt động bị cô lập ở Tống Lê Chân, bị vây hãm hơn một năm ròng, đã trở thành một biểu tượng sáng ngời của tinh thần chiến đấu chống các vi phạm ngừng bắn của Cộng quân. Nhưng sau khi chịu đựng pháo kích gần như mỗi ngày và đẩy lùi nhiều cuộc tiến công trên bộ, kho tiếp tế đã cạn kiệt và thương vong lên cao, chỉ huy tiền đồn bèn quyết định rút lui.

Vào đêm ngày 11/4/1974, đơn vị lẻn qua vòng vây kẻ thù và trốn thoát. Việc thất thủ căn cứ dấy lên lời bình luận xôn xao trên mặt báo miền Nam, nỗi căm phẫn đã chất chứa từ việc Việt Cộng pháo kích một ngôi trường ở vùng Cửu Long.

Một viên đạn súng cối rơi trúng sân trường tại một ngôi làng ở Cai Lậy vào ngày 9/3, giết chết 32 trẻ em và làm bị thương hàng chục người. Để đáp trả, Thiệu ra lệnh phái đoàn CQMN ở Paris đình hoãn  hòa đàm cho đến khi CQCMLT “chứng tỏ thiện chí hoà bình của họ qua những hành động cụ thể,” nghĩa là ngừng bắn thực sự. Khi một ngôi trường thứ hai bị pháo kích ở vùng Cửu Long vào ngày ⅘, giết chết 7 em bé và làm bị thương 36 người, Thiệu không thương lượng tiếp. Phái đoàn ICCS đến điều tra tại Cai Lậy, nhưng các thành viên Cộng sản không chịu ký tên vào báo cáo, khiến nó không thể được phát đi. Khi CQMN công khai lên án CQCMLT vì cuộc thảm sát thứ hai này, CQCMLT cũng tuyên bố tẩy chay hội nghị. Đối thoại La Celle đã chết.

Nói với nội các vài ngày sau đó, Thiệu than vãn CQCMLT không “tìm kiếm một giải pháp hòa bình qua thương lượng. Họ chỉ muốn giải quyết vấn đề bằng các lực lượng bộ đội Bắc Việt. Không xứ sở nào trên thế giới có thể tổ chức bầu cử dân chủ tự do với một quân đội thù địch hùng mạnh hiện đại cắm ngay trong lãnh thổ của mình … Các cuộc thỏa thuận hiện thời giống với hòa đàm 1954 trong đó bọn Cộng sản đang đợi … những thay đổi có tính quyết định xảy đến thuận lợi cho chúng vào năm 1974-1976.” Saigon không thể mong đợi sự hỗ trợ quân sự của người Mỹ: “Hãy quên khả năng đó đi,” ông nói. Cuối cùng khi Hà Nội cảm nhận được rằng miền Nam đã đánh mất “sự hậu thuẫn tinh thần, hậu thuẫn chính trị, và hậu thuẫn vật chất,” họ sẽ phát động một cuộc công kích cuối cùng. Lập luận của ông sẽ cho thấy là chính xác.

Thậm chí với chiến tranh chủ lực nóng lên, Thiệu vẫn chú tâm vào việc CQMN  duy trì quyền kiểm soát làng mạc đã gian nan giành được. Trong bài diễn văn Tết đọc hàng năm vào đầu năm 1974, ông đề cập đến những nhiệm vụ bình định hoá to tát cho năm mới: củng cố an ninh lãnh thổ, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, và cải tổ bộ máy chính quyền qua cuộc Cách mạng Hành chính. Vào ngày 25/2, Thiệu tổ chức hội nghị bình định hoá hàng năm. Kế hoạch 1974 nhấn mạnh sự phi tập trung bộ máy công vụ trong Cách mạng Hành chính. Vì USAID đã ngưng tài trợ cho chương trình Phát triển Nông thôn, ông bãi bỏ bộ PTNT và chỉ đạo các đội PTNT còn lại hỗ trợ hội đồng xã hoàn thành mục tiêu năm 1974. Chương trình chủ chốt này của CQMN, đã được phát động long trọng dưới quyền lãnh đạo của Trung tướng Nguyễn Đức Thắng vào năm 1966, đã hoàn thành sứ mạng của mình.

Bình định giờ đây đã trở thành máu thịt trong bộ khung chính quyền miền Nam. Lấy minh chứng, trong một năm, Phan Quang Đán và ban tham mưu Quân đoàn I đã âm thầm tái thiết khu vực bị tàn phá ở Tỉnh Quảng Trị vẫn còn nằm dưới sự kiểm soát của miền Nam thành một thực thể hoạt động được. Họ đã tái lập bộ máy hành chính tỉnh, các đơn vị ĐPQ/NQ, và cung ứng nửa tỷ đồng để khởi động sản xuất nông nghiệp và tu bổ các thiệt hại. Để hiểu được tầm vóc của dự án này, vào tháng 10 1972, có hơn 540,000 người tị nạn ở Quân đoàn I. Vào tháng 6 1974, số đó chỉ còn 20,000. Theo Lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng trong số đó, 130,000 trở về Quảng Trị. Nếu xét chi phí vật liệu gia tăng, thì đây là một thành tựu ấn tượng. Trong khi các lều trại tạm thời mà CQMN dựng cho người tị nạn cư ngụ từ cuộc công kích 1972 thường là kham khổ và đầy tham nhũng, nhưng vẫn rất ít người bỏ đi về vùng Cộng sản.

Thiệu cũng tiếp tục thúc giục cuộc Cách mạng Hành chính như một phần tích hợp của việc bình định hoá. Trong khi cải tổ chính quyền địa phương dường như là sự khập khiễng hành chính buồn tẻ, nó là sự yếu kém triền miên thường được kể là nguyên do chính khiến giới nông dân tỏ ra lãnh đạm với CQMN. Trong khi người Mỹ nhiều năm liền đã đề xuất về sứ mạng này, về quy mô, tài trợ, và thực hiện, nỗ lực mới này hoàn toàn là vấn đề của người Việt. Thiệu còn muốn định hướng lại công vụ cho hiệu quả hơn và đáp ứng được kỳ vọng của dân chúng, một nhiệm vụ nặng nề đòi hỏi nhiều thời gian, thực nghiệm, và kiên trì. Việc đó không những chỉ là bố trí lại cấu trúc mà còn thay đổi đầu óc các thành viên của bộ máy cai trị. Mục tiêu của Thiệu là “phục vụ nhân dân tốt nhất bằng hệ thống đơn-quản lý ở mỗi cấp độ bao gồm mọi công bộc xem như ‘Cán bộ Nhà nước.'” Thiệu nhận thức được rằng mình gánh vác một bộ máy kiểu thực dân gồm toàn những viên chức chỉ biết vun vén cho mình. Với tình hình quân sự sa lầy, việc cạnh tranh tương lai với Cộng sản sẽ ở mức độ kinh tế và chính trị. Không có một cuộc đại tu cấu trúc của bộ máy hành chính, sự trung thành tiếp tục của nhân dân  – và từ đó sự sống còn của nền cộng hòa – sẽ rất hấp bênh. Như Thiệu nói trong một bài diễn văn đọc ngày 10/7 chào mừng kỷ niệm một năm Cách mạng Hành chính, “nếu làng ấp đứng vững, đất nước chúng ta sẽ đứng vững,” điều này đúng khi đối đầu với các cán bộ chính trị vũ trang nhẹ nhưng không với các binh đoàn chủ lực địch.

Chính thức hóa chương trình mất nhiều thời gian hơn mong đợi, nhưng vào giữa tháng 12 1973, một chương trình thử nghiệm được tiến hành tại hai tỉnh. Sắc lệnh chỉ thị các phòng ban địa phương thuộc những bộ khác nhau giờ phải báo cáo cho tỉnh trưởng. Trước đây họ là những đơn vị tự trị chỉ nhận chỉ thị và tài trợ từ Saigon. Cải tiến tính hiệu năng toàn bộ là nhiệm vụ đầu tiên.

Mức độ thành tựu của các phòng ban địa phương này thay đổi theo tỉnh và bộ. Chẳng hạn, một cuộc khảo sát 1,000 người ở Quân đoàn III vào giữa năm 1974 phát hiện rằng Giáo dục, Y tế Công cộng, và Phúc lợi Xã hội thường được coi là những nỗ lực tốt đẹp nhất của CQMN. Công trình Công cộng và cảnh sát bị dè bỉu là ổ tham nhũng hoặc làm việc bết bát.

Trong khi hai tỉnh thử nghiệm cho thấy sự cải thiện trong thời gian giải quyết các giấy tờ thông thường như làm thẻ căn cước, các cuộc khảo sát của sứ quán vào cuối tháng 4 phát lộ rằng các tỉnh khác ít có thay đổi. Dân chúng còn phàn nàn các viên chức địa phương “lợi dụng chức vụ của mình để vòi vĩnh,” và “không chịu khó giúp đỡ dân chúng,” và thường “không đủ năng lực giải quyết những vấn đề thậm chí thường nhật.” Tệ hơn, nền kinh tế thoi thóp đã làm trầm trọng thêm việc xao nhãng công vụ.

Tái thiết chính quyền địa phương không phải là việc dễ dàng, nhất là giữa lúc cuộc chiến đang nóng lên. Cách mạng Hành chính, như quá nhiều chương trình chính quyền tâm huyết khác, sẽ không thể đạt được mục đích do nông thôn càng ngày càng thiếu an ninh và tầm vóc quá to tát của nhiệm vụ.

Việc phong tỏa gạo cũng vẫn được chính quyền ưu tiên, nhưng kết quả cũng giống như Cách mạng Hành chính. Lập ra nhiều trạm kiểm sát của cảnh sát và việc buộc nông dân phải xin phép chở gạo từ tỉnh về Saigon đã làm hại cho nền kinh tế miền Nam bởi hạn chế dòng chảy tự do của hàng hoá nhiều hơn là thành công trong việc cắt đứt nguồn hàng tiêu dùng đến với kẻ thù. Để khởi động lại việc buôn bán gạo, ngành hoạt động cấp thiết nhất miền Nam, vào ngày 3/1/1974, Khiêm ban hành lệnh dỡ bỏ các trạm kiểm soát. Ông cũng bãi bỏ giấy phép và cho phép con buôn tư nhân tiếp tục buôn bán trực tiếp gạo của vùng đồng bằng Cửu Long.

Tuy nhiên, ông lặp lại chỉ thị của mình từ tháng 6 1973 để duy trì “quyền kiểm soát nghiêm nhặt và các biện pháp phong tỏa thích hợp.” Việc phong tỏa cho thấy chỉ thành công một phần. Các đơn vị địch trong vùng Cửu Long thu được lương thực bằng cách đánh thuế nông dân địa phương, hoặc tự tay canh tác, hoặc mua gạo từ Cao Miên.

Mặc dù những hạn chế của CQMN, sản lượng gạo vùng Cửu Long sụt giảm vào cuối năm 1973, và khan hiếm gạo nghiêm trọng ở Cao Miên do đánh nhau đã gây khó khăn cho việc thu mua gạo của các lực lượng Cộng sản, nhưng sứ quán Mỹ vẫn kết luận rằng “việc phong tỏa kinh tế đã không thành công” trong việc ngăn cản gạo đến được tay địch. Tình hình cũng tương tự trong Quân đoàn II, một vùng hàng năm đều gánh chịu một tình trạng thâm hụt gạo. Trong năm 1974, vùng này sản xuất xấp xỉ 350,000 tấn gạo nhưng nhu cầu là 550,000 tấn. Nhập cảng gạo theo chương trình PL-480 bù đắp phần thiếu hụt. Các lực lượng Cộng quân ước tính kiếm được 80 phần trăm trong số 31,000 tấn gạo họ cần từ nguồn gạo của CQMN.

Hầu hết việc buôn bán này xảy ra trong vùng duyên hải vì ở cao nguyên sản lượng gạo rất ít. Miền Bắc cũng không tiếp tế nhiều lương thực được vì VNDCCH chỉ có thể vừa đủ nuôi ăn mình. Sứ quán Mỹ báo cáo rằng trong khi Cộng quân đang “chịu cảnh thiếu hụt gạo” và thành phần tập kết thường thiếu ăn, thì CQMN lại thất bại trong việc ngăn chặn dòng lương thực chảy về họ. Các nông dân địa phương bị đe doạ phải để lại thóc trong ruộng cho lực lượng Cộng quân bồi dưỡng, và con buôn và các viên chức CQMN tiếp tục buôn bán với kẻ thù để được lợi nhuận cao hơn.

TAI ƯƠNG KINH TẾ

Điều chỉnh việc phong tỏa gạo chỉ là một phần trong việc làm sống lại nền kinh tế đang thoi thóp. Dù tình hình ảm đạm, vẫn có vài tin vui. Thu hoạch gạo năm 1974 cao kỷ lục, nhưng CQMN còn phải nhập 255,000 tấn. Vào năm 1973, nhiều công ty dầu đã cho giá thầu khai thác, trong đó 4 được chấp nhận. Két sắt nhà nước thu được 17 triệu đô la quyền thăm dò. Một vòng thứ hai được hoàn tất vào năm 1974, và thêm 30 triệu đô la chui vào két sắt. Giếng dầu chạm được đầu tiên vào ngày 28/8/1974.

Thu nhập thuế, trong năm 1973 gần như gấp đôi 1972, đến năm 1974 lại tăng vọt. Thuế VAT, dù gây bất mãn chính trị, vẫn âm thầm có hiệu quả, nhưng lạm phát đã xói mòn các thuận lợi này.

Dù vậy Saigon cũng tiếp tục đuổi theo chiếc đuôi của mình. Ngân sách 1973 đã vọt lên đến 505 tỷ đồng, phần lớn là từ chi tiêu quốc phòng và tị nạn. Ngân sách năm 1974 là 700 tỷ, và cho năm 1975 là 785 tỷ. Lương cho công chức và quân đội vẫn ngổn gần nửa ngân sách. Để chi trả cho cấu trúc chính quyền đồ sộ này và tu bổ các thiệt hại chiến tranh, ngân sách đã tăng gấp đôi trong 5 năm, tạo ra khoản thâm hụt 120 tỷ trong năm 1973 và một lần nữa trong năm 1974. Thuế tăng lên vẫn không bù đắp nổi khoảng hở ngân sách. Không chính quyền nào trên thế giới có thể duy trì sự hào phóng của mình ở mức độ này, và kết quả là hiển nhiên. Nạn thất nghiệp vẫn cao một cách dai dẳng, cho dù CQMN sử dụng 25,000 người trong các dự án kiểu ADDA khác nhau.

Lần đầu tiên trong một thập niên, chi tiêu liên quan đến dân thường đã qua mặt chi tiêu quân sự mắc mỏ đến lụn bại. Phần nhiều chi tiêu gia tăng đến từ Tổng Cục Thực phẩm của Trần Quang Minh. Minh đã đạt được mục tiêu của Thiệu là ổn định các vùng thiếu lúa gạo ở miền Nam, cơ bản là mọi nơi ở phía bắc Saigon. Nhờ đó quân nhân, công chức, và người tị nạn được cung cấp gạo miễn phí hoặc hỗ trợ giá. CQMN đã chi hơn 76 tỷ đồng để mua và chở hàng trăm ngàn tấn gạo trong năm 1974 nuôi ăn cho đồng bào mình.

Trong khi năm 1974 là một năm tồi tệ khác, nhất là đối với giới nghèo đô thị, nửa năm cuối 1974 chứng kiến nền kinh tế ổn định, cho dù ở mức độ thấp. Về cơ bản, nền kinh tế dường như đã chạm đáy và bắt đầu leo lên, cũng là niềm an ủi lạnh lẽo cho các bậc cha mẹ cố sức nuôi ăn cho gia đình. Vào tháng 12 1974 CQMN được ký một thỏa thuận viện trợ được Paris cung cấp 130 triệu franc, mặc dù Pháp cũng ký một thỏa thuận tương tự với Hà Nội. Xuất khẩu cũng đang tăng phần nào mặc dù yêu cầu nước ngoài có sụt giảm. Kế hoạch của Phạm Kim Ngọc chuyển dời miền Nam ra khỏi một thị trường lệ thuộc nặng nề vào hàng nhập khẩu đang dần dần có kết quả. Hai ngành kỹ nghệ – thép và đường – mới phôi thai nhưng đang trưởng thành. Cường tiếp tục hạ giá từng chút một đồng bạc, và vào cuối năm 1974, tỷ số đã hơn 700 ăn 1 đô la. Ông có ít sự lựa chọn. Giá OPEC tăng đã buộc ông phải tăng giá một lít xăng từ 85 đồng vào tháng 8 1973 lên 235 đồng vào tháng 2 1974. Mức lạm phát tăng 67 phần trăm trong năm 1973, năm tệ nhất kể từ 1966, và lên đến 40 phần trăm năm 1974. Hai phần ba mức tăng là do giá hàng nhập khẩu tăng lên, chủ yếu xăng dầu và đồ tiêu dùng khác. Mức lạm phát cao cũng xói mòn hiệu năng của chính quyền khi nhiều công nhân viên phải kiếm thêm thu nhập bằng cách làm thêm công việc khác hoặc vòi vĩnh vụn vặt. Miền Nam đối mặt với thực tế phũ phàng của một đất nước đang phát triển kinh tế trong một cuộc chiến dai dẳng tàn phá.

Dù miền Nam thắt lưng buộc bụng, một số nhân tố đóng một vai trò quá cỡ trong đời sống kinh tế của đất nước. Nhân tố thứ nhất là cuộc chiến, đã trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất lẫn đầu tư nước ngoài. Nhân tố thứ hai là lượng viện trợ nước ngoài. Và cuối cùng là việc CQMN không có khả năng phát triển các kỹ nghệ mới nhằm tạo ra công ăn việc làm, nuôi sống mình, và gia tăng nguồn thu để trả cho cấu trúc dân sự và quân sự cồng kềnh.

Mặc dù dân chúng không xuống đường phản đối sau hai năm nhọc nhằn và căng thẳng, nỗi bất mãn đang sôi sục. Nó đang cần một chất xúc tác, và sẽ sớm có được.

NGỌN ĐUỐC VÌ HOÀ BÌNH

Sự kiện Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào mùa hè 1963 đốt lên nỗi ghê tởm trên khắp thế giới chống chế độ Diệm. Nhưng bây giờ, chuyện cũ lại thành mới. Vào ngày 11/7/1974, một nhà sư trước đây và giờ là một thương phế binh QĐVNCH tên Bửu Phong ngồi xuống trước trụ sở  ICCS (Uỷ ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát) ở Saigon. Anh đặt trước mặt vài lá thư chống đối các vụ tấn công của Bắc Việt, rồi tự thiêu trong ngọn lửa. Cái chết của anh thôi thúc ba thương phế binh khác tự thiêu theo để phản đối các vi phạm của Hà Nội. Báo chí miền Nam tôn vinh họ là những người hùng đốt lên “ngọn đuốc vì hòa bình”. Khi sau đó không lâu hai dân thường cũng định làm tương tự, Thiệu lên tiếng yêu cầu họ dừng lại. “Âm thanh của hồi chuông báo động đã được lắng nghe,” ông nói. Khổ thay, những ai nghe nó, thay vì đoàn kết, lại làm điều ngược lại. Ngọn đuốc đã tắt trên khắp miền Nam khi những người tranh chấp cũ lại ló mặt ra và các phe nhóm bắt đầu rời bỏ nền cộng hòa. Các oán hận tôn giáo, vùng miền, và sắc tộc đã từ lâu hành hạ miền Nam, nhưng thời gian, hành động quá tay của chính mình, và đôi khi bạo lực của cảnh sát đã làm suy giảm nhiệt huyết. Vụ bùng lên cuối cùng đã xảy ra cách đây 4 năm với người Miên trong vùng Cửu Long, nhưng giờ đây, khi CQMN đã yếu kém rõ rệt, các xu hướng cũ lại trỗi dậy. Xã hội miền Nam đang bùng nổ; khi kẻ địch ở ngay trước cổng.

Đầu tiên bước vào ánh đèn sân khấu là Hoà Hảo ở vùng Cửu Long. Vào cuối tháng giêng 1974, Trung tướng Nghi đã ra lệnh Lực lượng Phòng vệ Hòa Hảo, một nhóm đào binh trang bị một hổ lốn vũ khí đang tập họp tại thánh thất của giáo phái chính, hãy giải giới và xáp nhập vào đơn vị ĐPQ/ NQ địa phương. Khi họ phớt lờ lệnh ông, Thiệu bảo Nghi để họ yên. Lý do có tính chính trị. Lãnh tụ giáo phái Hoà Hảo chủ chốt là Lương Trọng Tường, và người hậu thuẫn chính của ông là Lê Phước Sang, nguyên thành viên lập pháp trong Quốc hội Lập hiến của Nguyễn Cao Kỳ. Sau khi Thiệu giúp Sang mở Đại học Hòa Hảo vào tháng 11 1970 và bổ nhiệm ông ta làm viện trưởng, Hòa Hảo ủng hộ Thiệu hoàn toàn trong cuộc bầu cử 1971. Từ đó, mối quan hệ giữa Hòa Hảo và CQMN duy trì được sự thân thiết trừ vấn đề do bọn đào ngũ gây ra.

Mặc dù hai giáo phái Hoà Hảo chính vào tháng 2 1973 đã đồng ý giải quyết những lấn cấn cũ giữa họ và sáp nhập với nhau, nhưng hiệp ước ký kết chết yểu. Tranh cãi bùng phát thành đánh nhau công khai khi các tên sát thủ vô danh phục kích ô tô của Sang vào ngày 1/4/1974, giết chết hai cận vệ. Sang không hề hấn gì, nhưng Thiệu bực tức vì vụ ám sát. Ông ra lệnh giải tán Lực lượng Phòng vệ, nói rằng CQMN “không thể chấp nhận sự tồn tại của một tổ chức vũ trang bên ngoài QLVNCH.” Thay vì đầu hàng, Tường yêu sách Thiệu phải cho các “tu sĩ” Hòa Hảo được miễn quân dịch. Vấn đề cũ về việc Hòa Hảo đòi độc lập, vốn đã bị Diệm dập tắt vào năm 1956, được khơi lại. Thiệu gặp Tường vào ngày 21/6 và đồng ý chính thức công nhận ông ta làm lãnh đạo giáo hội, nhưng phải nộp lại vũ khí. Một số súng được trả lại, nhưng rồi Tường nuốt lời và giữ lại đa số súng, tuyên bố rằng Lực lượng Phòng vệ của ông giờ là LLNDTV. Thiệu một lần nữa phớt lờ vấn đề, và tình hình tạm ổn cho đến tháng 11 1974. Tuy nhiên khi QĐNDVN tràn vào Tỉnh Phước Long đầu tháng giêng 1974, Tường quyết định thúc ép vấn đề độc lập của dân quân. Nhà lãnh đạo Hoà Hảo đề nghị được  cung cấp 75,000 quân để bảo vệ lãnh địa Hoà Hảo nếu được QĐVNCH cấp vũ khí. Dù Tường nhấn mạnh mình còn hậu thuẫn Thiệu, ông tin một CQMN đang tuyệt vọng sẽ nhận lời. Ông đã phán đoán sai khi cho rằng tổng thống Thiệu đã mất tính kiên nhẫn, và khi giáo phái Cao Đài trong tháng đó  cũng phát ngôn là mình đi theo chính sách trung lập, ông liền ra tay hành động, không cho vai trò thống trị của chính quyền bị xói mòn. Ông ra lệnh cảnh sát bắt đầu bắt gom các tên đào ngũ Hoà Hảo. Vào ngày 30//1975, cảnh sát bắt giữ một số lãnh đạo Hoà Hảo, sau đó hốt trọn ổ. Vào đầu tháng 2, một số Hoà Hảo bị giết chết trong vài trận đụng độ vũ trang, 600 người bị bắt giữ, và gần 200 vũ khí bị tịch thu. Số còn lại rút về thánh thất của Tường trong thánh địa Hoà Hảo, nhưng cảnh sát , hy vọng vỗ yên tình hình, không tấn công thánh thất. Tường vẫn cố thủ trong thánh thất, giấc mơ Hoà Hảo độc lập đã tan vỡ. Việc đám dân quân ô hợp của ông còn không địch lại cảnh sát đã làm tiêu tan ý nghĩ ngông cuồng quân sự của mình.

Trong khi đó, một cái gai cũ khác, phe nổi dậy người Thượng FULRO đã trở lại. Vào mùa hè 1974, một nhóm FULRO rời khỏi căn cứ của mình ở Cao Miên và đi về căn cứ địa của bộ tộc Ra-đê ở Tỉnh Đắc Lắc vùng Trung Nguyên. Họ bắt đầu cướp bóc các nông trại người Việt và trút cơn thịnh nộ xưa của người Thượng lên các người Kinh lên xâm chiếm đất của họ. Họ chỉ đích danh các công ty xuất khẩu gỗ (một ngành kỹ nghệ chủ lực) đang đốn sạch từng vạt rừng. Hơn nữa, dù trước đây đã hứa hẹn, chính quyền đã không thể cung ứng đủ dịch vụ cho các đồng bào Thượng, và Quân đoàn II đã ép buộc họ vào sống trong các trại định cư lớn để bảo vệ khỏi bị Cộng quân tấn công. Việc kích động của FULRO có hiệu quả, và những binh sĩ Nghĩa quân tỉnh mộng bắt đầu đào ngũ, mang theo vũ khí của mình. Tỉnh trưởng Đắc Lắc báo cáo rằng lực lượng “ĐPQ/NQ Thượng dưới quyền chỉ huy của ông không thể tin cậy khi giao việc chống lại các anh em Thượng của mình.”:Hơn nữa, bộ chỉ huy  tỉnh thú nhận rằng mình không còn nhận được “tin tình báo đáng tin cậy  về vị trí của Cộng quân.”

Vào cuối năm 1974, các vụ đột kích của FULRO đã gia tăng đến mức QĐVNCH phải phái vài tiểu đoàn Biệt động truy kích nhóm nổi dậy. Trong khi FULRO không hơn một vụ quấy rối, thì tinh thần chiến đấu của ĐPQ/NQ người Thượng xuống thấp do bất mãn với CQMN là một điềm báo trước. Tệ hơn, chỉ huy tỉnh không còn nhận được tin tình báo về các cuộc chuyển quân của Cộng sản sẽ cho thấy sự thất thủ của Cao nguyên Trung phần và miền Nam khi QĐNDVN mở cuộc tấn công và đánh chiếm thành phố Ban Mê Thuộc vào tháng 3 1975. 

Giáo phái Cao Đài ở Tây Ninh dọc theo biên giới Cao Miên cũng chộn rộn. Sự thất thủ phần phía bắc xa xôi của Tỉnh Phước Long và sau đó việc lực lượng QĐNDVN đánh chiếm trạm truyền tin của QĐVNCH trên đỉnh Núi Bà Đen (nơi toạ lạc thánh thất Cao Đài) vào ngày 6/1/1975 bởi buộc họ đánh giá lại lập trường của mình.

Vào giữa tháng giêng 1975, Chưởng pháp Cao Đài thông báo với Khiêm là lãnh địa của họ nên được xem là “vùng phi tranh chấp”. Dù họ không chống đối CQMN, nhưng họ cũng không còn hậu thuẫn tích cực nó. Giáo phái Cao Đài quay về với chính sách từ thời Diệm: sống chung hòa bình giữa hai bên.

Giữa Hoà Hảo, FULRO, và Cao Đài, xu hướng ly tâm cũ của miền Nam đang trở lại, trở nên trầm trọng thêm bởi các lực lượng nằm ngoài quyền kiểm soát của Thiệu. Một ý thức bi quan trong dân chúng đã xuất hiện vì sức ép quân sự của Cộng sản, những triển vọng mờ mịt của hòa bình, một nền kinh tế quặt què, và viện trợ Mỹ sút giảm. Với cuộc bầu cử tổng thống năm sau đang lù lù hiện ra, phe phái tích cực chính trị bắt đầu tìm cách thách thức khả năng giải quyết những vấn nạn khác nhau của quốc gia. Con dao găm thứ nhất là nạn tham nhũng.

TAI ƯƠNG THAM NHŨNG

Việc loại bỏ Nguyễn Văn Ngân không chỉ là một lớp đất mặt thuộc bộ máy hành chính mà còn là kết quả của một nhân tố khác: một cuộc điều tra tham nhũng đe dọa chính gia đình Thiệu. Trước tiên, tuy nhiên, xảy ra hai vụ tai tiếng tham nhũng được loan truyền rộng rãi đã chạm đến bậc thang cao nhất của hành pháp. Chấn động nhất là vụ bắt giữ, vào đêm 31/1/1974,  một đoàn xe cam nhông của quân đội chứa đầy thuốc lá ngoại và rượu Martell trên đường về Saigon từ một cảng ở Tỉnh Long An, nơi hàng lậu được dỡ xuống. Báo chí nhào vô suy đoán tên tuổi người tổ chức tài chính của chuyến hàng, nhưng chỉ có các sĩ quan cấp dưới bị bắt tại trận và bị kêu án. Rồi cảnh sát bắt giữ bà xã của Phạm Văn Đông vào giữa tháng 2 vì tội điều hành một sòng bạc bất hợp pháp. Sau đó, các tin đồn về vụ oa trữ đồ tiêu dùng – một hoạt động đã có từ lâu của các nhà nhập khẩu nhằm thu lợi nhuận trời cho – bắt đầu được loan truyền. Tìm cách đánh lạc hướng sự chú tâm của công luận, vào ngày 17/4, Thiệu chấp thuận đề nghị của Ngân yêu cầu Thượng viện thành lập một ủy ban điều tra vấn đề phân phối phân hoá học. Giống lúa Thần Nông cần lượng phân đạm nhập khẩu cao, vậy mà dù nhập khẩu số lượng lớn, nông dân buộc phải mua từ các trung gian với giá bị đẩy lên cao vì các kho phân của nhà nước trống trơn.

Thượng viện vào cuộc một cách nghiêm túc và phát hiện một vài công ty nhập khẩu đã làm giả  những giấy bán khống cho chính quyền và sau đó tuồn phân bón ra chợ đen. Một công ty trục lợi lớn là Công ty Hải Long. Các nghị sĩ bị sốc khi khám phá ra người chủ công ty là Nguyễn Xuân Nguyên hóa ra là anh rễ bà Thiệu. Khi họ báo cáo việc này cho Thiệu vào giữa tháng 5, Tổng thống kết luận rằng Ngân đã vận động cuộc điều tra để làm mất thể diện gia đình ông và chính ông. Thiệu thuyết phục Thượng viện không công khai việc dính líu của gia đình mình kẻo phe phản chiến Mỹ lợi dụng lấy cớ để cắt viện trợ. Rồi ông đuổi Ngân. Vào ngày 31/5, Thượng viện ra báo cáo nêu tên ba dân biểu Hạ viện và 30 doanh nhân có liên can nhưng giảm nhẹ vai trò của công ty Hải Long.

Thượng nghị sĩ Trương Tiến Đạt, một người Công giáo độc lập chống đối chính quyền Thiệu, tập kết chống lại sự khuất tất. Vào ngày 14/6, ông gửi một bức thư yêu cầu Thiệu xử bắn 8 sĩ quan cao cấp vì tội tham nhũng. Hành động của ông cổ vũ một nhóm giáo sĩ Công giáo tổ chức một cuộc tập kết vài ngày sau đó tại một nhà thờ ở ngoại ô Saigon để phát tán một thỉnh nguyện thư mà họ viết để tố cáo tác hại xói mòn của nạn tham nhũng. Mặc dù cảnh sát ngăn chặn họ, Thiệu không thể phớt lờ một trong những thành phần hậu thuẫn ông quan trọng nhất. Vào ngày 19/6 và một lần nữa vào ngày 10/7, ông ra lệnh thi hành các biện pháp cứng rắn trừng trị nạn hối lộ.

Ông hiếm khi biết rằng các mệnh lệnh ông, ban phát quá thường nhưng cũng quá thường bị bỏ qua, sẽ ám ảnh ông. Một que diêm đã đốt lên, và không khác gì Huế năm 1963, thành phố sẽ một lần nữa là vùng đất dễ bắt lửa cho một phong trào đối kháng quốc gia. Tuy nhiên, lần này chính người Công giáo chứ không phải Phật tử sẽ xuống đường đòi hỏi một ban lãnh đạo chính quyền mới. Trong khi chủ nghĩa vùng miền đã rút lui khỏi tâm thức chính trị của miền Nam, thì sức xiết chặt của tôn giáo vẫn còn có thể cảm nhận được. Mặc dù giới lãnh đạo của các tôn giáo lớn, Phật giáo và Công giáo, đã rút lui khỏi thành lũy chính trị, sức nóng còn toả ra trong một vài phân khúc của cả hai giáo hội. Họ tìm thấy ngòi nổ trong vấn đề tham nhũng.

Sau khi cảnh sát ngăn chặn việc thỉnh nguyện của các giáo sĩ, nhóm thành lập Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Những (PTNDCTN). Phong trào do Cha Trần Hữu Thanh, sinh ngày 8/8/1915, tại Tỉnh Quảng Trị. Sau khi được thụ phong linh mục vào năm 1942, giáo xứ đầu tiên của ông là ở Huế. Khi ông đến Saigon sau Cuộc Chiến Đông Dương Thứ Nhất, Tổng thống Diệm cử ông thành lập Thanh niên Cộng Hòa và cuối cùng cầm đầu Trường Nhân Vị. Ông xung khắc với nhà Ngô khi lên án em trai Diệm, Ngô Đình Cẩn, tội tham nhũng. Ông bỏ Saigon đi sang Bỉ, nhưng khi trở về, ông đến Học viện Đà Lạt dạy chủ nghĩa chống cộng nhiều năm liền.

Trong lúc ông tranh đấu cho công bình xã hội và hỗ trợ người nghèo, tinh thần chống cộng căm thù của ông và sự quen biết với hàng ngàn sĩ quan QLVNCH cho thấy Thiệu sẽ phải gặp khó khăn nếu dỡ trò chụp mũ ông là tay sai của Cộng sản. Người Công giáo miền Nam không chỉ là những người duy nhất căm tức nỗi bất công chính trị và xã hội. Tổng thống Park Chung-hee  của Nam Hàn đã áp đặt các biện pháp áp bức nặng nề vào tháng 10 1972 bao gồm thiết quân luật và xử tội chết cho một kẻ chống đối. Vào ngày 7/7/1974, cảnh sát Đại Hàn bắt giữ Giám mục Daniel Chi, một trong các lãnh đạo tôn giáo lừng danh nhất của Nam Hàn, vì đã giúp tiền cho một người bất đồng chính kiến hồi đầu năm đó để tổ chức những cuộc biểu tình chống chính quyền. Trong tù, Chi cho lưu hành một “phát biểu của lương tâm” trong đó ông lên án Park bóp nghẹt “các quyền cơ bản của con người … qua các sắc lệnh khẩn cấp.” Ông cũng chỉ trích toà án quân sự của Đại Hàn (giống như của miền Nam) đã kết án tử hình cho 14 người và nhiều án nặng cho nhiều người khác. So với Park, Thiệu như một con chiên trong dàn hợp xướng nhà thờ.

Ngày hôm sau khi Chi bị bắt, 2,000 giáo dân tụ tập phản đối vụ bắt bớ. Chính quyền Park đáp trả bằng cách tuyên bố nhóm người này chỉ là một “nhóm nhỏ những người bất đồng bất mãn” và rằng tính áp bức của Park là do “di sản Khổng giáo” của Đại Hàn coi trọng bổn phận hơn quyền cá nhân. Vị thế của Park không bị đe dọa bởi vì, như Thiệu, ông đã cẩn thận vun trồng lòng trung thành của quân đội. Liệu người Công giáo miền Nam có lấy cảm hứng từ các sự kiện ở Đại Hàn hay không thì ta không biết, nhưng họ chắc chắn chú ý đến. Thiệu ắt hẳn là có khi tin tức nổ ra về vụ một sát thủ đã bắn Park vào ngày 15/8 nhưng hụt và giết chết vợ ông. Kẻ sát thủ thú nhận  mình là  người Cộng sản, nhưng tình hình bất ổn xã hội ắt hẳn cung cấp một che đậy hoàn hảo cho âm mưu. Một tháng sau, một ngài Park bị trừng phạt bắt đầu dỡ bỏ các sắc lệnh.

Thiệu không quên sự bất ổn đang gia tăng về nạn tham nhũng. Trong các bài diễn văn ông gọi tham nhũng là một nỗi nhục quốc thể, và ông cách chức hai sư đoàn trưởng vào ngày 7/9 vì tội ăn cắp. Lấy hành động của tổng thống làm bình phong, ngày hôm sau Cha Thanh ra tay. Ông dẫn đầu một đám đông ước 500 người đi về hướng toà thị chính Huế, nhưng cảnh sát ném lựu đạn cay để giải tán đám đông. Như Giám mục Chi, Thanh đáp trả bằng cách lưu hành một bản cáo trạng bốc lửa. Thanh ấn hành “Bản Cáo trạng Số 1”, lên án Thiệu lạm dụng chức vụ để mưu cầu lợi ích cá nhân. Ông cho rằng Thiệu đã tậu những tài sản kết sù, làm rõ vụ công ty Hải Long dính líu vào vụ phân hóa học đầy tai tiếng, xiên xỏ vụ Bệnh viện Vì Dân (công trình từ thiện tâm đắc của bà Thiệu) không nhận chũa bệnh cho người nghèo, và cáo buộc mẹ của Hoàng Đức Nhã (một nhà buôn bán gạo nổi tiếng) lấy cắp gạo của nhà nước. Đây là một tập hợp những tố giác tồi tệ nhất chống lại Thiệu kể từ vụ ông bị lên án tiếp tay bán ma túy. Việc Thanh có nguồn tin nội bộ về vụ dính líu của công ty Hải Long trong vụ phân hóa học cho thấy một sĩ quan cao cấp đã rò rỉ thông tin ra ngoài để gây rối cho tổng thống. Trong khi mọi nghi ngờ đổ dồn về Khiêm, vấn đề chưa hề được chứng minh.

Thiệu ngay lập tức phủ nhận lời cáo buộc và ra lệnh không đàn áp người chống đối. Rồi ông cách chức tỉnh trưởng vì các hành động của cảnh sát ở Huế. Thay vào đấy Thiệu bí mật thuyết phục các chức sắc lãnh đạo Công giáo cô lập Cha Thanh. Mưu tính của ông có kết quả và nhóm của Thanh, dù có thiện ý, không nhận được hậu thuẫn của giáo hội. Các chức sắc giáo hội còn ủng hộ Thiệu mặc dù sự khắng khít đã phải nhạt từ 1972. Vì Thiệu đại diện cho chính quyền, Tổng Giám mục Bình, dù biết sự bất bình của công chúng về nạn tham nhũng, lại lo sợ hơn nếu các nỗ lực của Cha Thanh gây ra tình trạng mất ổn định ngay khi QĐNDVN đang tăng cường sức tấn công.

Phe Ấn Quang cũng vẫn đứng bên lề. Họ cũng sợ rằng một “thay đổi giới lãnh đạo chính quyền tại thời điểm nguy ngập này trong lịch sử của đất nước” chỉ tiếp tay cho Cộng sản. Cả hai giáo hội đang bước đi trên một con đường phải chăng: họ căm thù tham nhũng nhưng không muốn vin vào đó mà công kích cá nhân Thiệu. Hai nhóm chống đối khác, thương phế binh và sinh viên, cũng giữ im ắng. Sinh viên, từ lâu ban đại diện thân cộng của họ đã bị hốt sạch chỉ còn lại các công an chìm xâm nhập, giờ chỉ tập trung vào công tác xã hội và học tập.

Tuy nhiên, một số nhóm có tiếp tay Cha Thanh, nhất là giới báo chí miền Nam sau khi Bộ Thông tin của Nhã tịch thu báo và kiện ba nhà xuất bản đã in ấn Cáo trạng Số 1. Bộ tuyên bố rằng luật báo chí sửa đổi cấm vu cáo xuyên tạc. Các nhà báo lập tức phản đối hành động của ông ta và luật báo chí khắt khe bằng cách đốt báo trên đường phố. Hành động của họ thuyết phục Đại Việt Cách Mạng quay ra hậu thuẫn Thanh, trong khi nghị sĩ Vũ Văn Mẫu thành lập Lực Lượng Hòa Giải Dân Tộc Phật giáo để đòi hỏi hai bên tìm kiếm hoà bình. Trong khi các tổ chức khác nhau này không đoàn kết, đoàn thể chính trị miền Nam đang bắt đầu rạn nứt.

Tìm cách gỡ ngòi nổ cho tình thế, vào ngày 1 tháng 10, Thiệu nói với quốc dân. Một lần nữa ông nhấn mạnh đất nước chuẩn bị cho một cuộc công kích ồ ạt của Hà Nội và rằng ông đã có các động thái để giải quyết nạn tham nhũng bằng cách cách chức hai sư đoàn trưởng, và ông chỉ ra rằng trong suốt mùa hè ông đã chỉ đạo cho Bộ Tổng Tham mưu Liên quân điều tra “các lính ma” trong hàng ngũ ĐPQ/NQ ở Quân đoàn IV. Mặc dù một lần nữa ông phủ nhận lời cáo buộc của Cha Thanh, ông lại phạm sai lầm nghiêm trọng khi tuyên bố “những ai đưa ra những vu cáo như vậy chắc chắn là tay sai của Cộng sản hoặc ngoại bang.”

Đó là bài diễn văn tệ hại nhất trong đời tổng thống của ông. Gọi Thanh là tay sai của Cộng sản ngay lập tức bị phản pháo, trong khi nhiều người cho rằng ông chỉ lải nhải mà không đưa ra giải pháp nào cho vấn đề miền Nam. Thậm chí sứ quán chịu nhìn nhận ông đã thất bại trong việc tập kết ‘các lực lượng của mình trong khi tạo cho nhóm chống đối cực đoan một số điểm đặc biệt để làm mới lại các công kích của mình.” Cha Thanh nhanh chóng tổ chức quần chúng chống đối và tố cáo Thiệu trong các nhà thờ. Sau đó ông ta tăng dần sức ép và yêu cầu tổng thống từ chức. Các nhóm khác tham gia, bao gồm những người trước đây đứng bên lề. Vào ngày 10/10, chung quanh là  200 nhà báo và các hậu thuẫn viên biểu tình ở Saigon, tại đó bà Ngô Bá Thành “bất khuất” nhanh chóng tham gia vào. Vài ngày sau, 13 tờ báo Saigon đình bản một ngày để phản đối luật báo chí mới. Thương Phế binh cũng lưu hành một bức tâm thư yêu cầu chính quyền cải cách, và vào ngày 20/10, một băng sinh viên ném đá tấn công trụ sở Quốc hội. Phá vỡ cửa sổ và lật đổ đồ đạc, họ cũng đòi Thiệu từ chức.

Với những lời kêu gọi từ chức dâng cao, Thiệu đối mặt với vấn đề nội bộ bùng nổ nhất của mình kể từ tháng 4 1970. Ông cần đương đầu với địch thủ đủ vững chắc để minh chứng mình còn kiểm soát vậy mà không tạo ra các thánh tử đạo mà còn làm phát sinh sự chống đối từ quần chúng đô thị còn ù lì với chính trị. Vào cuối tháng 10, khi một vài toà soạn báo nổi tiếng đòi Nhã từ chức, nó cho ông một lối thoát. Để xoa dịu làn sóng chỉ trích, vào ngày 24/10, ông sa thải 4 tổng trưởng, trong đó có Nhã và Nguyễn Đức Cường. Cả hai đã trở thành cột thu lôi cho hành pháp. Thiệu cam kết cải thiện quan hệ với báo chí và phát biểu lý do ông thay các tổng trưởng kinh tế là để hỗ trợ dân nghèo. Ông xác nhận rằng kinh tế “phải theo sát hiện thực và công bình với toàn dân” và “chính sách phát triển phải dựa trên doanh nghiệp tư nhân dưới sự chỉ đạo của nhà nước để thỏa mãn lợi ích của đa số dân chúng.”

Mất Nhã khiến Thiệu bị cô lập. Chỉ còn một nhóm thân cận nhỏ mà Thiệu tin cẩn, như trưởng ngành tình báo Nguyễn Khắc Bình, vẫn còn ở lại chính quyền. Là người kiểm duyệt chủ chốt của CQMN, Nhã bị cách chức vì quan hệ xung đột với báo chí, nhưng trong thực tế, Khiêm đã hăm he với Thiệu là mình sẽ từ chức nếu không loại bỏ Nhã. Cường là một con dê tế thần thuận tiện cho vụ tai tiếng phân bón. Khiêm chọn một chủ ngân hàng nổi tiếng, Nguyễn Văn Diệp, thay thế Cường, không biết Diệp là một cán bộ Cộng sản nằm vùng.

Thiệu cũng bổ nhiệm Nguyễn Văn Hảo làm Phó Thủ tướng mới đặc trách phát triển kinh tế. Lần đầu tiên kể từ 1966, Thiệu đã tạo ra một “siêu-tổng trưởng” để giám sát kinh tế. Dù vậy, Hảo không sở hữu một tầm nhìn mới để có thể vực dậy nền kinh tế, cũng không thể thuyết phục Quốc hội Mỹ cố chấp cho thêm viện trợ.

Sau khi xốc lại nội các, Thiệu tiếp tục tề gia. Ngày hôm sau, ông loại ra khỏi quán đội 377 sĩ quan vì đủ loại tội, phần lớn là tham nhũng. Cuối tuần đó, ông cũng cách chức 3 trong 4 tư lệnh quân đoàn. Tư lệnh quân đoàn duy nhất ở lại là Trưởng ở Quân đoàn I. Thiếu tướng Phạm Văn Phú thay thế Toàn ở Quân đoàn II, và Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam thay Nghi ở Quân đoàn IV. Không có hành động nào trong số này thoả mãn lực lượng chống đối.

Thay vì hạ nhiệt lò lửa chính trị, vật tế của Thiệu chỉ xúi giục họ thêm những tối hậu thư. PTNDCTN phát động một cuộc biểu tình vào ngày 31/10 kết quà là việc đụng độ đầu tiên với cảnh sát.

Sau đó, Cha Thanh cam kết tranh đấu bất bạo động, nhưng một lần nữa ông kêu gọi Thiệu từ chức. Mặc dù Ấn Quang từ chối công khai đứng về phe Thanh, họ giờ đây cũng đòi Thiệu từ chức. Hai tuần sau, một nhóm 45 nghị sĩ và dân biểu chống đối củng yêu cầu Thiệu từ chức, cho thấy quốc hội đã đánh mất nhiều tin cậy nơi tổng thống.

Sau đó tổng thống còn chịu một cú đấm khác khi lãnh tụ lao động Trần Quốc Bửu đọc một bài diễn văn yêu cầu xoá sạch tham nhũng và chỉ trích gay gắt cả hai bên thiếu nỗ lực tìm kiếm hoà bình. Từ lâu được coi là thân chính quyền nhưng không thân Thiệu, lời nói của ông còn nặng kí đối với nhiều người. Mặc dù ông không công khai đòi Thiệu từ chức, nó đúng là một phát súng bắn Thiệu. Dù vậy, diễn văn đòi hoà bình của ông không chỉ mang tính cơ hội chính trị; mà ông còn chịu đựng một nỗi đau lòng. Con trai trưởng của ông gần đây vừa hy sinh trong một trận đánh. Vào ngày 18/10, con trai Bửu đang dẫn đầu một đạo quân đánh chiếm lại một tiền đồn vừa mới bị địch tràn chiếm thì bị phục kích. Ông không chỉ là chính trị gia lão thành miền Nam duy nhất có con bị tử trận trong đạn lửa của kẻ thù. Vào ngày 6/4/1972, một con trai của Phan Quang Đán, một phi công miền Nam, cũng bị bắn hạ ở mặt trận Quảng Trị trong khi oanh kích trận địa xe tăng địch. Báo cáo chỉ ra anh đã hủy diệt vài xe tăng trước khi bị một phi đạn bắn trúng. Cuộc chiến hiếm khi chừa một gia đình nào.

Trong khi một nhân vật đáng kính như Bửu không gặp rắc rối gì khi gián tiếp lên án Thiệu, thì việc đòi tổng thống từ chức đã đâm thủng phong trào Cha Thanh. Ông không tranh thủ được sự hậu thuẫn của các nhóm quyền lực lớn, và PTNDCTN sớm hết hơi. Nỗ lực chống đối tiếp theo của ông xảy ra vào ngày 28/11, nhưng số người tham dự sụt giảm đáng kể so với các lần biểu tình trước. Chỉ  có báo chí còn hậu thuẫn ông, nhưng chỉ lấy ông làm phương tiện để thuyết phục Thiệu thu hồi luật báo chí. Khi QĐNDVN tấn công Phước Long vào tháng 12, tiêu điểm ngay lập tức trở lại với kẻ thù Cộng sản.

Mặc dù Cha Thanh đã làm nổi bật vấn đề chủ chốt đã hủy hoại xã hội miền Nam, trong cái náo động người ta đã đánh mất nhận thức rằng khả năng được tham gia tự do ngôn luận và hội họp mà không bị làm khó dễ là các quyền cơ bản của một xã hội dân chủ. Mặc dù Thiệu đã làm đúng khi không phái cảnh sát hỏi thăm vị cha linh mục thiện lành, ông lại xem các đấu tranh của Thanh là tiếp tay cho Hà Nội. Nỗi sợ Cộng sản gây hấn của Thiệu khiến ông không cảm thông được với đồng bào mình đã mệt mỏi vì tan nát hy vọng cho hòa bình và sợ hãi một viễn ảnh ê chề của chiến tranh và kinh tế. Đối với Thiệu, sự bất đồng chính kiến chỉ tiếp tay cho Cộng sản. Ông bảo với Phó Tổng thống Hương vào cuối tháng 11 rằng “những phần tử chống đối thuộc Công giáo đó tìm kiếm một thoả hiệp với Cộng sản như con đường tắt để đạt được quyền lực cho chính họ là những tên cộng sản giả hiệu… Nếu các kế hoạch chính trị mà các phần tử ngây thơ này chủ trương được đem ra thi hành, bọn Cộng sản sẽ nhanh chóng thống trị chính quyền.”

Thiệu khao khát sự đoàn kết chống cộng của phe Quốc gia sẽ thuyết phục được Bộ Chính trị là họ không thể thắng. Ông đúng khi cho rằng Hà Nội, bị trói buộc bởi học thuyết cho rằng một đảng vô địch đang lãnh đạo nhà nước và nhân dân miền Bắc, xác định những cuộc đấu tranh ở miền Nam là “các xung đột nội bộ” làm lộ rõ sự yếu kém của Saigon. Vậy mà ông không thể kết hợp được chủ nghĩa chính trị trung tâm vừa tả khuynh vừa hữu khuynh khiến đất nước trở nên yếu hèn, càng trầm trọng thêm với những buồn thảm về kinh tế. Những câu hỏi chính trị trọng đại này, tuy nhiên, sắp sửa trở nên vô nghĩa. Quân đội Nhân dân đang tập trung lực lượng cho một trận công phá cuối cùng.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s