Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 22)

 CHƯƠNG 22 : “CHÚNG TA PHẢI SIẾT CHẶT TAY SÚNG”

aaa

George J. Veith

Quế Anh dịch

Trong Bóng Tối của Hoà Bình

Khi miền Nam bước vào một thế giới hòa bình lạ lẫm, Thiệu phải thực hiện một thỏa thuận phức tạp. Trong số nhiều điều khoản, hiệp định quy định một cuộc ngừng bắn và thiết lập một Uỷ ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (ICCS) hợp bởi các quan sát viên từ bốn nước ngoài để xem xét và báo cáo về những vi phạm ngừng bắn. ICCS cũng thành lập hai đội để tổ chức việc phóng thích các tù binh và giải quyết rốt ráo các vấn đề quân sự khác. Cuối cùng, Uỷ ban ra lệnh thành lập một “Hội đồng Quốc gia về Hoà giải và Hòa Hợp Dân Tộc QGHGHHDT” giữa Saigon, CQCMLT, và Lực Lượng Thứ Ba (LLTB) trung lập để tổ chức bầu cử. Kiểm điểm lại nguồn lực, Thiệu cho rằng muốn thắng trong hòa binh, ông cần chỉnh đốn các khiếm khuyết quân sự và chính trị tồn tại từ lâu. Thiệu bước vào thời kỳ hậu chiến với ba mục tiêu đối nội chủ chốt. Trước tiên, đoàn kết về mặt chính trị những người Quốc gia, cho dù đó là một cuộc hôn nhân gượng ép, để thắng trong cuộc cạnh tranh bầu cử với CQCMLT. Ông tin rằng phe Cộng chỉ thắng đâu đó trong khoảng 10 và 15 phần trăm số phiếu bầu, nhưng ông không phó mặc cho may rủi. Thứ hai, phát triển kinh tế để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân nhằm thuyết phục nhân dân bầu cho mình. Và cuối cùng, tiến hành một cuộc Cách mạng Hành chính nhằm chỉnh đốn chính quyền địa phương và bài trừ tham nhũng. Đạt được các mục tiêu này sẽ tránh thủ lòng trung thành của nông dân và hỗ trợ ông thắng cử trước CQCMLT.

Trong khi cẩn thận theo dõi các động thái quân sự và ngoại giao của phe Cộng để xác định các toan tính của họ, Thiệu hy vọng mình có thể thành tựu các chính sách này trong một năm hòa bình. Trong khi đó, QĐNDVN tiếp tục thách thức ông về quân sự trong khi CQCMLT chiến đấu với ông về mặt chính trị. Năm 1973 sẽ đánh dấu một thời khắc của xáo trộn tạo bởi chiến tranh tiếp diễn và tình cảnh bức bách về kinh tế, thiên tai đẩy nhanh miền Nam đến chỗ chết.

ĐÁNH GIÁ MIỀN NAM

Vào cuối tháng giêng 1973, khả năng bảo vệ đất nước của QLVNCH không có yểm trợ hỏa lực của Hoa Kỳ vẫn còn có vấn đề. Mặc dù QĐNDVN đã yếu đi nhiều và Nixon tuyên bố Liên Xô và Tàu đã hứa sẽ không hỗ trợ việc tái vũ trang ào ạt nữa, nhưng QĐNDVN giờ đây đã chiếm đóng một cách hợp pháp nhiều vùng lãnh thổ miền Nam. Họ kiếm soát bắc Quảng Trị, nam Quảng Ngãi, vùng núi dọc biên giới Lào từ vùng phi quân sự xuống đến tận bắc Kontum, và tây Bình Định ở Quân đoàn III. Những khu vực này và những chốt khác do Cộng quân kiểm soát, nhất là ở những vùng thưa thớt dân cư, tạo ra điều được gọi là một vụ ngừng bắn “da beo”. Khi kết hợp với những vấn đề an ninh địa phương đang diễn tiến như đóng thuế và ám sát, những đốm da beo sẽ làm sút giảm ghê gớm tình hình an ninh nội bộ.

Những điểm phòng thủ bên ngoài thậm chí còn thách thức hơn. Về địa lý, đất nước có vùng biên giới dài, chưa phân định rõ ràng nơi kẻ thù có thể hồi phục trong các căn cứ yên ổn. Cao Miên lẫn Lào đều không có lực lượng quân sự đủ mạnh để tấn công các căn cứ địa của QĐNDVN hoặc ngăn cấm các tuyến đường tiếp tế của kẻ thù. Địa hình cho phép Cộng quân có thể ẩn nấp rồi tập kết đông đảo mà không bị phát hiện và rồi tung ra các trận tác chiến dữ dội. Những bất lợi chiến lược này ảnh hưởng nguy kịch đến sự phòng vệ quốc gia và kết hợp với các khiếm khuyết nền tảng khác như Bộ Tổng Tham mưu Liên quân bất lực và sự hoàn toàn lệ thuộc vào việc tái tiếp tế của Mỹ.

QLVNCH cũng cần chỉnh đốn những tai họa đã bắt rễ trong giới lãnh đạo, loại bỏ tình trạng tham nhũng gây chia rẽ, chấn chính nhuệ khí, và giải quyết nạn đào ngũ và gia tăng phúc lợi. Tổng động viên đã duy trì tổng quân số 1.1 triệu, bằng quân số từ tháng giêng 1972 mặc dù đã chịu thương vong 150,000 người trong năm 1972. Tuy nhiên, chỉ 290,000 của tổng số đó là binh sĩ chính quy. Khoảng 400,000 là Địa phương quân/Nghĩa quân, trong khi phần còn lại là lực lượng yểm trợ tác chiến hoặc hành chính. Hoa Kỳ đã thay thế các trang thiết bị bị phá hủy trong hai chương trình tái tiếp tế vào cuối 1972 có tên Tăng Cường và Tăng Cường Thêm, nhưng phần nhiều máy móc cung cấp bị hao mòn hoặc gần như quá hạn.

Việc Thiệu ra lệnh phải bảo vệ từng tấc đất của đất nước, một quyết định chính trị để khẳng định chủ quyền CQMN, đã khiến QĐVNCH và ĐPQ/NQ kéo giãn đội hình và thường bất động trong việc phòng thủ tĩnh. Tệ hơn nữa, hai đơn vị Tổng Trừ bị  chính của QĐVNCH – các sư đoàn  Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến – giờ đây đã bị kẹt ở Quân đoàn I, nơi tập trung đậm dặc QĐNDVN nhất. Điều này khiến chỉ còn lại ba Nhóm Biệt động là lực lượng dự trữ và Không Lực Việt Nam là sai biệt hoả lực chính. Với quá ít lực lượng dự bị, một trận tấn công cùng lúc của QĐNDVN tại hai vùng quân sự hay nhiều hơn sẽ gây khó cho QĐVNCH. Với việc quân đội VNCH quá dàn mỏng, một thảm bại lớn có thể tạo ra một phản ứng dây chuyền và phá vỡ toàn bộ tư thế phòng thủ của xứ sở, đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn, đó chính xác  là điều đã xảy ra.

Về chính trị, Thiệu đã sử dụng 6 tháng cuối cùng của năm 1972 để tăng cường sự kiểm soát của chính quyền. Ông đã xiết chặt các thủ tục An Trí để bắt giữ người Cộng sản vào thời bình, phát động việc bố ráp các cảm tình viên của Cộng sản tình nghi, và gia tăng án phạt tù cho.một số đối tượng. Tuy nhiên, hiệp định bắt buộc ông phóng thích hơn 5,000 dân thường đã bị cảnh sát bắt vào năm 1972. Ông cũng hạn chế báo chí ồn ào và cho phép tỉnh trưởng được quyền bổ nhiệm trưởng ấp.

Để chuẩn bị cho bầu cử, ông phát động Đảng Dân chủ, về cơ bản là cánh tay nối dài của chính quyền. Để buộc người Quốc gia đoàn kết, Thiệu ký một sắc lệnh gây tranh cãi nhiều nhất trong những giờ trước khi quyền hành sắc lệnh hết hạn vào ngày 27/12. Sắc lệnh 60 tu chính Luật Chính Đảng tháng 6 1969 bằng cách áp đặt nhiều điều kiện về tổ chức nghiêm nhặt hơn cho đảng trước khi được cấp phép hoạt động. Quy định cũ chỉ đòi hỏi đảng ấy có 10 tỉnh bộ với 500 đảng mỗi tỉnh bộ. Vào giữa năm 1972, CQMN đã cấp quyền hoạt động cho 24 đảng. Nhưng quy định mới thì khắt khe hơn. Mỗi đảng giờ phải cần một tỉnh bộ trong ít nhất nửa số tỉnh thành, thêm Saigon là bắt buộc. Mỗi tỉnh bộ phải có ít nhất 5 phần trăm số cử tri đăng ký và có chi bộ trong 25 phần trăm số làng trong tỉnh đó. Một đảng phải thoả mãn các điều kiện hợp thức hóa này từ ngày 27/3/1973.

Vì các cán bộ Đảng Dân chủ phần lớn đều là công chức nhà nước, sợ so sánh với Đảng Cần Lao của Diệm bị nhiều người ghét, Thiệu có một sửa đổi chủ yếu: ĐDC “sẽ được mở rộng đến cơ sở hậu thuẫn quần chúng.” Vào đầu năm 1973, các lãnh đạo đảng tuyên bố đã có vài trăm ngàn người hậu thuẫn. Nhiều chỉ huy quân sự đã đăng ký vào đảng, nhưng họ phải đăng ký lén lút vì hiến pháp ngăn cấm sĩ quan tham gia đảng chính trị, một bóng ma khác của Diệm. Tuy nhiên, một số sĩ quan cao cấp từ chối vào đảng. Nổi bật nhất là Trung tướng Ngô Quang Trưởng, vốn cho rằng quân sự nên đứng bên trên chính trị. Nguồn tài chính của đảng, gót chân Achilles của các tổ chức chính trị Saigon, do các đảng viên đóng góp dưới hình thức lệ phí, do tiền tham nhũng của các tỉnh trưởng, và theo lời đồn do người tài trợ của Thiệu, Công ty Dược phẩm OPV.

Các lãnh tụ đối lập càu nhàu luật chỉ nhằm giúp Thiệu duy trì quyền lực, nhất là vì Đảng Dân Chủ dường như là đảng duy nhất hội đủ điều kiện trong một thời gian đăng ký ngắn. Dù bất mãn, sắc lệnh buộc PTQGCT, Đảng Công Nông, và một bộ phận của VNQDĐ xáp nhập thành một đảng mới có tên Liên minh Dân chủ Xã hội (LMDCXH). Đảng lớn khác, Đại Việt Cách Mạng của Hà Thúc Ký, khi dễ Thiệu, quay trở lại lối hoạt động lén lút quen thuộc. Ngay trước ngày hòa bình, sự đoàn kết chính trị ở miền Nam vẫn còn là một ảo tưởng.

Các tôn giáo khác nhau đi theo những lộ trình khác nhau. Hoà Hảo, sau lời kêu gọi đích thân của Thiệu, ký một tuyên bố đoàn kết vào ngày 4/2 giữa hai phe kình địch nhau. Hòa Hảo cũng gia nhập LMDCXH, cũng như Cao Đài.

Phản ảnh một chuyển đổi xã hội-chinh trị chấn động, hai tôn giáo chính, Công giáo và Phật giáo, cũng thay đổi hành trình. Nếu Công giáo đã từng là bệ đỡ của CQMN và Ấn Quang người đứng bên lề nổi loạn, thì giờ các vai trò của họ phần nào thay đổi. Mặc dù một số chính trị gia Công giáo thành lập Đảng Tự Do bằng cách xáp nhập Đảng Nhân Xã,  Nhóm Lily, và Lực Lượng Đại Đoàn Kết cũ, Giáo hội đã phủi tay với chính trị. Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình từ chối thừa nhận chính thức đảng mới và nhấn mạnh rằng giáo sĩ không được tham gia đảng, nhất là giờ đây lập trường của giáo hoàng là đứng trung lập với hai phe đang lâm chiến.

Phe Ấn Quang không có đảng chính trị và cũng không muốn lập đảng. Về nội bộ, có sự chia rẽ vi xung đột giữa một bên là phe quá khích muốn có vai trò trong Lực Lượng Thứ Ba và bên kia là phe ôn hòa đông đảo hơn ghét Thiệu nhưng sợ Cộng sản nhiều hơn. Hơn nữa, sự viên tịch của người đứng đầu Viện Hoá Đạo và Trưởng Lão Hoà thượng vào đầu năm 1973 khiến ban trị sự rối tung vì lăng xăng tìm người kế vị. Còn phe Quốc Tự vẫn còn ủng hộ Thiệu nhưng cũng không lập đảng.

Bất kể bề ngoài ra sao, Thiệu nhắm Sắc lệnh 60 không phải để củng cố quyền lực mình mà để cuối cùng buộc được những người Quốc gia manh mún xáp nhập vào nhau, một mục tiêu muốn có từ lâu nhưng chưa hề thực hiện được của nền chính trị miền Nam. Ông ngắm đến mục đích đoàn kết vì cả hai bên phải thành lập HĐQGHGHHDT vào 27/4 để tiến tới tổ chức bầu cử. Đối với Thiệu, Sắc lệnh 60 và Đảng Dân Chủ phản ánh niềm tin của ông rằng các chính đảng tồn tại không xứng tầm với nhiệm vụ. Nếu Thiệu buộc phải lôi kéo bọn trí thức “vùng vẫy và la hét” vào trong cuộc chiến bầu cử chống lại cách mạng, thì cũng đành vậy. Hơn nữa, việc ông khinh thị các chính trị gia dân sự miền Nam kết hợp với lòng căm thù Cộng sản sâu sắc đẩy ông vào một lập trường cực đoan: hoặc về phe Saigon hoặc về phe Hà Nội. Không có phe chính giữa, và nếu ai cố đứng về phe giữa, có nghĩa là y bí mật theo phe kẻ thù. Òng tin rằng nhân dân, nếu được cán bộ chính quyền hướng dẫn thích đáng, sẽ bỏ phiếu hết cho ông trong cuộc bầu cử.

Như Thượng Nghị sĩ Nguyễn Văn Ngãi ĐVCM, Phát ngôn nhân Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn, một chức sắc cao cấp của Đảng Công Nông, đã quyết định gia nhập Đảng Dân Chủ. Phân tích tình thế, Cẩn đã chịu theo lập luận của Thiệu.

Một lực lượng chính trị không thể ‘đứng ở giữa’ Cộng sản và chính quyền. Bạn phải thực tế về bản chất của tiến trình chính trị ở miền Nam lúc này. Khi dân chúng đi bầu họ bị mũi dao Cộng sản hay chính phủ dí sau lưng. Trong tình thế này, không có Lực Lượng Thứ Ba nào có đủ lực lượng giành được thành tựu tiềm năng trong một cuộc bầu cử ở miền Nam.

Hòa hợp chính trị chỉ là một phần của chương trình to tát của Thiệu nhằm thắng trong cuộc bầu cử. Ông cũng nhắm tới một nền kinh tế tốt đẹp hơn. May thay, bàn tay vững chắc của Ngọc trên đòn bẩy thương mại khiến nền kinh tế bầm vập cũng sống sót qua năm 1972. Mặc dù lạm phát lên mức 24 phần trăm so sánh với 17 phần trăm trong năm 1971, xuất khẩu gần như tăng gấp đôi nhờ một tỉ lệ hối đoái thực tế hơn. Thị trường miền Nam dù vậy cũng đương đầu với gió mạnh. Dân số đã tăng vọt từ 15 triệu trong năm 1964 lên đến 19 triệu trong năm 1973. Sự tăng trưởng này, thêm một biển người đổ về các thành phố, Saigon giờ đây có trên 2 triệu dân cư. Những cư dân này cần nhà ở và việc làm, nhưng hoạt động làm ăn vẫn sút giảm sâu. Sức ép lạm phát đang tích lũy khi giá gạo đã tăng vọt lên 30 phần trăm trong năm 1972 do thời tiết xấu và chiến tranh. Trị giá đồng bạc trong tháng giêng 1973 đã rơi xuống mức 465 đồng ăn 1 đô la và còn tiếp tục giảm. Mặc dù thu nhập từ thuế đã tăng gấp đôi từ năm 1970, ngân sách đã bùng nổ đến 435 tỉ trong năm 1973. Ngọc đã thu hẹp thâm hụt nhưng không thể giải quyết dứt điểm, và với việc viện trợ Mỹ sút giảm đang đến, viễn ảnh tài chính trong năm 1973 thật ảm đạm ngay  giữa lúc Saigon cần đến nó nhiều nhất. Đối với Thiệu, chữa lành vết thương chiến tranh cũng sẽ đầy thách thức như chiến thắng  hòa bình,

SAU HIỆP ĐỊNH

Quan điểm khắt khe của Thiệu về hiệp định và mối ngờ vực bao trùm về toan tính của Cộng sản thấm đậm trong những hành động và phát ngôn tiếp sau của ông. Ông chắc mẩm Hà Nội sẽ vi phạm thỏa hiệp, nhất là khi có vài trăm ngàn quân trên lãnh thổ cộng hòa. Vào ngày 23/1, ông chỉ thị cho mọi tỉnh trưởng và chỉ huy quân sự cao cấp “cắm quốc kỳ trên khắp lãnh thổ để khẳng định và nhận diện vùng lãnh thổ và dân cư của Việt Nam Cộng Hòa.” Thiệu muốn phê chuẩn quyền lãnh đạo của mình đối với dân chúng và lãnh thổ trước khi Uỷ ban Quốc tế đến.

.

Cùng ngày, Thiệu ra lệnh Ngọc hãy lên kế hoạch cho Kế hoạch và Chương trình Tái thiết và Phát triển Quốc gia. Sự phồn thịnh vật chất là chìa khóa của Thiệu để chiến thắng hòa bình. Chính sách của ông thật đáng khâm phục nhưng không thực tế. Như Công kích Tết 1968, cuộc tấn công 1972 đã đem đến sự hủy hoại vật chất khủng khiếp, làm xói mòn nền kinh tế, và rút sạch ngân sách. Nhưng trong khi vào 1965 và 1968, Hoa Kỳ đã viện trợ để tái thiết xứ sở, lần này thì không. Thiệu không có tiền để trang trải cho việc tái thiết quốc gia nói chỉ đến phát triển.

Trước hết việc đầu tiên là Thiệu phải giải quyết nền hòa bình đang lung lay. Sau lễ ký kết hiệp định tại Paris, vào ngày 28/1, ông nói với quốc gia. Ông cảm tạ Hoa Kỳ và quân đội miền Nam đã “hy sinh xương máu,” nhưng ông nhắc nhở đồng bào mình đừng lạc quan vô lối. Vì Hà Nội trước đây không hề biết giữ lời cam kết, ông cảnh báo mọi người “duy trì cảnh giác ở mức cao nhất trong cuộc đấu tranh chính trị sắp đến.”  Ông lập luận rằng hiệp ước biến thành hoà bình thực sự hay không là tùy vào Cộng sản có tuân thủ ngừng bắn hay không và có thể hiện thiện chí hay không đối với các nhiệm vụ sắp đến. Nếu không, Thiếu nhấn mạnh, thì hiệp định chỉ là một “sự ngừng bắn tại chỗ.” Nếu hòa bình đến, Thiệu hứa hẹn, chính quyền sẽ ra sức xây dựng một cuộc sống mới cho nhân dân.

Hà Nội vi phạm nhiều lần, chẳng hạn khi QĐNDVN bao vây căn cứ biệt lập của Biệt động quân tại Tống Lê Chân và tấn công đồn biên phòng QĐVNCH tại Hồng Ngự ở vùng Cửu Long. Những vụ tấn công này và vụ xâm nhập tiếp tục không nhận được sự lên án của thế giới như khi Saigon phạm lỗi. Có lẽ nếu Thiệu đã chấp nhận công khai hiệp ước hòa bình, ông có thể đã giành được sự đáp ứng thuận lợi hơn từ công luận quốc tế đối với việc Bộ Chính trị coi thường trắng trợn cam kết trên giấy trắng mực đen của họ, nhưng những khiếm khuyết và hành động không đẹp trước đây của miền Nam đã để lại ấn tượng không bôi xóa được đối với hậu thuẫn quốc tế.

Sau lễ ký kết, Nixon cử Phó Tổng thống Spiro Agnew đến thăm miền Nam và các nước Á châu để giải thích hiệp định và trấn an họ rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi họ. Ở Saigon, Thiệu báo cho Agnew về những quan ngại và kế hoạch chủ yếu của mình. Ông bảo rằng mình đã ra lệnh cho các tổng trưởng chuẩn bị một kế hoạch tái thiết trong năm 1973 để “đánh bại Cộng sản về mặt chính trị trong 6 tháng tới” vì “vấn đề chính của CQMN trong những tháng sắp tới là tranh thủ sự hậu thuẫn của nhân dân.” Để làm được như thế, ông cần sự tài trợ lớn của Hoa Kỳ. Sau khi lắng nghe, Agnew cảnh báo với Thiệu rằng Quốc hội chống đối việc viện trợ tiếp tục, nhưng Quốc hội sẽ giúp đỡ nếu Saigon thể hiện một “hình ảnh tích cực” liên quan đến hòa bình. Thiệu “cam kết sẽ tham gia vào các đối thoại trung thực để đi đến một giải pháp chính trị; dậm chân tại chỗ sẽ không phục vụ lợi ích của CQMN.”

Vào đúng lúc Thiệu ra lệnh treo cờ để phân ranh lãnh thổ CQMN trong một động thái khôn ngoan nhằm xáp nhập đất đai ngay trước khi hiệp định được ký kết, các đơn vị Cộng sản phát động một chiến dịch có tính kết hợp cao nhằm đánh chiếm ấp, phong tỏa đường xá, và dựng cờ CQCMLT để tuyên bố quyền kiểm soát trước khi Uỷ ban Quốc tế đến. Vì Thiệu không thể cho.phép việc phong tỏa của địch phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ và kinh tế của miền Nam, ông phản công. Mặc dù QĐVNCH quét sạch các đơn vị địch, đánh nhau ác liệt và thiệt hại vật chất thật là nặng nề. Cả hai bên đều tổn thất nghiêm trọng. Vào tháng giêng và tháng 2 1973, số thương vong của QĐVNCH là 7,545 chết và 33,504 bị thương. Xét vì các cuộc phản công của QĐVNCH xảy ra sau ngừng bắn, bộ máy tuyên truyền của Hà Nội khua môi múa mỏ rằng Saigon đã “vi phạm tập thể” lệnh ngừng bắn, điều này không sai, nhưng là đáp ứng trước sự khiêu khích của Cộng sản. Không thể kiểm tra những lời tuyên bố và phản tuyên bố, phần đông các quan sát viên nước ngoài chỉ đơn giản đổ lỗi như nhau cho cả hai bên về cuộc chiến đang tiếp diễn. Tuy nhiên, thống kê Hoa Kỳ khảo sát từ 28 tháng giêng đến 14 tháng 6 (bắt đầu giai đoạn ngừng bắn theo thỏa thuận thứ hai), cho thấy một bức tranh rõ ràng. “90 phần trăm các biến cố,” họ báo cáo, “đều do kẻ địch khởi động.” Trong khi Saigon đã tiến quân vào một số vùng đang tranh chấp, việc lấn đất của Hà Nội đã tạo ra một môi trường an ninh mà QĐVNCH cần phải đáp trả. QĐNDVN cũng phá vỡ lệnh ngăn cấm dưới cùng cái cớ khi họ phản công sau lệnh ngừng bắn. Họ đẩy lùi một đơn vị Thủy quân Lục chiến đã đánh chiếm một cảng sông Cửa Việt ở bắc Quảng Trị trong những giờ cuối cùng trước khi hiệp định được ký kết vì nó trực tiếp đe dọa tuyến đường tiếp tế của họ. QĐNDVN cũng chiếm cảng nhỏ Sa Huỳnh ở Tỉnh Quảng Ngãi ngay sau khi hiệp định ký kết, một sự vi phạm sau ngừng bắn dẫn đến việc đánh nhau dữ dội suốt một tháng cho đến QĐVNCH đánh đuổi họ ra.

Quan trọng hơn, Hà Nội cố tình coi thường hiệp định khi họ bí mật ra lệnh tiếp tục xâm nhập bộ đội và khí tài vào miền Nam, mà hiệp định ngăn cấm. Chỉ huy Đoàn 559, đơn vị chịu trách nhiệm Đường mòn Hồ Chí Minh, viết vào ngày 5/2, rằng Tư lệnh Tối cao ra lệnh cho ông “tăng tốc công tác vận chuyển, giao khoảng 80,000 tấn hàng hóa đến các mặt trận khác nhau.” Sau đó ông gặp Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng chỉ thị ông xúc tiến dòng tiếp tế vào miền Nam một tuần trước khi Đồng phải tiếp Henry Kissinger viếng thăm để thảo luận về việc thì hành hiệp định, đặc biệt lệnh cấm xâm nhập tiếp tục. Chỉ huy phó của Đoàn 559 khẳng định rằng vào ngày hiệp định được ký kết “1,000 xe quân tải được giao cho các lực lượng của chúng tôi (Đoàn 559), tất cả đều chất đầy hàng tiếp tế, vượt sông Bến Hải vào miền Nam.”

Dù bị tấn công, vào ngày 17/2, Thiệu ra lệnh các tư lệnh của mình chấp hành nghiêm nhặt lệnh ngừng bắn trừ ra để tự vệ. Rồi, trong một điềm báo trước những rắc rối về sau, ba ngày sau, đề cập đến tiềm năng Mỹ sẽ giảm tiếp tế quân nhu và xăng dầu, ông hạn chế các hoạt động không kích chiến thuật và sử dụng pháo. Ông đã đúng; vào tháng 3, bực bội vì QĐVNCH sử dụng quá nhiều pháo kể từ khi đình chiến, Hoa Kỳ cắt giảm mức tiếp tế pháo đến 70 phần trăm. Để đáp lại, Thiệu gửi thêm chỉ thị ngăn cấm “bố trí lại hoặc di chuyển các lực lượng tác chiến có thể kéo giãn vùng kiểm soát hoặc đưa đến việc đụng độ với quân địch.” Ông cũng ngăn cấm đi tuần tra trong lãnh thổ đich hoặc có “bất cứ hành động thù địch hoặc phản công nào trừ để tự vệ.”

Ngoài việc chiến đấu, Thiệu phải lo cho dân chúng. Cuộc công kích 1972 đã gây ra tổng số 1.2 triệu dân tị nạn, tràn ngập các dịch vụ công của CQMN. Vào cuối tháng giêng 1973, 600,000 người còn tạm trú trong các lều bạt tạm thời, trong đó 400,000 ở Quân đoàn I. Cuộc chiến sau ngừng bắn phát sinh thêm 200,000 dân tị nạn, chủ yếu ở Quân đoàn III. Chăm sóc người tị nạn không hề rẻ. Trong năm 1972, bộ xã hội đã chi phí 3 tỉ (khoảng 6 triệu đô la) cho Quân đoàn 3 chỉ để mua bạt, chăn, mùng, và thực phẩm. Dù không nhiều, hàng ngàn công dân đã quyên tiền và tặng phẩm góp phần với chính quyền cứu trợ những nạn nhân chiến tranh không may mắn.

Hàng ngàn người phải dời đi nơi khác vì nhà cửa đã bị tàn hoặc giờ nằm trong vùng địch kiểm soát. Bộ ước tính có 250,000 dân tị nạn sẽ phải tái định cư từ Quân đoàn I đến những nơi xa hơn về phía nam. Phan Quang Đán dẫn đầu chương trình tái định cư người tị nạn. Vào cuối tháng 4 1970, Thiệu đã bổ nhiệm ông dẫn đầu Uỷ ban Liên bộ Hồi hương cho hàng ngàn người từ Cao Miên trở về quê hương. Khi Đán đã tái định cư có hiệu quả những người di tản, Thiệu đã giữ ông lại. Giờ Thiệu bảo Đán “hãy dọn sạch lều trại ngay khi có thể” hoặc bằng cách tái định cư hoặc cho họ trở về nhà. Đối với Thiệu, đó vừa là một yêu cầu xã hội vừa là một cách thức thực tiễn để tranh thủ lá phiếu của nông dân.

Phạm Kim Ngọc cũng đang ra sức hỗ trợ người tị nạn. Dù ngoài lãnh vực của mình, ông cảm thấy mình buộc phải tiếp tay. Vào cuối tháng 11 1972, Ngọc và vài cố vấn kinh tế của sứ quán Mỹ đi đến Đà Nẵng để đánh giá tình hình tị nạn. Họ thấy có đến hàng ngàn người khốn khổ lang thang khắp thành phố, cắm lều trên vỉa hè và công viên. Đà Nẵng khủng hoảng vì nạn thất nghiệp tràn lan và dịch vụ công cộng quá tải. Ngọc sợ tình thế có thể vượt ngoài vòng kiểm soát, vì thế ông sáng lập một chương trình công cộng thành công nhất trong lịch sử miền Nam. Ông thuyết phục USAID tài trợ 1 tỷ đồng (2 triệu đô la) để thuê người tị nạn sửa chữa cống thoát nước, đào mương thoát nước, và vệ sinh thành phố. Ngọc thiết kế chương trình không chỉ để giúp dân chúng mà ông còn “muốn có sự thay đổi trong nhận thức công chúng về việc cứu trợ nhân đạo, một quan niệm mới giữa sự ban phát đối vớ việci tạo ra việc làm.”

Được gọi là Cục Phát Triển Vùng Đà Nẵng, cục  được thành lập vào ngày 20/2/1973; Ngọc giao cho Trịnh Viên Điền, một nhà quản lý có uy tín với công ty dầu khí Shell Oil ở Saigon. Vào cuối tháng 3, Điền có khoảng 1,000 dân tị nạn tham gia tu bổ vỉa hè và đường xá. Trong hai tháng, số đó tăng gấp đôi, và vào tháng 9, Điền có 8,500 người làm việc trong các hoạt động khác nhau, kể cả trồng cây rừng trong một vùng bị cuộc chiến tàn phá nặng nề.

Để tiến hành các hoạt động tâm lý chuẩn bị cho cuộc bầu cử sắp tới, vào tháng giêng 1973, Thiệu bổ nhiệm Hoàng Đức Nhã cầm đầu một Bộ Dân Vận mới, thay thế bộ thông tin. Nhã định hướng lại các đội thông tin tuyên truyền địa phương, tiến hành các buổi thảo luận trực tiếp hơn là chỉ biết dựa vào tài liệu in ấn và phương tiện truyền thông như trước đây. Các đội tổ chức họp, vẽ khẩu hiệu trên tường nhà, và hô hào dân chúng tránh tiếp xúc Cộng sản. Vào 24 tháng giêng, Thủ tướng Khiêm ban hành chỉ thị biến các trung tâm thông tin thành “Uỷ ban Đấu tranh Chính trị” trong mọi “tỉnh thành quận xã để đập tan âm mưu Tổng Nổi Dậy của Cộng sản trong khi ngừng bắn.”

Dân chúng miền Nam nghĩ gì về hiệp định? Theo kết quả khảo sát ý kiến quần chúng của PAAS trong tháng 2, 91 phần trăm dân đô thị và 77 phần trăm dân quê cho rằng hiệp ước ngừng bắn là “tốt cho đất nước”. Mặc dù hầu hết đều đồng ý rằng người Cộng sản “đã không tuân thủ hiệp ước”, 84 phần trăm dân đô thị và 71 phần trăm dân quê cho rằng CQMN đã khôn ngoan khi ký hiệp định. Hơn nữa, 64 dân đô thị so với 46 phần trăm dân quê nghĩ rằng Saigon được lợi nhiều hơn Hà Nội  từ hiệp định.

Về phương diện an ninh, khảo sát HES trong tháng 2 cho rằng 80 phần trăm dân số nằm dưới quyền cai trị của CQMN, 13 phần trăm trong vùng tranh chấp và phần còn lại dưới sự kiểm soát của Cộng sản.

Vào ngày 26/3, Thiệu chào mừng kỷ niệm năm thứ ba luật Người Cày Có Ruộng ra đời bằng một diễn văn trước 60,000 người ở Cần Thơ. Ông đã hoàn thành nguyện vọng cấp phát 2,5 triệu mẫu đất trong ba năm. Theo thống kê sứ quán, trong ba năm, ở vùng Cửu Long việc cho thuê đất đã giảm từ 60 phần trăm xuống còn 15 phần trăm. Thu nhập cá nhân trung bình của nông dân đã tăng 30 phần trăm. Nhờ thu nhập tăng, những ngành kỹ nghệ đang manh nha khắp nơi. Tiền đền bù cho chủ đất lên đến 210 tỉ đồng, và tiền đó đã được ký gửi trong ngân hàng địa phương. Số tiền tiết kiệm này khiến Ngân hàng Phát triển Nông thôn gần như tăng gấp đôi số tiền cho nông dân vay trong năm 1972 so với năm 1971 và mở thêm được hơn 30 ngân hàng nông thôn trong hai năm vừa qua. Sứ quán gọi bùng nổ ngân hàng này là “một nhân tố thậm chí còn có ý nghĩa hơn trong việc phục hồi và phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam.”

Sau năm năm cật lực làm việc cho NCCR, Thân xin từ chức. Vào tháng 10 1973, Thiệu đồng ý đơn từ chức của ông, nhưng yêu cầu ông làm đại sứ Việt Nam tại Ả Rập Saudi. Thân không nhận; ông muốn dạy học. Ông nộp đơn xin dạy ở Hoa Kỳ, nhưng “các giáo sư phản chiến bác đơn ông. Vì thế, ông nộp đơn ở Paris và ngay lập tức được chấp thuận.” Thân rời Saigon vào tháng 4 1974. Kiến trúc sư của công trình vĩ đại nhất miền Nam đang dạy học ở Paris trong thầm lặng khi đất nước thất thủ.

Ngày hôm trước, Thiệu thông báo Đảng Dân Chủ (ĐDC) đã hội đủ điều kiện hợp pháp theo Sắc luật 60. Tại buổi ra mắt tại Saigon, Thiệu tuyên bố rằng đảng có “trách nhiệm tạo ra, duy trì và xúc tiến các hoạt động chính trị dân chủ trong nước” và rằng “đảng sẽ không phục vụ lợi ích của cá nhân.” Thiệu được phong chủ tịch, và vị lãnh tụ bắt đầu gọi nó là đảng cầm quyền. ĐDC, tuy nhiên, chỉ là chiếc mặt nạ. Nó không có kỷ luật của một tổ chức Mác-Lê cũng không có nhiệt tình tập thể của một chính đảng phương Tây. Nó là một tổ chức do Saigon áp đặt mà mục đích duy nhất là thuyết phục quần chúng bầu cho Thiệu để đảm bảo thắng cử.

Vậy mà nếu ĐDC là mặt nạ, thì Liên minh Dân chủ Xã hội và Đảng Tự Do chỉ là cái vỏ. Cả hai đã nộp hồ sơ vào ngày 21/3 nhưng chỉ nhận được phép tiến hành hoạt động tổ chức. Giờ họ còn 12 tháng để tìm cách hội đủ điều kiện về số thành viên và số tỉnh bộ. Vì Thiệu đã được cho là đang chủ trương nhu cầu của một đảng đối lập, đặc biệt bởi vì hiến pháp khuyến khích một hệ thống lưỡng đảng, ông không lập tức áp dụng sắc lệnh.

Cuối cùng, vào ngày 17/5, Bộ Nội vụ ra lệnh tất cả đảng phái chính thức đóng cửa trừ ba đảng này. Giờ bất kỳ cuộc bầu cử nào cũng phải tranh đua giữa bộ máy chính quyền Thiệu, một đảng yếu ở giữa, và bất kỳ đảng nào do Cộng sản hậu thuẫn. Nhưng trước tiên, bầu cử phải được tổ chức và hoà bình phải được vãn hồi, một điều khó thực hiện trong một đất nước của bạo lực và súng đạn.

BUNKER RA ĐI VÀ NGƯỜI PHÁP TRỞ LẠI

Vào tháng 3 1973, các binh sĩ Mỹ và Đại Hàn cuối cùng rời khỏi Việt Nam. MACV được chuyển thành Văn phòng Tuỳ viên Quốc phòng (DAO), một đơn vị nhỏ điều phối hàng tiếp tế của Mỹ cho miền Nam. Về kỹ thuật thì chiến tranh đã qua, ngài Ellsworth Bunker phục vụ lâu năm cũng xin về hưu. Sự nghiệp của Bunker với tư cách đại sứ tại miền Nam song hành với thời đi lên của Thiệu và miền Nam. Ông đã đấu tranh cho sự hưng thịnh của đất nước từ một nhà nước yếu kém trở thành một xã hội chín chắn với một cấu trúc chính quyền vững chãi. Dù nhiệm vụ khó khăn về các cuộc thương lượng năm 1968 và 1972, hai người luôn sát cánh bên nhau. Bunker đã thực hiện xuất sắc những chỉ thị và chính sách của hai đời tổng thống Mỹ trong khi vẫn khéo léo truyền đạt lập trường của Thiệu trên một số vấn đề. Mặc dù đôi lúc các báo cáo của ông khiến ông có vẻ như là cổ động viên của Saigon, ông đã chọn hướng đề cao khía cạnh tích cực trong khi quá nhiều người khác chỉ thấy mặt tiêu cực. Trên hết, không có mấy nghi ngờ là ông đã giữ gìn cho mối quan hệ Việt-Mỹ khỏi bị tự hủy diệt. Cả hai bên đều có nỗi niềm riêng. Saigon luôn nghi ngờ thiện chí của Mỹ, trong khi cả ba đời hành pháp Mỹ đã cưỡng lại một khao khát ngấm ngầm là thoát ra khỏi một cuộc xung đột hao tốn xương máu, cực kỳ đắt giá, và hủy hoại xã hội trên một vùng đất xa xôi.

Vào ngày ¼, Toà Bạch Ốc thông báo Graham Martin sẽ thay thế Bunker. Martin, một sĩ quan Lục quân trước đây đã từng phục vụ trên chiến trường Thái Bình Dương trong Thế Chiến II, đã bắt đầu sự nghiệp ngoại giao từ năm 1947. Trước đây ông đã phục vụ với vai trò đại sứ ở Thái Lan trong thời Johnson và sau đó là công sứ ngoại giao của Nixon tại Ý. Như Bunker, Martin cao lớn, chải chuốt, cực kỳ thông minh, và ăn nói vô cùng mạch lạc. Dù vậy, cá tính ông khác xa với cá tính của Bunker. Trong khi Bunker được người Saigon đặt cho biệt danh là ‘Ông tủ lạnh’ vì cá tính dè dặt và khuôn phép, thì Martin như cắc kè, biến đổi liên tục từ duyên dáng lịch lãm đến thô lỗ sỗ sàng. Trong mắt của Nixon, Martin là ứng cử viên hoàn hảo cho việc xử trí chức vụ khó khăn nhất trong ngoại vụ Hoa Kỳ, và vị tổng thống bảo với vị đại sứ mới của mình một cách rõ ràng rằng vai trò duy nhất của ông là giữ cho miền Nam không chìm đắm.

Martin không làm bất mãn. Kể từ đó sứ quán, trong nhiều tin điện gửi về Washington và trong những báo cáo đúc kết cho báo chí và quan khách quốc hội, lúc nào cũng “có thông điệp phù hợp.” Thông điệp đó thật đơn giản: Việt Nam Cộng Hòa đang vững mạnh, Thiệu có ít đối thủ chính trị, phe Cộng không thể thắng lợi về mặt quân sự, và tinh thần QLVNCH lên cao. Người Mỹ chỉ cần nâng đỡ miền Nam bằng viện trợ cho đến khi Hà Nội chịu đàm phán hòa bình nghiêm túc.

Đáng tiếc, Martin quá chai đá trong sứ mạng của ông đến nỗi các ý kiến trái chiều với các xác tín của ông liên quan đến sức mạnh của miền Nam, dù có nhiều chứng cứ lớn dần, ông đều coi đó như hành động đê hèn phản trắc. Xét việc ông luôn khinh bỉ những người bất đồng với mình, mối quan hệ của ông với cánh nhà báo sớm trở nên chua chát. Lời tuyên bố hống hách về miền Nam được đón nhận bằng vẻ nhạo báng, và những kẻ gièm pha ông càng lúc càng gia tăng nhanh chóng. Thái độ của ông càng củng cố thay vì xóa bỏ hình ảnh Thiệu như một tên độc tài sử dụng vũ khí Mỹ để ngăn trở một “giải pháp chính trị.”

Cùng lúc đó, Pháp quyết định phục hồi hoàn toàn quan hệ ngoại giao với miền Nam. Saigon đã cắt đứt quan hệ từ năm 1965, nhưng cả hai xứ đều mở cửa sứ quán của mình. Chính sách của Pháp là duy trì quan hệ với Hà Nội và Saigon, một tư thế cân bằng với mục đích tránh bị cho là thực dân kiểu mới và cho phép Paris mở rộng tầm ảnh hưởng tranh giành với người Mỹ.

Vào đầu tháng 4 1973, Pháp đề nghị gửi đại sứ đến cả Hà Nội lẫn Saigon. Đoàn đàm phán của CQCMLT sẽ trở thành một “Sứ mạng Thường trực” không có vị thế ngoại giao chính thức. Thiệu, hy vọng vào sự hỗ trợ của người Pháp và một lập trường quốc tế được cải thiện, cũng rất phấn khởi đón nhận một đại sứ Pháp mới. Vào đầu tháng 7, Đại sử Pháp

Jean-Marie Mérillon trình ủy nhiệm thư tại Dinh Độc Lập. Sinh năm 1926, Mérillon là một nhà ngoại giao hàng đầu. Ông đã từng phục vụ với tư cách đại sứ ở Jordan vào năm 1970 trong cuộc vùng dậy Tháng Chín Đen của Palestine, tại đó ông đã đạt được tiếng tăm vì đã chứa chấp người Mỹ trong cuộc chiến đấu. Merillion sẽ là người có vai trò chủ chốt trong cuộc khiêu vũ ngoại giao vào những ngày cuối cùng.

Dù có những bất hòa trước đây về hiệp định, mối quan hệ Saigon-Washington đã trở lại bình thường. Để điều phối các chính sách liên minh tương lai, Nixon mời Thiệu đến thăm mình tại Hoa Kỳ. Dưới sức nóng từ vụ điều tra Watergate đang mở rộng và tìm cách tránh né các cuộc biểu tình chống Thiệu, Nixon đề nghị tiếp ông tại nhà riêng ở San Clemente, California, thay vì ở Washington. Thiệu đồng ý và lên kế hoạch nhấn mạnh hai điểm then chốt: khẳng định Hoa Kỳ sẽ phản ứng đối với một cuộc công kích Cộng sản và nhu cầu gia tăng viện trợ.

Gặp nhau vào ngày 2/4, Nixon yêu cầu Thiệu phân tích tình hình. Ông trả lời rằng chiến lược của Hà Nội là “hoãn binh … vì họ chưa sẵn sàng cho một tranh chấp chính trị lẫn quân sự.” Thiệu cho rằng Hà Nội có thể phát động một cuộc công kích khác vào mùa hè. Nếu thế, người Mỹ đáp trả ra sao? Vì Nixon đã công khai cảnh cáo Hà Nội về nhiều vụ vi phạm hiệp định, kể cả việc tiếp tục vận chuyển người và khí tài vào miền Nam, ông tái khẳng định rằng “trong trường hợp có một trận công kích quy mô của Cộng sản đáp trả của Mỹ sẽ rất nghiêm khắc và dữ dội.” Tuy nhiên, Nixon không xác định chính xác ông muốn nói điều gì, một điểm Thiệu không để sót.

Ngày hôm sau, Thiệu quay sang các vấn đề kinh tế. Miền Nam đang rất cần giúp đỡ. Ông muốn tái thiết nhanh chóng, nhưng với việc QĐNDVN cắm dùi trên đất mình, ông cần duy trì một quân đội hùng hậu, một lực lượng mà Saigon không thể đảm đương. Đối với chính sách Thiệu cần xúc tiến tái thiết để đánh thắng trong cuộc đấu tranh chính trị sắp tới, đội kinh tế CQMN đã soạn ra một đề nghị cho người Mỹ: nhiều tiền hơn đổi lấy sự cắt đứt viện trợ sau một thời gian đặc biệt. Ông bảo cho Nixon mục tiêu của mình là “đẩy nhanh phát triển kinh tế tiến tới tự túc trong một thời gian có thể định trước … Chúng tôi đã làm nhiều như có thể nhưng chúng tôi cảm thấy đây là lúc cho một kế hoạch kiểu Marshall mới và táo bạo … sẽ giúp chúng tôi thành tựu công cuộc ‘Việt Nam hoá Kinh tế’.'” Ông yêu cầu tài trợ 4.038 tỉ đô la trải dài trong 8 năm. Với viện trợ này – và hòa bình – Thiệu cho rằng miền Nam sẽ tiến nhanh hơn các nước như Nam Hàn. Nixon đồng ý xem xét số tiền viện trợ hàng năm này như là các mục tiêu cần phấn đấu, nhưng ông cảnh báo Thiệu Quốc hội và nhân dân Mỹ đang cau có về việc viện trợ, nhất là cho Saigon. Tuy vậy, Nixon hứa sẽ giúp đỡ, và ông ký tên vào NSDM 210 (Bảng Ghi nhớ Nghị quyết An ninh Quốc gia) vào ngày 11/4, sẽ gia tăng hỗ trợ kinh tế cho miền Nam.

Nixon đã đồng ý mặc dù ông cũng gặp các vấn đề kinh tế nghiêm trọng của riêng mình. Mỹ đã vừa trải qua sự thâm hụt mậu dịch lần thứ hai từng gặp và cán cân chi trả mất quân bình tồi tệ nhất trong lịch sử của đất nước. Tổng thống Johnson đã tạo ra vấn đề khi từ chối yêu cầu Quốc hội tăng thuế vào năm 1968 để chi trả cho cả chương trình Xã hội Vĩ đại của ông và chiến tranh. Mặc dù Quốc hội đã thông qua việc tăng thuế vào năm 1968, thâm hụt ngân sách của Hoa Kỳ đã phồng to đến 23 tỉ đô la vào năm tài chính 1968. Để bù trừ, Nixon áp đặt các kiểm soát tiền tệ nghiêm nhặt khiến nước Mỹ trở lại tình trạng suy thoái từ 1968 đến 1970. Sau đó ông cũng rút Hoa Kỳ khỏi hiệp ước Bretton Woods và hạ giá đồng đô la. Khi lạm phát tăng đến 6 phần trăm vào tháng 8 1971, ông ra lệnh đóng băng lương và giá. Ông hạ giá đô la lần thứ hai vào ngày 12/2/1973. Nếu Thế Chiến II là cái phao kinh tế của Mỹ – vực dậy đất nước khỏi một nền kinh tế vật vờ đến tình trạng ai cũng có công ăn việc làm – thì Chiến tranh Việt Nam  là ống xả tháo khủng khiếp của nó. Trong khi miền Nam cũng nhờ các xứ sở khác như Nhật và Pháp trợ giúp tài chính, nhưng chủ yếu là trông cậy vào “Chú Sộp” (nguyên văn là Uncle Sugar, Chú Đường, đọc trại của từ Uncle Sam – Chú Sam – một biệt danh chỉ người Mỹ: ND.) Xui xẻo cho Thiệu, lời yêu cầu của ông rơi đúng vào thời điểm Hoa Kỳ cạn kiệt về tài chính. Sau khi gặp Nixon, Thiệu ghé thăm Washington rồi bay đến châu Âu. Đầu tiên ông đến Đức, tại đó ông đón nhận sự tiếp đón lạnh nhạt và biểu tình chống đối. Bay đến La Mã gặp Giáo hoàng Paul VI, các cuộc biểu tình phản chiến lại tiếp đón ông tại sân bay. Đức Cha Thánh Thần ép ông đáp trả nhu thuận với CQCMLT và phóng thích tù chính trị. Thiệu tuyên bố chỉ có bọn tội phạm và Cộng sản quá khích bị bắt giữ. Bọn Cộng sản, ông giải thích, là phe gây hấn, không phải là đấu tranh chính trị, và những ai giúp đỡ họ là những kẻ phản bội. Giáo hoàng không tin. Từ đó, ông bay đến Seoul để cảm tạ Tổng thống Park đã hỗ trợ trong cuộc chiến. Rồi ông ghé thăm Đài Loan để tham vấn Tưởng Giới Thạch. Ông trở về nước ngày 14/4. Trong khi phương Tây khinh thị ông, ít nhất tại hai xứ sở này, ông tìm được thứ tình cảm nồng hậu.

THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG QUỐC GIA

Nếu chỉnh đốn kinh tế là có vấn đề, thì tìm lộ trình đến hòa bình dường như là điều không thể thành tựu. Để thảo luận về việc thành lập Hội đồng Quốc gia (HĐQG), CQMN và CQCMLT đã đồng ý gặp nhau ở Paris tại La Celle-St. Cloud, một lâu đài thuộc Bộ Ngoại giao Pháp. Buổi họp đầu tiên xảy ra vào ngày 19/3. Phái đoàn CQMN do Nguyễn Lưu Viên dẫn đầu. Nguyễn Xuân Phong là phó, trong khi lãnh tụ PTQGCT Nguyễn Ngọc Huy và Ngoại trưởng trước đây Trần Văn Đỗ cũng tham gia phái đoàn. Thiệu tin rằng bằng cách chọn những thành viên xuất sắc như thế, cộng thêm với việc trước đây Viên đã phục vụ cho Việt Minh và chứng thư miền nam lâu đời của ông, CQCMLT (và thế giới) sẽ thấy là ông có thiện chí thỏa thuận nghiêm túc.

Lịch trình của CQMN là phải thành lập Hội đồng Quốc gia, nhanh chóng tổ chức bầu cử, và giải ngũ binh sĩ. Đây là thiết kế bí mật của Thiệu nhằm loại bỏ các lực lượng QĐNDVN và tiết kiệm tiền. Ông muốn một thỏa thuận tổ chức bầu cử tổng thống sau đó là thành lập hội đồng để sắp xếp việc đầu phiếu. Hiệp định, dù vậy, không quy định rõ cuộc bầu cử nào, tổng thống hay Quốc hội, để việc ấy cho CQMN và và CQCMLT thoả thuận.

CQCMLT phản phé bằng yêu sách trước hết Saigon phải thiết lập các quyền tự do dân chủ, thành lập hội đồng, và tổ chức bầu cử, theo thứ tự đó. CQCMLT nhấn mạnh rằng bảo đảm “quyền tự do dân chủ” là “nền tảng và phải giải quyết trước khi có thể có tiến bộ về các vấn đề khác.” Sự bắt bớ tập thể hàng ngàn người vào năm 1972 đã cho kẻ thù của Thiệu tư thế cao về đạo đức. Họ cũng đòi bầu cử quốc hội thay vì tổng thống. Mục tiêu của CQCMLT là một cuộc luận chiến về quyền con người,  mỉa mai thay xuất phát từ những kẻ vốn ôm khư khư một học thuyết chuyên chính. Đó trên hết là vấn đề có tính chiến thuật, nhằm bảo đảm được lợi thế trong các cuộc bầu cử  hoặc đình hoãn chúng. “Quyền tự do dân chủ” là một cụm từ  gài bẫy để lên án CQMN về vấn đề tù chính trị và lối cai trị áp bức như Luật An Trí. Về điều khoản tù nhân, Saigon đã cung cấp một danh sách hơn 5,000 tên người sẽ phóng thích và đã đề nghị sẽ miễn tố bất kỳ ai CQCMLT nói là Cộng sản. CQCMLT, ngược lại, đã lập một danh sách 400 người và nhất định không  kể đến 60,000 dân thường và viên chức đã bị họ bắt cóc trong suốt cuộc chiến.

Trong khi đó, Hà Nội tiếp tục đổ quân vào miền Nam. Thậm chí với vụ tai tiếng Watergate đang đe doạ nhấn chìm ông, Nixon cũng không thể làm ngơ. Sau khi tất cả tù binh Mỹ được trở về vào cuối tháng 3, vào giữa tháng 4, ông ra lệnh các oanh tạc cơ cất cánh. Tìm cách ép buộc Hà Nội tuân thủ lời cam kết trên giấy trắng mực đen, phi cơ Mỹ đanh phá các mục tiêu ở Lào trong vài ngày. Đó là một đáp trả yếu ớt, nhưng cuối cùng Hà Nội đồng ý cho Lê Đức Thọ gặp Kissinger ở Paris theo yêu cầu phía Mỹ vào giữa tháng 5 để duyệt xét lại hiệp định.

Hy vọng người Cộng sản giờ sẽ chịu đàm phán, vào ngày 25/4, CQMN đưa ra một đề nghị hòa bình mới đáng kinh ngạc. Thiệu chịu một vài nhượng bộ có ý nghĩa. Ông đề nghị các cuộc bầu cử quốc hội, hứa sẽ loại bỏ luật cấm người Cộng sản hoạt động chính trị trong hiến pháp trong vòng 30 ngày, và đề nghị “cho phép người Cộng sản được hoàn toàn tự do hoạt động tranh cử.” Sau 60 ngày, cả hai bên sẽ họp hội đồng để thảo luận về bầu cử và giải ngũ một bộ phận binh sĩ. Trong vòng 90 ngày, hội đồng sẽ ban hành luật bầu cử, và một tháng sau, một cuộc tuyển cử quốc gia sẽ được tổ chức bao gồm mọi đảng phái. Cuộc đầu phiếu sẽ do quốc tế giám sát. CQMN đề nghị nếu CQCMLT đồng ý với đề nghị này thì ngay lập tức thành lập Hội đồng Quốc gia Hoà giải và  Hoà hợp Dân tộc và nghiêm nhặt thì hành   việc ngừng bắn, và nếu QĐNDVN rút đi, Saigon cũng sẽ “bãi bỏ hạn chế quyền tự do dân chủ do tình hình chiến tranh.” CQCMLT bác bỏ đề xuất này và thay vào đó đưa ra đề nghị 8 điểm, về cơ bản chỉ là sửa lại các phát biểu trước đây.

Với các đối thoại ở La Celle bị bế tắc, Kissinger và Lê Đức Thọ gặp nhau ở Paris vào giữa tháng 5. Sau khi thảo luận căng thẳng giữa tất cả ba bên, họ cuối cùng đồng ý một Tuyên bố Chung được ban hành vào ngày 14/6. Trong số các thành tố của nó, Tuyên bố Chung, có tên Ngừng Bắn II, ra lệnh ngừng đánh nhau ở miền Nam, và các vùng kiểm soát phải được xác định giữa hai quân đội đối đầu, và chỉ thị phóng thích các tù dân sự và thành lập HĐQGHGHHDT. Đánh nhau giảm xuống nhưng không hết hẳn. Một số tù nhân được phóng thích, nhưng không có vùng kiểm soát nào được phân ranh. Việc bộ đội miền Bắc xâm nhập vẫn tiếp tục cao. Vào mùa thu, các vi phạm ngừng bắn của QĐNDVN đã trở lại đều đặn một cách đáng báo động, phản ánh quyết định bí mật của Hà Nội trong Nghị quyết 21 của Uỷ ban Trung ương Đảng phải tìm kiếm thắng lợi bằng biện pháp quân sự. 

Thậm chí với Tuyên bố Chung, các cuộc đối thoại hòa bình giữa CQMN và CQCMLT vẫn bị bế tắc. Trần Văn Đỗ, nhà chính khách Quốc gia lão thành, bảo với sứ quán rằng ông ta và Nguyễn Lưu Viên đã đúc kết tình hình với Thiệu vào ngày 24/6. Thông điệp của họ rất tỉnh táo. CQCMLT “tuyệt đối ương ngạnh … HĐQGHGHHDT sẽ không hề được thành lập và MTGP sẽ không hề tham gia bầu cử vì chắc chắn họ sẽ thua. Đỗ nói rằng mình đã sắp xếp các cuộc họp bí mật với phía bên kia nhưng đã bị từ chối.” Người Cộng sản, ông tin tưởng, sẽ tái tấn công nhưng “duy trì cuộc công kích dưới ngưỡng để người Mỹ “sẽ không can thiệp. Điều này sẽ buộc CQMN phải duy trì “một triệu binh sĩ cầm súng và tạo ra một gánh nặng hậu cần cho miền Nam” và làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong tình thế này, Đỗ và Viên góp ý mạnh mẽ với Thiệu “đảm đương việc làm trong sạch chính quyền một cách quyết liệt sẽ giúp đảm bảo lòng trung thành của nhân dân.” Bộ máy hành chính thì vô dụng, và nạn tham nhũng thì tràn lan. Thiệu nói mình đang tiến hành từng bước để giải quyết vấn đề.

Trong khi đó, cuộc bầu cử 1972 cuối cùng đã cho các đối thủ phản chiến trong Quốc hội Hoa Kỳ một đa số. Khi Kissinger và Lê Đức Thọ mày mò tìm ra một hiệp ước ngừng bắn mới, Thượng viện đốn ngã chân Kissinger. Cuộc công kích ở Lào, kết hợp với phát hiện gần đây là Mỹ đã bí mật ném bom Cambodia vào năm 1969, đã làm bùng phát cơn thịnh nộ của Quốc hội. Vào ngày 4/6, Thượng viên thông qua Tu chính Án Case-Church ngăn cấm mọi tài trợ cho hoạt động quân sự Mỹ ở Đông Dương. Hạ viện nhất trí vào cuối tháng 6, với các đối thủ nắm đa số phủ quyết, Nixon buộc phải ký tên vào dự luật. Nó đặt cột mốc cuối cho bất kỳ hoạt động quân sự nào của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á nếu không có sự đồng ý của Quốc hội. Để ngăn bất kỳ nỗ lực nào của Nixon tìm cách lách luật hạn chế này, vào tháng 11, Quốc hội thông qua Luật Quyền Hạn Thời Chiến, nhằm yêu sách tổng thống phải tìm kiếm sự tán thành của quốc hội khi muốn gửi lực lượng vũ trang đánh nhau tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Lời hứa của Nixon với Thiệu sẽ đáp trả mạnh mẽ các vi phạm của Cộng sản giờ lệ thuộc vào ủy quyền của Quốc hội, mà mọi người đều biết là sẽ không đến. Hy vọng cuối cùng và tốt nhất của Saigon để tự bảo vệ mình là viện trợ quân sự và kinh tế.

BƯỚC CUỐI CÙNG: CÁCH MẠNG HÀNH CHÍNH

Vào ngày 6/3, Thiệu tiết lộ với nội các một sáng kiến đối nội lớn khác cho năm 1973: cải cách hành chính về công vụ. Ông muốn nâng cấp cấu trúc yếu nhất của CQMN, bộ máy hành chính lề mề. Thiệu tuyên bố rằng “quá nhiều trường hợp trì trệ hành chính là do thói chây lười và kém hiệu quả và tham ô trong giới công chức. Chính quyền địa phương không đáp ứng tốt với dân chúng, nó quá cồng kềnh và kém hiệu quả.” Thiệu một lần nữa nhấn mạnh quyết liệt rằng “nếu xảy ra bầu cử, chúng ta phải tranh thủ lòng tin của dân chúng, nghĩa là giành được lá phiếu – chúng ta phải làm bất cứ điều gì cần thiết để dân chúng bầu cho các ứng cử viên Quốc gia. Để làm được điều này … chúng ta phải làm cho dân chúng có cảm tình với chế độ chúng ta và … yêu quí bộ máy chính quyền địa phương.” Tuy nhiên, vì nền hoà bình chưa bảo đảm, chúng ta phải siết chặt tay súng.”

Các cuộc thương thảo Kissinger–Lê Đức Thọ ở Paris làm Thiệu xao nhãng, cho mãi đến 10/7 ông mới có thể trình bày công khai cuộc Câch mạng Hành chính mới của mình. Mục tiêu là loại bỏ chướng ngại thủ tục phiền hà, chuyển 70 phần trăm công việc bàn giấy thường nhật về cho chính quyền địa phương, và thuyên chuyển hầu hết quan chức hành chính từ Saigon về nông thôn. Thiệu hy vọng sẽ loại trừ được tham nhũng vặt vãnh, thêm năng động cho bộ máy trì trệ, và dẹp trừ các hậu quả quan liêu tệ hại mà các viên chức hành chính bị trả lương thấp thường gây ra cho các công dân bình thường. Các công bộc sẽ được gửi đi tái huấn luyện, và vào cuối năm 1973, 15,000 trong số khoảng 62,000 công chức ở Saigon đã thay áo sơ mi và cà vạt bằng bộ đồng phục bà ba đen tại Vũng Tàu.

Thiệu lao vào bước cuối cùng trên chương trình cải tổ nền cai trị miền Nam. Trong khi Mỹ xiển dương chủ nghĩa liên bang, theo đó chủ quyền được phân chia một cách chính thức giữa quyền hành trung ương và các tiểu bang, thì miền Nam là một nhà nước nguyên khối không có sự phân chia quyền lực giữa Saigon và các tỉnh. Về văn hóa và hiến pháp, người lãnh đạo nắm quyền thống trị, mặc dù về lịch sử, các vấn đề địa phương được giải quyết ở làng xã. Vì người Pháp và Tổng thống Diệm đã nhổ bật các truyền thống này, Thiệu dự tính phục hồi quyền tự trị địa phương qua một loạt biện pháp. Sắc lệnh 198 vào tháng 12 1966 đã khởi động tiến trình này. Sau đó trong năm 1969 Thiệu đã cho các trưởng làng quyền hành đối với các lực lượng an ninh địa phương và đã tài trợ cho họ nhằm chỉ đạo các dự án phát triển của địa phương mình. Tiếp theo là luật NCCR. Vào tháng 12 1972, ông đã thúc ép các viên chức địa phương sớm trở nên tự túc về phương diện tài chính. Ông đã chỉ thị rằng thuế tài sản mới có thể được làng xã thu và sung vào quỹ địa phương thay vì nộp về Saigon.

Ông đã hoàn thành sự thay đổi cấu trúc toàn bộ này vì ba sự kiện thuận lợi xảy ra đồng thời. Thứ nhất là ước mơ sắt đá của ông muốn cải thiện thường xuyên cuộc sống của hàng triệu dân làng nghèo khó. Thứ hai, Hoa Kỳ đã cho ông tiền bạc, sự ủng hộ, và bảo vệ để phát động các chương trình này. Thứ ba, sau cuộc Công kích Tết, Cộng quân đã gần như rút đi khỏi làng mạc, tình hình an ninh giảm nhiệt đủ để ông có thể hoàn thành các mục tiêu của mình. Trên hết, Thiệu đã đặt nền móng cho không chỉ một nhà nước mà là một nhà nước hiện đại. Nếu ông có thể hoàn thành cuộc cách mạng hành chính, ông hẳn sẽ hoàn tất việc biến đổi nông thôn. Ông chỉ cần có tiền và hòa bình để thực hiện điều ấy. Rủi thay, chiến tranh vẫn tiếp diễn, các xì-căng-đan, mưu mô, và thảm họa liên tục  đổ xuống đã nhận chìm các ước mơ của ông.

RỎ RỈ KINH TẾ

Vào ngày 28/4, Ngọc và Tổng trưởng Tài chính Hà Xuân Trừng trình bày kế hoạch của mình để thi triển các mục tiêu tái thiết của Thiệu. Dựa vào tiền mà Nixon hứa hẹn, họ đề xuất một chương trình ngắn hạn ba tháng “nhằm thúc đẩy nền kinh tế tiến tới hồi phục và phát triển vào cuối năm 1973.” Ngọc và Trừng, tuy nhiên, đã ước tính quá cao số tài trợ của Mỹ mà họ sẽ nhận được. Vì tiền đồng bạc VN liên kết với đồng đô la, việc Nixon hạ giá đô la vào tháng 2 đã làm giảm sức mua của tiền viện trợ hơn 10 phần trăm.

Cho dù được viện trợ, Ngọc khuyến cáo cách duy nhất để hoàn thành các mục tiêu tái thiết của Thiệu là gia tăng “ngân sách 1973 từ 435 tỉ đồng đến 490 tỉ. Trong số 55 tỉ kiếm thêm, 25 tỉ dành cho cứu trợ và 30 tỉ dành cho tái định cư và tái thiết.” Ngọc dự kiến sử dụng số tiền để tái định cư người tị nạn trở về đất ruộng của mình, cho họ vay tín dụng để gia tăng sản xuất lúa gạo và xây dựng nhà giá rẻ cho người nghèo đô thị. Đây là sự kích thích kinh tế cổ điển: nhà nước chi tiền để khởi động lại thị trường. Ngọc và Trừng hy vọng giữ cho lạm phát và thâm hụt trong vòng kiểm soát với một lô thuế mới.

Vào ngày 20/5, Thiệu tuyên bố chương trình chủ chốt của ông trong năm 1973. Dựa vào chương trình tài trợ 8 năm được Hoa Kỳ hứa hẹn, ông thông báo một “Chương trình Phát triển Kinh tế Quốc gia sẽ vạch ra lộ trình tăng trưởng cho kinh tế sau Hiệp định Paris.” Hoàng Đức Nhã nhớ lại rằng chiến lược của Thiệu nhằm tạo ra “sự phát triển kinh tế lành mạnh sao cho dân chúng nhận thức được rằng dưới chế độ dân chủ họ có thể phát đạt thay vì chỉ biết cam chịu dưới nền cai trị Cộng sản.” Tuy nhiên, câu hỏi lớn là “làm thế nào bạn có thể tranh thủ được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, làm thế nào bạn có thể tăng trưởng được kinh tế từ tiền viện trợ cũng như tài nguyên của riêng bạn?” Thiệu thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia để điều hành nỗ lực tái thiết này, một nỗ lực sẽ tìm kiếm sự điều phối chính sách kinh tế giữa Bộ Tài chính và Kinh tế. Mặc dù Khiêm đề xuất Ngọc điều hành chương trình, vào đầu tháng 6, Thiệu nói không. Đây là ám chỉ đầu tiên là Thiệu đang xem xét một đội kinh tế hậu chiến mới.

Trong khi viện trợ Mỹ là tột cùng, miền Nam cần cấp bách gia tăng thu nhập của mình, nhưng làm sao sau khi đặt nước đã gần như phá sản do cuộc công kích 1972? Dưới sức ép của Mỹ, vào năm 1971, Bộ Tài chính đã bắt đầu soạn thảo một đề xuất cải cách thuế lớn lao để thay thế luật thuế cũ từ thời Pháp còn được sử dụng. Bộ cho rằng thuế lợi tức trong một xã hội nông nghiệp nghèo giữa thời chiến sẽ “rất khó thu.” Với ký ức về vụ thất bại của Thuế Khắc Khổ vẫn còn tươi mới, bộ tìm kiếm một phương thức tăng thuế mà không gây sự bất mãn trong dân chúng. Họ cho rằng mình đã tìm được một sắc thuế trong hệ thống Âu châu khi đó còn ít người biết có tên Thuế Giá trị Gia tăng (VAT). Được áp dụng trong một hai xứ trên thế giới, VAT là loại thuế gián thu đánh trên hàng hóa tiêu thụ và sản xuất. Đây là cách tân chủ chốt thứ ba về tài chính được Saigon thử áp dụng, hai cái đầu tiên là việc cho vay nhỏ và thả nổi đồng bạc. Trước khi thời hạn nắm quyền ra sắc lệnh của Thiệu sẽ kết thúc vào tháng 12, Thiệu ban hành một hệ thống thuế mới thành luật. Bộ được cho 6 tháng để hướng dẫn công chúng và Ban Tổng Giám đốc Thuế Vụ về hệ thống mới. Biết rằng việc trốn thuế là tập quán ăn sâu của dân chúng miền Nam, luật cũng áp đặt các thủ tục nghiêm nhặt cho thương nhân, và người buôn bán lẻ cách khai thuế cho hàng hóa mua bán.

Vào ngày 1/7, CQMN áp dụng VAT, đánh thuế 10 phần trăm trên trị giá cho mọi giao dịch. Tổng trưởng tài chính Trừng tuyên bố rằng sắc thuế sẽ tạo ra 20 tỉ thu nhập trong năm 1973 và 55 tỉ trọng năm 1974. Dù ông tính toán đúng, nhưng sắc thuế lập tức làm tăng giá cùng lúc với lạm phát bùng nổ. Các bài xã luận và các chính trị gia chỉ trích Thiệu gay gắt và đòi thu hồi VAT. Lúc đầu ông từ chối, nhưng dưới sức ép khủng khiếp, vào ngày 9/8, ông hủy bỏ nó. Cố giúp đỡ người tiêu thụ, ông thông báo VAT sẽ không đánh vào buôn bán lẻ mà chỉ vào hàng nhập khẩu. Nhã, người đang bắt đầu nhận một vai trò lớn hơn trong việc hình thành chính sách tổng thể, nhớ rằng “Tôi đích thân cầm đầu việc đòi hủy bỏ VAT … vì những khảo sát mà bộ tôi tiến hành đã cho thấy dân chúng bất mãn và phẫn nộ. Chúng ta cần nguồn thu, nhưng chi phí về mặt xã hội lại quá cao.” Vậy mà với tất cả la ó ồn ào, VAT thực sự thành công. Thu nhập thuế năm 1972, thậm chí sau khi được điều chỉnh cho lạm phát, tăng 20 phần trăm so với năm 1972. Vậy mà các chương trình kinh tế của Thiệu vẫn có nguy cơ bị đổ vỡ,  không phải chỉ vì chống đối VAT mà vì gạo thình lình bị thiếu hụt và lạm phát nghiêm trọng trở lại.

Cho dù có gạo Thần Nông và sản lượng gạo có tăng lên trong vùng đồng bằng Cửu Long, nhưng dân số đô thị tăng, chiến tranh, thêm 1 triệu người tị nạn cần nuôi ăn nhưng hiện thời không canh tác được, miền Nam không thể vượt qua sự thâm hụt lương thực. Thiếu hụt gạo đã trở nên cấp bách đến nỗi tuần lễ đầu của tháng 7 giá gạo tăng kỷ lục lần thứ hai ngay khi VAT được áp dụng. Vào giữa tháng 7, lạm phát toàn bộ chạm mức 31 phần trăm so với đầu năm. Dân chúng sống bằng đồng lương cố định, như quân nhân và công chức và gia đình họ – chiếm khoảng một phần tư dân số miền Nam – một lần nữa bị khốn đốn vì giá tăng. Vào giữa tháng 8, một bao gạo thường 100 kí, có giá 9,900 đồng vào 30/6, giờ đã lên đến 14,500 đồng. Để so sánh, một trung sĩ có 8 năm trong quân ngũ với một vợ và 4 con lãnh được 17,600 đồng mỗi tháng, sau hai lần tăng lương vào năm 1973.

Gạo là thước đo thời tiết của nền kinh tế mà chính quyền phải đối mặt kể từ năm 1964. Nền kinh tế trì trệ đã xóa mòn đạo đức và đóng góp vào tỷ lệ tội phạm lên cao, tình trạng trốn việc, và tham nhũng gia tăng. Những căng thẳng về kinh tế kết hợp với mệt mỏi vì chiến đấu trong các đơn vị quân đội lăn xả, dẫn đến tình trạng vô kỷ luật thể hiện trong những hành động xúc phạm người dân. Miền Nam thình lình đối mặt với sự bùng nổ mang tính xã hội.

Để đối phó, và mặc dù thành tựu trước đây của Ngọc về chính sách thị trường tự do, một số tướng lĩnh cao cấp muốn áp đặt một mô hình kinh tế tập trung. Họ nhìn thấy một cơ hội khi một nhà báo Anh vào cuối tháng ba làm phóng sự vụ buôn bán phát đạt với kẻ địch trên biên giới Cao Miên ở Tỉnh Tây Ninh. Nhiều năm liền, các viên chức CQMN không chỉ phớt lờ việc dân địa phương buôn bán với các đơn vị địch, mà họ còn hưởng lợi từ hoạt động đó. Căn cứ Hải quân miền Nam ở Hà Tiên chịu nhiều tai tiếng vì buôn lậu dầu và thực phẩm trên những chuyến tàu hàng đêm đến Cao Miên. Khi bài phóng sự được phát trên đài BBC tiếng Việt, các viên chức này đề xuất phong tỏa kinh tế các lãnh thổ kẻ thù ở miền Nam. Thiệu nhất trí, và từng đợt cảnh sát từ Quân đoàn III được đưa xuống để ngăn cấm hoạt động buôn bán nhưng không tài nào xoá sạch được.

Vì vậy, vào giữa tháng 6, Thủ tướng Khiêm ban hành chỉ thị cho mỗi tỉnh phải lập ra các kế hoạch kiểm soát hàng tiêu dùng kể cả hình phạt cho ai vi phạm. Vào ngày 21/7, tổng thống tiến một bước xa hơn và thông báo một “sự phong tỏa vùng lãnh thổ do Cộng quân kiểm soát tạm thời ở nông thôn nhằm ngăn cản sự vận chuyển gạo, đường, và sữa vào vùng lãnh thổ này.” Người Cộng sản đang “rút sạch các nhu yếu phẩm từ dân chúng trong các vùng do CQMN kiểm soát.” Vào ngày 11/8, Khiêm ban hành các chỉ thị mới mỗi tỉnh phải thành lập một Uỷ ban Kiểm soát Hàng Tiêu dùng Trung ương. Mục đích là để “ngăn chặn và vô hiệu hóa kênh thu thuế của Cộng sản” và ngăn cản “thu mua hàng tiêu dùng, nhất là gạo, muối, xăng dầu và thuốc men.” Mỗi làng đều được phân loại tùy theo mức độ các cán bộ tiếp tế của Cộng sản có thể tiếp cận được. Những hộ mà Việt Cộng thường lui tới chỉ được phép dự trữ một số gạo tiêu thụ cần thiết nào đó, khiến phương hại đến cảm tình của dân chúng đối với CQMN hơn là ngăn được việc thu mua của Cộng sản.

Các chỉ huy quân sự, quan ngại về vấn đề kỷ luật đang tăng lên từ binh sĩ thiếu ăn, bất mãn. Họ cho rằng tình trạng thiếu hụt gạo không phải chỉ do người Cộng sản thu mua bất hợp pháp mà còn do con buôn người Hoa tích trữ gạo và làm giá. Họ yêu cầu kiểm soát việc thu hoạch gạo và phân phối từ các nhà buôn tư nhân để bảo đảm lượng gạo cung cấp đầy đủ cho quân đội.

Thiệu tán thành cách tiếp cận này, nhưng Ngọc và Trừng, sợ lối tiếp cận thị trường tự do của họ bị đảo lộn, nên phản đối. Vào ngày 16/8, một thỏa hiệp được giải quyết. Quân đội sẽ tăng cường phong tỏa kinh tế các lãnh thổ địch và sẽ thu hoạch tất cả lượng gạo thóc của tư nhân, trong khi Ngọc đồng ý cung cấp gạo cho gia đình bình sĩ và giữ giá gạo chính thức bao 100 kí với giá 12,000 đồng.

Vào ngày 23/8, Thiệu đi về Cần Thơ để chủ tọa cuộc họp với tất cả tỉnh trưởng đồng bằng Cửu Long nhằm kết thúc chương trình quân sự hoá việc thu gạo và phong tỏa lương thực lãnh thổ địch. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Quân đoàn IV và người sĩ quan lớn tiếng nhất trong việc đề xuất loại bỏ thị trường gạo tư nhân, được giao nhiệm vụ thu mua gạo vừa thu hoạch và bảo đảm việc vận chuyển về Saigon. Các cán bộ PTNT trong làng được lệnh lên danh sách tất cả thóc gạo trong tay tư nhân. Sau khi kiểm kê, Nghi chỉ thị cho trưởng làng bán gạo cho các viên chức CQMN thay vì con buôn người Hoa. Điều này vừa để bảo đảm gạo thóc không rơi vào tay Cộng sản và Saigon có đủ gạo tồn tại cho đến khi những chuyến tàu mới của Mỹ cập bến vào cuối đông. Giá bán sẽ là giá mua của CQMN, thấp hơn giá thị trường. Gạo sau đó được chở về Saigon. Các gia đình chỉ được phép dự trữ gạo đủ tiêu dùng trong một tuần lễ và cấm không được vận chuyển thóc.

Hơn hai tháng sau, Nghi kiếm được đủ gạo từ nông dân Cửu Long và người buôn bán sỉ đủ nuôi sống Saigon và quân đội, nhưng nông dân giận dữ khi thấy kế mưu sinh của mình đứt gãy. Nhiều người hăm dọa giảm sản lượng canh tác trong mùa sau. Thấy một trong những nền tảng hậu thuẫn mình nổi giận, vào tháng 11 Thiệu ra lệnh Nghi ngừng công tác thu hoạch nhưng vẫn duy trì sự phong tỏa. Tuy nhiên, sự việc cũng đã lỡ rồi. Một cố vấn kinh tế của sứ quán, sau khi đi một vòng  châu thổ Cửu Long, ghi nhận “nỗi bất mãn rộng khắp sâu sắc về biện pháp kinh tế của chính quyền và sút giảm lòng tin của dân chúng vào việc quản trị thiếu hiệu quả của nhà nước.”

Việc hiệp định không thể tạo ra ngừng bắn cũng đóng một vai trò lớn trong nỗi bất bình này. An ninh trong vùng châu thổ, kho gạo của miền Nam, bắt đầu tồi tệ do nỗi bất mãn kinh tế cũng nhiều như do các cuộc gây hấn của Cộng sản.

Kế hoạch tái thiết quy mô của Thiệu đã chết. Vào ngày 28/9, Hoàng Đuc Nhã nộp một báo cáo đúc kết rằng “trong 8 tháng sau khi Hiệp Định Paris được ký kết chúng ta không đạt được tiến bộ nào có ý nghĩa về phát triển quốc gia. Chúng ta có thể thẳng thắn phát biểu rằng việc tái thiết và phát triển mà chúng ta phát động với kèn trống rõ ràng đã thất bại … Điều này có nghĩa, trong lĩnh vực kinh tế, là tài nguyên chúng ta đang nhanh chóng cạn kiệt vì chi tiêu gia tăng kết hợp với sự sụt giảm mạnh viện trợ Mỹ trực tiếp và gián tiếp kể từ năm 1971. .. Tóm lại, trong năm 1974 kinh tế của chúng ta sẽ dần dần chịu áp lực lạm phát rất lớn, giá cả sẽ tiếp tục tăng lên, sẽ có thâm hụt ngân sách nghiêm trọng, chúng ta sẽ mất ngoại tệ, và trong khi đó năng lực sản xuất của chúng ta chỉ có thể tăng rất chậm.”

Đương đầu với sự tan rã về mặt kinh tế, Nhã vạch ra tầm nhìn của mình về một chiến lược quốc gia mới. “Trong tình hình chính trị nội bộ hiện thời và trong môi trường chính trị quốc tế hiện thời mục tiêu tối hậu của chúng ta phải là nhằm tạo ra cho chính mình khả năng sống còn và minh chứng tính khả thi đó cho thế giới bên ngoài, nhất là cho Hoa Kỳ.” Đối với Nhã, “phát triển kinh tế là một hành động chính trị với một mục tiêu xác định.”

Cũng không kém như Ngọc đã từng làm, Nhã muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ rằng Saigon đang tái tổ chức tốt hơn nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra và nhờ đó xứng đáng được viện trợ hơn nữa. Để làm được việc này, ông đề xuất rằng CQMN chấp nhận kế hoạch hóa tập trung. Ổn định nền kinh tế sẽ giúp hoàn thành các mục tiêu chính trị của nó. Những biện pháp này bao gồm trợ giá gạo, kiểm soát giá và lương, và quốc hữu hoá hệ thống phân phối gạo từ tay con buôn người Hoa.

HY VỌNG CỦA CHÚNG TA ĐÃ TRỞ NÊN TUYỆT VỌNG ĐẮNG CAY

Cho dù có điều khoản phải thành lập HĐQGHHHGDT, vào tháng 3 1973, CQMN quyết định bắt đầu các cuộc bầu cử hội đồng làng đã bị hoãn lại do cuộc công kích. Vào cuối 1973, các hội đồng làng mà nhiệm kỳ đã hết hạn vào năm 1972 đã bầu ra các hội đồng mới. Đảng Dân Chủ thắng đa số ghế trong hội đồng làng. Xấp xỉ 90 phần trăm dân số đi bầu, và không có xảy ra bạo lực, một lần nữa cho thấy sự giảm sút trầm trọng quyền kiểm soát dân chúng của kẻ thù cho dù chúng ráo riết hoạt động dân vận nhằm lôi kéo đồng bào.

Quốc hội mở lại vào ngày 2/4. Mỗi năm có hai phiên họp, một từ tháng 4 đến tháng 6, và hai từ tháng 10 đến tháng 12. Nó thông qua dự luật bầu cử mới cho vòng sau của bầu cử thượng viện vào tháng 8 1973, mà Thiệu ký vào ngày 11/6. Trong cùoc bầu cử Thượng viện tháng 8 1970, 16 bảng ra tranh cử. Thiệu quyết định giảm số người tham gia. Từ đó một luật bầu cử mới ra đời gây tranh cãi. Nó quy định mỗi bảng có 15 ứng cử viên và phải đóng 2 triệu đồng ký thác và sẽ được trưng thủ nếu bằng đó chỉ  đạt được ít hơn 10 phần trăm số phiếu bầu. Ngày bầu cử được ấn định là 26/8, và hai bảng có số phiếu bầu cao nhất sẽ thắng cử.

Tuy nhiên, Thiệu huỷ bỏ điều khoản của Sắc lệnh 60 quy định rằng mỗi bảng phải được tài trợ bởi một đảng được ủy quyền. Đó là một nhánh ô liu cho phe đối lập cho dù nhu cầu bức bách của ông là hai bảng đều thân chính quyền để ông có thể chiêm được đa số. Bốn bằng tham gia. Hai thân chính quyền, trong khi hai bảng khác chứa các ứng cử viên không rõ lập trường. Cho dù Thiệu bí mật cử lãnh tụ Đảng Dân Chủ Nguyễn Văn Ngãi đi thuyết phục SDA và Đảng Tự Do ra tranh cử, nhưng họ từ chối, nói rằng không có hy vọng chơi lại chính quyền. Hơn nữa, họ không có nhiều tiền và muốn duy trì là những liên minh linh động hơn là các đơn vị có tổ chức.

Thiệu nhắm đến một người phụ tá trung thành để cầm đầu Thượng viện. Vì thế ông yêu cầu Trần Văn Lắm từ chức ngoại trưởng và tranh cử vào Thượng viện, vốn là vị trí trước đây của ông. Vào ngày 9/7, Thiệu bổ nhiệm Nguyễn Phú Đức tạm thời thay thế Lắm.

Vào ngày 26/8, các cuộc bầu cử xảy ra trơn tru. Chỉ có 4 tình huống khủng bố được báo cáo. Tỷ số cử tri đi bầu là 93 phần trăm, vượt xa tổng số lần bầu cử Thượng viện tháng 8 1970. Hai bảng thân chính quyền chiến dễ dàng thắng áp đảo, tạo thế đa số cho Thiệu. Khi quốc hội nhóm họp lại vào tháng 10, Nguyễn Bá Cẩn được bầu lại làm phát ngôn nhân, còn Trần Văn Lắm được bầu làm chủ tịch Thượng viện. Đối với miền Nam, bầu cử đã trở thành một tiến trình được định chế hóa, quen thuộc, rõ ràng là không có gian lận. Đó là một thành tựu nổi bật.

Sau bầu cử Thượng viện, Thiệu quyết định cải tổ nội các. Vào ngày 23/10, dinh thông báo các thay đổi lớn. Ngọc và Trừng bị loại ra. Họ chia sẻ trách nhiệm về thất bại VAT, tình trạng thiếu hụt gạo, và sự tranh cãi nội bộ về việc chính quyền kiểm soát hoạt động buôn bán gạo. Trừng bị cho nghỉ việc còn Ngọc được giao soạn thảo kế hoạch CQMN, công tác ông đã không được giao hồi tháng 6.

Đã từng là tổng trưởng kinh tế phục vụ lâu năm nhất miền Nam, Ngọc đúc kết nhiệm kỳ công tác của mình bằng phát biểu “đối mặt với một ngân sách quốc phòng tháo chạy, trò tung hứng tiền tệ và tài chính cùng với việc mở rộng tự do cho thị trường không đủ tốt nếu không có sự tăng trưởng viện trợ Mỹ và kinh tế. Tôi không thể ‘lấy ra một con thỏ từ một chiếc mũ’ trong năm 1972/73.

Nhã chọn người phó của Ngọc, Nguyễn Đức Cường, làm tổng trưởng mới. Sự lựa chọn cho thấy Thiệu đã về phe với người chủ trương thị trường tự do. Cường thân cận với Ngọc và chia sẻ với ông tầm nhìn về một nền kinh tế thị trường. Cường, một nhà kỷ trị khác không có khát vọng chính trị, sinh ra tại Hà Nội. Một người theo Công giáo, gia đình đã di cư vào miền Nam. Một sinh viên xuất sắc, ông đã từng nhận được học bổng của USAID và du học tại Mỹ. Khi trở về, ông tham gia Bộ Kinh tế và được thăng bậc. Như Ngọc, Cường nhận xét rằng ông “hiếm khi thảo luận với Thiệu về vấn đề gì trong đại thuộc chính sách kinh tế. Thái độ của tổng thống là, tôi không biết gì về kinh tế, tôi chỉ quan tâm đến tình hình quân sự và chính trị, còn anh thì lo chuyện này.”

Ba thay đổi lớn đồng thời xảy ra. Cao Văn Thân lặng lẽ về hưu, nhưng Trần Quang Minh, phó của Thân coi về Nông nghiệp đã từng góp công trong việc cải thiện chăm sóc thú y và tăng cường củng ứng chất đạm, được bổ nhiệm cầm đầu Tổng Cục Thực phẩm mới thành lập. Khủng hoảng gạo nghiêm trọng vào cuối hè và thu đã thuyết phục Thiệu là mình cần ai đó khác quân đội để quản lý trực tiếp việc cung cấp gạo. Triệu Minh đến dinh vào đầu tháng 12, Thiệu nói

Anh sẽ được giao nhiệm vụ khác không kém quan trọng hơn những việc anh đã làm … Tất cả điều tôi quan tâm là anh làm mọi việc có thể để ổn định thị trường gạo sao cho binh lính và công chức có thể ăn tâm mà chiến đấu chống lại Cộng sản thay vì ngày ngày phải lo âu về thực phẩm cho gia đình. Tôi cho rằng dự trữ gạo chiến lược là điều bắt buộc cho nỗ lực đó.

Theo Minh, ông chỉ có một nhiệm vụ: “tập trung thu mua gạo, vận chuyển, dự trữ vào kho, và phân phối trên cơ sở toàn quốc với quan điểm tư hữu hóa tất cả các hoạt động này càng sớm càng tốt.” Minh, giờ phải báo cáo lên Cường, được cấp một ngân sách lên đến 34 tỷ đồng, chỉ kém có ngân sách quốc phòng. Trong năm 1974, Minh triển khai việc dự trữ gạo chiến lược có thể nuôi ăn một năm cho quân đội và công chức trong mỗi vùng quân khu chợ đen mùa thu hoạch sau. Phân khúc tư nhân trong thị trường mua bán gạo phát đạt lên, và các nhà đầu cơ gạo người Hoa bị điêu đứng vì mỗi lần giá gạo tăng vọt hoặc lượng cung cấp giảm một cách giả tạo thì Minh lại hăm he sẽ mở toang cửa kho gạo khổng lồ của mình.

Thay đổi lớn thứ ba là thay ngoại trưởng Đức với Vương Văn Bắc, người đã từng giữ chức đại sứ miền Nam tại Vương quốc Anh từ năm 1972. Một người bắc khác, Bắc là một trong các luật gia nổi tiếng nhất ở Saigon. Ông đã từng có mặt trong phái đoàn CQMN tham dự hòa đàm Paris cho đến năm 1971 và sau đó phục vụ Thủ tướng Khiêm với tư cách cổ vấn pháp luật trước khi làm đại sứ ở Anh. Trong khi ông bị hạn chế cho các hoạt động độc lập của mình, năm 1974 ông sẽ phát động một cuộc công kích ngoại giao để chống lại các nỗ lực của Hà Nội muốn thuyết phục Liên Hiệp Quốc và các bộ phận thế giới khác nhìn nhận CQCMLT và CQMN có vị thế ngang nhau.

Tổng trưởng Kinh tế Cường bất ngờ gặp một tai họa kinh tế khác phải giải quyết: giá dầu tăng vọt như hoả tiễn. Tháng 10 1973  Trận chiến Yom Kippur ở Trung Đông đã khiến các nước Ả Rập tuyên bố cấm vận dầu chống lại các nước ủng hộ Israel. Dưới sức ép Ả Rập, Singapore, vốn lọc cho gần như tất cả trữ lượng dầu của miền Nam, từ chối bán xăng dầu cho Saigon. Hiệu quả có thể được lập tức cảm nhận. Vào ngày 20/11, Cường thông báo tăng giá xăng để giảm mức tiêu thụ xăng trong dân xuống 25 phần trăm trong vòng hai tháng. Giá xăng, vốn đã tăng 50 phần trăm từ tháng giêng, giờ lại tăng gấp đôi. Giá xăng dầu tăng đe doạ sẽ làm lật gọng một nền kinh tế vốn đang loạng choạng.

Phe Cộng, khéo léo trong chiến tranh kinh tế, tìm ra một cách để trả đũa vụ cấm vận gạo. Vào đêm 3/12, một nhóm đặc công lẻn vào kho dầu chính của Saigon ở Nhà Bè và phá hủy nhiều bồn dầu dự trữ. Khoảng một phần ba trữ lượng dầu quốc gia bốc cháy trong ngọn lửa. Mặc dù Hoa Kỳ vượt qua Singapore chở dầu trực tiếp cho QLVNCH để các đơn vị tác chiến không đình trệ hoạt động, kho xăng Nhà Bè chỉ dành cho người dân Saigon. Cường ngay lập tức lập kế hoạch phân phối, ưu tiên cho hoạt động vận tải lương thực từ đồng bằng đến Saigon.

Tai họa ở kho xăng Nhà Bè kết thúc một năm đầy khó khăn cho miền Nam. Nhìn lại các sự kiện của năm vừa qua, Thiệu đâm ra bực tức. Ông thn vãn, “Niềm hy vọng của toàn thể dân tộc chúng ta giờ đã trở thành nỗi tuyệt vọng đắng cay.” Nhưng rồi tương lai sẽ còn tồi tệ hơn nữa.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s