Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 21)

  CHƯƠNG 21:  “GIỮA TÔI VÀ CÁI CHẾT CHỈ CÓ MỘT BƯỚC”

aaa

George J. Veith

Quế Anh dịch

Cuộc Công Kích Phục Sinh và Hiệp Định Paris

Phía sau lá chắn của hoả lực Mỹ và nguồn tài chính hào phóng, và mặc dù trải qua bốn năm gian khổ vừa qua, một sự đồng thuận chính trị mong manh của người Quốc gia ló dạng. Hầu hết dân chúng đều nhất trí rằng CQMN là người bảo vệ hợp pháp lợi ích quốc gia. Điều này cho phép Thiệu củng cố và khuếch trương nhà nước. Nhưng công trình mà Thiệu đã gầy dựng vẫn còn bị đe doạ. Về quân sự, Quân đội Nhân dân vẫn là một hiểm họa chết người, trong khi về chính trị, câu hỏi lớn không còn là một sự lựa chọn trần trụi giữa người Cộng sản và người Quốc gia. Cũng nghiệt ngã không kém là việc xác định một cấu trúc chính trị bao hàm nhằm giải quyết các tranh chấp giữa Thiệu và những tiếng nói chính trị của .… các lựa chọn khó khăn xung đột nhau. Họ phải tạo dựng một chính sách tài chính kiềm chế lạm phát đồng thời phải chi tiêu quỹ công để xây dựng các ngành kỹ nghệ mới. Cùng lúc đó, họ đối mặt với tổ hợp u ám gồm sự cắt giảm viện trợ và sự miễn cưỡng đầu tư của phân khúc tư nhân vào các dự án lớn. Tệ hơn nữa, xu hướng kinh tế vĩ mô đang xung đột nhau. Nhập khẩu đã bùng nổ trong quý một 1972, bành trướng mức cung ứng tiền tệ. Có nhiều tiền mặt lưu hành luôn báo trước giá cả tăng vọt. Hiện giờ, việc người Mỹ rút quân đã gây ra nạn thất nghiệp, trong khi mỗi năm 200,000 người trẻ mới gia nhập lực lượng lao động. Để cung ứng việc làm cho họ và thêm hàng ngàn người lính giải ngũ khi hòa bình đến, Saigon cần phát triển ngành kỹ nghệ hiện đại. Nông nghiệp không thể thu hút mọi người. Đó dường như là một nhiệm vụ bất khả trong thời bình, nói chi đến một đất nước đang có chiến tranh.

Trong khi đó, Thiệu chuẩn bị kỹ lưỡng cho các cuộc bầu cử tương lai. Trong khi PTQGCT, Đại Việt Cách Mạng, Phật tử Ấn Quang, và Đảng Công Nông đã chiếm được các ghế trong quốc hội, không đảng nào phát triển đủ sức mạnh tổ chức đến mức có thể cạnh tranh ở tầm vóc quốc gia. Thế thì làm thế nào có thể đạt được mục tiêu của một tổ chức chính trị Quốc gia hùng mạnh? Phan Quang Đán trước đây đã đề nghị thành lập một đảng cầm quyền. Gần đây hơn, anh trai Thiệu và lãnh tụ Đại Việt lão thành Nguyễn Văn Kiểu đã lập luận về “một tổ chức được xây dựng rộng rãi quanh một vài đảng ôn hòa hiện hữu mà cuối cùng có thể trở thành một phương tiện  chuyển tải việc tham gia chính trị đại chúng,” về bản chất là sự lặp lại các thử nghiệm Mặt trận đã thất bại. Lãnh tụ lao động Trần Quốc Bửu phát biểu rằng Kiểu đã tiếp cận với họ trước cuộc bầu cử 1971 để bàn bạc về “một chính đảng mới dựa trên hậu thuẫn của CVT và PTQGCT. Tuy nhiên, sau đó Bửu bảo với các viên chức Mỹ là Kiểu đã “bỏ qua các đề nghị trước đây này” và thay vào đó đang lên “kế hoạch cho một Đảng Dân chủ giống như tổ chức Cần Lao của Diệm.”

Hoàng Đức Nhã không đồng ý với lời xác nhận của Bửu. Ông vẫn duy trì ý kiến Thiệu đã một lần nữa “chiêu mộ Bửu làm người chủ chốt để thảo luận vấn đề này với các chính đảng khác bởi vì Thiệu không thu được kết quả gì khi đích thân bàn bạc với lãnh đạo các đảng chủ chốt. Họ ngờ vực thiện ý của ông và không muốn dẹp bỏ các khác biệt vì lợi ích quốc gia.” Nhã cho rằng Thiệu quyết định tìm cách tạo ra một đảng cầm quyền chỉ sau khi Bửu không chiêu mộ được các đảng khác.

Tuy vậy, cũng có những nguyên do khác. Chiến dịch tranh cử tổng thống thắng lợi đã thuyết phục Thiệu rằng chỉ có bộ máy nhà nước có thể động viên dân chúng một cách đầy đủ đi đến chiến thắng trong cuộc đấu tranh chính trị. Theo Nguyễn Văn Ngân, “Thiệu quyết định thành lập một đảng cầm quyền, nhưng nó chỉ được thông báo chính thức tiếp sau cuộc bầu cử tổng thống 1971.” Mục tiêu chính của đảng mới là “một đường lối giải quyết với nỗ lực của người Mỹ nhằm kết thúc chiến tranh bằng cách làm cho bộ máy nhà nước hiệu quả hơn trong công tác tổ chức quần chúng.” Tổng thống xem một đảng cầm quyền đem cho.minh một đa số phiếu vững chắc như một bức tường lửa chống lại các yêu sách Cộng sản mà ông bác bỏ, bất kỳ âm mưu của Hoa Kỳ nào loại bỏ mình, và các cuộc tranh chấp tương lai với CQCMLT. Ngân lặng lẽ nhận được phép từ Bộ Nội vụ, vào ngày 5/10/1971, để tiến hành hoạt động tổ chức và chiêu mộ cho Đảng Dân Chủ. Kế hoạch ban đầu của Thiệu là cho Khiêm cầm đầu Đảng Dân Chủ “để Khiêm có thể tranh cử chức Tổng thống vào năm 1975. Đây là một phần trong kế hoạch bảo đảm Việt Nam Cộng Hòa sẽ sẵn sàng cho các cuộc tổng tuyển cử thế nào cũng sẽ được tổ chức theo điều khoản của hiệp ước vãn hồi hòa bình ở Việt Nam.” Thiệu, tuy nhiên, chẳng bao lâu đối ý về ý định cho Khiêm cầm đầu Đảng Dân Chủ. Vào cuối tháng 2 1972, các tin tức đầu tiên về đảng đã lan ra, kèm theo việc Thiệu có thể tu chính hiến pháp cho phép nhiệm kỳ thứ ba. Đáp lại quả bóng thăm dò này, Thiệu lập tức chối là mình không có dự tính nào cho nhiệm kỳ thứ ba. Là một chính trị gia thận trọng, tổng thống không nói toàn bộ sự thật. Ông chỉ đơn giản xếp vào ngăn kéo quyết định về một nhiệm kỳ ba.

Mặc dù Công kích Phục Sinh làm gián đoạn việc tuyển mộ, vào tháng 11 1972, hầu hết công chức đều vào đảng. Một vài chính trị gia tiếng tăm từ các đảng khác cũng nhanh chóng theo về đảng mới. Một trong số đó là Thượng Nghị sĩ Nguyễn Văn Ngãi, một thành viên lâu năm của Đại Việt Cách Mạng. Ông nhận thức được rằng “với việc Mỹ rút quân, chúng ta phải đoàn kết sau lưng lãnh đạo của mình. Khủng hoảng đang rơi xuống đầu chúng ta.” Một người khác là Trần Văn Đôn. Vào tháng 11 1971, ông đã gặp Thiệu và đề nghị được hỗ trợ ông “tổ chức một đảng cầm quyền mới.” Đôn giờ đây hậu thuẫn Thiệu hoàn toàn, đã kết luận rằng Minh Cồ là “vô phương” còn Kỳ thì “thất thường và chỉ làm việc tùy hứng.” Thiệu, trái lại, “biết tổ chức … đã hiểu nhiều về các vấn đề của đất nước, và ông cần cù.” Đôn cũng không còn công kích Thiệu nữa vì một lý do khác.  Em trai của ông là người phát ngôn báo chí của phái đoàn CQMN tại Paris, và ông ta bảo với Đôn rằng Cộng sản “đang lợi dụng những phát biểu trước đây của tôi phê phán chính quyền Thiệu trong phần trình bày của họ trong hội nghị. Vì lý do đó, tôi ngừng chỉ trích và chống đối chính quyền.” Đôn giờ đây là một thành viên đầy đủ của câu lạc bộ “nếu bạn không thể đánh bại họ, hãy gia nhập họ”.

Trong khi Thiệu đang phát triển một đảng nhà nước được tổ chức chặt chẽ nhằm đánh bại CQCMLT, bình định hoá vẫn đứng đầu trên nghị trình chính sách của ông. Nỗ lực bình định hoá năm 1971, kết thúc vào tháng 2 1972, đã sản sinh các kết quả tuyệt vời. Thống kê của HES chỉ ra rằng hầu hết dân chúng giờ đây đang sống trong vùng an ninh tương đối. Sự bảo vệ được tăng cường là kết quả của “hoạt động được cải thiện của các lực lượng thực địa” cùng với LLNDTV, Phượng Hoàng, và cảnh sát khu vực. Bốn triệu tình nguyện viên không ăn lương công tác trong LLNDTV, trong khi gần 32,000  cảnh sát giữ an ninh làng ấp. Bốn năm trước, không có ai cả. Dù được trang bị nhẹ quân tình nguyện có nhiệm vụ đánh bại quân du kích và cán bộ địa phương, không phải các tiểu đoàn quân chính quy trang bị hiện đại.

Cuộc khảo sát PAAS vào tháng 12 1971 chỉ ra rằng 90 phần trăm những người Việt Nam được hỏi cho rằng tình hình an ninh được cải thiện nhiều. Khoảng 46 phần trăm cho rằng việc này là nhờ Địa phương quân/Nghĩa quân làm việc tốt hơn, trong khi 37 phần trăm cho rằng do hiệu năng của địch giảm sút. Nhiều người cho rằng hoặc không có cán bộ Cộng sản nằm vùng ở khu vực họ hoặc số cán bộ sụt giảm nhiều. Khoảng 62 phần trăm nói kẻ thù không thể tuyển mộ những thành viên mới hoặc chỉ làm được điều ấy một cách khó khăn. Việc đánh thuế của người Cộng sản còn thỉnh thoảng xảy ra về đêm . Tóm lại, việc người Cộng sản hiện diện ở nông thôn là yếu, một trong các lý do chính để Hà Nội phát động một cuộc công kích.

Những lĩnh vực khác cũng cho thấy tiến bộ đáng kể. Số dân tị nạn đã giảm đáng kể, với hơn 300,000 người trở về nhà cũ và 110,000 người đi định cư nơi khác. Gần 10,000 ngôi nhà đã được xây cất cho thương phế binh, trong khi cải cách ruộng đất đã cấp giấy sở hữu đất cho một triệu mẫu đất khác. Trong khi phần đông vẫn còn cày bừa bằng trâu bò, 32 phần trăm giờ có máy cày, một sự cải thiện không thể tin được so với vài năm trước. Cải cách Ruộng đất và các dự án Tự Túc đã tiến bộ quá tốt đến nỗi chương trình PTNT đang được biến đổi. Hàng ngàn cán bộ PTNT được chuyển đổi thành cảnh sát làng hoặc giờ công tác tại ủy ban địa phương. Kể từ ngày thành lập chương trình PTNT đã đạt được thành tựu hỗn hợp, nhưng lực lượng cán bộ đã đi đầu trong nỗ lực hỗ trợ nông thôn của CQMN. Khoảng 3,500 người đã hy sinh khi thi hành nhiệm vụ đó.

Đánh giá việc bình định một cách tổng thể, tuy nhiên, là điều khó khăn vì không có tỉnh nào tượng trưng Việt Nam như một tổng thể. Mỗi miền có những đặc điểm riêng khiến không thể tổng quát hóa. Chẳng hạn, vùng Cửu Long khoe rằng có 82 phần trăm làng an ninh vào cuối năm 1971. Để so sánh, HES (Hệ thống Đánh giá Ấp) cho thấy chỉ có 62 phần trăm dân số dọc theo bờ biển từ Quảng Trị đến Phú Yên sống trong các ấp tương đối an ninh, một bậc thấp hơn mức an ninh trên thang điểm của HES. Phần nhiều các kết quả thấp hơn trong vùng này là do hai nhân tố. Nhân tố thứ nhất là những khu vực thuộc vùng thấp duyên hải đã từng nằm dưới sự kiểm soát của Cộng quân nhiều năm rồi. Một cuộc nghiên cứu sâu rộng thời hậu chiến ở tỉnh Bình Định kết luận rằng dù là một trong những nơi bình định hoá cách tân nhất của Hoa Kỳ, các người Cộng sản kiên cường vẫn duy trì một số các hạ tầng địa phương của mình. Nhân tố thứ hai là do nằm tiếp giáp với các đơn vị chủ lực của QĐNDVN. Không có lực lượng Mỹ thường xuyên hành quân càn quét họ và dù đã đẩy lùi QĐNDVN về sâu trong vùng cao nguyên thưa thớt dân cư như trước kia, Cộng quân đã trở lại đe dọa vùng thấp thêm một lần nữa.

CÒN TÌM KIẾM HÒA BÌNH

Sợ lặp lại “bất ngờ tháng 10” năm 1968 của Lyndon Johnson, Thiệu thận trọng theo dõi cuộc bầu cử tổng thống sắp đến của Hoa Kỳ để tìm kiếm các dấu hiệu của một thỏa thuận hòa bình đột ngột. Tại một cuộc họp báo ngày 16/9/1971, ông phát biểu rằng “ta không được mong chờ tiến bộ thực sự ở Paris. Tuy nhiên, tôi không chống lại một hiệp ước. Tôi sẵn sàng ra một giá tốt cho một nền hòa bình tốt đẹp.” Thiệu không thấy dấu hiệu gì cho biết Hà Nội tha thiết với thỏa thuận bầu cử, không cho đến khi có một trận xung đột quyết định trên chiến trường. Cuối cùng, dù vậy, CQCMLT cũng sẽ đòi hỏi một cuộc tổng tuyển cử. Báo trước với Đảng Dân Chủ của mình, “chính vì lý do này chúng ta phải thật mạnh về phương diện chính trị.”

Vài ngày sau, tùy viên của Nixon Alexander Haig đến Saigon để thảo luận một đề nghị hòa bình mới của Mỹ. Ông ta yêu cầu Thiệu nên từ chức một tháng trước cuộc bầu cử, tức chấp nhận một phần của yêu sách Bà Bình. Yêu cầu khiến Thiệu “vô cùng bẽ mặt,” nhưng ông không chống đối để không bị xem là “một trở ngại cho hòa bình.” Nhìn lại, Kissinger nhận xét rằng “chiến lược của chúng tôi là người nào trong chúng tôi cũng có thể kiến tạo hòa bình, nhưng bộ máy hành chính Nixon cần chứng tỏ động thái để xoa dịu các quan ngại trong nội bộ nước Mỹ. Yêu cầu ông ta từ chức là khôn khéo một cách khiếm nhã … Bảo với người đứng đầu một chính quyền nước ngoài từ chức là một động thái tồi tệ.”

Sau đó người Mỹ tìm cách gặp riêng với miền Bắc để thảo luận về kế hoạch mới, Hà Nội thoái thác. Để buộc tay Hà Nội và chặn trước sự chống đối tiềm năng khi Quốc hội nhóm họp lại, Nixon quyết định phơi bày các cuộc trao đổi bí mật giữa hai bên. Vào đầu tháng giêng 1972, Bunker báo cho Thiệu biết về quyết định của Nixon. Thiệu phản ứng nóng giận vì không được tham khảo trước, và ông đòi cho thời gian để duyệt xét đề xuất của Nixon. Mặc dù Bunker và sĩ quan tình báo của Thiệu ở Paris luôn tin cho Thiệu biết về các cuộc đối thoại bí mật giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Nhã nhấn mạnh rằng “đây là lần đầu tiên chúng tôi biết chi tiết về các gặp gỡ bí mật của Kissinger với người miền Bắc.” Thiệu trả lời với Bunker rằng “có quá nhiều vấn đề ngoài vấn đề bầu cử mà trước đây tôi chưa từng biết. Nếu Nixon cứ nhất định thông báo đề xuất này tôi không thể cùng ông ta phát đi văn bản này.” Cuối cùng Bunker thuyết phục ông, nhưng sự phản kháng kiên quyết của tổng thống là diềm báo trước cho đáp ứng của ông cuối năm đó khi hiệp định hòa bình sắp sửa hoàn tất.

Vào ngày 25/1, Nixon nói với người Mỹ. Ông tiết lộ những cuộc đối thoại bí mật, yêu cầu Hà Nội ngừng bắn ngay lập tức và phóng thích tù binh, và đưa ra việc Thiệu sẽ từ chức một tháng trước khi các cuộc bầu cử được quốc tế giám sát bao gồm cả CQCMLT được tổ chức. Trong một bài diễn văn không lâu sau đó trên đài phát thanh, Thiệu nhắc lại các luận điểm của Nixon, kêu lên rằng “tôi luôn luôn muốn hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích lớn hơn của đất nước và nhân dân.” Ông một lần nữa đòi hỏi CQCMLT từ bỏ bạo lực trước khi bầu cử.

Viết cho Nixon, Thiệu hy vọng việc mình đồng ý từ chức và cho phép “bên kia tham gia” trong một cuộc bầu cử sẽ là “một chứng cứ hiển hiện của ước muốn hòa bình đích thực của tôi.” Lặp lại những luận điểm đã phát biểu từ lâu, ông viết rằng “trên cơ sở các trải nghiệm của chúng tôi với chủ nghĩa bành trướng Cộng sản, tôi tin vào khả năng của QĐVNCH có thể tự bảo vệ mình là chìa khóa của nền hòa bình lâu dài chứ không là chữ ký của người Cộng sản trên hiệp định hòa bình.” Thiệu lưu ý rằng hòa bình cần những đảm bảo có hiệu quả nhưng điều đó có thể khó thực hiện “theo quan điểm của xu thế tâm lý và chính trị ở các xứ sở tự do.” Đó là cách tế nhị để yêu cầu Nixon về một phản ứng quân sự trong tương lai của Hoa Kỳ khi, không phải là nếu, Hà Nội phá vỡ hiệp ước hòa bình. Thông báo gần đây cho rằng Hoa Kỳ sẽ giảm nhân lực ở Nam Hàn xuống 20,000 và rút quân khỏi Đài Loan sau khi Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu loại bỏ xứ này ra khỏi LHQ đã dấy lên ngờ vực về các dự tính của Mỹ. Sau bài diễn văn của Nĩxon, Bùi Diễm bỏ ra hai tuần đi vận động các quan chức Mỹ và theo dõi báo chí Hoa Kỳ. Đúc kết của ông rất ảm đạm. Ông cảnh báo với Thiệu rằng “sau khi phơi bày các cuộc đối thoại bí mật, vấn đề Việt Nam bị lột trần mọi ảo tưởng và chỉ còn vỏn vẹn lại các lựa chọn cơ bản. Điều đó có nghĩa là vấn đề không còn là việc rút quân mà về sự yểm trợ cho CQMN.” Ông lưu ý rằng trong khi Nixon vẫn cam kết, “các ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ giờ đây gần như đồng loạt kêu gọi chấm dứt chiến tranh cho dù điều đó sẽ dẫn đến thắng lợi của Cộng sản trong một tương lai xa.”

Bùi Diễm buồn rầu một lần nữa xin được bố trí một công tác khác. Vào cuối tháng 2 1972, Nhã báo tin với ông Thiệu đã chấp nhận đơn từ chức của ông. Ông sẽ được Trần Kim Phượng, một nhà cựu ngoại giao, thay thế. Nhã phủ nhận ý kiến cho rằng mối quan hệ cũ của Diễm với Kỳ đã góp phần trong việc này. Thật ra Thiệu muốn có một tiếng nói khác ở Mỹ, một người nào đó có thể đưa ra “các khuyến cáo khôn ngoan” vì họ “đang bước vào một giai đoạn tinh tế.” Sứ quán Mỹ xem Phượng là một nhân viên Ngoại vụ “có năng lực nhất” của CQMN. Thượng viện chấp thuận việc bổ nhiệm vị đại sứ mới vào ngày 10/5, và ông lên đường đến Washington vào giữa tháng 6. Sau 5 năm ở Washington cuống cuồng chiến đấu cho đất nước mình, Bùi Diễm kiệt sức phải đi nghỉ dưỡng một thời gian, cuối cùng trở về Saigon vào tháng 8. Tuy nhiên, ông vẫn chưa thôi nghĩa vụ đối với đất nước mình.

Sau bài diễn văn của Nixon, Bunker gửi tổng thống dự đoán của ông cho năm 1972. Ông nhận xét rằng “thành quả của những nỗ lực của chúng ta sau bao nhiêu năm ở Việt Nam sẽ được thử nghiệm năm nay và năm tới. Chúng ta sẽ đi lại trên một eo biển hẹp và nguy hiểm giữa một bên là kẻ thù còn nhiều sức lực khủng khiếp và bên kia là sức ép chính trị  ở trong nước.” Vậy mà vị đại sứ luôn lạc quan tin rằng “chúng ta có thể được cổ vũ bởi các tiến bộ đã đạt được trong năm 1971” của nhân dân miền Nam. Họ đã “vui lòng đỡ lấy gánh nặng,” nhưng nhiệm vụ của người Mỹ “sẽ là duy trì quyết tâm cung ứng sự hậu thuẫn thiết yếu để người miền Nam có thể sống còn trong các cuộc thử thách sắp tới.” Linh cảm của Bunker đúng một cách đau đớn. Từ Tết 68, Cộng quân đã là người bị săn đuổi, và các đồng minh là người đi săn. Điều đó sắp sửa thay đổi.

HÀ NỘI ĐÁNH

Người miền Nam gọi cuộc tấn công 1972 của Hà Nội là Mùa Hè Đỏ Lửa. Người Mỹ gọi nó là Công Kích Phục Sinh. Hà Nội đặt mật danh cho nó là “Nguyễn Huệ”, tên của Hoàng đế Quang Trung, vị vua được tôn kính đã đánh đuổi quân Tàu vào năm 1789 và giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của Trung Quốc. Mục tiêu của Bộ Chính trị là hủy diệt binh định hoá, gây cho QĐVNCH một thảm bại có ý nghĩa, và do đó chịu nhượng bộ phần lớn ở Paris. Trước cuộc công kích, Lê Đức Thọ, thành viên Bộ Chính trị và trưởng đoàn thương thuyết của Hà Nội tại Paris, nói rõ lý do phải có trận công kích vào các bộ tư lệnh miền nam. Thọ và các đồng chí của mình trong Bộ Chính trị cố ý phớt lờ những thành tựu của Saigon; họ chỉ thấy những gánh nặng của họ. Về kinh tế, “tình hình miền Nam tiếp tục tồi tệ và không có gì có thể chữa lành, cho dù kẻ thù có đưa ra bất cứ giải pháp kinh tế nào.” Về quân sự, ông tin rằng Việt Nam hóa đã thất bại, sự rút lui của các lực lượng Mỹ đã làm tình thần người miền Nam sụp đổ, và không còn hoả lực Mỹ QLVNCH yếu đi về lượng. Về chính trị, “xung đột nội bộ trong hàng ngũ kẻ thù đang trở nên nghiêm trọng hơn.” Ông nhìn thấy ở sự thông thoáng của những khác biệt chính trị ở miền Nam không như tính cọ xát điển hình của nền dân chủ mà là dấu hiệu của người Quốc gia đang yếu kém và đang xào xáo. Thọ cũng tin ý chí theo đuổi chiến tranh của người Mỹ đang lụi tàn do các hỗn loạn trong nước từ thành phần đối lập phản chiến. Mặc dù Nixon đã tìm cách gây sức ép với Hà Nội thông qua Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không hiệu quả. Thật ra, Thọ báo cáo, chuyến đi của Nixon tới Trung Quốc đối với họ “không thành vấn đề”. Rõ ràng, ông phát biểu, “chúng ta đang ở trong tư thế chiến thắng, chúng ta tiến công, và chúng ta đang vươn lên, trong khi kẻ thù ở trong vị thế bại trận, thụ động và phải phòng ngự và đang đi xuống. Chúng ta có triển vọng lớn lao để đạt đến  một thắng lợi lớn lao.”

Đó là học thuyết Macxit áp dụng vào tình hình Việt Nam. Như đã từng áp dụng vào năm 1965 và 1968, Bộ Chính trị tin rằng Saigon sẽ gãy đổ dưới sức nặng của một cuộc công kích quân sự và khuấy động chính trị trong các thành phố. Thọ cũng báo tin cho Đảng Cộng sản Pháp một mục tiêu chủ chốt của Bộ Chính trị: loại bỏ Thiệu. Bộ Chính trị xem Thiệu vừa là chất keo kết dính miền Nam lại với nhau vừa là chất rượu quỳ để thử quyết tâm của Mỹ. Một khi QĐNDVN bao vây Saigon,

các cán bộ chính trị, cùng với báo chí nước ngoài, có thể động viên nhân dân … theo về Hà Nội bắt buộc Thiệu ra đi. Ông ta, và chỉ mình ông ta, đang đứng cản đường chúng ta thực hiện kế hoạch, vốn không thay đổi từ năm 1945. Chúng ta sẽ đi đến mục tiêu chỉ bằng cách dựng lên một chính quyền khác ở Saigon. Mọi điều còn lại chỉ nhằm đi đến cứu cánh này. Thiệu chịu trách nhiệm cho Việt Nam hóa. Không có ông, nó sẽ tan rã ngay lập tức … Ngoài ra, đây là một phép thử cho chúng ta chống lại người Mỹ. Qua các yêu sách của chúng ta, chúng ta biết được Nixon sẽ còn hậu thuẫn bao lâu nữa. Ngay khi họ bỏ rơi ông ta, chúng ta sẽ thắng.

Sau nhiều tháng chuẩn bị, Bộ Tư lệnh Tối cao quyết định tung hầu hết quân lực chống lại miền Nam. Đây là đợt tấn công rầm rộ chớp nhoáng thứ ba của Hà Nội nhằm lật đổ CQMN. Trước tiên là phái sư đoàn QĐNDVN đến Cao nguyên Trung phần phía bắc vào cuối năm 1964 và đầu năm 1965 và nỗ lực tiếp theo nhằm cắt miền Nam ra làm hai. Lực lượng Mỹ đã làm cùn nhụt nỗ lực đó. Tiếp theo là Công Kích Tết 1968, mà kết quả là một thảm bại ngoạn mục và phải mất bốn năm củng cố phục hồi.

Như Thọ đã nói rõ, họ tự tin lần này sẽ khác. Thay vì sử dụng lực lượng địa phương để đánh chiếm các trung tâm quyền lực của CQMN ở thành phố, thay vào đó QĐNDVN sẽ tung các đơn vị chủ lực đánh chiếm nông thôn và đánh bại quân đội miền Nam. Viện trợ của Liên Xô và Trung Cộng đã biến đổi QĐNDVN từ bộ binh nhẹ thành một dy-na-mô vũ khí phối hợp. Cuộc công kích bắn đầu sẽ đánh trên ba mặt trận với 9 sư đoàn bộ binh được yểm trợ bởi hàng trăm xe bọc thép và trọng pháo. Họ sẽ tấn công Sư đoàn 1 ở phía bắc, phần phía bắc của Cao nguyên Trung phần, và từ Cao Miên dọc theo Quốc lộ 13 đẫn đến Tỉnh Tây Ninh và từ đó đến Saigon.

Cuối cùng, 14 sư đoàn bộ binh sẽ tham chiến ở miền Nam, nhưng Tướng Võ Nguyên Giáp giữ lại một  số đơn vị ở Lào, Cao Miên, và trong nước.

Vào ngày 30/3/1972, ba sư đoàn bộ binh tấn công qua vùng phi quân sự và từ Lào. May thay cho Saigon, Hà Nội phải phát động cuộc công kích từ các căn cứ bên kia biên giới, thành ra tạo cho QĐVNCH có được chiều sâu phòng thủ nào đó, không gian sẽ cho thấy là có tính quyết định. Sư đoàn QĐVNCH số 3 vừa mới thành lập – vá víu lại từ binh lính đào ngũ, thành phần cặn bã xã hội, và tân binh – canh gác vùng phi quân sự. Hai lữ đoàn Thủy quân Lục chiến miền Nam trấn giữ sườn phía tây giáp với Lào. Biết chính sách Thiệu là không nhượng tấc đất nào, Trung tướng Lãm tiếp tục chiếm đóng một chuỗi ụ pháo do Mỹ xây dựng sát vùng phi quân sự nhằm bảo vệ đồng bằng hẹp giữa núi non và biển cả. Sau khi pháo binh nã vào các ụ pháo, QĐNDVN xung bộ binh và tăng tấn công chóp nhoáng và nhanh chóng đập nát lá chắn phòng thủ mong manh. Chỉ trong vài ngày, Sư đoàn 3 bỏ chạy, còn Trung đoàn 56 của nó đầu hàng. Sự rút lui của sư đoàn làm hở phía sau và buộc họ phải rút lui. Khoảng 100,000 dân tị nạn chạy đến thủ phủ Tỉnh Quảng Trị.

Khi QĐNDVN dừng lại để tiếp tế, miền Nam vội vã lập một phòng tuyến quanh thành phố Quảng Trị. Được yểm trợ bởi máy bay ném bom và pháo hạm Mỹ rất ác liệt, miền Nam cố thủ đến hết tháng 4, nhưng địch tiếp tục gây sức ép, buộc Sư đoàn 3 phái bỏ thành phố vào 1 tháng 5, thủ phủ đầu tiên rơi vào tay địch kể từ chiến tranh với Pháp. Trận rút lui nhanh chóng biến thành cuộc tháo chạy tán loạn, và Thiệu ra lệnh bắt giữ sư đoàn trưởng. Huế là thành phố tiếp theo ở phía nam trên Quốc lộ 1. Khi bộ đội QĐNDVN chiếm được hai ụ pháo phòng vệ đường phía tây vào thành phố và một số binh lính VNCH cướp bóc phóng hoả ngôi chợ trung tâm, cố đô liền chìm ngập trong nỗi hoảng loạn. Sợ tái diễn một trận thảm sát Cộng sản, 200,000 người lũ lượt chạy khỏi thành phố. CORDS ước tính rằng ‘hai phần ba Huế”  chạy về Đà Nẵng cách đó 60 dặm. Giao thông tắc nghẽn trên Quốc lộ 1 và Đèo Hải Vân giữa hai thành phố. Các trường học và cơ quan chính phủ ở Đà Nẵng lập tức đông nghẹt người tị nạn. Ở Cao nguyên Trung phần phía bắc QĐNDVN đánh đuổi Sư đoàn 22 của QĐVNCH tại Tân Cảnh và bao vây thành phố Kontum. Sư đoàn 23 QDVNCH, do Đại tá Lý Tòng Bá chỉ huy, sĩ quan thiết giáp đã từng dẫn đầu cuộc tấn công tại Áp Bắc và dinh Gia Long của Diệm, vội vàng được rút từ Nam Cao nguyên Trung phần và được lệnh gìn giữ Kontum. Tại Quân đoàn III, bộ binh và xe bọc thép của QĐNDVN từ Cao Miên tràn vào và đánh chiếm quận lỵ Lộc Ninh, bao vây Sư đoàn 5, và các lực lượng tỉnh và Biệt động ở thủ phủ tỉnh An Lộc. Vào đầu tháng 5, hai sư đoàn QĐVNCH đã bị tiêu diệt (sư đoàn 3 và 22), hai bị bao vây (sư đoàn 5 và 23), hai đang chịu sức ép nặng nề ở Quân đoàn I (sư đoàn 1 và 2), và các binh chủng tinh nhuệ Nhảy dù, Thủy quân Lục chiến, và Biệt động đã nhuộm máu. Hơn phân nửa lực lượng trên bộ của miền Nam đang đối mặt với thảm họa tiềm năng.

Nhiều lãnh đạo miền Nam lập tức đổ lỗi cho Thiệu đã để cục điện đổi chiều. Lãnh tụ ĐVCM Hà Thúc Ký đặc biệt chỉ trích tổng thống vì “không cố gắng tập kết các phần tử Quốc gia.” Ông ta nói đúng. Mặc dù Thiệu có nói trên đài phát thanh, mãi đến 24/4 ông mới xuất hiện đầu tiên trước công chúng. Thay vì chường mặt chỉ đạo đất nước chống kẻ xâm lược, ông đã ngồi lì trong văn phòng cố gắng xoay sở tình thế. Ông còn từ chối sự hợp tác của các đối thủ cũ như Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Minh, hoặc Phật tử Ấn Quang, sợ rằng thái độ đó có thể tạo uy tín chính trị cho họ. Như Diệm, Thiệu thấy ở họ như những kẻ lật đổ hơn là các đồng minh chung tay chống cộng. Ông bỏ phí một cơ hội để biến tình đoàn kết quốc gia đang dâng cao trong những ngày sau cuộc tấn công, tương tự như những gì đã xảy ra sau Tết Mậu Thân, thành một lực lượng chính trị chống cộng mà ông đã tìm kiếm một cách tuyệt vọng.

.

Vị phó tổng thống trước đây cũng khiển trách tài lãnh đạo của Thiệu. Khi cuộc công kích mới bắt đầu, Kỳ lập tức bay xuống Quân đoàn I và II để giám sát tình hình. Nói gì thì nói, chứ Kỳ lúc nào cũng chạy về hướng có tiếng đạn pháo. Ông dự tính yểm trợ tính thần của Không Lực vì ông coi không lực là sức hậu thuẫn chủ yếu cho tinh thần chiến đấu của bộ binh. Không quen với lối chiến tranh quy ước, Kỳ cho rằng binh lính đang khô héo dưới “dàn pháo dữ dội và xe tăng và cơn cuồng nộ của bộ đội Bắc Việt.”

Tuy vậy, Thiệu không co ro trong văn phòng mình. Nếu Kỳ là thỏ, luôn năng nổ và phấn khích, thì Thiệu là rùa, chậm lụt nhưng có phương pháp. Về tính khí, Thiệu không có khả năng xử trí nhanh nhẹn, quyết đoán, nhưng việc thất thủ Thành phố Quảng Trị đã vực ông dậy. Ông quyết định thay cả Hoàng Xuân Lãm và Ngô Dzu. Ông triệu hồi Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng từ vùng Cửu Long vào ngày ⅗ và ra lệnh ông chiếm lại Quân đoàn I. Tùy viên quân sự của Thiệu, Thiếu tá Nguyễn Xuân Tâm, nhớ lại rằng ngay sau khi Trưởng đến Đà Nẵng, ông ta gọi về Dinh báo cáo việc binh sĩ đào ngũ của Sư đoàn 3 đang cướp bóc Huế. Tâm nói rằng Thiệu *bảo Trưởng bắn bỏ một vài tên gây rối, Thiệu sẽ chịu trách nhiệm.” Được Thiệu ủng hộ, Trưởng ra lệnh quân cảnh gom hết bọn đào ngũ và bắn bỏ tại chỗ những ai chống lệnh. Ông yêu cầu mọi công chức trở lại nhiệm sở, gọi đến  Chuẩn tướng Nguyễn Duy Hinh, người phụ tá được ông tin cậy, tái lập Sư đoàn 3 đã mất tình thần, và lên truyền hình và đài phát thanh hứa sẽ cố thủ Huế. Tài lãnh đạo mạnh mẽ và tiếng tăm thực sự của ông cùng với sự tiếp viện kịp thời lập tức đem lại phấn chấn cho các lực lượng ở Quân đoàn I. 

Vào ngày 10/5, Thiệu thay Ngô Dzu bằng Thiếu tướng Toàn, người mà ông vừa cách chức chỉ huy Sư đoàn 2. Dù tiếng tăm không mấy ngon lành, ông cùng một giuộc với Đổ Cao Trí. Cả hai đều cực kỳ tham nhũng, lả lướt với phụ nữ nhưng lại là các chiến sĩ rất ngầu, đánh đấm cừ khôi. Thiệu cũng thay thế các chỉ huy sư đoàn Dù và Thủy quân Lục chiến già khú bằng các người trẻ được Mỹ đào tạo. Sau nhiều năm làm môi giới quyền lực, Trung tướng Lê Nguyên Khang và Hoàng Xuân Lãm giờ chỉ huy bàn giấy trống trơn tại Bộ Tổng Tham mưu Liên quân. Thiệu cũng ra lệnh “mọi nhân viên nhà nước” và LLNDTV “phòng thủ vị trí nơi họ làm việc mà không có Địa phương quân/Nghĩa quân tiếp ứng” và hỗ  trợ dân tị nạn. Nhằm mục đích đó, mọi nhân viên nhà nước được lệnh trực nhiệm sở ngày đêm. “Các biện pháp kỷ luật nghiêm nhặt” được đưa ra nhằm chống lại bất kỳ công bộc nào trốn chạy, kể cả ra toà án binh. 

Thiệu cũng bảo với Tướng Cao Văn Viên giữ Tỉnh Quảng Trị, Kontum, và An Lộc “bằng mọi giá” vì “tác động tâm lý và chính trị nếu để mất các tỉnh ấy sẽ hủy diệt miền Nam.” Mất Quảng Trị sẽ mở cửa vào Huế và Đà Nẵng. Thảm bại ở Kontum sẽ hủy diệt tinh thần và khiến “không thể bảo vệ được Pleiku hoặc Bình Định.” Đầu hàng An Lộc sẽ mở cổng vào Saigon. Thiệu tin rằng Hà Nội muốn đánh chiếm Quảng Trị và Thừa Thiên, Kontum, và An Lộc. Rồi họ sẽ chấp nhận lời kêu gọi ngừng bắn của Nixon và đòi liên hiệp. Đang có chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ, ông sợ rằng người Mỹ sẽ đồng ý, đặt miền Nam vào một thế yếu hiểm nghèo. Đây là lý do chính trị khiến Thiệu ra lệnh cho Viên phải giữ các tỉnh này bằng mọi giá.

Kinh ngạc vì dân chúng bỏ chạy thay vì chào đón mình giải phóng, các binh đoàn Hà Nội phạm các tội ác chiến tranh khủng khiếp. Nổi tiếng nhất là hành động chống lại dân thường đang tháo chạy trên Quốc lộ 1 giữa Thành phố Quảng Trị và Huế. Các cố vấn Mỹ với một lữ đoàn Thủy quân Lục chiến Việt chứng kiến các hành động tàn sát cố ý. Vào ngày 24/4, một cố vấn nhìn thấy địch quân cài nát một đoàn xe cộ “bằng súng cầm tay và dàn pháo binh thổi tung đoàn xe ra từng miếng, ném rải rác trên đường và đồng lúa những mảnh thi thể đàn bà, người già và trẻ con.” Năm ngày sau, ông nhìn thấy pháo binh QĐNDVN nhắm vào hàng ngàn dân thường đang di chuyển trên Quốc lộ 1. Ông mô tả đây là “cảnh tượng tồi tệ nhất tôi từng chứng kiến. Người tị nạn chủ yếu trẻ nhỏ với người già.  . . Không có vũ khí hoặc binh sĩ VNCH nào trong đoàn người ra đi này. Người tị nạn đi chật quốc lộ, vai chen vai di chuyển chậm chạp,” kéo dài đến 4 dặm. QĐNDVN bắt đầu pháo bằng đạn 130mm với kíp nổ điều chỉnh biến thiên được thiết kế nổ phía trên và chụp mảnh đạn xuống đầu binh sĩ. Sức nổ trên không trung “đúng là xé toạc người già và hành lý còm cõi của họ ra từng miếng. QĐNDVN biết rõ những gì mình đang làm. Họ đã cử tiền sát đi trước chỉ cách đám người tị nạn vài trăm mét … Đây chính là tội sát nhân đối với người già và người yếu đuối.” QĐNDVN bắn hàng trăm viên pháo vào đoàn người di chuyển, chắc chắn giết hại hàng ngàn người. Khi hai nhà báo miền Nam cuối cùng đến được địa điểm vào ngày 1/7, họ  tìm thấy những thi thể đang phân hủy còn vương vãi trên mặt đất. Họ đặt tên đoạn đường đó là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.

Vào ngày ⅕, Abrams điện cho tổng thống rằng địch đã bẻ gãy phòng tuyến QĐVNCH ở Quân đoàn I và tình thế rất nguy ngập. Vì vậy vào ngày 8/5, Nixon ra lệnh thả mìn phong tỏa Hải Phòng để ngăn không cho hàng tiếp tế vào miền Bắc, và ông tăng cường mức độ oanh tạc để cắt đứt giao thông đường sắt. Ông cũng lặp lại lời kêu gọi cho một cuộc ngừng bắn có quốc tế giám sát sau đó là bầu cử. Tinh thần miền Nam lập tức lên cao; dân chúng tin rằng người Mỹ sẽ không bỏ rơi họ.

May mắn cho đồng minh, QĐNDVN chưa mạnh như vị thần huỷ diệt. Vào cuối tháng 5, lực lượng phòng thủ kiên cường của QĐVNCH, tổ chức hậu cần nghèo nàn của QĐNDVN, và không kích không ngừng nghỉ của Mỹ đã làm xoay chiều cục diện trên cả ba mặt trận. Tư lệnh Tối cao đã phạm một lỗi lầm. Ngay khi các cuộc công kích ban đầu vào Kontum và An Lộc đã thất bại, thay vì bỏ qua chúng và đánh vào các vùng ít được bảo vệ nghiêm ngặt hơn, cả chỉ huy QĐNDVN đã tập hợp lực lượng để đánh chiếm lại chúng. Như Thiệu, họ tin nếu chiếm được các thành phố này sẽ hủy diệt nhuệ khí miền Nam. Nhưng tập họp lực lượng lại là mồi ngon cho các oanh tạc cơ Mỹ, gây thương vong hàng ngàn người. Nhiều đến bao nhiêu ta không biết được. Người Cộng sản không đưa ra con số thương vong cụ thể nào trong cuộc công kích. Các thảm bại này phơi trần các khuyết điểm chính của QĐNDVN: lực lượng phòng không hạn chế ở phía nam Quân đoàn 5, cách kết hợp binh chủng tệ hại, và tính nhạy bén về chiến thuật của chỉ huy và ban tham mưu thật đáng thương hại. QĐNDVN mất hàng trăm xe bọc thép khi tiến lên với sự yểm trợ nghèo nàn của bộ binh và không có phòng không. Dưới sư oanh tạc kéo dài, các đoàn hậu cần không thể tiếp tế đủ cho đạo quân quá to lớn, trong khi chiến thuật tác chiến cứng nhắc không cho phép họ tìm ra chỗ hở của QĐVNCH. Vào năm 1972, QĐNDVN chưa thể tiến hành hiệu quả kỹ thuật chiến tranh hiện đại. QĐVNCH và ĐPQ/NQ cũng có vấn đề. Lãnh đạo cũng có vấn đề, tiếp tế quá lệ thuộc vào người Mỹ, và năng lực tác chiến thất thường. Mặc dù Không lực và Hải quân Việt Nam trình độ khá, một số đơn vị bộ binh chiến đấu rất cừ trong khi các đơn vị khác rất bết bát. Chẳng hạn, ĐPQ ở Bình Định bỏ chạy ngay khi vừa nhác thấy kẻ thù, trong khi ba trung đoàn QĐNDVN thăm dò Tỉnh Hậu Nghĩa ở Quân đoàn III để đe đọa trực tiếp tuyến phòng thủ phía tây của Saigon bị ĐPQ đánh trả dữ dội khiến họ khựng lại và chịu thương vong nặng nề. Trong một tỉnh trước đây Cộng sản đầy dẫy, việc bình định hoá ở Hậu Nghĩa gần như thành công. Trương Như Tảng kể lại, trong khi Phượng Hoàng ở những nơi khác thường “kém màu sắc và thô lỗ,” ở Hậu Nghĩa, “cơ sở hạ tầng của Mặt trận gần như bị loại bỏ.” Trong khi sự suy sụp ở Bình Định là một thảm họa, thì cuộc phòng thủ Hậu Nghĩa của ĐPQ là một trong những thắng lợi bất ngờ nhất của miền Nam trong năm 1972.”

Trận công kích buộc Thiệu phải thay thế nhiều chỉ huy đơn vị với những người mà năng lực chiến đấu đã được minh chứng. Đại tá Phạm Duy Tất, viên sĩ quan thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đã gần như phá hỏng cuộc đảo chính Diệm vào tháng 11 1963, đã chuyển về binh chủng Biệt động vào năm 1970. Trong vài năm qua, ông đã chỉ huy các đơn vị Biệt động ở Quân đoàn IV và có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Cao Miên ở Quân đoàn IV. Vào tháng 5 1972, ông được cử đến Pleiku để chỉ huy Biệt động Quân đoàn II. Sứ mạng đầu tiên của ông vào tháng 6 là phải phá vỡ cuộc bao vây Kontum bằng cách giải toả Đường 14, đường nối Pleiku và Kontum. Khi đơn vị ông tiến lên, ông lái xe jeep lên đến đỉnh đèo Chu Pao, địa thế chủ chốt nằm giữa hai thành phố. Khi ông dừng lại và bước ra khỏi xe, một địch quân phóng ra từ một bụi rậm. Thay vì giết Tất, tên bộ đội chỉ đơn giản chạy đi. Một ý tưởng từ bài học Kinh Thánh thuở nhỏ bỗng loé lên trong đầu ông: “Song ta chỉ Ðức Giê-hô-va hằng sống và mạng sống của anh mà thề rằng, chỉ còn một bước cách tôi và cái chết mà thôi.”

Giống như đất nước của mình, Tất đã tránh được lưỡi hái của tử thần. Saigon đã sống sót sau cú nốc-ao chưa đủ lực của Hà Nội cũng như quyết tâm của đồng minh. Tuy vậy, QĐNDVN vẫn vĩnh viễn đóng quân tại miền Nam, và sự thất thủ của Quảng Trị khởi động một chuỗi các sự kiện không bao giờ trở lại như cũ. 

THIẾT QUÂN LUẬT, CAI TRỊ BẰNG SẮC LỆNH, VÀ THIẾT KẾ CHO MỘT CUỘC NGỪNG BẮN

Đối mặt với thảm họa, vào đầu tháng 5, Thiệu đưa ra hai động thái mà ông xem là có tính sinh tử để cứu lấy đất nước. Trước tiên, ông yêu cầu quốc hội trao cho ông quyền cai trị bằng sắc lệnh trong 6 tháng để ông có thể hành động nhanh chóng nhằm giải quyết khủng hoảng hiện thời. Mặc dù ông hy vọng việc này sẽ củng cố sức chiến đấu quốc gia, theo nhiều cách các hành động của ông là lặp lại các yêu sách của Kỳ và các tướng lĩnh vào tháng 5 1968 cho phép ông loại bỏ quốc hội và cai trị bằng sắc lệnh. Cả hai đều là những thời điểm quân địch tạo sức ép quân sự dữ dội, nhưng Thiệu đã cưỡng lại thôi thúc muốn cai trị như một nhà độc tài cho dù Saigon đối mặt với các thử thách nghiêm trọng.

Thiệu lên truyền hình và đài phát thanh vào ngày 9/5. Ông yêu cầu hoạt động chính trị bình thường và chống đối hãy dẹp sang một bên vì cuộc tấn kích của Cộng sản. Ngày hôm sau, chính quyền tuyên bố thiết quân luật, có hiệu lực vào nửa đêm. Gặp gỡ Bunker, Thiệu tôm tất mình sẽ hành động trên ba lĩnh vực: chiêu mộ nhân lực mới, cải cách kinh tế, và động viên sự hậu thuẫn của dân chúng. Những hành động này bao gồm việc mở rộng gọi quân dịch cho nam thanh niên từ 17 đến 43, đóng cửa đại học, cấm đình công và biểu tình. Thiệu cần nhân lực để bổ sung hàng ngũ quân đội. Các thống kê chính thức của CQMN xác nhận rằng vào tháng 4 và 5 họ đã mất khoảng 12,000 người bị giết và 34,000 người bị thương, và 15,000 mất tích, và 12,000 người khác đào ngũ.

Về kinh tế, cuộc công kích đã kích hoạt sự thoái trào nghiêm trọng và phá vỡ các kế hoạch kinh tế của Phạm Kim Ngọc.  Những thất bại tài chính từ cuộc công kích gây choáng váng. Một vài thành phố lớn bị tàn phá, cơ sở hạ tầng ở nông thôn bị hủy hoại đáng kể, và cuộc công kích thình lình góp thêm gần một triệu dân tị nạn và hàng ngàn thương binh vào danh sách chăm sóc của chính quyền. Chi phí chăm sóc họ và tu sửa thiệt hại dẫn đến tình trạng mà Ngọc đã chiến đấu từ năm 1969: lạm phát tăng cao và mức thâm hụt ngân sách càng lớn. Những quả đấm này đập vỡ các két sắt của nhà nước đúng vào lúc  thu nhập giảm thê thảm do mức mua sắm trong xứ của người Mỹ giảm mạnh, tỷ giá đồng bạc thấp hơn, và xuất khẩu giảm sút. Ngọc cầu xin được viện trợ Mỹ nhiều hơn. “Tôi hy vọng Quốc hội sẽ không cầm rìu,” ông nói. “Chúng tôi ở trong tình cảnh phái xin viện trợ chỉ vì nhu cầu nhân đạo mà thôi.” Trong số một loạt các biện pháp kiếm tiền, Ngọc tăng thuế trên các hàng hóa tiêu dùng như bia và đưa ra các công trái chiến tranh lãi suất thấp.

Thiệu muốn nhanh chóng giải quyết các vấn đề này, nhưng ông cũng muốn giữ lại một điều gì đó như dân chủ. Thay vì độc chiếm quyền lực, ông lặng lẽ yêu cầu phe hậu thuẫn ông ở Hạ viện thỉnh nguyện ông nắm toàn quyền kiểm soát.

Vào ngày 14/5, Hạ viện tán thành một dự luật cho phép Thiệu quyền lực sắc lệnh vô giới hạn trong 6 tháng. Sau đó dự luật chuyển lên Thượng viện để lấy ý kiến. Mặc dù thường thì Thượng viên có khuynh hướng thân chính quyền hơn Hạ viện, lần này dự luật gặp sự chống đối cứng rắn. Rồi Thiệu phạm phải sai lầm. Sau cuộc bầu cử độc diễn, nhiều thượng nghị sĩ đâm ra nghi ngờ các động lực của ông. Khi Thượng viện yêu cầu điều chỉnh dự luật, ông bác bỏ bất cứ hòa giải nào. Thiệu lên lớp rằng mình chỉ muốn thể hiện một sự hậu thuẫn nhất trí của quốc hội. CIA thu âm lại được lời ông nói với một vị khách rằng “ông đã hỏi các Dân biểu và Nghị sĩ liệu họ có muốn ông thất bại trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù và đánh mất tổ quốc hay không. Ông đã giải thích với họ rằng mình chỉ muốn một điều là đánh bại bọn Cộng sản và rằng mình cần có quyền hành để làm được việc đó. Trong giai đoạn khó khăn này, ông cần … mọi … đảng phái, và nhân dân đoàn kết sau lưng ông.”

Không bên nào thuyết phục được bên kia, và vào ngày 2/7, Thượng viện bác bỏ dự luật. Trong một động thái gây ngạc nhiên, phe Công giáo đã liên minh với phe Án Quang để bác bỏ nó. Ngoài việc cả hai khối đều sợ tổng thống độc chiếm quyền lực, còn có các động lực khác can thiệp. Ấn Quang cho rằng Thiệu sẽ dẫn đất nước đến thảm bại, trong khi người Công giáo sợ cho ông quyền lực kinh tế không kiểm soát sẽ khiến ông đánh thuế cao hơn vào các tầng lớp có tiền.

Bị Thượng viện phủ quyết, Thiệu giờ phải điều chỉnh lại dự luật vì ông không có đa số hai phần ba ở Hạ viện để vô hiệu hóa quyền phủ quyết. Người chủ chốt trong việc thuyết phục Hạ viện soạn thảo lại dự luật là Trần Văn Đôn. Thiệu nhớ đến việc Đôn đã hứa giúp đỡ, và vị cựu tướng lĩnh hăng hái nhận lời. Sau một phen tranh luận cam go, vào ngày 10/6, Hạ viện gửi lên Thượng viện một dự thảo luật đã được điều chỉnh hạn chế quyền hành của Thiệu vào các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, tài chính, và kinh tế. Sứ quán ghi nhận rằng “Đôn đã lốp bi một cách hiệu quả để được thông qua điều mà Thiệu rõ ràng xem là quan trọng nhất.” Thiệu, tìm cách xoa dịu những người gièm pha mình, gửi một bức thư cho Chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền hứa rằng mình sẽ không bãi bỏ hiến pháp hoặc trở thành độc tài. Khi Huyền ngần ngại, Thiệu cử phụ tá pháp luật của mình là Nguyễn Văn Ngân tiến hành thủ đoạn. Vào ngày 27/6 sau khi không thể kêu gọi một cuộc bỏ phiếu về dự luật, Huyền bỏ trụ sở ra về cùng với phe đối lập, phe nghị sĩ thân Thiệu còn ở lại liền tổ chức phiên họp và thông qua dự luật với số phiếu 26 chống 0. Huyền tuyên bố việc này là bất hợp pháp, nhưng Thiệu phớt lờ và ký tên vào sắc luật vào ngày hôm sau. Nếu Thiệu nhắm tới sự đoàn kết Quốc gia, thì đây chính là điều để đánh mất nó.

Ngay lập tức Thiệu bất đầu ban hành các sắc lệnh để thiết lập “một chính sách nhân lực hợp lý hơn, dẹp bỏ cải cách thuế và xiết chặt quyền kiểm soát vé các hoạt động lật đổ tiềm năng.” Về kinh tế, vào ngày 8/7, ông bãi bỏ thị trường song hành mà Ngọc đã lập ra vào tháng 10 1970 và hạ giá đồng bạc xuống còn 425 ăn 1 đô la. Ngọc cũng bắt đầu soạn thảo luật lệ cho các sắc thuế lợi tức và tài sản mới và chắc chắn không làm vừa lòng mọi người. Nhưng ông không có lựa chọn nào khác. Vào cuối tháng 7, chi phí từ cuộc công kích ước tính là 36 tỉ đồng. Đồng thời, Thiệu dự tính giảm biên chế ở nông thôn. Hồi đầu tháng 2 qua, ông đã thông báo với các tỉnh trưởng là mình đang lên kế hoạch tinh giản bộ máy hành chính “từ trung ương xuống tận địa phương.” Ông cũng chịu sức ép từ các tỉnh trưởng muốn được phép trực tiếp bổ nhiệm các trưởng ấp thay vì tổ chức bầu cử. Họ phàn nàn là nhiều trưởng ấp thiếu năng lực hoặc không nghe lời họ. Khi Bunker nhắc nhở Thiệu việc bầu cử ở ấp đã trở nên phổ biến, ngài tổng thống đồng ý. Ông miễn cưỡng tán thành sự thay đổi vì điều đó có thể được coi là “phản dân chủ.” Nhưng cuộc công kích đã thay đổi ý ông. Vào ngày 22/8, Thủ Tướng Khiêm ký sắc lệnh hủy bỏ Sắc lệnh 198, điều luật thiết yếu ủy quyền cho bầu cử làng và ấp và đưa miền Nam bước lên lộ trình dân chủ. Sắc lệnh mới ban cho tỉnh trưởng quyền bổ nhiệm ban trưởng ấp và cắt giảm số thành viên hội đồng địa phương, chủ yếu để “giảm chi phí và tăng cường tính hiệu quả … và thống nhất chuỗi thứ bậc chỉ huy.” Thiệu biện minh cho các hành động của mình bằng phát biểu rằng hiến pháp quy định làng, chứ không ấp, là đơn vị hành chính thấp nhất. Đúng là vậy, nhưng vị đại sứ cho rằng Thiệu cũng muốn áp đặt “quyền kiểm soát gắt gao hơn về chất lượng thi hành của các viên chức địa phương phòng trường hợp một cuộc ngừng bắn tương lai đưa đến cuộc cạnh tranh chính trị với người Cộng sản.”

Trong khi các kế hoạch kinh tế của Thiệu là hợp lý, lời bình phẩm của ông về việc xiết chặt “quyền kiểm soát “các hoạt động lật đổ” cho thấy là một điềm báo trước. Cuộc công kích, việc Hà Nội từ chối thảo luận hòa bình kéo dài và gây bực bội, việc ông thất bại không thể tập kết giới chính trị sau lưng ông, và việc Mỹ có thể bỏ rơi miền Nam đã làm trầm trọng thêm linh cảm tồi tệ nhất của tổng thống. Các kế hoạch của ông sẽ đưa ông xuống một lộ trình tối tăm.

KỂ HOẠCH X-18

Sau bài diễn văn ngày 25/1 đề xuất ngừng bắn của Nixon, nỗi sợ triền miên của Thiệu về việc người Mỹ áp đặt một chính quyền liên hiệp lại nổi lên. Tin rằng mình sẽ đối mặt với một cuộc đấu tranh sinh tử sau khi Mỹ ra đi. Thiệu ra lệnh soạn thảo các kế hoạch nhằm tăng cường việc tra xét và bắt bớ bất cứ ai bị tình nghi có cảm tình với Việt Cộng. Cuộc công kích biến các kế hoạch đó thành hiện thực. Vào ngày 12/4, ông ký một sắc lệnh chuyển mọi hoạt động của Phượng Hoàng về cho Cảnh sát Quốc gia. Ngành Đặc Biệt cảnh sát phát động một chiến dịch trên toàn quốc nhằm đập tan mọi hậu thuẫn ở cơ sở đối với các đơn vị Cộng quân bằng cách bố ráp những ai bị tình nghi có hoạt động cho Cộng sản.

Vì hầu hết tù nhân của Phượng Hoàng thuộc cấp thấp và các quy định mới mà Khiêm đã ban hành đã buộc các hội đồng an ninh tỉnh phải phóng thích nhiều tù nhân nếu thiếu chứng cứ, vào ngày 15/4, Bộ Tổng Tham mưu Liên quân có một động thái đặc biệt. BTTMLQ gửi Kế hoạch X-18 tối mật đến các tư lệnh quân đoàn và các tỉnh trưởng đưa ra các chỉ thị cho những hành động phải tiến hành ngay trước và sau ngày đình chiến. Đây là nỗ lực đầu tiên của Saigon nhằm tạo ra một đáp ứng cho các tình huống ngừng bắn khác nhau. Chỉ thị ra lệnh quân đội triển khai việc yêu sách lãnh thổ cho CQMN và bảo vệ các cơ sở chính quyền. Trong khi kế hoạch được dự trù nhằm dự trữ tài lực để phòng vệ dân chúng, nó chứa một thành tố đe dọa hơn. Để phản công các nỗ lực địch sau ngừng bắn nhằm  “phá hoại và lật đổ chính quyền của chúng ta”, và không bị tính nhạy cảm đạo lý của người Mỹ cản trở, Kế hoạch X-18 ra lệnh các tỉnh “chỉ định cho các tổ chức hoặc cá nhân bí mật thi hành các sứ mạng đặc biệt  (như là ám sát các cán bộ tầm cỡ của địch) nếu cần thiết.” Vì không có lệnh ngừng bắn thành hiện thực để có thể triển khai Kế hoạch X-18, Thiệu sử dụng quyền thiết quân lực vào ngày 18/5 để ủy quyền cho các tỉnh trưởng bắt giam bất cứ ai họ xét thấy là nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Ngành Đặc Biệt sau đó giảm tiêu chuẩn bắt bớ của Phượng Hoàng từ ba báo cáo bất lợi chống lại một người xuống còn một. Thêm hàng ngàn người nữa bị bắt. Ở Tỉnh Thừa Thiên, Thiếu tá Cảnh sát Liên Thành đã tóm cổ khoảng 1,500 người mà ông tin là có dính líu đến địch. Báo chí bắt đầu báo cáo tình trạng bắt bớ tập thể nhưng lưu ý rằng CQMN “im lặng về quy mô của cuộc bắt bớ,” kể cả “những vụ lục soát từ nhà này đến nhà khác” ở Saigon.

Vào cuối tháng 6, Bộ Nội vụ ra lệnh thêm cho các tỉnh phải xem xét lại hồ sơ của tất cả người Cộng sản bị truy tố đã hoàn thành án tù, bắt họ lại nếu cần thiết, và kéo dài án tù vô hạn định đối với các tù nhân cao cấp. Vào tháng 8, khi hòa đàm nóng lên, Thiệu ra lệnh lên kế hoạch thêm nữa liên quan đến các lĩnh vực quân sự của việc ngừng bắn. Nhã xét duyệt Kế hoạch X-18; nhưng bác bỏ nó vì nó quá mơ hồ, và kế hoạch bị bỏ rơi.

Cùng lúc, Thiệu xuống tay thật nặng với các kẻ gây rối cuối cùng của mình, báo chí miền Nam. Vào ngày 4/8, ông ký một săc lệnh gây tranh cãi. Ông quy định mỗi tờ  báo phải nộp một số tiền ứng trước để bảo đảm chi trả án phạt tiền của tòa về tội phỉ báng vu khống và ủy quyền cho Bộ Nội vụ đóng cửa báo nào bị án treo hai lần vì lý do an ninh quốc gia. Báo chí Saigon tức giận lồng lộn, nhưng 14 tờ báo, khoảng nửa số báo Saigon, chịu ký quỹ và được hoạt động.

Kế hoạch ngừng bắn bổ sung, tuy nhiên, phải đợi chờ đến khi Kissinger và Thọ đã san bằng mọi bất đồng chi tiết về kế hoạch đàm phán. Vào cuối tháng 9, Kissinger một lần nữa tổ chức các buổi đối thoại kéo dài với Thọ, và một hiệp ước hòa bình dường như đang đến hồi kết cục. Để bù lại, vào ngày 19/11/1972, Bộ Nội vụ ra lệnh mọi tỉnh trưởng  giam giữ các cán bộ trung hoặc cao cấp của Cộng sản dưới tội danh hình sự để ngăn không thả họ ra theo hiệp ước hòa bình. Lần này, các tổ chức đối lập miền Nam bắt đầu công bố các vụ bắt giữ. Cha Chân Tín, người đã bị bắt năm trước vì đăng bài kêu gọi hòa đàm, là nhân tố chính. Ông cho rằng CQMN giam giữ 200,000 tù chính trị, một con số khôi hài vì sức chứa tù nhân miền Nam chỉ khoảng 35,000 người. Sứ quán Mỹ bác bỏ lời tuyên bố của Cha Tín, kể rằng “dưới chuơng trình Phượng Hoàng, tổng số tù nhân bị giam giữ, xử án treo, và bị điều tra là 9,707 hồi 30 tháng 9.” Đài Phát thanh Giải phóng phát đi lời tuyên bố của Cha Tín và lên án Thiệu khủng bố các nhân vật đối lập. Các cuộc đàm phán của Hà Nội ở Paris lập tức yêu cầu mọi tù dân sự đều phải được phóng thích như một phần của hiệp ước hoà bình.

“Tù chính trị” sớm trở thành cái dùi cui, do chính Thiệu trao tay và các người tranh đấu phản chiến nước ngoài sẽ sử dụng đến để đả phá Saigon. Giờ đây, dù vậy, hoà bình gần như đã đến bên tay. Loại hoà bình mà Saigon muốn, tuy nhiên, sẽ rất khác với hòa bình mà nó có được.

“ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG” – HOÀ BÌNH ĐẾN TAY

Vào cuối tháng 6, Tư lệnh Quân đoàn I Thiếu tướng Trưởng phát động một cuộc phản công mật danh “Lam Sơn 72” lấy lại Tỉnh Quảng Trị.

Các sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Nhảy dù dấn tới dọc theo Quốc lộ 1 và gặp sự kháng cự dữ dội. Một chỉ huy lữ đoàn Thủy quân Lục chiến mô tả cảnh tượng: “Bầu trời trên cao Quảng Trị đậm đặc bụi mù và khói súng. Tiếng ầm ì của oanh kích, pháo bắn, và tiếng súng tạo nên một trận sấm sét hãi hùng. Mặt đất rung chuyển trên bước chân chúng tôi.” Các đơn vị của Trưởng đến được vùng ven thành phố Quảng Trị vào ngày 7/7. Thiệu ra lệnh ông ta phải đánh chiếm nó. Cuối cùng, vào ngày 15/9, ông thành công, nhưng binh lính kiệt sức của ông bị sa lầy bên Sông Thạch Hãn phía bắc thành phố.

Đúng như Lê Duẩn và Thiệu đã từng phát biểu, tình hình chiến trường sẽ quyết định điều kiện của hoà bình. Sau khi mất Thành phố Quảng Trị, giờ đây Hà Nội quyết định khép lại hiệp ước hòa bình và đợi cho đến một thời cơ thuận lợi hơn để chinh phục miền Nam. Bộ Chính trị muốn khai thác “các vấn đề nội bộ của Hoa Kỳ” để “cưỡng buộc chính quyền Mỹ chấp nhận một giải pháp chấm dứt chiến tranh. Bộ đội chúng ta … sẽ giành được một thắng lợi quan trọng với giải pháp này bằng cách hoàn thành mục tiêu “chiến đấu để buộc người Mỹ về nhà” của chúng ta để rồi chúng ta có thể chuyển đến một giai đoạn mới trong cuộc chiến đấu và tiếp tục tiến lên với chính nghĩa cách mạng cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn.”

Sau khi chiếm lại được Thành phố Quảng Trị, ngay lập tức Thiệu bác bỏ đề xuất hòa bình mới nhất của Hà Nội, đặc biệt đề xuất 11/9 đưa ra liên hiệp ba thành phần bao gồm CQCMLT và Lực lượng Thứ Ba. Ông phủ nhận Lực lượng Thứ Ba xem nó như “bọn tay sai hoặc phần tử cơ hội đang sống lưu vong.” Bunker cảnh báo Thiệu về “phương hướng càng ngày càng không thỏa hiệp của ông” có thể “bị phe phản đối của chúng ta ở quốc nội và quốc ngoài khai thác trong khi chúng ta đang đối phó với một tiến trình rất tinh tế.”

Một Lực lượng Thứ Ba đứng vững được, một lực lượng có thể làm cầu nối chính trị giữa người Cộng sản và người Quốc gia, có tồn tại không? Câu trả lời của tôi là không, nhưng một học giả, Sophie Quinn-Judge, không đồng ý. Bà khẳng định rằng theo Washington và đánh giá của Thiệu là “ý tưởng về một miền Nam Trung lập … đã từ lâu bị bác bỏ coi như là một âm mưu của Cộng sản để buộc người Mỹ ra khỏi Việt Nam.” Dù vậy, theo suy xét của bà, “vấn đề cho các sử gia phải vật lộn là cách giải quyết này dường như đã có sức lôi cuốn đáng kể” trong dân chúng miền Nam. Trong khi đúng là nhiều người khao khát hòa binh, lập luận cho rằng một giải pháp trung lập có “sức lôi cuốn đáng kể” là dựa vào bằng chứng nghe nói thường phụ thuộc vào thời kỳ, vùng miền, và thiên kiến người quan sát. Lực lượng Thứ Ba là một quang phổ rộng gồm nhiều nhóm, nhiều cá nhân, và thị hiếu chính trị chạy từ Ấn Quang đến tướng Minh đến cộng đồng lưu vong ở Paris đến bọn tả khuynh râu rìa như Ngô Bá Thành. Thậm chí nếu CQMN và CQCMLT có thể nhất trí về sự tham gia của Lực lượng Thứ Ba trong liên hiệp, không hy vọng là Lực lượng Thứ Ba có thể tạo được  sự quân bình chính trị, nói gì đến việc lên gân cốt quân sự để buộc được hai phe kình địch sống chết nhau chịu hợp tác. Hơn nữa, Bộ Chính trị thật ra xem Lực lượng Thứ Ba chỉ như con ngựa thành Troy để tiếp tay thực hiện ước mơ lật đổ Thiệu hơn là một đối tác cải tiến ngang hàng, một chính sách mà phe chống Cộng đều biết rõ.

Thiệu đang ngồi trên đỉnh một kim tự tháp phức tạp gồm các nút thẳt quyền lực tranh chấp nhau đi từ quân sự đến tôn giáo đến quốc hội. Mỗi người đều có một tiếng nói nhưng không có quyền biểu quyết vì quyết định cuối cùng ở trong tay ông. Nhưng quan điểm của ông về hòa bình được đa số người Quốc gia chia sẻ, một nền hòa bình bảo đảm nền độc lập của miền Nam và loại bỏ được mối đe doạ của Cộng sản. Ông sẽ không thỏa hiệp trên mục tiêu đó, cũng không thể thỏa hiệp mà lại sống còn. 

Trong khi Thiệu muốn “trả một giá tốt cho một nền hòa bình tốt,” còn địch thủ của ông vẫn chỉ có một mục tiêu duy nhất. Việc Lê Duẩn quyết định đúc nặn hòa bình đơn giản chỉ vì muốn người Mỹ ra đi, và ông nhất định không muốn rút bộ đội của mình ra khỏi miền Nam. “Đạt được hai yêu cầu này,” ông nói, “sẽ dẫn đến việc nhìn nhận rằng, về điều kiện thực tế, thật ra chỉ có hai chính quyền, hai quân đội, và hai vùng kiểm soát. Việc này sẽ tạo ra một cân bằng lực lượng mới sẽ vô cùng thuận lợi cho phe ta.” Với suy nghĩ này, vào đầu tháng 10, Lê Đức Thọ chuyển từ các yêu sách ngang ngạnh trước đây và hoãn lại đề xuất hoà bình đầu tiên của mình. Ông loại bỏ điều kiện Thiệu phải từ chức, nhưng vẫn còn giữ lại điều kiện một hội đồng ba bên sẽ chuẩn bị bầu cử cho một chính quyền mới. Hoa Kỳ sẽ nhận lại tù binh của mình và rút quân khỏi miền Nam. Bộ đội Cộng sản vẫn ở lại miền Nam.

Kissinger cho rằng việc Thọ chấp nhận Thiệu và CQMN là một đột phá lớn, và ông đến Saigon để báo tin cho Thiệu và nhận được sự đồng thuận của ông cho đề xuất mới.

Ông đến Saigon vào ngày 19/10 để báo cáo vắn tắt với Thiệu về bản nháp hiệp ước. Sau khi lắng nghe Kissinger, tổng thống không giấu được sự giận dữ. Những nỗi lo sợ tồi tệ nhất của Thiệu đã thành sự thật: người Mỹ, trong cơn hấp tấp phải thỏa hiệp, đã khờ khạo chấp nhận đề xuất thứ nhất của Thọ. Năm 1968 được lặp lại. Từ năm 1965, khi chính quyền Phan Huy Quát đầu tiên đã nói rõ các điều khoản hòa bình của Saigon, ưu tiên chính là loại hết lực lượng Cộng quân. Hiệp ước đề nghị của Kissinger sẽ cho phép binh sĩ địch ở lại, vùng phi quân sự không còn được tôn trọng như một đường biên giới, và  hội đồng ba bên chỉ là bình phong cho sự liên hiệp. Thiệu bác bỏ kế hoạch Kissinger-Thọ và yêu cầu những thay đổi căn cơ đối với bản nháp hiệp ước. Sau khi Kissinger báo tin cho Nixon, tổng thống đồng ý cho ông ta thảo luận các điều chỉnh này với Lê Đức Thọ, nhưng ông nhắc nhở Thiệu nếu không có hiệp ước hòa bình, Quốc hội Mỹ sẽ chắc chắn cắt đứt viện trợ.

Thiệu quyết tâm giữ vững lập trường. Đứng trong văn phòng tổng thống vào sáng sớm ngày 23/10, Nhã nhớ lại ông và Thiệu đang

đợi Kissinger và Bunker và hai chúng tôi đang nhìn ra ngoài về hướng Đại lộ Thống Nhất và dòng xe cộ đông đúc, nào ô tô, xe gắn máy, xe ba bánh, xe đạp chạy uốn khúc như chính dòng sông Saigon trong giờ cao điểm này. Tổng thống im lặng gần như 10 phút trong khi đó tôi thỉnh thoảng liếc nhìn về phía ông để xem tâm trạng ông thể nào. Cuối cùng, ông bảo tôi ‘chúng ta không để mất đất nước. Dân chúng ngoài kia sung sướng bắt đầu một ngày mới. Nhiệm vụ của tôi là bảo vệ đất nước chúng ta và bảo đảm họ được hưởng cuộc sống như họ hằng mong ước và làm những công việc thường nhật của mình.”

Sau khi Kissinger trở về vào ngày hôm đó, Thiệu cho họp nội các. Mặc dù Thiệu có lập trường cứng rắn, nhưng ông biết “vấn đề là phải bảo vệ lập trường hòa bình của mình như thế nào để được hậu thuẫn của nhân dân … trong khi tránh phải đương đầu với công luận Mỹ.”

Sợ rằng Washington hoặc Hà Nội có thể thêu dệt buổi họp bi thảm và mô tả Saigon như là vật cản cho hòa bình, Nhã thuyết phục ông nói chuyện với quốc dân vào ngày 24/10. Nhã viết bài diễn văn và ghi thêm câu nói bất hủ sẽ trở thành dấu ấn của Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.” Thiệu thêm từ “kỹ” vào bản nháp đầu tiên của bài diễn văn. Ông tuyên bố chính xác rằng đề nghị của Hà Nội chỉ là một “âm mưu xảo trá … nhằm giữ bình lính của họ ở lại miền Nam để chuẩn bị công kích trong tương lai.” Ông tóm tắt các mệnh lệnh tịch thu được của Cộng sản chỉ thị các cuộc tấn công hậu chiến vào cảnh sát và các cuộc nổi dậy ở thị trấn và cắm cờ CQCMLT để giành lãnh thổ. Một lần nữa Thiệu yêu sách QĐNDVN phải rút quân cùng lúc với binh lính Mỹ.

Như vào năm 1968, công luận miền Nam một lần nữa ủng hộ Thiệu. Vào ngày 30/10, mười ngàn người ở Đà Nẵng “tổ chức biểu tình để hậu thuẫn lập trường của CQMN. Vào ngày 5/11, 15,000 giáo dân Công giáo … tập hợp ở Saigon để phản đối bản nháp hiệp ước.” Hạ viện thông qua một nghị quyết ủng hộ các yêu sách của Thiệu. Ngay cả Ấn Quang cũng ậm ừ ủng hộ tổng thống. Đồng thời, ông ra lệnh các khóa sinh tại các trường quân sự khác nhau được học tập về chính sách CQMN và được phái đến các tỉnh để tập kết sự hậu thuẫn của quần chúng cho chính sách của ông. 5,000 khóa sinh được gửi về nông thôn để tuyên truyền với dân chúng về các khó khăn quân sự của Cộng sản, về “chính sách đúng đắn và hợp lý của CQMN về ngừng bắn và biện pháp hòa bình,” và để “tránh cho dân chúng khỏi bị mưu mô và chiêu trò Cộng sản lừa phỉnh.”

Vào ngày 7/11, Nixon tái đắc cử tổng thống. Thiệu khoan khoái, và cử Nguyễn Phú Đức đến Washington để nói chuyện với ông ta. Ông hy vọng mình sẽ qua mặt Kissinger và kêu gọi trực tiếp với tổng thống Mỹ. Thiệu tin cậy Nixon. Ngược lại, ông vô cùng bất mãn Kissinger. Ông cho rằng Kissinger, bằng cách đàm phán cho CQMN, đã biến ông “không hơn một bù nhìn của Mỹ.”

Vì vậy, ông muốn Nixon lắng nghe trực tiếp lời thỉnh nguyện của ông hơn là qua Kissinger hay Haig.

Đến vào cuối tháng 11, Đức trình một bức thư dài của Thiệu cho Nixon. Công văn công kích tính ương ngạnh của Hà Nội và “tính hai mặt cố hữu của miền Bắc và điều kiện thiết yếu là Cộng sản phải rút quân  cũng như ngôn từ cho giải pháp hiện thời là không đầy đủ.” Bức thư trình bày các nỗ lực của ông nhằm tạo ra một nền hòa bình vững chắc thay vì sự hối hả ra đi của người Mỹ, để QĐNDVN còn đóng chốt trên đất miền Nam. Thiệu cũng đòi “loại bỏ hội đồng, và không đề cập đến CQCMLT trong hiệp ước.” Nixon trấn an Đức rằng ông ta sẽ “đáp ứng bằng toàn bộ lực lượng nếu miền Bắc vì phạm  thỏa thuận và cam kết tiếp tục hỗ trợ miền Nam sau khi hiệp ước ký kết.”

Bất chấp, Nixon bảo với Đức, nếu không có thỏa hiệp hòa bình, Quốc hội sẽ cắt đứt viện trợ ngay lập tức khi họp lại vào tháng giêng. Trong lúc tình hình chống đối chiến tranh của quốc hội đang lên cao, đổ lỗi cho Quốc hội cũng là một nguyên cớ thuận lợi. Bằng cách bảo miền Nam biết rằng họ phải ký tên trước khi Quốc hội cắt viện trợ hoàn toàn, Nixon hy vọng cưỡng ép được bàn tay Thiệu.

Đức không thể lung lạc Nixon, và ông trở lại Saigon vào ngày 3/12. Ông trình bày cho Thiệu cuộc họp với Nixon trong buổi họp của Hội đồng An ninh Quốc gia (HĐANQG). Sau khi lắng nghe các nhận xét của ông ta, Thiệu hỏi liệu mình có nên ký. Đức đáp rằng “nếu chúng ta ký vào hiệp định như phải vậy, miền Nam sẽ mất.” HĐANQG đồng ý, và Thiệu gắng sức thêm lần nữa. Sợ rằng sự bướng bỉnh của mình có thể kích động một vụ đảo chính do Mỹ xúi giục, Thiệu bắt đầu đi một vòng bàn bạc thấu đáo với các nhân vật chính trị và quân sự hàng đầu để “nhằm làm cho nhân dân và tướng lĩnh miền Nam đối lập có thể hiểu được con đường lựa chọn nhỏ hẹp mà miền Nam đang đối mặt.” Không khác Đảng Dân chủ của mình, mục tiêu của ông tạo ra một hậu thuẫn xã hội mạnh mẽ để ngăn ngừa âm mưu đảo chính của người Mỹ

Để chuẩn bị cho thời kỳ hậu đình chiến, Thiệu bạn bố Sắc luật 20, nhằm tu chính Luật An Trí cho phép bắt giam các nghị can Cộng sản. Sắc lệnh mới gia tăng nguyên do giảm giữ trong đó có tội vi phạm “trật tự công cộng,” một cáo buộc thậm chí còn co giãn hơn tội “an ninh quốc gia”. Vì miền Nam đang trong thời chiến, sắc lệnh mới này ban cho CQMN quyền hành rộng rãi để xử lý bọn kích động Cộng sản sau khi ngừng bắn.

Những hành động gần đây của các đồng minh Á châu của ông đã cung cấp cho Thiệu một vài ý tưởng này về việc cai trị trong thời kỳ hậu đình chiến. Thiệu theo dõi sít sao các động thái chính trị trong các  nước láng giềng Á châu. Việc Mỹ hoà hoãn với Tàu và Nga đã tạo ra các biến đổi đối sách sâu sắc ở các nước ấy. Ngoại trưởng Lắm đúc kết tình hình, phát biểu rằng “trong khi có xu hướng … tiến tới việc sống chung hòa bình với khối Cộng sản,” nhiều nước châu Á đã “thấy cần thiết phải củng cố ngành hành pháp cứng rắn hơn nhằm đương đầu với” mưu tính lật đổ của Cộng sản. Lắm thú nhận rằng “điều này đã tác động ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam Cộng Hòa.” Ở Thái Lan, quân đội đã tiến hành một cuộc đảo chính vào tháng 11 1971 và tuyên bố thiết quân luật để trấn áp người Cộng sản nổi dậy. Ở Phi Luật Tân, Tổng thống Marcos tuyên bố thiết quân luật vào 23/9/1972, sau khi du kích Cộng sản ra tay ám sát bộ trưởng quốc phòng.

Nam Hàn, như thường lệ, cho thấy là nước chủ chốt. Vào năm 1969, Tổng thống Park đã tu chính hiến pháp cho phép được làm tổng thống đến nhiệm kỳ thứ ba. Sau khi tái đắc cử vào năm 1971, ông đã loại ra hầu hết các chính trị gia đối lập, thay thế các tư lệnh quân đội chủ chốt bằng người trung thành với mình, xiết chặt báo chí, và ban hành chính sách kinh tế bằng sắc lệnh. Vào ngày 17/10/1972, Park tuyên bố thiết quân luật. Ông cho hoãn lại một phần của hiến pháp và giải tán quốc hội để “cải cách cấu trúc chính trị của Nam Hàn.” Ông đưa ra động thái này vì có tin về một hiệp ước hòa bình tiềm năng ở Việt Nam, khơi dậy nỗi e sợ Mỹ sẽ cắt giảm hỗ trợ của mình trong khu vực. Park cũng biện minh cho hành động của mình giải thích rằng Nam Hàn đã “thử nghiệm bắt chước một cách vụng về các định chế dân chủ … nhưng đã không bao giờ tự thoát ra khỏi nạn tranh chấp bè phái và âm mưu chính trị,” một tình hình tương tự ở miền Nam. Để củng cố ngành hành pháp nhằm đánh bại các “vấn đề” này, Park đệ trình một hiến pháp mới ra trưng cầu dân ý. Nó thắng áp đảo, và ông dỡ bỏ thiết quân luật vào ngày 13/12.

Vào đầu tháng 12, Kissinger và Thọ trở lại bàn hội nghị. Họ sắp đến mức hoàn thành thỏa thuận thì bổng Thọ khựng lại về việc hạn chế qua lại vùng phi quân sự. Sợ thỏa thuận như thế sẽ thỏa mãn chính xác những gì Thiệu muốn – giữ vùng phi quân sự như một vùng biên giới quốc gia – Thọ từ khước. Ông ta bèn duyệt lại một số biện pháp. Vào giữa tháng 12, Kissinger cắt đứt thương thảo, và Thọ trở lại Hà Nội để hội ý với Bộ Chính trị.

Hội nghị tan vỡ, Nixon quyết định chỉ có sức ép quân sự mới buộc được Hà Nội tái tục hoà đàm. Vào ngày 18/12, ông ra lệnh cho nhiều đợt B-52 và hàng trăm phí cơ chiến đấu dọi bom miền Bắc. Khu vực Hà Nội-Hải phòng chứng kiến vụ oanh tạc dữ dội nhất của cuộc chiến, và ông phong tỏa mìn cảng Hải Phòng một lần nữa. Trong sự kiện được giới báo chí đặt tên là Oanh tạc Giáng Sinh, các phi công Mỹ gây thiệt hại nặng nề cho vùng Hà Nội-Hải Phòng. Theo các viên chức quốc phòng Mỹ, Hà Nội là nơi được phong thủ nghiêm nhặt nhất trên thế giới.” Thật ra, QĐNDVN đã tháo dỡ hầu hết luc lượng phòng không quanh thủ đô và di dời chúng về nam để phòng thủ đạo quân đang chuẩn bị tấn kích. Các đơn vị phóng không QĐNDVN chỉ bằng xấp xỉ một phần ba hồi năm 1967 khi Mỹ oanh kích lần cuối cùng. Các B-52, ra sức tránh đánh nhầm các khu dân cư, bay theo chính xác cùng một lộ trình trong một vài đêm đầu tiên, cho phép phe phòng thủ biết trước được các đường bay của mình. QĐNDVN bắn ra gần 350 tên lửa SA-2 vào các phi đoàn oanh kích, bắn hạ 15 B-52 trong thời gian 10 ngày.

Mặc dù lúc đầu Hà Nội tuyên bố họ sẽ không thương lượng nếu bị tấn công, vào ngày 26/12, một phát ngôn nhân lên tiếng họ sẽ nối lại đàm phán nếu Hoa Kỳ ngừng dội bom. Khi người Mỹ chấp nhận Bộ Chính trị lại gáy rằng họ đã đập gãy sống lưng  các nỗ lực quân sự của Hoa Kỳ. Tuyên bố rằng thắng lợi của mình sẽ đưa đến hiệp định hòa bình như trận đánh Điện Biên Phủ hồi năm 1954, bộ máy tuyên truyền của Hà Nội xác nhận rằng họ đã buộc bọn đế quốc Mỹ phải phục tùng. Hoa Kỳ phát biểu điều ngược lại, rằng cuộc dội bom đã buộc Hà Nội trở lại bàn đàm phán. Đáp án thực sự vẫn không biết được.

Viết cho Kissinger sau khi ném bom Hà Nội, Bunker nêu ý kiến cho rằng bằng cách từ chối ký tên vào tháng 10, Thiệu đã khiến miền Nam thêm vững mạnh trong khi Cộng sản thành yếu thế đi.  Theo Bunker, Nixon đã tỏ ra “kiên nhẫn, khoan thứ, và khôn khéo khi cho Thiệu mọi cơ hội trình bày lập trường của mình,” nhưng “chúng ta đã hoàn tất trọn vẹn  nghĩa vụ đối với Thiệu và miền Nam. Nếu chúng ta có thể đạt được một giải pháp hợp lý ở Paris, chắc chắn là chúng ta phải tiến tới thôi.” Chỉ khi đối mặt với hạn kỳ chót mà Hoa kỳ đưa ra một cách quyết liệt thì Thiệu mới “quyết định đi theo chúng ta.” Dự cảm của Bunker một lần nữa thần kỳ. Vào tháng giêng 1973, khi Kissinger và Lê Đức Thọ trở lại đàm phán, họ cùng với ban tham mưu cuối cùng gò nặn ra một hiệp ước. Nixon gửi vài lá thư cho Thiệu hứa hẹn sẽ duy trì viện trợ kinh tế và quân sự và sẽ đáp ứng bằng sức mạnh với bất kỳ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn nào. Nhưng ông trực tiếp đe dọa sẽ cắt hết viện trợ nếu Thiệu không ký tên vào hiệp ước. Câu hỏi về việc rút bộ đội Hà Nội không được bàn tới. Như Đức viết sau này, “việc CQMN chống đối sự hiện diện của quân đội Bắc Việt ở miền Nam đã từng được Mỹ chia sẻ trong nhiều năm … và đó là cơ sở cho cuộc chiến đấu chung.” Quan điểm của Mỹ và miền Nam về hòa bình giờ đối đầu nhau. Người Việt có một ngạn ngữ dành cho cặp đôi bất hòa nhau: đồng sàng, dị mộng.

Trong tâm trí người miền Nam, Nixon đã đổi chác việc rút đi của QĐNDVN lấy hiệp định hòa bình, phóng thích tù binh Mỹ, và hoà hoãn với Xô-Viết và Tàu. Trong khi người Mỹ đã mệt mỏi vì cuộc chiến, lên án họ là điều bất công xét bao nhiêu xương máu, tiền của họ đã đóng góp cho gánh nặng nghĩa vụ. Như Đài Loan và Nam Hàn, Thiệu thường quên rằng Hoa Kỳ còn có các nghĩa vụ khác đối với thế giới ngoài miền Nam. Rốt cục, hiệp định Paris phản ánh sự kiện thực địa và là hiệp ước tốt nhất có thể có giữa các bên đối đầu cay cú. Dưới áp lực khủng khiếp, Thiệu buộc phải cầm bút ký. Ông triệu tập HĐANQG để thông báo quyết định của mình. Ông triệu hồi Nguyễn Xuân Phong từ Paris và gặp ông ta một giờ trước phiên họp hội đồng. Thiệu than van rằng thỏa thuận là “bán đứng miền Nam cho người Xô-Viết.” Phong lưu ý Thiệu nên xem xét việc nhờ Bắc Kinh hỗ trợ, nhưng Thiệu đáp rằng “cách lựa chọn đó càng tệ hơn là không có.”

Hiệp định Hòa bình Paris được ký vào ngày 27/1/1973. Với việc Mỹ rút đi còn QĐNDVN vẫn trụ lại, Saigon giờ đang đối mặt với một tương lai đầy bấp bênh. Viện trợ Mỹ đang bị cắt giảm, và Hà Nội còn mơ ước việc chinh phục. Cuộc công kích 1972 đã tàn phá những năm dựng nước gian khổ ở cả hai bên, nhưng như hai võ sĩ đã thấm mệt, chỉ có một người cuối cùng sẽ cho người kia đo ván bằng một cú nốc ao.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s