Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 20)

 CHƯƠNG 20 : “THIỆU ĐÃ ĐI QUÁ XA”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Lào, Cuộc Bầu cử, và Khởi đầu của Hồi Kết cục.

Miền Nam bước vào năm 1971 mạnh mẽ hơn bao giờ, nhưng sức mạnh của nó tỏ ra không thể chống đỡ được sau vụ thảm bại trước một vụ tấn công lớn vào tháng 2 chống lại Đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào và sự tan nát của bất kỳ sự hậu thuẫn còn lại nào của quốc tế trước cuộc bầu cử tổng thống chỉ có một ứng cử viên. Cả hai sự kiện, nhất là thảm bại ở Lào, đánh dấu đoạn kết của sự leo thang ở miền Nam. Không thấy được vào thời điểm đó và không cảm nhận được trong vài năm, trận thua đó trực tiếp dẫn đến Cuộc Công kích Phục sinh 1972. Đến lượt cuộc công kích dẫn đến thỏa hiệp Paris 1973, làm sân khấu cho màn thất thủ của đất nước. Góp thêm vào các tai ương của miền Nam là sự sụp đổ của công luận quốc tế xuất xứ từ cuộc bầu cử tổng thống đầy tai tiếng và thêm rắc rối nội bộ, trong đó có việc binh lính Mỹ sử dụng ma túy. Phối hợp các điều đó tạo thành một cơn lốc xoáy đưa miền Nam trượt dài đến thảm bại.

TẤN CÔNG LÀO

Vào giữa năm 1970, tình báo Mỹ phát hiện QĐNDVN tập trung lực lượng ở nam Lào sát với Quân đoàn I ở phía bắc miền Nam. Vào đầu tháng 11, MACV kết luận rằng Hà Nội dự định tấn công ở đó trong  mùa khô năm sau sẽ bắt đầu vào giữa tháng giêng 1971 và kéo dài cho đến tháng 8. Vì người Mỹ sẽ rút quân gần như toàn bộ các đơn vị tác chiến ra khỏi vùng đó, Thiệu và Nixon quyết định ra tay trước để đập vỡ kế hoạch của địch và phá hủy các kho tiếp tế của QĐNDVN. Cuộc tấn công, được hoạch định để minh chứng cho thành tựu của việc Việt Nam hóa, được nhắm vào ngay trung tâm của hệ thống xâm nhập, Đường mòn Hồ Chí Minh ô nhục ở Lào.

Vào đầu tháng giêng 1971, Bộ Tổng Tham mưu Liên quân và Tướng Abrams bắt đầu lên kế hoạch hành quân. Họ vạch một kế hoạch tấn công với hai sư đoàn QĐVNCH để tìm và diệt các kho dự trữ của QĐNDVN. Mật danh “Lam Sơn 719,” chiến dịch sẽ bắt đầu với các đơn vị Mỹ tiến đến biên giới Lào để bảo đảm tuyến tiếp tế của miền Nam, tiếp theo là các vụ nghi binh của các lực lượng Mỹ khác. QĐVNCH sau đó sẽ phát động một mũi thọc chủ lực,  tấn công kết hợp bộ binh và thiết giáp dọc theo Đường 9, con đường một làn xe chạy từ đông sang tây từ Đông Hà ở phía nam vào đất Lào. QĐVNCH sẽ dựng lên một loạt căn cứ pháo yểm trợ dọc theo bờ phía bắc và nam của Đường 9 để bảo vệ sườn hở của đạo quân đang tiến lên. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân đoàn I sẽ dẫn đầu chiến dịch.

Vai trò của Mỹ bên trong Lào chỉ giới hạn ở việc cung cấp hoả lực, yểm trợ không kích, và trực thăng vận. Sau cuộc xâm hấn Cao Miên, Quốc hội đã tìm cách ngăn cấm các lực lượng Mỹ không được xâm nhập Cao Miên và Lào. Nỗ lực ban đầu thất bại, nhưng một dự luật được điều chỉnh được hai viện thông qua vào tháng 12 1970 và được ký vào tháng giêng 1971. Tu chính Cooper-Church ngăn cấm lực lượng bộ binh và cố vấn Mỹ xâm nhập bất kỳ nước nào. Để so sánh, chiến dịch Cao Miên 1970 được lên kế hoạch rất tốt, có binh sĩ và cố vấn Mỹ tham gia cùng với QĐVNCH. Lam Sơn 719 không có những điều này.

Măc dù Trung ương Cục miền Nam đã dự đoán sau vụ đảo chính Lon Nol vào tháng 3 1970 rằng các đồng minh có thể xâm lược Cao Miên, họ không có được tình báo chính xác nào cho một động thái như thế. Kế hoạch Lào, tuy nhiên, bị một vài gián điệp phát hiện. Một đặc vụ bóc trần được chiến dịch là một gián điệp Việt Nam làm việc tại Văn phòng Công trình Công cộng ở thủ đô Vientiane của Lào. Anh quen biết tùy viên quân sự miền Nam công tác tại sứ quán Saigon. Tại một buổi tiệc với tùy viên và nhiều sĩ quan cao cấp QĐVNCH đang thăm viếng Vientiane, anh ta có thể xem qua một xấp hồ sơ tối mặt trong văn phòng của tùy viên soạn thảo các kế hoạch cho Lam Sơn 719. Hà Nội không cần các gián điệp của mình mới biết được các đồng minh có thể tấn công nam Lào. Bộ Chính trị đã quyết định rằng chiến dịch công kích tiếp theo của đồng minh sau việc xâm nhập Cao Miên sẽ là hoặc một đòn thọc sâu xuyên qua vùng phi quân sự vào Tỉnh Quảng Bình hoặc một mũi tấn công vào nam Lào. Hà Nội sợ một cuộc tấn công vào hệ thống xâm nhập huyết mạch của họ vì Bộ Chính trị biết rằng thiếu nó họ không thể đánh thắng cuộc chiến. QĐNDVN thành lập một cấu trúc quân sự tạm thời gọi là Nhóm B70 để chỉ huy các lực lượng tác chiến của mình trong vùng này. Đây là quân đoàn thứ nhất do QĐNDVN thành lập. Nó gồm ba sư đoàn cộng thêm pháo binh và các trung đoàn phòng không.

Thiệu, muốn minh chứng các khả năng quân sự được cải thiện của mình, bèn quyết định phát động hai chiến dịch đồng thời: một chiến dịch do Đại tá Trần Quang Khôi dẫn đầu thọc sâu vào Cao Miên để hủy diệt các kho tiếp tế của địch và một chiến dịch khác ở nam Lào. Không may, thần chiến tranh không nâng đỡ Thiệu. Chiến dịch Lào sẽ là trận đánh lớn nhất và thách thức nhất từ trước đến nay.

Chiến dịch phối hợp các lực lượng từ Quân đoàn I như Sư đoàn 1 với các bộ phận Dù tinh nhuệ và các sư đoàn Thủy quân Lục chiến từ lực lượng Tổng Dự bị của Saigon. Các đơn vị này sẽ tấn công một vùng được phòng thủ kiên cố mà QĐNDVN sẽ tử thủ.

Giữa hậu thuẫn đã giảm sút của Hoa Kỳ và phòng thủ vững chắc của QĐNDVN, cuộc công kích Lào sẽ tỏ ra là quá sức chịu đựng của QLVNCH. Vấn đề lớn nhất là chỉ huy và ban tham mưu Quân đoàn I thiếu kinh nghiệm phối hợp các đơn vị thuộc binh chủng khác nhau (Bộ binh, Biệt động, Thủy quân Lục chiến, và Nhảy dù), vốn có những chuỗi mệnh lệnh khác nhau trong một chiến dịch tích hợp. Hệ thống báo cáo quân sự thừa thãi này cản trở âm mưu đảo chính nhưng làm giảm tính hiệu quả. Các đơn vị Thủy quân Lục chiến và Nhảy Dù về tác chiến thì gắn kết dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Lãm, khiến cho các chỉ huy sư đoàn liên hệ, Trung tướng Lê Nguyên Khang và Dư Quốc Đống, lại phải báo cáo với ông. Vì thường ngày họ chỉ trả lời với Tướng Cao Văn Viên hoặc Thiệu, nên họ từ chối. Thay vào đó, họ xấc xược ở lỳ tại Saigon và cử các người phó của mình đến bộ chỉ huy của Lãm.

Cuộc công kích khởi đầu thuận lợi. Phát động cuộc tấn công vào ngày 8/2/1971, lực lượng xe bọc thép được lính Dù hổ trợ nhanh chóng chọc thủng vào đất Lào dọc theo Đường 9. Trong vòng ba ngày, đạo quân chủ lực đang nửa đường đến Tchepone. Các đơn vị Biệt động và Sư đoàn 1 phòng thủ mặt sườn. Đường 9, tuy nhiên, đang trong tình trạng khủng khiếp. Thậm chí xe bọc thép vượt qua con đường đất cũng rất khó khăn, nên việc tiếp tế giao lại chủ yếu cho trực thăng. Địa hình cũng là một trở ngại lớn. Không giống mặt đất tương đối bằng phẳng ở Cao Miên, khu vực này là vùng núi non rừng rậm. Khí hậu cũng thất thường. Mặc dù mùa khô đã đến, sương mù sáng sớm và mây thấp thường khiến cho các hoạt động không lực phải lùi đến trưa. 

Hổn hợp những khó khăn, Lãm còn lâu mới là vị chỉ huy tác chiến tài giỏi nhất miền Nam. Thiệu đã giao ông chức tư lệnh Quân đoàn I như một phần thưởng cho việc ông hậu thuẫn chính quyền mình trong vụ khủng hoảng Phật giáo 1966 và ủng hộ Thiệu trong việc đương đầu với Kỳ vào cuối tháng 6 1967. Không quen với các cuộc hành quân phức tạp, đánh nhau trong sân sau của kẻ thù, và bị ngăn trở bởi địa hình và thời tiết, chiến dịch bị sa lầy. Cho dù Lãm là một sĩ quan thiết giáp, ông dừng cuộc tiến quân trên Đường 9 để chờ Sư đoàn 1 bắt kịp và phòng thủ sườn phía nam của đoàn quân. Trong 5 ngày, đoàn quân khựng lại. Thiệu sau đó góp thêm lỗi lầm bằng cách ra lệnh hoãn lại cuộc tấn công vào Tchepone cho đến khi thời tiết quang đãng để có thể bảo đảm không vận bằng trực thăng. Nó cho thấy đó là sai lầm chết người, vì nó tạo điều kiện cho QĐNDVN phản công. Các chỉ huy QĐNDVN địa phương thoạt đầu phản ứng chậm chạp, phần lớn vì các lực lượng của họ phân tán lo bảo vệ các khu vực như Bình nguyên Jars và Tỉnh Quảng Bình ở miền Bắc. Bộ Chính trị thúc ép Tư lệnh Tối cao đáp ứng mạnh mẽ, ra lệnh rằng “chúng ta phải đánh thắng trận này, dù phải động viên bao nhiêu người và bao nhiêu khí tài đi nữa, và dù phải chịu bao nhiêu tổn thất và hy sinh, vì đây là một trận đánh có tầm quan trọng chiến lược … Thắng lợi trong trận phản công này sẽ có một tác động lớn đến chính nghĩa giải phóng miền Nam của chúng ta.” Tư lệnh Tối cao ra lệnh cho B70 sử dụng mọi vũ khí họ sở hữu, trong đó có một số xe tăng T-54 và trọng pháo  do Liên Xô chế tạo nhận được gần đây.

Vào cuối tháng 2, các lực lượng QĐNDVN phản công. Họ tấn công các ụ hòa lực cố định phong ngự hai bên sườn của đoàn quân chủ lực. Thương vong của QĐVNCH tăng lên nhanh chóng, nhất là khi một tiểu đoàn Biệt động bị tràn ngập cho dù đã thực sự tiêu diệt một trung đoàn QĐNDVN xông lên. Vào ngày 3/3, với các trận đánh lớn nhất kể từ Tết Mậu Thân nổ ra ác liệt dọc theo hai sườn, Thiệu ra lệnh Lãm đánh chiếm Tchepone. Nói sau chiến tranh, Thiệu nhìn nhận rằng chiến dịch chỉ đơn giản là “một hành động danh dự để chứng tỏ với Cộng sản là chúng tôi có thể đến được Tchepone.”

Một số lượng khủng khiếp các trực thăng Mỹ xếp hàng ồ ạt không vận một vài tiểu đòan của Sư đoàn 1 vào trận địa Tchepone. Họ lục soát thị trấn bỏ hoang và đổ nát, không tìm thấy gì, bèn nhanh chóng rút ra. Mặc dù ban đầu Thiệu tính ém quân ở lại Lào để phong tỏa hành lang xâm nhập, nhưng giờ tổn thất gia tăng, ông ra lệnh rút về. Các lực lượng QĐNDVN ép sát họ rất rát, nã pháo dữ dội vào các ụ hoả lực và từng đợt sóng bộ đội  tràn lên tấn công. Dù bị hoả lực của dàn phòng không kinh khủng địch gây tổn thất nặng nề cho trực thăng Mỹ, các phi công Hoa Kỳ vẫn thực hiện các sứ mạng sinh tử đến bốc đi các đơn vị bị kẹt lại. Việc rút lui, khó khăn dưới bất kỳ tình huống nào, trở nên tuyệt vọng đối với một số binh sĩ QĐVNCH. Mặc dù nhiều bình sĩ chiến đấu ngoan cường trong 45 ngày liền, số chiến sĩ khác quá hãi hùng và trốn chạy. Các phóng viên đã chụp được các bức ảnh đau lòng các binh sĩ QĐVNCH bám lấy càng đáp của trực thăng một cách tuyệt vọng, thêm một bức ảnh gây ra các hậu quả tiêu cực to lớn cho miền Nam. Vào cuối tháng 3, chiến dịch kết thúc. Cho dù không phải là một thất bại vang dội, tổn thất trên chiến trường là một dấu hiệu ngặt nghèo cho tương lai.

Lam Sơn phơi bày các vấn đề hiện đại hóa chiến tranh trong cả hai quân đội. Chiến tranh quy ước đòi hỏi bộ máy hậu cần quy mô để yểm trợ cho lực lượng tác chiến hiệu quả.

Rủi thay, mặc dù QLVNCH đã trải qua các đợt năng cấp có ý nghĩa, nó vẫn còn thiếu các kỹ năng kỹ thuật và quản lý để đáp ứng đầy đủ một quân đội hiện đại. Tệ hơn nữa, trong khi các đơn vị của Đổ Cao Trí trong chiến dịch Cao Miên 1970 đã thể hiện điển hình các cuộc hành quân phối hợp binh chủng  giữa bộ binh, xe bọc thép, pháo, thì ở Lam Sơn 719 các chiến thuật hành quân của miền Nam bị tổn thất trầm trọng do bất hòa giữa các sĩ quan cao cấp. Vấn đề nhân sự nghiêm trọng vẫn tồn tại, kể cả các sĩ quan cao cấp bất tài và thiếu các chỉ huy đơn vị nhỏ có năng lực, trong khi các khó khăn kinh tế như lương thấp làm sút giảm tinh thần chiến đấu và tinh thần đồng đội.

QĐNDVN cũng chiến đấu với mức trưởng thành đầy đủ của một quân đội quy ước. Họ không có khái niệm về các binh chủng phối hợp, một vấn đề sẽ ám ảnh họ trong suốt cuộc Công kích Phục sinh 1972. Một hệ thống tái tiếp tế nguy hiểm vận hành dưới mưa bom đạn lửa kết quả là quân lương và chăm sóc y tế nghèo nàn bào mòn đáng kể sức mạnh của đơn vị. Các cuộc tấn công liên tục đã buộc họ rút vào các căn cứ ở biên giới, có nghĩa là gần như bỏ rơi vùng nông thôn miền Nam. Hơn nữa, tinh thần vốn kiên cường của QĐNDVN đã bị giảm sút trước các tổn thất nặng nề do QĐVNCH đã tiến bộ hẳn gây ra.

Chiến tranh quy ước làm gia tăng số thương vong cho cả hai bên, nhưng tổn thất trong Lam Sơn 719 thật khó đo lường chính xác. Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh liệt kê con số thống kê QĐVNCH cho rằng 13,601 binh địch bị giết, hơn 100 tăng bị phá hỏng, và hàng ngàn xe vận tải bị tiêu hủy. Tuy nhiên, QĐNDVN cho rằng họ chỉ tổn thất 2,163 chiến sĩ và 6,176 bị thương và chỉ có tổng cộng 88 tăng được tung vào chiến dịch. Tổn thất của QĐVNCH cũng mù mờ. Lãm, trong một báo cáo gửi Uỷ ban Quốc phòng Thượng viện, nói rằng có 1,400 người chết và 4,700 người bị thương. Hinh trình ra một bảng cho biết tổn thất của miền Nam là “1,146 người chết và 4,236 người bị thương, và 246 mất tích.”

Với các cuộc bầu cử lớn trong vòng 6 tháng, trận đánh tiếp theo sẽ là việc tạo hình cho công luận miền Nam về Lam Sơn 719. Dân chúng thoạt đầu phản ứng với lòng tự hào vì quân đội mình đang tiến hành hai chiến dịch lớn cùng một lúc. Một tình thần phấn khởi ủng-hộ-chiến-sĩ điển hình lên cao, và nhiều người bắc di cư đạo Công giáo đứng lên kêu gọi Bắc Tiến để chiếm lại lãnh thổ đã mất của mình.

Niềm hoan hỉ buổi đầu bổng héo tàn khi báo chí bắt đầu đưa tin về các cuộc phản công của QĐNDVN và tổn thất gia tăng của miền Nam. Cách lý giải vụng về của Bộ Thông tin về tình hình chiến sự nghe rất mỉa mai, và khi chiến dịch lắng xuống, dân chúng bắt đầu đặt ra các câu hỏi khó trả lời, đặc biệt về các quyết định của Thiệu. Không nghi ngờ gì nữa tổng thống đã ra hầu hết các mệnh lệnh quân sự quan trọng. Như Hình sau đó đã viết, “ảnh hưởng của Thiệu là rõ ràng. Chính ông là người đã tán thành ý tưởng phát động một cuộc tiến công vào hạ Lào … Ở ít nhất hai dịp, các chỉ thị ông đưa ra cho bộ chỉ huy Quân đoàn I đã rõ ràng ảnh hưởng đến lộ trình của chiến dịch.” Chỉ thị đầu tiên là cho Lãm cắm quân cho đến khi thời tiết quang đãng, và thứ hai là đánh chiếm Tchepone. Đúng là Hinh có điều tiết việc chỉ trích Thiệu một cách kín đáo của minh khi lưu ý rằng tổng thống đã “lắng nghe cẩn thận đề xuất của các chỉ huy chiến trường” và “cho phép họ sự linh động cần thiết khi thi hành mệnh lệnh và kế hoạch mà các chỉ huy tác chiến phải có.”

Để vực dậy công luận đang ủ rũ và để chuẩn bị cho cuộc bầu cử sắp đến, Thiệu kịch liệt cho rằng cuộc tấn công của ông đã thắng lợi. Vào ngày 6/4 ông tuyên bố với quốc hội rằng chiến dịch Lào đã bẻ gãy chiến lược dự tính tấn công Quân đoàn I của kẻ thù trong năm 1971. Thiệu cũng củng cố quyết định trước đây của mình là trừng phạt bất kỳ tiếng nói kêu gọi hòa bình nào. Vào cuối tháng 2 1971, chính quyền truy tố hai tu sĩ Công giáo tiến bộ vì đã in ấn các bài viết chủ trương đàm phán, tuyên bố rằng họ đã kích động “sự lật đổ tác hại đến tình thần chiến đấu của quân đội.” Việc Thiệu bỏ liều cho một bộ phận kiên cường nhất chán ghét mình chỉ vì các bài xã luận nhỏ đã minh chứng đầy đủ sự kiên quyết dẹp bỏ những lời kêu gọi trong nước đòi đàm phán với CQCMLT. Như các hành động áp bức khác, nó phản xung. Một giáo sĩ bị bỏ tù, Cha Chân Tín, sẽ trở thành một tiếng nói không nao núng tuyên bố rằng CQMN đang giam giữ hàng ngàn tù nhân chính trị. Cũng vậy, vào cuối tháng 2, Thiệu công bố một công thức hoà bình mới nhanh chóng được biết dưới tên “Bốn Không”: không liên hiệp, không trung lập hóa,  không nhượng đất, và không cho Cộng sản hoạt động chính trị. Khẩu hiệu “hòa bình trên sức mạnh” của Thiệu vừa là xuất phát điểm khi Hà Nội quyết định thương lượng vừa là một phương tiện cho ông xoa dịu cánh hữu cho cuộc bầu cử sắp đến.   

Để chuẩn bị cho cuộc bầu cử, ông cũng bắt đầu gián tiếp bêu xấu Dương Văn Minh quá mềm yếu đối với Cộng sản. Trong thông điệp Tết hàng năm gửi đồng bào, Thiệu tuyên bố vì Cộng sản không thể thắng lợi vẻ mặt quân sự, hy vọng duy nhất của họ là “một chính quyền chủ bại” và bầu ra một lãnh đạo “họ dễ dàng gạt gẫm trên bàn hội nghị” hoặc sẽ “tự nộp mình cho người Cộng sản bằng cách chấp nhận một chính phủ liên hiệp hoặc trung lập.” Cử tri có một lựa chọn rạch ròi, hòa bình trong “tự do và thịnh vượng” do ông lãnh đạo hoặc “hòa bình sinh ra từ một giải pháp mềm yếu sẽ dần dần đưa tới việc đánh mất hoàn toàn xứ sở và kiếp nô lệ vĩnh viễn cho tất cả dân chúng miền Nam.”

Sau khi Thiệu tuyên bố thắng lợi, Nguyễn Cao Kỳ quyết định biến Lam Sơn 719 thành một đề tài tranh cử. Vào ngày 20/4, ông công khai ly khai với tổng thống. Kỳ công khai chế giễu lời tuyên bố chiến thắng của Thiệu và yêu cầu miền Nam tìm kiếm hoà bình  hơn là mở ra các chiến dịch giao tranh hơn nữa. Kỳ lên án chính quyền của Thiệu, cho nó là “con thuyền đang chìm được phủ nước sơn tốt đẹp dối trá, và người cầm lái  là một kẻ phản phúc, bất trung, không lương thiện.”

Hà Nội nhìn sự kiện qua cặp kính của họ. Chỉ dấu cốt lõi cho Bộ Chính trị là họ đã đập tan binh đội tinh nhuệ nhất của miền Nam, một chứng cứ cho thấy QĐNDVN đã phục hồi sức mạnh. Tuy nhiên, để mang cuộc chiến đến với kẻ thù, QĐNDVN phải cần thêm nhiều vũ khí hơn nữa. Lê Duẩn đi đến Mát-cơ-va để dự Đại hội Đảng lần thứ 24 và để gặp nhà lãnh đạo Xô-Viết Leonid Brezhnev. Như một nhà ảo thuật, Lê Duẩn tìm cách gợi lên cho Brezhnev một bài học chiến lược toàn cầu từ thắng lợi ở Lào tương tự như cách thức các người tuyên truyền của Trung ương Cục miền Nam đã quá thành công trong việc biến trận đánh tháng giêng 1963 ở Ấp Bắc từ một thắng lợi chiến thuật nhỏ địa phương thành một luận để về chiến tranh. 

Theo đại sứ Xô-Viết ở VNDCCH, vào ngày 14/4/1971, Lê Duẩn khoác lác với Brezhnev rằng “thắng lợi trên Đường 9 là một trong những thắng lợi hiển hách nhất trong cuộc chiến đấu chống Đế quốc Mỹ.” Lê Duẩn phát biểu rằng họ đang lên kế hoạch cho một “chiến dịch quân sự đại quy mô” cho mùa khô năm sau “để giáng một đòn quyết định trong cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ nhằm loại bỏ Nixon.” Ông chém gió rằng “chúng tôi sẽ kéo ngã Nixon xuống như đã từng kéo ngã Johnson xuống.” Bộ trưởng Quốc phòng Andrei Grechko nói với  Brezhnev, “Tôi nghĩ VNDCCH có lợi thế về lực lượng. Họ ccó thể đạt được mục đích của mình chỉ bằng sức mạnh. Chúng ta sẵn sàng cung cấp cho họ những yểm trợ cần thiết trong tương lai.” Người Nga bắt đầu chuyên chở thêm nhiều vũ khí nặng, chủ yếu tăng T-54 và khẩu pháo 122mm và 130mm.  Quan trọng hơn, họ gửi một số vũ khí tối tân như hoả tiễn phòng không Strella SA-7. Trung Quốc cũng nối gót theo sau. Trước đây Bắc Kinh đã cắt giảm viện trợ cho Hà Nội vì chống đối việc Hà Nội thương thuyết với Hoa Kỳ, nhưng để “thuyết phục Bắc Việt rằng Trung Quốc mở cửa với Mỹ sẽ không phá hỏng nỗ lực chiến tranh của họ, giới lãnh đạo Trung Quốc năm 1971 tăng cường đáng kể việc  chở vũ khí cho VNDCCH.” Dù vậy, viện trợ của Trung Quốc chủ yếu là vũ khí cá nhân, quân nhu, máy móc quân sự hơn là loại vũ khí tối tân như Liên Xô đã gửi.

Được hứa hẹn viện trợ mới, vào tháng 5 1971, Bộ Chính trị đúc kết kế hoạch của mình. Họ quyết tâm phát triển “lập trường tấn công chiến lược ở miền Nam để đánh bại chính sách ‘Việt Nam hóa’ của Mỹ, đạt được thắng lợi quyết định vào năm 1972, và buộc bọn đế quốc Mỹ phải đàm phán để kết thúc chiến tranh từ thế đứng của một kẻ bại trận.” Hà Nội chuẩn bị chơi một ván bài cuối cùng.

PHỤC HỒI KINH TẾ

Trong khi hòa bình là vấn đề chính đối với công chúng miền Nam, thì bất mãn kinh tế là vấn đề lớn thứ hai. Những thăm dò công luận hàng tháng được các nhân viên phỏng vấn người Việt được CORDS đào tạo tiến hành cho thấy các vấn đề cơm áo gạo tiền vẫn là mối quan ngại bức bách. Báo cáo tháng 4 1971 cho thấy trong khi có 43 phần trăm người trả lời cho rằng chính quyền đã đạt được các tiến bộ kinh tế, 37 phần trăm tin rằng nó đã thất bại. Dù có những tai hoạ kinh tế, Bunker vẫn xem Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc là “người tài giỏi nhất trong Nội các.”

Bất chấp nỗi bất mãn tiếp diễn, tình hình kinh tế vĩ mô đã cải thiện. Chẳng hạn, việc cải cách ruộng đất là một thành tựu vang dội. Đến ngày kỷ niệm một năm luật Người Cày Có Ruộng ra đời, bộ của Cao Văn Thân đã phân phối hơn 500 ngàn mẫu cho 162,341 nông dân. Dưới bất kỳ phép đo nào, đó là một thành tựu choáng ngợp, hầu hết được tiến hành ở mức độ làng. Thân lên kế hoạch chuyển thêm 900 ngàn mẫu vào năm sau. Vào tháng 3 1973, mục tiêu của ông là phải hoàn tất chương trình và phân phát 2.5 triệu mẫu đất. Kết quả cuối cùng sẽ nuôi dưỡng đầy hy vọng tính hợp pháp rộng khắp ở nông thôn mà chính quyền còn đang thiếu thốn.

Đối với Ngọc, “kinh tế cũng quan trọng như đánh giặc,” một điều rất ít được nhận ra tại thời điểm đó nhưng tuyệt đối đúng đắn. Vào tháng 3 1971, mức độ lạm phát đã giảm nhiều từ lần tăng rất nóng vào giữa năm 1970, nhưng khoảng hở ngân sách tiếp tục mở rộng. Để giải quyết nhu cầu có thêm nguồn tài chính, Ngọc lên kế hoạch tạo ra các thay đổi cấu trúc kinh tế có ý nghĩa trong năm 1971 để giải quyết các vấn để tài chính của miền Nam. Sự tăng trưởng sẽ chữa lành các rủi ro kinh tế của miền Nam, và thiết kế của Ngọc nằm trên các nguyên tắc thị trường tự do, khai thác dầu khí, và phát triển kỹ nghệ. Trong khi các tổng trưởng trước đây như Nguyễn Hữu Hanh đã trông cậy vào việc kiếm tiền bù đắp thâm hụt, viện trợ Mỹ, và các thuế nhập khẩu để cung cấp kinh phí cho CQMN, thì mục tiêu của Ngọc là “chuyển hướng kinh tế từ sự phụ thuộc nặng nề vào viện trợ nước ngoài bằng cách động viên mọi nỗ lực và tài nguyên tiến đến việc cung ứng tài chính cho chi phí chiến tranh gia tăng, và hướng về tương lai, đặt nền móng cho phát triển kinh tế an toàn.” Cả Ngọc và người phó của minh, Nguyễn Đức Cường, quyết tâm dịch chuyến miền Nam khỏi mô hình kế hoạch tập quyền được các nhà hành chính do Pháp đào tạo chủ trương trước đây đã khống chế việc kế hoạch hóa kinh tế miền Nam.

Ngọc đặc biệt để mắt đến việc khai thác dầu khí ở bờ biển miền Nam. Ông âm thầm hy vọng thu nhập từ dầu khí sẽ giải quyết được vấn đề kinh phí thiếu hụt triền miên. Sau khi các thăm dò địa chất chỉ ra rằng vùng biển miền Nam có thể chứa các trữ lượng dầu, Thiệu ký một sắc luật vào ngày 1/12/1970, ủy quyền khảo sát cho các công ty nước ngoài. Ông đã quyết định bãi bỏ việc thành lập một công ty dầu quốc gia và thay vào đó để cho các công ty ngoại quốc phiêu lưu và trang trí mọi phí tổn. Ngọc cử Trần Văn Khôi, một kỹ sư trẻ trong bộ mình, cầm đầu Uỷ ban Dầu khí Quốc gia của miền Nam vừa mới thành lập. Khôi đi đến Iran để nghiên cứu và phát triển một hợp đồng chào giá dầu, và ông xuất hiện trên truyền hình để quảng bá các kế hoạch của CQMN.

Tuy nhiên, hy vọng lớn của Ngọc thất bại do các thế lực ngoài vòng kiểm soát của ông. Khi ông công khai vào tháng 2 1971 rằng bộ của ông sẽ bắt đầu nhận các vụ bỏ thầu quyền thăm dò dầu khí, phe tả phản chiến ở Mỹ nhảy chồm lên. Họ tuyên bố dầu khi đang lèo lái chính sách Việt Nam của Nixon. Cơn thịnh nộ buộc Saigon phải huy bỏ việc đấu thầu, nhưng Ngọc thông báo vào ngày 9/6 rằng việc đấu thầu sẽ tổ chức lại. Nhiều lời đề nghị bỏ thầu được nộp, nhưng Thiệu để cho chúng hết hạn. Việc gọi thầu thăm dò dầu khí cứ để trùm mền  suốt hai năm sau. Chỉ đến đầu năm 1973, sau khi Ngọc tiếp tục quấy rầy Thiệu, cuối cùng Thiệu mới đồng ý. Sự đình hoãn là một sai lầm lớn. Nếu việc đấu thầu đã được chấp nhận vào năm 1971, các giếng dầu kiểm tra hẳn đã được khoan và đến năm 1975 lợi tức từ việc sản xuất dầu ắt hẳn có thể đã giúp ổn định tình trạng thâm hụt ngân sách mới manh nha đúng ngay khi viện trợ Mỹ giảm xuống tệ hại. Hơn nữa, Ngọc xem thu nhập dầu khí như một vực dậy tâm lý, một điều gì đó gây cho quần chúng niềm hy vọng kinh tế hơn là nỗi tuyệt vọng buồn thảm của thuế má chồng chất. Điều gì gây ra sự đình hoãn? Ngọc không biết cho đến nhiều năm sau là việc treo lại là do nguyên do của nhiều yếu tố phối hợp. Thứ nhất, tiếng ồn ào do phe tả phản chiến Mỹ hò hét đã khiến Thiệu tạm dừng để tránh bị nghi ngờ. Thứ hai, ông trong lòng sợ rằng các công ty dầu có thể hũ hóa các viên chức nhà nước. Thứ ba, cuộc Công kích 1972 và rồi hòa đàm Paris đã chiếm hết thì giờ của chính quyền, khiến việc đấu thầu quyền thăm dò dầu khí phải gác lại.

Mặc dù thiết kế hoành tráng của ông là sử dụng doanh thu dầu khí, cải cách cấu trúc lại là mục tiêu tức thì của Ngọc. Bước đầu tiên của ông là cải tiến việc thu thuế, nhưng để tránh phản ứng gay gắt như vào tháng 10 1969 từ việc tăng thuế nhập khẩu đột ngột, Ngọc muốn thúc đẩy việc thu thuế cá nhân dần dần để giảm nhẹ nỗi bất mãn. Tuy vậy, sứ quán Mỹ, quan ngại về việc quốc hội đang gia tăng bất bình về tình hình tham nhũng và chi tiêu không đúng cách tiền viện trợ, nên ép buộc ông ngay lập tức phải áp đặt tăng thuế mọi đối tượng. Ngọc lưỡng lự, sợ rằng việc này sẽ kích động xuống đường, nhưng thay vào đó ông thuyết phục tổng trưởng bộ tài chính tiến hành kiểm tra thuế và kiểm toán ở Saigon. Bản năng Ngọc cho thấy là chính xác. Sau khi nhiều doanh nghiệp phàn nàn về sự xuất hiện thình lình của thanh tra thuế, vào ngày 25/2/1971, Thiệu hủy bỏ việc ấy. Sau đó tổng thống thông báo rằng công chức và binh sĩ vẫn được miễn thuế lợi tức suốt thời chiến. Thiệu rõ ràng  đang muốn lấy lòng giới ủng hộ mình, vì vào tháng 3 ông chấp thuận lượt cải cách kinh tế tiếp theo của Ngọc. Trong đó có việc bán trái phiếu của chính phủ, với lãi suất cao hơn, và định giá gạo nhập khẩu bằng giá gạo trồng trong nước. Chương trình Ngọc được thiết kế để giúp nông dân, rút tháo tình trạng thanh khoản dư thừa khỏi nền kinh tế, làm nguội lạm phát, và thể hiện các thay đổi kinh tế để trấn an các nghị sĩ Quốc hội Mỹ bất mãn.

Các cải cách của Ngọc không được lòng dân chúng nhưng cần thiết, đặc biệt việc dỡ bỏ trợ cấp gạo, làm giá gạo thành thị tăng lên, khiến dư luận la ó. Vào ngày 19/3, 24 thượng nghị sĩ ký tên vào một nghị quyết đòi truất phế ông. Đây là lời kêu gọi thứ ba đòi hạ bệ Ngọc. Thiệu phớt lờ. Được hậu thuẫn của tổng thống, Ngọc quay sang vấn đề kinh tế chính của Saigon, việc đồng tiền miền Nam được đánh giá quá cao một cách tệ hại. Tỉ số hối đoái chính thức thấp khiến miền Nam hầu như không thể xuất khẩu hàng hóa. Hơn nữa, thuế quan trong nước cao, các quy định rắc rối, và việc kiểm soát ngoại thương (một di sản của Pháp), không kể vấn đề an ninh và tham nhũng, đã hạn chế ngặt nghèo việc đầu tư của nước ngoài. Ngọc cần hoạt động tài chính nên ngoài vực dậy nền kinh tế. Để làm được điều này, ông phải giảm bớt thủ tục phiền hà và đánh giá đúng thực tế đồng bạc.

Tuy nhiên, Ngọc buộc lòng phải đợi chờ đến xong bầu cử tổng thống. Thiệu không muốn các biện pháp kinh tế căng thẳng phá hỏng các nỗ lực tái ứng cử của mình. Vì vậy Ngọc có thời gian để hoàn một kế hoạch kinh tế mới với sự hợp tác của người bạn thân Hà Xuân Trừng, tổng trưởng tài chính vừa mới được bổ nhiệm. Với sự hỗ trợ của bạn, Ngọc kết hợp các cải cách đồng hạc với ngân hàng. Vào ngày 15/11, Thiệu công bố các biện pháp mới nhằm tái tạo một cách ấn tượng tỉ lệ hối đoái và thuế quan. Ông đo ni đóng giày thông điệp công khai của mình với các quan ngại của quốc hội Hoa Kỳ. Cả hai hành động, Thiệu nói, đều nhắm làm giảm bớt sự lệ thuộc của miền Nam vào viện trợ Mỹ. Bất kỳ sự hỗ trợ mới nào cũng sẽ được sử dụng để “phát triển và không để tiêu thụ.”

Ngọc lược bỏ một công cụ của mô hình kinh tế tập trung mà bộ máy hành chính kiểu Pháp ưa chuộng. Ông chuyển việc cấp phép nhập khẩu từ chính quyền sang các ngân hàng. Ông cũng giới thiệu tuần tự  việc bảo vệ thuế quan cho các ngành kỹ nghệ trong nước và giảm các khoản thuế suất nhập khẩu từ 200 xuống còn 4. Ông hy vọng sẽ kích thích cạnh tranh và thúc đẩy khuếch trương doanh nghiệp. Ngọc biết rằng khi chiến tranh kết thúc, hàng ngàn binh lính giải ngũ sẽ cần đến việc làm. Hơn nữa, để khuyến khích nước ngoài đầu tư, ông nâng tỷ giá hối đoái đến 410 đồng ăn 1 đô la, nhưng tỷ giá hối đoái sẽ “thả nổi” trên cơ sở hàng ngày hơn là giữ cho cố định, hệ thống hiện thời đang thịnh hành dưới hiệp ước Bretton Woods 1944 nhằm điều chỉnh hệ thống tiền tệ quốc tế. Bên cạnh việc cải cách ruộng đất căn cơ và tín dụng nhỏ, thì miền Nam thuộc về các xứ sở đầu tiên thử nghiệm động thái tiền tệ cấp tiến đó.

Trong khi giá cả nhảy vọt trong thời gian ngắn và một số thượng nghị sĩ một lần nữa hò hét đòi cách chức Ngọc, các kết quả chẳng bao lâu cho thấy hiệu quả. Tiền tư đổ vào hệ thống tài chính, khiến ngân hàng có thể mua được các công trái mới của CQMN, giúp tài trợ cho ngân sách. Mức lạm phát chậm lại nhiều, thị trường đô la chợ đen gần như bị loại ra, và sản xuất tăng vọt. Năm 1971 chứng kiến một mức tăng lạm phát thấp nhất kể từ 1964. Thật là nguy kịch, các cải cách tiền tệ của Ngọc được phát động ngay lúc Thượng viện Mỹ một lần nữa phủ quyết dự luật viện trợ nước ngoài và vô hiệu hóa sít sao một tu chính nhằm giới hạn mọi khoản tài trợ cho Việt Nam chỉ trừ cho việc rút quân Mỹ. Ngọc, biết được cơn bão tố, ngay lập tức phát động một chiến dịch trong quan hệ quần chúng. Ông bảo với cánh nhà báo rằng “các biện pháp của mình được đưa ra vì chúng ta muốn chứng tỏ với nhân dân Mỹ rằng, chúng ta , dân miền Nam, thực lòng đang làm việc hướng tới sự tự túc và tự lập.” Rồi ông kêu gọi sự hỗ trợ của người Mỹ. Không có viện trợ Mỹ, ông nói, “miền Nam khó có thể sống còn.” Sau khi bộ máy hành chính của Nixon phát động một nỗ lực mạnh mẽ để phục hồi dự luật, Quốc hội thông qua sắc luật nhưng còn cắt giảm tài trợ. Ngày trong khi Thiệu đang trong cuộc đua tranh giữa cải thiện lực lượng vũ trang và việc binh lính Mỹ rút đi, Ngọc đang trong cuộc chạy đua giữa cải cách kinh tế và viện trợ Mỹ teo tóp.

LẠI THÊM TAI TIẾNG

Đánh giá Tình báo Quốc gia do CIA ấn hành vào cuối tháng 4 kết luận rằng “viễn ảnh của miền Nam cho phần còn lại của năm 1971 khá tốt đẹp. Ba năm còn lại đã phát sinh một chính tình vững chãi hơn, một sự cải thiện rõ rệt trong các điều kiện an ninh, và tiến bộ đáng kể trong tiến trình Việt Nam hóa.” Nhưng như mọi quốc gia, xứ sở phải đấu tranh với các loại tai họa.

Sinh viên Việt Nam chưa ngồi yên, kinh tế vẫn ì ạch, và hòa bình vẫn chưa đạt được. Đối với người Mỹ, cuộc chiến dường như bế tắc, phản đối của quốc hội gia tăng, và khi các lực lượng Mỹ đẩy nhanh việc rút quân, tinh thần binh sĩ Mỹ bắt đầu sa sút. Các sự kiện kỷ luật và chủng tộc tăng lên khi bất ngờ một quan ngại mới nổi lên. Tình trạng sử dụng ma túy và nghiện ngập trong giới binh sĩ, chủ yếu là xài he-rô-in chất lượng cao, rẻ tiền, tăng vọt. Từ tháng 8 đến tháng 12 1970, 90 binh lính Mỹ chết vì bị nghi sử dụng quá liều. Vào tháng 1 và 2 1971, 36 người khác chết.

Vào đầu tháng 2 1971, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird đề cập vấn đề với Thiệu. Tổng thống lưu ý rằng “đây là lần đầu tiên ông nghe về chuyện này.” Phần nhiều he-rô-in vào xứ qua các chuyến bay thương mại từ Lào đến phi trường Tân Sơn nhất ở Saigon. Trạm quan thuế tại sân bay không tồn tại vì các kiểm soát viên hoặc ngó lơ vì đã được lót tay hoặc đồng lõa với việc buôn lậu. Dưới sức ép của Hoa Kỳ, Thiệu ra lệnh nâng cao an ninh hải quan tại phi trường cho dù Thủ tướng Khiêm gián tiếp dính líu đến nó. Khi Khiêm sa thải tay chân của Kỳ tại cảng Saigon và Phòng Quan thuế, ông thay họ bằng người của mình. Em Khiêm là giám đốc Cục Bài trừ Gian lận Quốc gia, cánh tay đắc lực của Phòng Quan thuế. Dưới thời ông, việc buôn lậu ở miền Nam tăng vọt, và các viên chức thuế quan tất nhiên là có liên can. Vào ngày 10/3, cảnh sát bắt giữ một tiếp viên Air Vietnam buôn lậu he-rô-in từ Lào. Một tuần sau, một dân biểu Hạ viện trở lại từ Bangkok bị sờ gáy tại sân bay vì mang he-rô-in. Ngày hôm sau, một dân biểu thứ hai bị quan thuế Thái bắt tại Bangkok vì tìm cách mang vàng lậu vào Saigon. Ông này, Nguyễn Quang Luyện, không phải là tay vừa. Ông là phó chủ tịch thứ hai của Hạ viện và người dùng đầu Khối Độc Lập phò Thiệu. Mặc dù Luyện nhanh chóng được phóng thích, việc bắt giữ ông và việc ông từ chức sau đó được rao trên khắp mặt báo miền Nam.

Sau các đúc kết của Abrams và Bunker về tình trạng nghiện ngập tăng nhanh của binh sĩ Mỹ, vào ngày ⅗, Thiệu ra lệnh tùy viên an ninh quốc gia của ông, Trung tướng Đặng Văn Quang, báo cáo với ông trong vòng 10 ngày với một kế hoạch diệt trừ vấn đề ma túy. Công luận cũng phát sinh một đáp ứng tức khắc của quốc hội. Dân biểu  Robert Steele đến thăm Việt Nam, và ông tuyên bố hơn 10 phần trăm nhân viên dịch vụ Mỹ nghiện hê-rô-in, một tuyên bố đáng nghi ngờ. Quốc hội bùng nổ vì lời tuyên bố của Steele, và nó bổ sung điều khoản tu chính đối với dự luật viện trợ nước ngoài sẽ hạn chế việc trợ giúp cho quốc gia nào không thiết lập hàng rào kiểm soát chất cấm. Nhận ra nguy cơ có thể gây ra cho viện trợ nếu không hành động kiên quyết về ma túy, Bunker báo cáo rằng “Thiệu dự tính đích thân đảm trách chương trình này như với chương trình bình định hoá.”

Vào ngày ⅙, ông cách chức em trai Khiêm và người đứng đầu quan thuế và loại tất cả viên chức coi Quan thuế và hành lý ở phi trường.

Khi Nixon tuyên chiến Cuộc Chiến chống Ma túy vào ngày 17/6/1971, Thiệu bắt chước với một chương trình tương tự. Mặc dù cảnh sát bắt đầu tóm được các vụ ma túy lớn, và việc buôn lậu ở Tân Sơn Nhất được kiểm soát, tranh cãi lại sôi sục một lần nữa vào 7/7. Sử dụng thông tin không được chứng thực mà quân cảnh Mỹ có được cho rằng các quan chức cao cấp của CQMN có dính líu đến việc mua bán ma túy, Dân biểu Steele công khai cáo buộc Tư lệnh Quân đoàn II Thiếu tướng Ngô Dzu buôn bán ma túy. Dzu kịch liệt bác bỏ, nhưng việc cho ông có liên can  bị che mờ trước một quả bom tin thứ hai do đài NBC News loan đi. Vào ngày 15/7, Phil Brady, thông tín viên của đài ở Saigon, tuyên bố rằng Thiệu và Kỳ sử dụng việc mua bán chất cấm để tài trợ cho chiến dịch tranh cử tổng thống của mình. Brady, kể theo nguồn tin Việt Nam tuyên bố ma túy tuồn vào miền Nam từ Lào trên những chuyến bay của Không Lực Việt Nam, lời kết án cũ chống Kỳ trước đây. Mặc dù Brady cho rằng không có người nào trực tiếp liên quan, anh ta viện dẫn rằng tùy viên của Thiệu, Trung tướng Quang (người mà Thiệu đã ra lệnh điều tra hoạt động buôn lậu ma túy) là trùm ma túy lớn nhất ở miền Nam, Thiệu phủ nhận chuyện đó, Kỳ cũng vậy, thậm chí còn bệnh vực Thiệu. “Dù tôi và Thiệu không còn là bạn,” Kỳ nói, “tôi không tin ông ta có liên quan đến chuyện như vậy.”

Trong khi xì-căng-đan buôn lậu kết hợp với niềm tin quốc tế cho rằng chính quyền miền Nam đầy dẫy tham nhũng, ở Mỹ, ý nghĩ rằng các nhân viên Hoa Kỳ đang bị dính he-rô-in do các đầu nậu là các quan chức cao cấp CQMN bán ra khiến miền Nam bỗng biến thành một quốc gia sống nhờ hoạt động buôn bán ma túy. Thiệu vẫn dấn tới, và vào ngày 10/8, ông yêu cầu quốc hội thông qua dự luật xử tội chết cho những ai buôn bán ma túy. Dự luật cũng đưa ra các thủ tục xét xử đặc biệt cho người sử dụng và chuyển các vụ án ma túy lớn cho Tòa án Quân sự Lưu động.

Tuy nhiên, buôn lậu và ma túy tạm thời bị đẩy ra khỏi trang nhất trên mặt báo khi một vài nghị sĩ Mỹ quăng ra các cáo buộc cho rằng Phượng Hoàng thực tế là chương trình ám sát được nguy trang. William Colby đã vừa hoàn tất chuyến đi với tư cách người đứng đầu cơ quan CORDS, và ông lập tức được yêu cầu làm chứng về các vi phạm có mục đích trong tổ chức Phượng Hoàng. Vào ngày 19/7, ông mạnh mẽ bác bỏ các cáo buộc này, mặc dù ông nhìn nhận rằng thỉnh thoảng lạm dụng cũng có xảy ra. Kế hoạch Phượng Hoàng 1970, giờ phần lớn là do người Việt Nam vận hành, đã gán chỉ tiêu bắt cán bộ địch cho mỗi khu vực. Trong khi Phượng Hoàng không phải là một hệ thống thủ tiêu, nhưng dưới sức ép của tổng thống phải cho thấy hiệu quả, các đặc vụ khu vực phải hoàn thành chỉ tiêu hoặc bằng cách khai gian số liệu hoặc túm đại ai đó chỉ hơi tình nghi có hợp tác với Việt Cộng .

Cách vận dụng kiểu này dễ dàng xảy ra bởi vì cho dù hiến pháp đã đặt người Cộng sản hoặc người chủ trương trung lập ra ngoài vòng pháp luật, nó không đưa ra một định nghĩa hoặc một quy định nào cho biết hành động nào mới được coi là tiếp tay cho Cộng sản. Từ đó, bất kỳ hoạt động nào không phù hợp với chính sách nhà nước hoặc chống lại tính khí thất thường của các viên chức địa phương đều có thể bị dán nhãn hiệu “Cộng sản”. dẫn đến hạch sách hoặc bắt bớ. Hạ viện bãi bỏ Uỷ ban An ninh Tỉnh của Phượng Hoàng để chấm dứt tình trạng lạm dụng buộc Thiệu phải điều chỉnh pháp lý cho chương trình để ủy ban được hoạt động trở lại. Vào đầu tháng 8, Thủ tướng Khiêm ký một sắc lệnh củng cố sự bảo vệ cho các đối tượng bị kết án, cử các thẩm phán về tỉnh để đẩy nhanh tiến trình xét xử, và yêu cầu “các phần tử cấp thấp chỉ ủng hộ cho VC” nên được phóng thích nếu họ “thay đổi thái độ.”

Dù quan trọng, Phượng Hoàng chỉ là một phần của một nỗ lực tổng thể ở nông thôn. Bình định hoá vẫn chiếm một vị trí cao trên lịch trình của Thiệu, và kế hoạch 1971 tiếp tục các nỗ lực của ông nhằm cải thiện quyền lực địa phương. Ông và Colby đã phát triển ba chủ đề cho năm 1971: quốc phòng địa phương, tự trị địa phương, và tự phát triển địa phương. Vì Thiệu tin tưởng mình đã chiếm lại được nông thôn từ tay Cộng sản, ông ra lệnh đổi tên bình định hoá sang Phòng vệ Cộng đồng và Phát triển Địa phương để phản ánh các ưu tiên mới của mình. Ông dự định tăng cường an ninh bằng cách củng cố Lực lượng Nhân dân Tự vệ, Phượng Hoàng, và sự hiện diện của cảnh sát trong làng ấp. Tự trị địa phương, cải cách ruộng đất và phát triển nông thôn cũng sẽ được củng cố và mở rộng.

Trong một bài diễn văn, Thiệu giải thích rõ ràng suy nghĩ của mình; ông đã tạo ra một “chiến lược chống cộng hiệu quả … dựa vào nhân dân như lực lượng hạt nhân. Nếu chúng ta có thể kiểm soát nông thôn cán bộ cộng sản sẽ ngừng hoạt động.” Colby ghi nhận rằng tạo ra một kế hoạch quốc gia khiến Thiệu có thể “áp đặt một chiến lược chính trị một cách nền tảng vào nỗ lực miền Nam” bằng cách vận động nhân dân trong cuộc chiến chống Cộng trong khi đồng thời xây dựng một xã hội và kinh tế tốt đẹp hơn.

Với Lam Sơn 719 đã qua, vào ngày 7/4, Nixon tuyên bố rằng “Việt Nam hóa đã thành công ” và thông báo việc rút thêm 100,000 quân nữa. Để bù trừ cho việc rút các đơn vị khỏi Quân đoàn I, Thiệu thành lập một sư đoàn mới trong khu vực. Sư đoàn 3 được thành lập bằng cách ghép hai trung đoàn từ Sư đoàn 1 và bắt buộc các đơn vị khác cung ứng để cho đủ quân số của sư đoàn mới. Một cách điển hình, họ gửi đi các binh sĩ cặn bã của mình, và sư đoàn 3 trải qua thời gian còn lại trong năm chuẩn bị thay thế lực lượng Mỹ ra đi. Cuối cùng đơn vị mới được thành lập và chưa hề gặp thử thách này được giao phòng vệ Khu Phi Quân sự ở phía bắc Tỉnh Quảng Trị sát với nơi tập trung của bộ đội chủ lực thuộc QĐNDVN.

Dù Nixon cam kết mang binh sĩ về nhà, cuộc đấu tranh phản chiến vẫn tái diễn. Một phần điều này được đốt lên là do ông ra lệnh chuyển Trung úy William Valley Calley đến quản thúc tại gia hoãn lại việc kháng án của anh vào ngày 31/3/1971, đến tù chung thân về vụ tàn sát Mỹ Lai. Một nhóm nhân viên phục vụ trước đây ở Việt Nam tự nhận mình là Cựu Quân nhân Chống Chiến tranh nổi giận vì các sĩ quan khác không bị truy tố. Vào cuối tháng 4, họ tổ chức một cuộc tuần hành phản đối đến Washington, mà đỉnh cao là việc làm chứng nổi tiếng của cựu sĩ quan Hải quân John Kerry trước Ủy ban Quan hệ Đối ngoại Thượng viện. Vào ngày 24/4, một cuộc biểu tình phản chiến rầm rộ được tổ chức ở Washington. Vào đầu tháng 4, chỉ có nhóm cứng rắn ở lại, còn các người kích động thì trút cơn thịnh nộ lên khắp thủ đô. Họ phong tỏa đường phố và các trụ sở chính quyền, buộc cảnh sát phải vào cuộc giải tán.

Đại sứ Bùi Diễm cố gắng một cách tuyệt vọng  chuyển tải đến Thiệu áp lực đường phố mà Nixon đang đối phó. Ông viết rằng “hình ảnh hàng ngàn người trẻ tuổi cầm cờ Việt Cộng, tuần hành qua các đường phố Washington … sẽ giống như một tấm gương soi mà Tổng thống Nixon luôn phải nhìn vào đó bất cứ khi nào phải đưa ra một quyết định về Việt Nam.” Bùi Diễm trông thấy một “cơn đại hồng thủy các sáng kiến của quốc hội nhắm đến việc hủy diệt năng lực tiến hành chiến tranh của bộ máy hành chính … Mỗi ngày tôi sống với sự xói mòn liên tục của sự hậu thuẫn, và mỗi đêm tôi tìm cách chuyển dịch trải nghiệm thành một thông điệp có sức thuyết phục gửi về Saigon.” Sau 5 năm ở Washington chiến đấu cho xứ sở mình, một Bùi Điểm bị bao vây, vỡ mộng tính đến việc về hưu.

Các sự kiện khác cũng khiến tín tức về Việt Nam xuất hiện trên truyền hình Mỹ hàng đêm. Việc phát hành Tài liệu Ngũ Giác Đài vào ngày 13/6 thu hút trọn vẹn báo chí Mỹ về các phát hiện khác nhau. Mặc dù Hà Nội đã bí mật chuẩn bị cho một đợt giao tranh mới, vào ngày 1/7, Nguyễn Thị Bình của CQCMLT ngụy trang tham vọng của mình bằng cách đề xuất một Đề nghị Bảy Điểm mới, một đề nghị hơi vá víu từ đề nghị của bà hồi tháng 9 1970. Nixon phái Kissinger tới Saigon vào đầu tháng 7 để trấn an rằng mình đã bác bỏ đề nghị của bà.

Không lâu sau đó, vào ngày 15/7, Nixon công bố một quả bom là ông sẽ viếng thăm Trung Quốc vào năm tới 1972. Về mặt chính thức, Thiệu chào đón tin này, nhưng đằng sau hậu cảnh ông trở nên lo lắng Hoa Kỳ có thể bỏ rơi miền Nam qua “một sự đổi chác nào đó,” nhất là vì Kissinger đã không bảo với Thiệu (hoặc các đồng minh khác mà ông đến thăm) về chuyện đi đến Bắc Kinh. Dù với các sự kiện xảy ra, cuộc bầu cử tổng thống sắp tới ở miền Nam chẳng bao lâu sẽ khống chế mặt báo.

CUỘC BẦU CỬ 1971

Cuộc bầu cử tổng thống và Hạ viện thể hiện một thử nghiệm khác về các định chế dân chủ đã được khai sinh quá đau đớn bốn năm trước ở miền Nam. Bầu cử thành công và đàng hoàng với các ứng cử viên cạnh tranh sẽ thăng hoa sự rực rỡ của nền pháp trị. Cuộc tổng tuyển cử hợp pháp lần ba cũng minh chứng rằng việc can thiệp quân sự vào chính quyền đã là tàn tích của quá khứ và rằng các đối thủ chính trị giờ được tự do hoạt động. Cuối cùng, nó sẽ cung cấp một trưng cầu dân ý cho việc cai trị của Thiệu trên một phổ rộng các vấn đề, từ chiến tranh và hòa bình đến kinh tế.

Những người Việt Nam có nhận thức chính trị giả định rằng cuộc đua sẽ tranh giữa ba người: Thiệu, Kỳ, và Minh. Cho dù Hoa Kỳ đã tuyên bố sẽ có thái độ trung lập nghiêm nhặt để xoa dịu các cáo buộc cho người Mỹ nhúng tay vào các vấn đề của Saigon, không ai tin điều ấy. Hầu hết dân đô thị miền Nam thường hay phóng đại quá mức ảnh hưởng được cho là bất chính của Hoa Kỳ. Họ quả quyết việc kiểm soát vụng trộm của người Mỹ đã tác động đến nhiều quyết định của giới lãnh đạo miền Nam. Việc phát hành Tài liệu Ngũ Giác Đài, được đăng lại nhiều tập trên báo chí Saigon cho thấy sự dính líu sâu của Mỹ vào việc lặt đổ Diệm, thuyết phục mọi người rằng họ đã nói đúng.

Tin rằng Thiệu là ứng cử viên “Mỹ” và và nhận thức được sự khó khăn khi tranh đua chống lại một đối thủ có phòng thủ, các chính đảng đang tồn tại, nhất là Đại Việt Cách Mạng và Phong trào Quốc gia Cấp Tiến, quay ra tập trung vào việc giành ghế Hạ viện. Phe Công giáo và Ấn Quang cũng tiếp cận tương tự. Khi chiến dịch không chính thức bắt đầu, mỗi ứng cử viên đều có điểm mạnh và điểm yếu. Từ lâu có tính diều hâu đối với hoà đàm giữa miền Bắc và miền Nam, ngài Kỳ 39 tuổi giờ lại đặt cược vào lập trường hòa bình và các vấn đề khác rạch ròi giữa Thiệu và Minh. Ông bảo vệ lập trường đã đổi khác của mình bằng cách tuyên bố rằng vì Hoa Kỳ đã rút đi nên tình hình đã thay đổi. Kỳ cũng bắt đầu lên án Thiệu và các tổng trưởng tham nhũng của ông ta, chỉ trích gay gắt vụ xâm lấn Lào, và làm sống lại lời kêu gọi công lý xã hội. Ông cũng khôn khéo kêu gọi chủ nghĩa chống Mỹ bằng cách mô tả Thiệu quá quỵ lụy trước người Mỹ trong khi vẫn nhìn nhận đất nước còn cần đến sự hậu thuẫn quân sự và viện trợ Mỹ. Kỳ, tuy nhiên, có ít tổ chức thực địa để sắp xếp người cho chiến dịch tranh cử, và dân chúng không ủng hộ ông nhiều như ông tưởng. Trong khi còn giữ được một số hậu thuẫn trong quân đội, ngay trong Không Lực, sức ủng hộ ông cũng giảm nhiều. Một số người bắc, thiểu số, và người trẻ nhìn ông có thiện cảm, nhưng ông vẫn còn bị phe Phật tử Ấn Quang và phần lớn người miền nam thù ghét. Ông không có cơ may nào thắng cử, nhưng khoái đóng vai người phá đám.

Ngài Minh 55 tuổi đặt cọc việc tranh cử của mình trên lập trường hòa bình và tiếng tăm của mình như một người miền nam đích thực, một người chính trực trong một biển cả các chính trị gia tham ô và là một Phật tử thuần thành trong một đất nước đa số theo đạo Phật. Một người truyền thống, vị tướng hồi hưu tự xem mình là một nhân vật quốc gia đứng trên chính trị. Phải đi diễn thuyết khắp nơi để kiếm phiếu là việc không đáng để ông làm. Không hiểu được việc vận động tranh cử hiện đại, ông ngây thơ tin rằng mình sẽ thắng chỉ bởi tình cảm quốc gia dạt dào tuôn ra một cách tự phát. Bất cứ chuyện gì khác là chứng cứ có sự gian lận bầu cử của Thiệu. Tuy nhiên, uy tín sẽ không còn đủ trong một miền Nam đang biến đổi. Ông đã không lập ra bất kỳ tổ chức tranh cử nào ở vùng nông thôn, cũng không tính toán bất kỳ chính sách nào để đánh tan dư luận cho rằng ông là một người lãnh đạo kém năng lực và lè phè chỉ nôn nóng muốn giải quyết cho rồi với người Cộng sản. Hòa bình là lá bài duy nhất của ông. Thiệu, ông tuyên bố, “tin rằng hòa bình chỉ có thể thắng được bằng cách giết đến tên Cộng sản cuối cùng. Việc này không sao làm được. Cách duy nhất là hoà đàm.” Minh, trong khi cho rằng CQCMLT sẽ nói chuyện với mình, nhắm đến một cuộc ngừng bắn và cùng tồn tại trong hòa bình nhưng không có chuyện liên hiệp. Đây là một lắt léo chính sách thú vị mà, theo kiểu điển hình, ông không thể trình bày rõ ràng một cách hiệu quả, nhất là vì Thiệu và người Mỹ đã đưa ra đề nghị ngừng bắn mà phe Cộng đã bác bỏ. Hơn nữa, vì MTGP đã yêu cầu một chính phủ liên hiệp trước khi tổ chức bầu cử, tối hậu thư này khiến đề nghị của ông là không chắc chắn.

Sau 6 năm cầm quyền, trước tiên như quốc trưởng và rồi tổng thống, ngài Thiệu 48 tuổi đã chuyển tiếp thành công từ một tướng lĩnh sang một chính trị gia thực tiễn. Ông đi xuống các tỉnh vận động tranh cử, đọc diễn văn, và lấy lòng giới nông dân. Dân chúng thoạt đầu tôn trọng ông như một đối thủ bậc thầy trong nền chính trị phức tạp của Saigon. Giờ phần đông đều xem ông như một lãnh đạo hành pháp hiệu quả: vững chải hơn ngài Kỳ thất thường, hiệu năng hơn ngài Minh bất tài. Không kém quan trọng, ông đã cân bằng một cách nghệ thuật các yêu sách xung đột nhau của công chúng miền Nam và bộ máy hành chính và quân sự trong khi vẫn duy trì sự hậu thuẫn hay phê phán của Mỹ. Ông đã làm trẻ hóa nông thôn, quản lý một cách nghệ thuật việc rút quân của Mỹ, và giám sát công việc củng cố rộng lớn nhà nước. Thật đáng khen, ông đã từ chối ve vãn các nhóm tôn giáo hoặc hợp tác với các chính đảng bằng cách bán cho họ ân huệ của chính quyền để đổi lấy sự hậu thuẫn. Bất kỳ nỗ lực vươn đến đều được sử dụng để củng cố bộ máy hành chính. Còn nữa, như mọi nhà lãnh đạo khác trong các nước đang phát triển, ông đối mặt với các vấn nạn dường như không thể giải quyết được. Nạn tham nhũng lan tràn chính quyền, chính sách cứng rắn của ông về hòa đàm gây lo lắng cho quần chúng mệt mỏi vì chiến tranh, và ông còn bị nhiều bộ phận dân chúng thù ghét. Trần Văn Đôn đúc kết với nhận xét “Thiệu là một chính khách nhưng không được lòng dân. Minh được lòng dân nhưng không phải là một chính khách.”

Hiến pháp quy định rằng quốc hội phải thông qua một dự luật bầu cử trước mỗi cuộc bầu cử. Ngay từ đầu tháng 12 1970, Thiệu đã muốn tu chính luật để “giảm số ứng cử viên tổng thống. Các đảng phái không thể phát triển dưới bộ luật hiện hành do đó nó phải được thay đổi. ” Thiệu nghĩ về một hệ thống hai đảng, “một thuộc cánh tả và một thuộc cánh phải,” sẽ khiến chính quyền vững mạnh và hiệu quả hơn.” Thiệu đã giao cho Nguyễn Văn Ngân, cố vấn pháp luật của ông thay thế Nguyễn Cao Thăng, quyền tự do hành động để điều hành chiến dịch tranh cử của mình. Để hạn chế số ứng cử viên vớ vẩn đã làm phân tán số phiếu bầu trong năm 1967, Ngân soạn ra một dự luật bầu cử mới với một điều khoản gây tranh cãi. Mặc dù luật bầu cử cơ bản dựa vào dự luật 1967,  Mục 10 mới khiến mọi người ngứa mắt. Mục này quy định rằng một ứng cử viên phải có giấy xác nhận viết tay của ít nhất 40 thượng nghị sĩ hoặc dân biểu, hoặc 100 trong số 554 hội đồng tỉnh, ít nhất 60 ngày trước cuộc bầu cử tổng thống.

Được biết dưới tên điều khoản “40 hay 100”, Hạ viện thông qua dự luật, nhưng Thượng viện bác bỏ nó. Thiệu nộp lại dự luật, và vào ngày 3/6, Hạ viện vô hiệu hóa quyền phủ quyết của Thượng viện. Các dân biểu đối lập tố cáo Thiệu tìm cách hạn chế số ứng cử viên và Ngân đã hối lộ nhiều dân biểu để được số phiếu cần thiết, nhưng lời kết án có chút giá trị. Cuộc tranh luận chua chát đến nổi một dân biểu đe dọa sẽ cho nổ tan xác mình bằng một quả lựu đạn, trong khi một dân biểu khác rút ra một khẩu súng lục và đe doạ ban phát ngôn nhân của viện. Cuộc bầu cử vào Hạ viện sẽ xảy ra vào ngày 29/8 trong khi bầu cử tổng thống được ấn định vào ngày 3/10. Tuy nhiên, dự luật không hoàn toàn có lợi cho Thiệu. Nó hạn chế ai có thể ứng cử vào Hạ viện bằng cách ngăn cấm các viên chức quân sự hoặc tỉnh lỵ, một điều khoản ngăn cản các ứng cử viên thân Thiệu.

Mặc dù cơn cuồng nhiệt vì điều khoản 40/100, Thiệu nhấn mạnh rằng sắc luật mới là cần thiết. Ông lặp lại với Kissinger đến thăm ông vào đầu tháng 7 rằng “ông ban hành luật  .. để không cho phép các ứng cử viên tùy hứng như 1967 … Bất kỳ tổng thống nào, dù Minh, Kỳ hoặc chính ông , cũng nên có đủ uy tín và không có số phiếu 35 % như trước. Điều này quan trọng cho sự ổn định chính trị.” Hơn nữa, Thiệu nói rằng các cuộc bầu cử “sẽ được tổ chức đàng hoàng và công bằng; rằng luật bầu cử của ông không nhận vào Minh hoặc Kỳ, vốn có đủ sự hậu thuẫn, mà là cho vị tổng thống tiếp theo một uy quyền thực sự.” Thiệu cũng bảo với một nhà báo ngoại quốc là hai vấn đề lớn nhất đối diện với miền Nam là nhu cầu “tăng cường an ninh và bảo đảm dân chủ chính trị.” Ông muốn có vài ứng cử viên, “nhưng không được quá nhiều, để người thắng cuộc sẽ có đa số đáng tin cậy – suy cho cùng chúng tôi đang có chiến tranh.”

Vì vậy, Thiệu nhắm đến một uy quyền được nhiều người đồng thuận cho các chính sách hòa bình của mình trong khi cũng đánh bại người Cộng sản cứ khăng khăng loại bỏ ông trước khi bầu cử. Ngân khẳng định rằng

Thiệu không hề muốn có một cuộc bầu cử độc diễn … Chúng tôi muốn một cuộc bầu cử tử tế và công bằng, và chúng tôi thực sự muốn Minh tham gia tranh cử, bởi vì khi đó chiến thắng của Thiệu sẽ cho những người Quốc gia chúng ta một lập trường mạnh mẽ tại hoà đàm Paris … Hơn nữa, ông có khát vọng biến cuộc bầu cử thành một cuộc tổng tuyển cử quốc gia trong đó nhân dân sẽ phải chọn lựa giữa hai giải pháp chính trị hoàn toàn đối nghịch nhau: một bên là Thiệu, đại diện phe Quốc gia chống Cộng, còn bên kia là Minh, đại diện cho những người chấp nhận liên hiệp với người Cộng sản.

Vì tính đa dạng của cử tri phân mảnh số phiếu bầu, làm thế nào Thiệu có thể hợp nhất để chiến thắng? Ông có thể chiến thắng một cách hợp lý với tỷ số nào? Để trả lời cho các câu hỏi này, Ngân sử dụng các máy tính của Bộ Tổng Tham mưu Liên quân để phân tích số phiếu bầu từ cuộc bầu cử tháng 8 1970. Ông thấu hiểu được rằng nếu Kỳ không tham gia, Minh sẽ thu được khoảng 45 phần trăm, trong khi Thiệu sẽ được khoảng 55 phần trăm . Tuy nhiên, khi Ngân trình bày bảng khảo sát và kế hoạch 40/100 của mình với Thiệu để loại bỏ Kỳ, ông cũng suy đoán rằng Minh có thể bỏ cuộc khi đối đầu với sắc luật. Cho dù e sợ Minh, Thiệu tán thành kế hoạch của Ngân.

Vào tháng 3 1971, Thiệu đã xem xét việc chọn Khiêm làm phó tổng thống mới của mình, nhưng rồi ông đổi ý sau vụ buôn lậu ở phi trường bị phát giác. Hơn nữa, ông đã hóa ra vỡ mộng với việc điều hành chính quyền của Khiêm trong vai trò thủ tướng. Họ đã đung độ nhau trong vụ án Trần Ngọc Châu và biểu tình chống đối của sinh viên và cựu quân nhân, nhưng đến vụ buôn lậu ở Tân Sơn Nhất số phận của Khiêm đã được niêm phong. Thiệu giang tay đến Trần Văn Hương, người đồng ý làm phó tổng thống cho ông. Hương nói rằng “mặc dù ông và Thiệu có những khác biệt về cơ bản ông nhất trí với Thiệu về các vấn đề chiến tranh và hòa bình và xem Thiệu là nhà lãnh đạo quốc gia tốt nhất có được.” Thiệu chọn Hương với cùng lý do ông đã chọn Hương làm thủ tướng: tiếng tăm của ông và nhu cầu quân bình đứng liên danh với người ràng buộc sâu sắc với giới ưu tú miền nam.

.Khi quốc hội đã thông qua luật 40/100, Ngân khởi động phần hai của chiến lược tranh cử của mình: dồn vào góc mọi hậu thuẫn để ngăn Kỳ có phép ứng cử. Minh được xác nhận bởi các dân biểu quốc hội theo như yêu cầu, nhưng Kỳ thất bại không đạt đủ số chữ ký của các thành viên hội đồng tỉnh. Kỳ lên tiếng phản đối, và ông khiếu nại lên Tối cao Pháp viện, nhưng bị tuyên bố vô hiệu. Nỗ lực khâu kín mọi hậu thuẫn vừa là hành động phá hoại chính trị có tính toán với một đối thủ vừa là thù oán cá nhân đối với đồng minh trước đây của Thiệu. Thiệu, trong lòng rất ấm ức trước các chỉ trích ác độc của Kỳ, quyết định công khai hạ nhục vị phó tổng thống của mình. Không bao giờ phó mặc công việc cho may rủi, Thiệu và tham mưu chiến dịch của mình ngăn cản không thương tiếc các nỗ lực của Kỳ.

Khi Kỳ bị loại khỏi cuộc đua, Minh cũng bắt đầu dao động. Minh cần tuyệt vọng sự hậu thuẫn quần chúng của Ấn Quang, nhưng khi dân biểu Lý Quí Chung, người hậu thuẫn Minh, đến thăm Thích Trí Quang để bảo đảm sự hậu thuẫn của ông ta, ông thấy nhà sư “không mấy mặn mà.” Trong khi Quang không ưa Thiệu và muốn “một chính quyền có khả năng kết thúc chiến tranh và vãn hội hòa bình,” ông tin rằng Saigon cần một nhà lãnh đạo mạnh mẽ. Quang cho rằng “Minh không phải là một chính trị gia thực sự,” một cách tế nhị để khỏi phải phán xét.

Khi có ai đó chuyền đến tay Minh các hướng dẫn tranh cử được giữ kín của Ngân gửi cho các tỉnh trưởng, vị tướng lĩnh nổi doá trao một bản sao cho sứ quán Mỹ. Tài liệu vạch ra một chương trình hành động ấn tượng phối hợp với một kè hoạch cũng nổi bật không kém nhằm đàn áp phe đối lập. Rút kinh nghiệm từ kỳ tích bất ngờ của Trương Đình Dzu vào năm 1967, Ngân đã tạo ra một kế hoạch mới để thắng dựa vào sự phân tích đầu phiếu chi tiết và cách tổ chức thực địa siêu đẳng. Kế hoạch phác họa trách nhiệm cho các tỉnh trưởng nhằm bảo đảm thành công và phân công mỗi nhân viên chiến dịch tranh cử phải xác định xu hướng chính trị của khoảng 350 cử tri. “Mục tiêu,” Ngân viết, “là để có bảng phân tích cho mỗi làng và quận sẽ cung cấp sự hiểu biết rạch ròi về khuynh hướng cùa mỗi cá nhân cử tri.” Hơn nữa, tỉnh trưởng phải thành lập một ban tham mưu bí mật để “làm tê liệt các hoạt động của liên danh đối thủ. Những mưu mẹo và chiêu thức khác nhau có thể được tung ra để phá vỡ và làm tê liệt các phần tử đối lập” kể cả hối lộ, đe doạ, giam giữ các “tên thân Cộng”, và thuyên chuyển các công chức địa phương làm việc cho phe đối lập. Thị trường Richard Daley ở Chicago ắt hẳn cũng phải đố kỵ (Ông được bầu giữ chức thị trưởng Chicago trong 6 nhiệm kỳ liên tiếp: ND).

Minh lúng túng trước trận đánh tăng ào ạt về chính trị theo lối hiện đại của Ngân. Thay vì chiến đấu lại, và vì không được sức hậu thuẫn của Ấn Quang, vào ngày 20/8, ông rút lui. Bunker ra sức thuyết phục ông ngày hôm trước hãy ở lại vì điều tốt đẹp cho đất nước và thậm chí đưa ông tiền để ủng hộ cho chiến dịch tranh cử, nhưng Mình từ chối. Ngày hôm sau, trong điều được coi là một trò khác của Thiệu, Tối cao Pháp viện bất ngờ xử Kỳ được phép đăng ký ứng cử. Bunker ra sức thuyết phục Kỳ tiếp tục, nhưng Kỳ cũng từ chối.

Với sự “nghỉ chơi” của Minh và Kỳ, Thiệu cần trấn an với giới quân sự rằng mình không muốn biến thành một Diệm thứ hai. Vào ngày 23/8, ông cho họp lại Hội đồng Quân sự đang hoi hóp để xin được họ thông cảm cho việc mình cứ việc tiến hành bầu cử. Theo Ngân, Thiệu đưa ra đề nghị từ chức nếu Hội đồng Quân sự không ủng hộ mình. Mọi người đều nhất trí ủng hộ ông trừ Tướng Viên, không có ý kiến vì chủ trương quân đội đứng ngoài chính trị. Tiếp sau đó, vào ngày 29/8, Thiệu thăng chức cho gần 30 tư lệnh lên một bậc trong quân hàm. Trong đó có cả Ngô Dzu tai tiếng, một chỉ dấu cho thấy ưu tiên của Thiệu là việc “tề gia” chứ không phải là dư luận quốc tế. Ông cũng tỏ ra láu cả hơn cả Kỳ khi thăng cấp vị tư lệnh Không lực lên trung tướng, giờ vượt cấp vị phó tổng thống. Kỳ cũng biết rằng mình không thể sử dụng bản giao ước bí mật hai người đã ký vào năm 1967, bản giao ước cho Hội đồng Quân sự quyền phủ quyết Thiệu. “Sử dụng bản ấy chống lại ông ta,” Kỳ viết, “ắt hẳn sẽ bốc trần quân đội là trò hề, và khiến kẻ thù chúng ta xem những tiến bộ thực sự của chúng ta về dân chủ chỉ là rác rưởi. Công khai văn kiện đó chắc chắn sẽ khiến người Mỹ cuốn gói lẹ.”

Vào đầu tháng 7, với hơn 1,300 ứng cử viên vào Hạ viện, CQMN khởi động chiến dịch toàn dân đi bầu. Hạ viện được mở rộng từ 137 lên 158 ghế vì dân số gia tăng. Ứng cử viên không tranh cử nhân danh đảng, và về mặt kỹ thuật họ không đại diện một khu vực đặc biệt nào mà chỉ cho một nhóm 50,000 cử tri trong một quận. Mặc dù phần đông ứng cử viên đối lập ôn hòa đều được để yên, nhưng một số ít ứng cử viên chống đối Thiệu gay gắt thì bị các viên chức địa phương làm khó dễ. Ứng cử viên Công giáo kích động Ngô Công Đức đã bị Ủy ban Bầu cử bác đơn ứng cử vì bị gán là cảm tình viên của MTGP. Đức là chủ báo Tin Sáng, nhật báo đối lập chính ở Saigon, và khi tờ báo in bài viết về câu chuyện tình nổi tiếng của Thiệu ở Vũng Tàu, số phận của Đức đã bị định đoạt. Ngược lại,  Dương Văn Ba, cũng là một người Công giáo miền nam thân cận với gia đình bà Thiệu, đạt sít sao điều kiện ứng cử. Không giống Đức, Ba người từng được bầu làm tổng thư ký Hạ viện khóa đầu, thật ra là một đặc vụ nằm vùng của MTGP.

Vào cuối tháng 6, một chỉ thị được ban hành, giao việc tổ chức bầu cử cho  Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. LLNDTV được giao nhiệm vụ động viên dân chúng đi bầu, bảo vệ họ, và phụ giúp ai cần được giúp đỡ đến phòng phiếu. LLNDTV sẽ “phát động một chiến dịch lớn” trước ngày bầu cử một tháng “để quảng bá cuộc bầu cử bảo đảm nhân dân hiểu rõ tầm quan trọng của cuộc bầu cử và rủ nhau đi bầu cho đông.” Họ cũng lên kế hoạch bảo vệ an ninh đề phòng kẻ địch phá hoại và hỗ trợ “những cử tri già cả, ốm yếu, và tàn tật đi bầu.” Để tránh cho là hù dọa cử tri, họ bị cấm mang vũ khí đến phòng phiếu. Dù Thiệu rõ ràng muốn có được một đa số vững chắc trong Hạ viện, chỉ thị không hướng dẫn LLNDTV vận động ai là người cử tri phải bầu mà chỉ khuyến khích đi bầu làm tròn “nghĩa vụ quốc gia.”

Ngày bầu cử là 29/8. Trong số hơn 7,000 phòng phiếu chỉ có một số ít đóng cửa vì bị VC can thiệp. Được LLNDTV “khuyến khích” rủ nhau đi bầu tỷ số tham gia đầu phiếu rất cao: 78 phần trăm so với 65 phần trăm trong kỳ bầu cử Thượng viện tháng 8 1970. Thiệu phấn khởi trước kết quả, cho rằng nó thể hiện tình đoàn kết và sức mạnh quốc gia, cho dù nhiều người đi bầu chỉ vì muốn tránh phiền nhiễu của cảnh sát khi bị hỏi thẻ cử tri không được đóng dấu của mình.

Như bầu cử Thượng viện 1970, phe Ấn Quang tạo ra đột phá. Phe Phật giáo thắng 24 ghế, hầu hết ở Quân đoàn I, nơi họ gần như hốt sạch phiếu. Trong khi việc tọng phiếu gian lận vào thùng là hiếm, một vài ứng cử viên đối lập như Dương Văn Ba bị quấy rầy trắng trợn và thất cử. Tối cao Pháp viện hủy bỏ kết quả trong ba tỉnh, trong đó có tỉnh của Ba. Cho dù Minh lớn tiếng cho Thiệu gian lận bầu cử, 42 dân biểu mới được biết là đối lập Thiệu, 81 thân Thiệu, trong khi 36 không rõ lập trường chính trị.

Nguyễn Bá Cẩn, dân biểu từng ra sức bảo vệ Trần Ngọc Châu, được bầu làm phát ngôn nhân mới, để tiến lên nắm quyền lực cao hơn. Lạ thay, chỉ có một thiểu số người đương chức thắng cử, cuộc bầu cử phục dựng sự nghiệp một vài chính trị gia tên tuổi Saigon, trong đó có Trần Văn Tuyên, VNQDĐ lão thành. Tuyên đã thất cử hồi năm 1967, nhưng lần này ông thắng một ghế tại Saigon. Một người chiến thắng khác là cựu tướng lĩnh Trần Văn Đôn, đại diện Tỉnh Quảng Ngãi nhờ Ấn Quang yểm trợ. Sau khi được bầu, ngài Đôn kín đáo nhanh chóng đổi sang phe Thiệu, nhờ đó ông được bầu làm chủ tịch Ủy ban Quốc phòng, làm bàn đạp vào bộ máy chính quyền.

Ngài Kỳ nóng nảy quyết định quạt cho cháy đám tro tàn của nỗi bất mãn công khai. Thoạt tiên, ông đòi Thiệu từ chức và tái quy định thể thức tuyển cử. Nhiều quan sát viên cũng yêu cầu hoãn lại bầu cử. Tuy nhiên việc đó phải cần quốc hội tu chính hiến pháp về tình trạng bầu cử độc diễn, một tiến trình dường như bất khả vì quốc hội cũ đã qua còn quốc hội mới chưa được hợp thức hóa. Bỏ ngoài tai lời kêu gọi từ chức của Kỳ, vào ngày 11/9, Thiệu tuyên bố trên truyền hình minh sẽ không từ chức. Sau đó Kỳ thuyết phục Viên triệu tập Hội đồng Quân sự cưỡng ép Thiệu rồi sau đó tổ chức một cuộc bầu cử mới. Viên từ chối với lý do nhất quán quân đội ở ngoài chính trị.

Kỳ quay sang sử dụng sức ép đường phố, ông kêu gọi tẩy chay bầu cử. Một số người bất đồng chính kiến nổi tiếng như Bà Ngô Bá Thành, cắm đùi trước quốc hội, nhưng rồi nhanh chóng bị bắt giữ và ném vào tù vì tội hành hung quan toà xét xử bà. Một số thương phế binh đáp ứng với lời kêu gọi vũ trang của Kỳ, cũng như nhóm sinh viên quá khích của Huỳnh Tấn Mẫm. Dưới sự chỉ đạo của Đoàn Thanh niên Saigon thuộc Trung ương Cục miền Nam, Mẫm nhờ Kỳ giúp đỡ. Là một người chẳng biết thận trọng là gì, “Kỳ đồng ý cấp cho họ … thiết bị văn phòng, xe cộ, (2,000) lựu đạn cầm tay Mark 3, loại dùng để huấn luyện.” Vào ngày 19/9, tay chân của Mẫm đánh nhau với cảnh sát trên đường phố Saigon và sử dụng lựu đạn để phá hủy thùng phiếu. Một tuần sau, chúng phát động một chiến dịch đánh bom lửa xe hơi Mỹ. Cảnh sát bố ráp ban lãnh đạo của chúng, nhưng Mẫm chuồn đến biệt thự của Minh. Không thể đốt lên một phản ứng cấp quốc gia, anh ta ẩn thân ở yên đó cho đến 1972 thì bị bắt khi lẻn đi ra ngoài.

Vì bầu cử độc diễn được ấn định vào ngày 3/10, nên Thiệu tuyên bố mình coi đó như cuộc trưng cầu dân ý về chính quyền của mình. Phiếu bầu sẽ là tín nhiệm hoặc bất tín nhiệm, và ông sẽ từ chức nếu không nhận được tối thiếu là 50 phần trăm số phiếu tín nhiệm. Một lần nữa ông báo tin cho Hội đồng Quân sự là mình sẽ từ chức nếu Mỹ cắt viện trợ vì quyết định độc cử của mình.

Ngay cả ngài Bunker vốn ngày thường lạc quan, trong báo cáo có lẽ là cay độc nhất của mình về miền Nam, kết luận rằng trong khi mỗi ứng cử viên “đã xử sự vô trách nhiệm ..  tôi sẽ cho Thiệu là người có lỗi nhiều nhất và phải giải thích rõ ràng.” Theo ý kiến ngài đại sứ, “Thiệu đã đi quá xa.” Bunker muốn một cuộc tranh cử gay go thể hiện một cuộc bầu cử công bình và tự do để đánh đổ lời cáo buộc rằng Thiệu là một nhà độc tài. Một chiến dịch như thế sẽ giúp duy trì sự hậu thuẫn của quốc hội và công luận Mỹ cho cuộc chiến và lấy đó để so sánh với chế độ độc đảng của Hà Nội. Thay vào đó, quyết định của Thiệu đã cho phong trào phản chiến một cái dùi cúi để quật lại mình. Phương cách tỏt nhất để tác động đến thái độ chống đối Thiệu của người Mỹ là mô tả ông là người “chống dân chủ.”

Cuộc bầu cử êm xuôi, và tỉ số cử tri đi bầu là 88 phần trăm, 91 phần trăm trong số đó ủng hộ ông tiếp tục ở lại cầm quyền. Ấn Quang vẫn duy trì là phe đối lập chính của Thiệu, kích bác nhưng không còn thù địch gay gắt như trước. Các chính đảng cũ, trừ PTQGCT và Đảng Công Nông của Bửu, một lần nữa hoạt động một cách cầm chừng. Các chỉ huy quân sự cao cấp, được gài toàn là người trung thành với Thiệu, không chịu bày mưu trong bóng tối. Nông thôn, dù lạnh nhạt với chính trị, nhận thức bầu cho Thiệu thì có lợi cho mình hơn. Chỉ có giới ưu tú thành thị là vẫn còn khinh thị Thiệu.

Dù tốt hơn hay tệ hơn, Thiệu đã trở thành trục xoay mà chính trị miền Nam quay quanh nó. Dù khi nắm quyền lãnh đạo đất nước trong bốn năm, ông đã dỡ bỏ tai tiếng là một con cờ của Mỹ và đương đầu với cách kết thúc cuộc chiến: hoà đàm, tiếp theo là bầu cử  có MTGP tham gia. Mục tiêu của ông là có thể hiểu được; phương pháp của ông là đầy tai tiếng. George Carver của CIA, một quan sát viên sắc sảo về Việt Nam, nói rõ việc tính toán sai lầm của Thiệu: “Thiệu có thể đã đánh bại dễ dàng bất kỳ đối thủ nào … trong một cuộc bầu cử đàng hoàng và hoàn toàn cởi mở. Bằng cách làm như thế, ông có thể đã tự hào là người bảo vệ tính hợp hiến của chính quyền mình và đặt phe chỉ trích ông và địch thủ ông – Cộng sản hay không Cộng sản, Việt Nam hoặc nước ngoài – ở trong một tình thế lúng túng. Thay vào đó, ông đã cho nổ tung tất cả. …

Tại sao Thiệu, trong khi ý thức về công luận quốc tế vốn hay gièm pha mình nhiều hơn là mình đáng thế, lại có hành động mắt lấp tại ngơ như vậy? Rõ ràng có những mục tiêu chính sách không nói ra chẳng hạn bắt  buộc một cuộc tổng tuyển cử với Minh về đối thoại hòa bình để củng cố vị thế của mình ở Paris. Nhưng bên dưới lẩn khuất các nỗi sợ cá nhân nghiêm trọng. Bất kể các trấn an từ Nixon, Thiệu âm thầm nhắm đến việc chiếm đa số phiếu để ngăn người Mỹ khỏi trao đổi việc ông ra đi với một sự rút lui danh dự. Ngân cho rằng Thiệu bảo với mình ông Htin rằng người Mỹ “muốn thay thế tôi với Minh trong cuộc bầu cử tháng 10 vì nếu Mình thắng ông ta có thể sẽ yêu cầu người Mỹ hoàn toàn chấm dứt sự can thiệp, sẽ tạo điều kiện cho người Mỹ bỏ rơi miền Nam theo một cách đúng đắn và thích hợp mà không sợ bị kết án là phản bội đồng minh của mình.” Nguyễn Bá Cẩn, giờ là chính trị gia quyền lực thứ tư ở Saigon, cũng có các ý kiến mang tính âm mưu tương tự. Ông viết

chúng ta biết rất rõ ràng Hoa Kỳ hậu thuẫn Minh trong cuộc bầu cử này, cũng như họ đã hậu thuẫn Trương Đình Dzu chống lại Thiệu trong chiến dịch bầu cử đầu tiên … Sau này, sau khi xem xét lại các chiêu đòn và mưu tính của Mỹ trong chính sách đối với miền Nam, tôi kết luận rằng người Mỹ đã sắp xếp cho Minh rút ra khỏi cuộc bầu cử và đã cho phép giới truyền thông, và nhất là giới truyền thông Hoa Kỳ, công kích Thiệu vì “cuộc tái đắc cử độc diễn’ của mình để đặt Thiệu vào một thế yếu sau đó sẽ cho phép người Mỹ kiếm soát và ép buộc ông để họ có thể áp đặt kế hoạch của mình là bán đứng và phản bội Việt Nam.

Do đó, Kissinger đến gặp ông vào tháng 7 và sau đó gặp Kỳ và Minh, nỗi sợ của Thiệu càng lớn mạnh. Ông kết nối việc Bunker gặp gỡ Minh thuyết phục ông ta ở lại tranh cử với việc Mỹ hậu thuẫn vị cựu tướng lĩnh. Điều người Mỹ dự định như một sự thể hiện công khai giải pháp trung lập Thiệu xem như là các mưu tính của người Mỹ. Các tính báo của ông cũng báo cáo với ông về các tiếp xúc của người Mỹ với các nhân vật đối lập khác, các cuộc gặp gỡ khiến các ngờ vực của ông dường như có thật.

Rồi hai sự kiện đáng báo động xảy ra đồng thời. Tùy viên của Nixon Alexander Haig báo tin cho Thiệu vào tháng 9 rằng người Mỹ chuẩn bị đưa ra đề nghị Thiệu từ chức để dẫn dụ Hà Nội chịu chấp nhận đề xuất hòa bình của Mỹ. Khi vào khoảng nửa số Thượng nghị sĩ miền Nam trong cùng ngày với Haig cũng yêu cầu ông từ chức vì cuộc bầu cử độc diễn, Thiệu thấy đây là chứng cứ của mối ngờ vực của mình. Trong khi Thiệu không nghĩ người Mỹ đang lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính chống mình, ông tin rằng ông phải làm bất cứ điều gì cần thiết để phong tỏa một cú đảo chính chính trị.

Trong khi những nỗi sợ này quay cuồng trong tâm trí được biết là vốn đa nghi của Thiệu, không may cho đất nước ông, nỗi đau lớn dần của một nền dân chủ non trẻ đã đổ tràn trên mặt báo và màn hình TV: tình trạng áp bức, tham nhũng, Chuồng Cọp, và buôn lậu ma túy, chỉ liệt kê một ít. Những vụ xì-căng-đan không ngớt, các chỉ trích thuộc ý thức hệ, cộng thêm số thương vong của binh lính Mỹ, đã làm yếu đi không thể phục hồi quyết tâm của dân chúng Mỹ muốn giúp đỡ miền Nam. Cuộc bầu cử độc diễn là giọt nước làm tràn ly.

Một cuộc khảo sát quốc gia do Viện Harris thực hiện vào cuối tháng 10 1971 cho thấy 65 phần trăm dân Mỹ giờ nghỉ rằng cuộc chiến không chỉ là một sai lầm mà còn “sai về mặt đạo lý.” Trận thảm bại ở Lào đã tước đi mọi hy vọng rằng Việt Nam hóa có thể thành công. Khoảng 53 phần trăm không tin CQMN có thể “ngăn được người Cộng sản chiếm đóng sau khi Hoa Kỳ rút quân.*

Canh bạc bầu cử của Thiệu đã đi lạc vào bi kịch Hy Lạp, và với việc Hà Nội đang bí mật chuẩn bị một cuộc công kích lớn để tiêu diệt cộng cuộc bình định và “đuổi Nixon đi”, quả đấm kép này mở màn cho việc Saigon trượt dốc không đảo ngược được đến chốn tận diệt.

CÁCH MẠNG GIÁNG TRẢ

Biết rằng mình không thể ngừng cuộc bầu cử, người Cộng sản quay sang vũ khí ưa chuộng của họ: ám sát các lãnh tụ Quốc gia để loại bỏ đói thủ và gieo rắc sự ngờ vực giữa họ với nhau. Mục tiêu đầu tiên nhắm vào Trần Quốc Bửu 57 tuổi, lãnh tụ liên đoàn lao động CVT và Đảng Công Nông. “Đảng Ủy Saigon ra lệnh Bô phận An ninh T4 ám sát Trần Quốc Bửu.” Họ chiêu mộ một phụ nữ làm việc trong trụ sở ông và bà ta dẫn lối cho đặc công vào tòa nhà. Vào chiều ngày 21/9, các đặc công đặt một quả bom hẹn giờ tại bức tường bên ngoài văn phòng của Bửu. Bửu thoát chết vì bom nổ muộn vài phút sau khi ông đã ra về.

Khi vụ mưu sát này thất bại, Đảng ủy quay sang mục tiêu thứ hai, Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người đứng đầu Phong trào Quốc gia Cấp Tiến và viện trưởng Học viện Hành chính Quốc gia, trường đào tạo các công chức cao cấp của bộ máy hành chính CQMN. Người Cộng sản đã tình cờ chọn đúng mục tiêu; trong vòng bí mật, Thiệu đã dự tính thay thế chức thủ tướng của Khiêm bằng Bông.

Khiêm là một nhà quản trị có năng lực mà Thiệu đã bổ nhiệm làm thủ tướng để điều hành chương trình bình định, giải quyết các vấn đề kinh tế, và cải thiện mối quan hệ với quốc hội. Theo Ngân, Khiêm tránh trách nhiệm chính trị, nhưng trong thực tế ông sử dụng các quyền lực của thủ tướng ghi trong hiến pháp … để bổ nhiệm bà con và bạn bè mình vào các chức vị béo bở … để trục lợi cá nhân và hốt bạc.

Theo Nhã, với dàn đồng ca cất cao tiếng chỉ trích cuộc bầu cử. Thiệu và ông đồng ý là Bông, một nhân vật được kính trọng, liêm khiết, là sự lựa chọn hoàn hảo để mang vào chính quyền một lãnh tụ đối lập có trách nhiệm. Thiệu muốn có ai đó “có thể thực sự chỉ đạo chính quyền, một người không chê vào đâu được và mọi người sẽ liên minh và ủng hộ.” Nhã khẳng định rằng việc lựa chọn của Thiệu vừa xoa dịu phe phản chiến Mỹ vừa mở rộng chính quyền để chuẩn bị cho các cuộc bầu cử với MTGP.

Theo thường lệ, Thiệu trước tiên cử anh mình Kiểu đến bàn bạc với Bông. Sau khi Bông chấp thuận, hai bên nhất trí rằng ông ta “có thể chọn bất kỳ tổng trưởng nào trừ Nội vụ, Quốc phòng và Kinh tế.”

Đó là một đề nghị gây sửng sốt. Thiệu, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại, đang đề nghị giao chính quyền cho một  lãnh tụ đối lập, người tha thiết với sự nghiệp dân chủ và luật hiến pháp. Theo vợ Bông, “ông ước mơ triển khai một tiến trình dân chủ ở Việt Nam … bằng cách thiết lập một phong trào chính trị với các đổi thay mới cấp tiến, trái ngược với các chính đảng cổ lỗ … mà chính sách của họ chỉ là để nắm lấy quyền lực cho đảng mình.” Bà lưu ý rằng chồng mình luôn khước từ các chức vụ nội các vì “Bông và tôi đã tự hứa với mình là ông sẽ không chấp nhận bất kỳ vị trí nào trong nội các trừ khi ông đã có một cấu trúc chính trị vững mạnh.” Với PTQGCT thắng ghế trong bầu cử Hạ viện, và đã thiết lập các chi bộ đảng ở hầu hết các tỉnh, “Bông cho rằng đã tới thời điểm chín mùi để mình chấp chính, mà không bị các thế lực khác thao túng.”

Lúc 11:50 sáng ngày 10/11/1971, khi ông rời văn phòng với các cận vệ để lên xe đến Dinh Độc Lập chấp nhận chính thức vai trò thủ tướng, hai tên sát thủ đi trên xe gắn máy ném một bọc thuốc nổ dưới ô tô ông. Vụ nổ giết chết Bông và một cận vệ ngay lập tức. Ông chỉ mới 42 tuổi.

Vụ sát nhân đã đạt được mục đích. Nó ngay lập tức khởi động một làn sóng tố giác. Nguyễn Ngọc Huy và bà xã Bông lên án Khiêm đạo diễn việc mưu sát. Ban T4 sau đó chỉ đạo một “nỗ lực … gieo rắc chia rẽ trong hàng ngũ kẻ thù bằng cách dựng chuyện trong một số tờ báo … nói rằng ‘Họ đang giết nhau giành quyền lực rồi đổ tội sát nhân cho Việt Cộng.” Cuối cùng, vào cuối tháng 5 1972, hai tên khủng bố bị bắt và vào tháng 6 chúng bị đưa ra trình diện trước báo chí để cung khai. Vào ngày 4/9/1973, Toà án Quân sự Lưu động kết tội chúng chung thân khổ sai.

Bông là một con người hoàn hảo để tiếp thêm năng lượng cho miền Nam trên con đường đi đến dân chủ. Cái chết của ông khiến những người trong cuộc cứ mãi băn khoăn “chuyện gì” sẽ xảy ra cho lịch sử miền Nam “nếu như” ông không ra đi. Nhân dân, Bông nghĩ, sẽ bỏ qua việc Thiệu độc chiếm quyền lực nếu chính quyền mới chứng tỏ mình có năng lực quản trị. Miền Nam mệt mỏi vì “tham nhũng, quan liêu, và đánh mất chủ quyền vào tay người Mỹ” hơn là vì chính trị Saigon. Cho dù mệt mỏi vì chiến tranh, ông tin rằng họ vẫn sợ bị Cộng sản lên nắm quyền nên một người lãnh đạo thích hợp sẽ tập kết được họ. Thế giới, không hay biết là Thiệu dự tính mở rộng chính quyền với sự góp sức của Bông, nên chỉ thấy việc cũ vốn đã tệ hại càng tệ hại hơn. Đến lượt, thế giới sẽ quay mặt ra chống lại Nguyễn Văn Thiệu, và nói rộng ra, chống lại miền Nam, ngay đúng vào lúc miền Nam sắp sửa trải qua thử thách nghiệt ngã nhất của mình.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s