Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 19)

CHƯƠNG 19: “CUỘC CHIẾN RỒI SẼ LỤI TÀN”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Các Ý Niệm Đầy Tưởng Tượng và Những Suy Nghĩ Khác

Nhiều người Quốc gia hy vọng cuộc chiến sẽ lụi tàn vào năm 1970. Khi nhà khoa học chính trị Mỹ Allan Goodman viết, “một ý thức về tiến bộ quân sự và theo đuổi chính trị, đã bị đình chỉ và ngăn trở quá lâu trong những năm 1960, bỗng thâm nhập vào các cuộc bàn luận về Việt Nam trong năm 1970.” Thay vào đó, một trận đánh nồi da xáo thịt khác ở miền Nam bùng phát, một trận đánh tập trung chủ yếu vào các vấn đề xã hội-kinh tế hơn là lũ quỷ xưa cũ của tôn giáo và vùng miền. Đấu tranh của các thương phế binh về nơi cư trú và phúc lợi nhanh chóng được tiếp sức bởi các cuộc biểu tình sinh viên điên cuồng, và hỗn loạn chính trị gây ra bởi các điều kiện của nhà tù Côn Sơn bị phơi bày.

Mặc dù nhiều quan sát viên coi các cuộc đấu tranh Phật giáo năm 1963 và 1966 là bài kiểm tra nội bộ nghiêm trọng nhất, ít người biết rằng các cuộc bùng phát trong năm 1970 cũng kiểm tra nghiêm ngặt chính quyền. Cuộc chiến cũng trở lại dữ dội với cuộc tấn công quân sự của đồng minh vào các căn cứ địa của Cộng quân ở Cao Miên. Cuộc công kích xuyên biên giới này báo hiệu rằng cuộc chiến quy mô nhỏ đã biến thành một trận đụng độ với vũ khí phối hợp, một đụng độ sẽ trở nên rõ ràng hơn trong các trận tấn kích rầm rộ năm 1972 và 1975.

MANG CAO MIÊN TRỞ LẠI

Nỗi bất mãn nội bộ với Ông Hoàng Norodom Sihanouk đã tích tụ trong giới cao cấp quân sự và chính trị của Cao Miên kể từ mùa xuân và hè 1969.

Tham nhũng trong hoàng gia và căn bệnh kinh tế của đất nước chùa tháp là các nhân tố có ý nghĩa, nhưng chính việc ông hoàng cho phép ngầm Cộng quân sử dụng lãnh thổ Cao Miên đã tạo ra một thay đổi trong giới lãnh đạo. Kết quả là một chính quyền mới được thành lập vào tháng 8 1969. Trong khi Sihanouk vẫn còn nắm quyền tổng quát, Trung tướng Lon Nol trở thành vị thủ tướng mới đồng thời chỉ huy quân đội.

Vao đầu tháng giêng 1970, Sihanouk rời Cao Miên đi thăm châu Âu, Nga, và Trung Quốc. Ông hoàng đi rồi, vào ngày 11/3, các cuộc biểu tình thình lình bùng phát ở Nam Vang chống lại Cộng sản Việt Nam. Được bí mật tổ chức bởi các lực lượng chống Sihanouk, các cuộc đấu tranh nhanh chóng trở nên dữ dội, và các sứ quán Bắc Việt và Xô-Viết bị đập phá. Vào giữa tháng 3, Lon Nol ra lệnh cho binh lính Cộng sản rút khỏi Cao Miên trong vòng 72 tiếng, một tối hậu thư mà họ phớt lờ. Vào ngày 18/3/1970, Quốc hội Cao Miên bỏ phiếu loại bỏ quyền lãnh đạo của Sihanouk. Lon Nol yêu cầu được trao quyền khẩn cấp và tiếp đó đoạn giao với Bắc Việt.

Trong vòng vài ngày sau vụ đảo chính, các cuộc xung đột vũ trang bùng nỗ giữa lực lượng vũ trang Khmer với các đơn vị Cộng quân Việt Nam, vốn dễ dàng đánh bại binh sĩ Cao Miên trang bị nhẹ và được huấn luyện sơ sài. Quân đội Nhân dân Việt Nam sau đó chiếm đóng hầu hết các tỉnh biên giới và bắt đầu tiến quân về hướng thủ đô Nam Vang. Để tập kết nhân dân Cao Miên, chính quyền Lon Nol khuấy động một chiến dịch tàn độc chống người Việt. Kỳ thị chủng tộc, lúc nào cũng nằm ngay sát bên dưới lớp vỏ ngoài, bùng nổ chống lại thiểu số người Việt sống ở Cao Miên, dẫn đến trận tàn sát đối với dân lành Việt kiều thay vì phòng ngự quân sự chống Việt cộng.

Khi báo chí Saigon in các câu chuyện về vụ làm cỏ dân Việt của người Miên, những người Quốc gia căm phẫn đòi Thiệu giải quyết tình huống. Sau thời Diệm, cả Lê Văn Kim và Nguyễn Khánh đã ưu tiên cải thiện mối quan hệ với Cao Miên để củng cố phòng tuyến  hở sườn phía trái. Các căn cứ địa ở biên giới Cao Miên là bài toán quân sự có tính chiến lược trọng yếu đối mặt các đồng minh. Không có vùng dưỡng quân bên ngoài, lực lượng Cộng quân chính quy sẽ gặp khó khăn sinh tồn bên trong lãnh thổ miền Nam. Nhìn thấy cơ hội để loại trừ các căn cứ địa địch, Thiệu ngay lập tức đưa ra đề nghị yểm trợ Cao Miên. Lon Nol đáp ứng tích cực, và không lâu sau đó, Thiệu phái Phó Tổng thống Kỳ khởi động tiếp xúc và làm mới lại quan hệ. Vào cuối tháng 3, Thiệu ủy quyền cho vài đơn vị quân sự nhỏ thám sát các khu vực biên giới Cao Miên.

Vào giữa tháng 4, cơn thịnh nộ về việc giết và bắt hàng ngàn người ngốc Việt cuối cùng buộc Thiệu phải ra tay. Vào ngày 24/4, Ngoại trưởng Trần Văn Lắm công khai yêu cầu Lon Nol ngừng chém giết. Lắm cũng thông báo một sự thay đổi sâu sắc trong chính sách miền Nam: Saigon sẽ tái định cư hàng ngàn người Việt trở về quê hương. Lời lên án của ông, tuy nhiên, có một hậu quả ngoài dự tính.

Các sinh viên đại học, vốn luôn chống đối các chính sách của chính quyền, bất ngờ phản ứng. Lúc 10 giờ tối ngày 24/4, hàng chục sinh viên đánh chiếm toà đại sứ Cao Miên. Trong vòng vài giờ, Nam Vang tiếp một phái đoàn do Tổng trưởng Xã hội cầm đầu đến thăm và sắp xếp cho Việt kiều ở Cao Miên được trở về đất nước.

Hoa Kỳ cũng tập trung vào Cao Miên. Trước đó vào ngày 20/4, Tổng thống Nixon đã tuyên bố sẽ rút thêm 150,000 binh lính nữa vào mùa xuân 1971. Bài diễn văn trên truyền hình của ông lên án Hà Nội “đã tung gần 40,000 Cộng quân … tiến hành cuộc gây hấn công khai chống Cao Miên, một đất nước trung lập nhỏ mà Cộng sản đã sử dụng nhiều năm liền như bàn đạp để tấn công vào miền Nam vi phạm Hiệp định Geneva 1954.” Dù vậy, Nixon cũng đã từng vi phạm tính trung lập của Cao Miên. Trở lại tháng 3 1969, ông đã bí mật ném bom các vùng căn cứ Cộng quân để trả đũa vụ pháo kích tiếp tục Saigon.

Với các lực lượng QĐNDVN ở tư thế sẵn sàng đè bẹp lực lượng vũ trang Cao Miên, vào ngày 30/4, Quân đội Hoa Kỳ, liên kết với các đơn vị QĐVNCH từ Quân đoàn III và IV, phát động một cuộc tấn công xuyên biên giới vào Cao Miên. Các đơn vị QĐVNCH được Trung tướng Đổ Cao Trí và Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh cầm đầu, tiến quân nhanh vào đất Miên. Các đoàn thiết giáp có bộ binh và pháo binh yểm trợ từ Quân đoàn III của Trí nhanh chóng tràn ngập các vị trí Cộng quân nhỏ, trong khi các mũi tấn công tương tự từ Quân đoàn IV dấn tới từ phía nam. Cuộc chiến đã trở thành cuộc xung đột với các binh chủng kết hợp, khi cả hai bên điều động và tác chiến với quy mô lớn bao gồm bộ binh, thiết giáp và pháo binh.

Các cuộc biểu tình chống đối lập tức bùng phát trên các khuôn viên đại học Hoa Kỳ. Sau khi lực lượng Vệ binh Quốc gia Ohio bắn vào đám đông sinh viên tại Kent State, giết chết 4 người, một bức ảnh chụp một phụ nữ kêu lên thất thanh đang quỳ gối bên thi thể một sinh viên thắng giải ảnh báo chí Pulitzer. Giống như các bức ảnh chụp nhà sư Thích Quảng Đức tự thiêu tại Saigon năm 1963 và ảnh Thiếu tướng Loan hành quyết tên tù binh trong Cuộc Tổng Công Kích Tết, bức ảnh này nói lên tính chia rẽ đầy bi thảm của chiến tranh. Các vụ biểu tình và chống đối của quốc hội buộc Nixon thông báo  sẽ rút hết binh lính Mỹ khỏi Cao Miên vào cuối tháng 6. Thượng viện tiến thêm một bước xa hơn khi thông qua Tu chính Cooper-Church, bác bỏ bất kỳ tài trợ nào cho hoạt động quân sự Mỹ ở Cao Miên sau ngày 1/7/1970.  Mặc dù dự luật thất bại ở Hạ viện nhưng các nỗ lực của quốc hội nhằm hạn chế hợp pháp các hành động quân sự của Nixon ở Việt Nam giờ đây là một mục tiêu có thể thành tựu cho các thành viên phản chiến. Hạ viện thành lập một Ủy ban Đặc trách Đông Nam Á sẽ đi đến tận nơi và điều tra cuộc chiến, một nhóm người sẽ có các khám phá gây ra những hậu quả lớn lao.

Thiệu thông báo rằng các lực lượng của mình không chịu những hạn chế như thế. Ông và Lon Nol đã thỏa thuận vào cuối tháng 4 cho phép binh lính miền Nam tiến hành các cuộc hành quân trên đất Miên trong một thời gian vô hạn định. Khi QĐVNCH hành quân sâu hơn vào Cao Miên, các trận đánh dữ dội bùng phát, nhưng tài chỉ huy năng động và luôn xông xáo đi đầu của Trí khiến quân đội của ông có thể đập tan cuộc phòng ngự của kẻ thù. Công cuộc huấn luyện bài bản của Hoa Kỳ đã được đền đáp, nhất là ở Quân đoàn III, nơi ba sư đoàn đã từ lâu được xem như là những đơn vị quân đội tệ hại nhất thế giới. Thậm chí tờ New York Times  cực kỳ phản chiến cũng phải nhìn nhận Trí đã rất thành công, kêu lên rằng “sự phối hợp của tính nôn nóng và táo bạo đã biến Tướng Trí nghiễm nhiên trở thành viên chỉ huy đồng minh nổi bật nhất trong chiến dịch Cao Miên.” Công luận và giới quân sự miền Nam lên tinh thần sau khi chiến dịch thể hiện tài thao lược quân sự và tịch thu được  hàng ngàn tấn quân trang của địch.

Phía sau hậu cảnh, thậm chí các thay đổi lớn hơn đã xảy ra. Một đại tá QĐVNCH vô danh tên Trần Quang Khôi, một người đàn em của Trí, đã phát triển kế hoạch thiết giáp của Quân đoàn III. Đại tá Khôi là thành viên của một thế hệ mới nổi lên trong giới sĩ quan miền Nam: được Mỹ đào tạo, có kỷ luật, và gan lì. Trong vòng một năm, tài lãnh đạo đầy quyết đoán của ông sẽ giải cứu một lực lượng QĐVNCH cỡ lớn bị mắc kẹt bên trong Cao Miên.

Vận xui, dù vậy, luôn lẽo đẽo đi theo miền Nam, và việc xâm nhập vào Cao Miên không có ngoại lệ. Vào ngày ⅖, Thiếu tướng Thanh, cựu Tỉnh trưởng Long An và chỉ huy Sư đoàn 7 mà tài lãnh đạo tuyệt vời và liêm chính của ông đã tăng cường đầy ấn tượng tình hình an ninh trong vùng châu thổ, chết vì bị rơi trực thăng.

Trong khi cả hai Thanh và Trí là các chỉ huy quân sự tuyệt vời, Thanh thì dè dặt, hiền lành, tận tụy với vợ con. Ông thậm chí không nhận rượu trà và quà cáp biếu xén. Trí trái lại rất sôi nổi, có tài sát gái, và tham nhũng quá đáng. Thanh lập tức bị thay thế bởi Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, người chỉ huy Sư đoàn 1 trong cuộc Tổng Công Kích Tết nhưng cái chết của Thanh đánh một đòn choáng váng vào giới sĩ quan quân đội đang rất cần những sĩ quan như Thanh. 

Mặc dù đã có tiến bộ, nhưng QĐVNCH vẫn còn trông cậy nhiều vào lực lượng Mỹ yểm trợ quân nhu, duy tu xe cơ giới, và trực thăng. Sự phụ thuộc về hậu cần và không vận này hạn chế tính cơ động của QĐVNCH, một trong những lợi thế chủ chốt đối với QĐNDVN. Thậm chí còn tệ hơn nữa, binh lính vô kỷ luật của Trí cướp bóc các làng quê Cao Miên, một sự so sánh đáng nguyền rủa đối với bộ đội Cộng sản vốn được giáo dục chính trị tốt hơn. Các báo cáo về “vụ cướp bóc có hệ thống” một số thị trấn và “dấu vết cướp bóc để lại dọc theo đường hành quân của hai trung đoàn QĐVNCH” vào cuối tháng 6 làm nghiêm trọng thêm sự căng thẳng chủng tộc vốn đã nóng lên do sự đối xử tàn bạo Việt kiều của binh lính Miên. Các hành động này cản trở những nỗ lực của hai chính quyền trong công cuộc hợp tác chống kẻ thù chung.

Đề bàn thảo về việc hợp tác quân sự tương lai, vào ngày 6/5, Lon Nol gửi một phái đoàn quân sự đến Saigon. Sau khi gặp gỡ phái đoàn, Nguyễn Cao Kỳ bay đến Nam Vang, tại đó hai bên đồng ý phân ranh một vùng dọc theo biên giới mà hai bên có thể đi vào bất cứ khi nào cần mà không cần xin phép trước. Quan trọng hơn, vào cuối tháng 5, Saigon và Nam Vang đã tái lập quan hệ ngoại giao đã bị Sihanouk cắt đứt nhiều năm trước. Vào giữa tháng 7, khi binh sĩ Mỹ đã rút đi, Kỳ ba hoa tuyên bố Saigon sẽ bảo đảm sự phòng vệ Cao Miên và đưa ra lời đề ngh lậpị đồng minh quân sự chính thức. Thiệu nhanh chóng dập tắt ý niệm đó, hy vọng giữ lại ít nhất một lá sung che đậy tính trung lập của Cao Miên. Trong khi Thiệu biết mình không thể cho phép Cao Miên thất thủ, nhưng ông chỉ có thể “quét sạch các căn cứ địa, bảo vệ Việt Nam hóa và bình định, và bằng các hành động hạn chế cho thấy CQMN không có tham vọng lãnh thổ ở Cao Miên.”

Vào đầu tháng 7, Bộ Xã hội thành lập một Khối Đặc trách Cứu trợ Người Việt Hồi hương từ Cao Miên. Dẫn đầu bởi Bác sĩ Phan Quang Đán, gần 200,000 Việt kiều được hồi hương, phần đông về vùng châu thổ định cư. Đây là dòng người tị nạn lớn thứ hai ở miền Nam; chỉ kém cuộc di cư của gần 900,000 dân miền bắc vào miền Nam trong năm 1954 và 1955. Cuối cùng, khi Sihanouk đã đi rồi, mối quan hệ giữa Saigon và Nam Vang được cải thiện tốt hơn, nhưng họ không bao giờ đạt được sự hợp tác sát sao mà Saigon mong muốn và giải quyết được các vấn đề tồn tại từ lâu đã ngăn cách hai nước đến gần nhau.

CUỘC ĐẤU TRANH CỦA CỰU BINH VÀ SINH VIÊN

Vào tháng 4 1970, chính quyền Thiệu vẫn chịu áp lực khủng khiếp. Ông đã vừa phát động luật Người Cày Có Ruộng, Cao Miên thì trong cơn khủng hoảng, và ông còn đối mặt với chống đối nội bộ nghiêm trọng về kinh tế. Giữa các vấn đề khó khăn này, những cuộc đấu tranh ông ào và bạo lực dữ dội trên đường phố thình lình bùng lên, phá vỡ sự im ắng tương đối trên đường phố trong hai năm qua  của Thiệu. Vụ nổi dậy chống chính quyền này do hai nhóm biệt lập nhau, các thương phế binh và sinh viên, là xung đột nội bộ tệ hại nhất mà CQMN đã đương đầu kể từ vụ xáo trộn Phật giáo 1966.

Tuyên bố dự luật cải cách ruộng đất ngay lập tức gây ra bất mãn trong hai tầng lớp gần như vô hình trong xã hội miền Nam: các thương phế binh và vợ góa các tử sĩ. Thậm chí mặc dù NCCR đã trao ruộng đất miễn phí cho nhóm đầy lo âu này, ít người có thể lợi dụng các điều khoản của sắc luật này. Sống một cuộc sống cực kỳ túng quẫn trong các khu đô thị tồi tàn và thường không có khả năng canh tác, họ thuộc thành phần những người sống bên lề xã hội.

Cả Khiêm và Thiệu đều nhận thức sâu sắc những khó khăn mà các thương phế binh này đối mặt, và họ quyết tâm tìm ra giải pháp. Khi Khiêm trở thành thủ tướng, ông lập ra Bộ Cựu Chiến Binh, và bổ nhiệm Thiếu tướng Phạm Văn Đông làm tổng trưởng. Đông đã từng là thị trường Saigon dưới thời Khánh những đã bị sa thải vì đã điều hành một hoạt động đánh bạc bất hợp pháp.

Đông ngay lập tức bắt đầu chỉnh đốn các chính sách của nhà nước cho nhóm người bất hạnh này. Trong một bài diễn văn đọc ngày 8/12/1969, ông ghi nhận có xấp xỉ 51,000 thương phế binh, 90,000 goá phụ chiến tranh, và 300,000 con côi. Các con số này chỉ biết tăng lên mỗi tháng khi QĐVNCH gánh vác nhiều hơn nhiệm vụ tác chiến. Ông nêu ra những thách thức lớn lao mà bộ của ông đương đầu: tiến trình trợ cấp tồi tệ, thiếu thốn các dịch vụ phục hồi chức năng, và việc đào tạo nghề bị hạn chế. Nhiều thương phế binh và gia đình sống trên tiền trợ cấp của nhà nước trong khoảng 5 đến 15 đô la mỗi tháng, mà thường họ chỉ nhận đủ và đúng hạn nếu chịu hối lộ. Tình trạng lạm phát kinh niên liên tục xói mòn số tiền ít ỏi này, buộc nhiều thương phế binh và gia đình phải đi xin ăn hoặc giựt giọc. Trong tháng 2 1970, Đông bắt đầu sẵn sàng làm luật để hỗ trợ phân khúc xã hội bị quên lãng này bằng cách tăng trợ cấp, cung cấp chăm sóc y tế và nơi cư trú miễn phí, và giúp dạy nghề.

Sau khi thành lập bộ vào năm 1968, một nhóm cựu quân nhân lập ra Hội Thương Phế binh để gây sức ép đòi cải thiện phúc lợi, nhưng các nỗ lực của họ hầu như thất bại. Sau khi luật NCCR được thông qua, hội chồm lên hành động. Họ không muốn ruộng đất; họ muốn có chỗ ở. Ở Saigon, thương phế binh đề cao khẩu hiệu “Đất cho người cày, nhà cho thương phế binh.” Ngồi trên xe lăn hoặc đi chống nạng, họ động viên hàng trăm người ở Saigon và chiếm các công viên và đường phố, dựng lều rạp, và đòi nhà nước cung cấp chỗ ở và việc làm cho họ.

Bị bất ngờ, Thiệu ra lệnh để yên cho họ. Thông cảm với nỗi khó khăn của họ, ông cũng biết rõ giới quân sự sẽ cảm nhận ra sao nếu ông đưa ra  các biện pháp mạnh tay chống họ. Vào ngày 4/4, một nhóm của Hội Thương Phế binh tuần hành đến trụ sở Quốc hội đệ trình đơn thỉnh nguyện. Từ đây, họ đi đến Dinh Độc Lập để gặp Thiệu. Khi cảnh sát ra ngăn cản họ không được bước vào khuôn viên Dinh, các thương phế binh liền ném đá về phía hàng rào cảnh sát. Tổng trưởng Đông vội vã đi đến nơi để vỗ yên đám đông và báo cho họ về dự luật của ông nhằm hỗ trợ thương phế binh và goá phụ. Không chịu yên, họ dựng lều trên công viên trước Dịnh để chờ được gặp tổng thống. Trong hai ngày sau đó, thương phế binh tiếp tục choảng nhau với cảnh sát bảo vệ dinh. Sau một cuộc đột kích khiến vài cảnh sát bị thương nặng, cảnh sát bắn hơi cay buộc đám thương phế binh phải rút lui. Kết hợp với các cuộc biểu tình phản kháng mới nổi lên của sinh viên, sau một vài năm yên bình, bạo lực và hỗn loạn lại trở về với đường phố Saigon.

Vào ngày 7/4, Thiệu kêu gọi các thương phế binh chấm dứt biểu tình và chờ quốc hội duyệt xét dự luật của Đông, và ông yêu cầu họ không tấn công cảnh sát hoặc phong tỏa đường phố. Với giọng khẩn khoản, Thiệu nói rằng mình thông cảm với chính nghĩa của họ. “Chính tôi cũng là một người lính đã chiến đấu 20 năm … nên tôi sẽ quan tâm đặc biệt đến các nguyện vọng của các bạn. Tôi kêu gọi sự thông cảm của các bạn. Vì quyền lợi của quốc gia, tôi phải vãn hồi trật tự công cộng và bảo đảm luật pháp được tôn trọng … Các bạn không được phạm sai lầm là mình đã ép buộc được chính quyền, hoặc ngược lại. Các bạn phải hiểu điều này và xin hãy giúp đỡ tôi.” Thiệu đang trong một hoàn cảnh rất căng. Ông biết sự bất bình của họ là điều hợp lý, nhưng tìm ra tiền để gia tăng phúc lợi là điều gần như bất khả khi ngân sách đã kéo giãn đến giới hạn. Dù vậy, những hứa hẹn của ông tạm thời vỗ yên được thương phế binh, nhờ đó Thiệu mới có sức đương đầu với một khủng hoảng khác đang lù lù tiến tới, cuộc nổi dậy của sinh viên.

Sau khi một nhóm nhỏ sinh viên ở Huế và Saigon đã công khai giúp đỡ Cộng quân trọng cuộc Tổng Công Kích Tết 1968, cảnh sát chiếm đóng Tổng hội Sinh viên Saigon. Từ đó, sinh viên đã tạm thời lắng xuống. Tuy nhiên, học phí thình lình tăng lên làm sống lại sự bất mãn trong giới sinh viên. Vào ngày 10/3, vài trường đại học bãi học. Để đáp trả, cảnh sát bắt giữ 40 sinh viên, trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm, chủ tịch Tổng hội Sinh viên, một ủy ban sinh viên kết hợp nhiều trường đại học khác nhau. Tên thật của Mẫm là Trần Văn Thật, và y từng là đặc vụ Cộng sản từ năm 1965. Y không phải là đặc vụ duy nhất; trong số 7 thành viên trong Ban Chấp hành Tổng hội, có 4 người kể cả Mẫm, đều là cán bộ MTGP nằm vùng. Trong khi Mẫm đốt lên ngọn lửa căm thù theo chỉ thị Trung ương Cục miền Nam, đại đa số sinh viên tham gia chính trị đều không phải là Cộng sản. Mục tiêu vận động sinh viên thường có gốc rễ trong các hoạt động phúc lợi xã hội hơn là biểu tình đường phố. Nhưng bị kích động vì các vụ bắt bớ, các sinh viên đòi trả tự do cho các lãnh tụ của mình. Khi CQMN từ chối, hàng ngàn sinh viên tẩy chay giảng đường tại Đại học Saigon, đại học chính của đất nước.

Bực tức vì sự nổi dậy của hai nhóm, Thiệu xỉ vả là người dân “không được đâm vào lưng nhau mà phải đoàn kết.” Ông tuyên bố Cộng sản “đang lạm dụng dân chủ theo một chiều hướng quá đáng. Tôi muốn một nền dân chủ có kỷ luật và ôn hòa … Chính quyền phải hướng dẫn người dân cách thức hưởng thụ một chế độ dân  chủ.” Vài ngày sau, ông một lần nữa kêu gọi “một nền dân chủ có kỷ cương và cảnh báo sự mất trật tự có thể dẫn đến việc dân chúng sẽ hậu thuẫn một chế độ độc tài … Nền dân chủ hỗn loạn sẽ làm người dân thối chí. … Nếu ai đó muốn thiết lập một chế độ độc tài, toàn thế dân chúng sẽ ủng hộ, vì luật lệ phải được tôn trọng và quốc gia phải được giữ gìn.” Cảnh báo của Thiệu, vang vọng lời lẽ của các nhà lãnh đạo quốc gia Á châu chuyên quyền khác, một lần nữa soi sáng suy nghĩ của ông. Đoàn kết là sức mạnh, và trật tự áp đảo bất hòa, và đặc biệt khi đối mặt với một kẻ thù làm chủ mánh khóe tuyên truyền và có tài lật lọng nhằm lật đổ chính quyền.

Bắt chước Ấn Quang, sinh viên phớt lờ lời khẩn khoản của Thiệu và phát động một “phong trào đấu tranh”. Họ dựng biểu ngữ đòi “hoà bình bằng mọi giá”, và nhấn mạnh các sinh viên bị bắt phải được đưa ra xét xử trong các tòa án dân sự thay vì Toà án Quân sự Lưu động. Các cuộc tuần hành tiếp tục, và một số nhóm bắt đầu sử dụng xe máy để ném sơn và chai xăng vào cảnh sát hoặc vào các trụ sở chính quyền. Lợi dụng hỗn loạn xã hội, báo chí và phe chính trị gia đối lập như Lý Quí Chung lên án Thiệu “không đủ năng lực giải quyết các vấn đề quốc gia,” nêu lên “việc ông thất bại trong ổn định kinh tế, giải quyết đám sinh viên cứng đầu và thương phế binh.”

Để tháo ngòi nổ cho tình hình đang xấu đi, vào ngày 17/4, Thiệu gặp gỡ một vài lãnh tụ sinh viên và hứa không đưa các sinh viên bị bắt ra Toà án Quân sự Lưu động, nhất là vì Tối cao Pháp viện sắp sửa cứu xét tính hợp hiến của nó. Hơn nữa, ông đồng ý xem xét các cáo buộc gắn đây về vụ cảnh sát tra tấn các sinh viên bị bắt. Đầu tiên được Tin Sáng, tờ báo chống đối nổi tiếng, đưa tin, các luật sư của nhóm sinh viên bị bắt trưng ra các chi tiết về việc làm tồi tệ của cảnh sát. Sau đó, một số dân biểu đối lập điều tra. Trong một dự báo về thảm họa vụ nhà tù Côn Sơn, các dân biểu loan đi một báo cáo cho rằng việc đánh đập của cảnh sát khiến một số sinh viên không thể đi lại hoặc đứng lên được. Bốn cảnh sát sau đó bị buộc tội tra khảo trái luật.

Thiệu tìm cách xoa dịu thương phế binh và sinh viên bằng cách đồng ý với các yêu sách của họ đồng thời hạn chế các trò áp bức quá trớn và lộ liễu của cảnh sát, nhưng ông thất bại. Cựu binh vẫn đóng lều rạp gần dinh, và sinh viên vẫn gây ách tắc đường phố. Các dân biểu chống đối đâm thọc ông, quốc hội có vẻ không muốn ban cho ông quyền ra sắc lệnh kinh tế, và Tối cao Pháp viện đã phán quyết chống ông trên ba vấn đề (thuế khắc khổ, tòa án quân sự, và vụ xử án Châu). Báo chí xỉ vả sự thất bại của ông không ngăn ngừa được các hành vi tàn bạo đối với Việt kiều ở Cao Miên, và sự xâm nhập vào đất chùa tháp đã bắt đầu. Khi một số nhà sư Ấn Quang trẻ tuổi, lợi dụng tình hình hỗn loạn đường phố, cưỡng chiếm Chùa Quốc Tự vào ngày ⅗, vụ đột kích này là giọt nước cuối cùng làm tràn ly đối với phe cứng rắn trong chính quyền. Trong buổi họp nội các vào ngày ⅘, Thiệu và các bộ trưởng quyết định vãn hồi trật tự công cộng. Khẩu hiệu của Thiệu, như ông đã lên tiếng, là “Tồn vong trên hết.” Chỉ sau khi thắng được cuộc chiến, lúc đó ông mới có thể trân trọng việc đề cao dân chủ về quyền con người. Nội các bỏ phiếu tán thành giới nghiêm hạn chế, cấm biểu tình, phái bốn tiểu đoàn khóa sinh quân đội yểm trợ cảnh sát, và đóng cửa tất cả trường học.

Sáng sớm ngày 5/5, cảnh sát dẹp bạo loạn xông vào tòa đại sứ Cao Miên và bắt gần 70 sinh viên. Khi cuộc đàn áp tiếp tục, công việc tẻ nhạt nhưng có hiệu quả.

Việc bóp nghẹt phe chống đối, phối hợp với tin tức thắng lợi quân sự ở Cao Miên, mang lại bình yên tạm thời cho thủ đô, nhưng không cho Thiệu. Vị tổng thống bị kẹt giữa các nhận thức xung khắc nhau của mình với hành động của bản thân. Đối với các quan sát viên bên ngoài, ông là một người độc tài. Vậy mà trong khi ông đã chọn lựa cách áp đặt ổn định, ông đã không thuận theo các biện pháp sắt đá hơn. Những hậu quả về hành xử áp bức của Diệm vẫn còn hằn sâu trong tâm trí ông. Ngược lại, nhiều người Saigon, bực mình vì nạn kẹt xe, đường phố tắc nghẽn, và hơi cay nồng nặc của lựu đạn cay, đổ lỗi cho Thiệu sao quá nương tay để rối loạn kéo dài.

Đối với Thiệu, sự vắng bóng của cuộc chiến – tiếng ầm ầm của pháo hiếm khi phá tan giấc ngủ của Saigon nữa – không chỉ đã tạo điều kiện cho đám sinh viên mà còn cho nền dân chủ lồng lộn. Mặc dù cuộc chiến đã lắng dịu, các xung đột xã hội luôn sôi sục của miền Nam đã thay thế tiếng gầm rú của đại bác. Trong tâm trí ông, luật báo chí mà ông đã ký gần đây cho phép báo chí Saigon được thông tin đầy đủ và phê phán mọi khiếm khuyết của chính quyền. Hiến pháp đã che chở cho các chính trị gia mặc tình kêu ca, chỉ trích. May mắn cho ông, bản chất đấu đá quen thuộc trong phe đối lập khiến cho quyền lực ông không bị xứt mẻ. Mỗi nhóm chống đối tập trung vào các vấn đề của riêng họ, và không giống như trong những ngày cuối cùng của Diệm, họ thất bại trong việc tập hợp được một phân khúc lớn của xã hội vào lý tưởng của mình. Quan trọng hơn, không ai từng xem xét một cú đảo chính để loại bỏ một ngài Thiệu “bất tài”. Từng chút một, ý niệm về pháp trị dần chín mùi ở miền Nam.

Gậy gộc của cảnh sát cuối cùng đem yên tĩnh lại cho tình hình. Vẫn còn chìa ra nhánh ô liu, vào ngày 13/6, Thiệu ra lệnh thả Huỳnh Tấn Mẫm. Ông cũng cung cấp một trụ sở cho Tổng Hội Sinh viên Saigon để họ có nơi sinh hoạt và chỉ đạo các trường học mở cửa lại vào ngày 22/6. Khi Mẫm bước ra khỏi nha cảnh sát, các nhượng bộ của Thiệu được chào đón bằng hàng trăm kẻ quá khích ném chai xăng.

Cùng ngày, Thiệu gặp gỡ giới lãnh đạo Hội Thương Phế binh và hứa sẽ thúc đẩy việc thông qua dự luật nâng cao phúc lợi cho họ. Quốc hội tán thành biện pháp vào ngày 4/7. Vài ngày sau, Ngoại trưởng William Rogers đến thăm và trao một bức thư của Nixon viện trợ 100 triệu đô la trong 5 năm để giúp miền Nam xây trại gia binh và cung cấp khẩu phần cho binh sĩ. Vào ngày 10/7, Thiệu nói trên đài phát thanh và truyền hình. Ông nhấn mạnh rằng mình đã ra lệnh các lực lượng an ninh hành động lịch sự và không giật sập các lều rạp của người cắm dùi. Luật mới gia tăng tiền trợ cấp, và tiền viện trợ của Nixon khiến nhà nước có thể xây dựng nơi ở vĩnh viễn hoặc cung cấp đất đai và vật liệu cho những ai muốn định cư nơi khác. Nói chung, các vụ chống đối của cựu binh kết thúc, mặc dù một số ít phần tử táo tợn bắt đầu tham gia gây rối và các hoạt động phạm pháp khác. Thiệu đã nhanh chóng giải quyết dứt khoát, nhờ sự hỗ trợ lớn của các két sắt Mỹ, một vấn nạn xã hội nghiêm trọng, nhưng các thành tựu của ông cũng hoàn toàn bị bỏ qua do một cơn bão lửa khác ập đến: việc vạch trần các điều kiện giam giữ trên đảo Côn Sơn.

CÔN ĐẢO

Vào ngày 7/7, tin tức lan truyền về một chuyến viếng thăm của một phái đoàn nghị sĩ Hoa Kỳ năm ngày trước đến nhà tù trước đây của thực dân Pháp và hiện giờ là của CQMN. Toạ lạc ở phía nam biển Đông, Côn Sơn là nhà tù dân sự lớn nhất miền Nam. Vào tháng 7 1970, nó giam giữ gần 10,000 tù nhân. Được cho tín về các điều kiện vô nhân đạo trong một khu vực của nhà tù, nhóm quyết định đi điều tra. Trên chuyến bay đến đảo, người dẫn đầu đội cố vấn an toàn công cộng của Mỹ xác nhận với nhóm rằng Côn Sơn giống như một “trại hướng đạo sinh”. Điều mà các nghị sĩ phát hiện đúng là một trại hướng đạo sinh nhưng ở địa ngục cho 400 tù nhân. Họ tìm thấy các tù nhân bị xiềng xích tập thể trong các xà lim bê tông, bị suy dinh dưỡng, và thiếu thốn nước uống, vệ sinh, và chăm sóc y tế. Lính gác trên lối đi lộ thiên phía trên xà lim ném vôi nóng xuống các tù nhân không tuân thủ kỷ luật trại giam.

Các nghị sĩ bày tỏ thịnh nộ về các phương thức giam giữ tàn ác và ghi nhận rằng các tù nhân gọi xà lim của mình là Chuồng Cọp. Tên và điều kiện gợi lại hình ảnh các phòng giam ghê rợn thời trung cổ.

Truyền hình Mỹ lập tức phát đi lời lên án. Không lâu sau đó, tạp chí Life đăng các tấm ảnh chụp được trong chuyến thăm từ phía trên xà lim cho ta ấn tượng của một cảnh tượng giống như hầm tù thời trung cổ. Không khác các bức ảnh lăng mạ ở nhà tù Gharib ở Iraq vào tháng 4 2004, các bức ảnh gây ra sự ghê tởm trên toàn thế giới. Xảy ra ngay sau vụ xử Trần Ngọc Châu, cơn thịnh nộ vụ xâm lấn Cao Miên và cái chết tiếp theo của bốn sinh viên đại học Kent State, chuyện nhà tù Côn Sơn đổ thêm dầu vào ngọn lửa đang gầm thét.

Tuy nhiên, đúng như mọi thứ khác về chiến tranh, muốn nắm rõ đầy đủ câu chuyện bóc trần về Côn Sơn, ta cần tìm hiểu hậu cảnh. Vào tháng 6 1969, đội khảo sát do Cha Drinan dẫn đầu đã đến thăm Côn Sơn và các trại giam khác để điều tra hiện trạng. Mặc dù họ ghi nhận điều kiện giam giữ quá tải tại Côn Sơn, nhưng dù cất công họ thất bại không khẳng định được có sự tồn tại các tù nhân bị gông cùm nhốt trong Chuồng Cọp. Họ thất bại vì không có ai bị xiềng xích. Hội Hồng thập tự cũng điều tra nhà tù vào tháng 2 1970 và không phát hiện có sự đối xử đáng khiển trách nào.

CQMN giam giữ ba loại phạm nhân dân sự: tội nhân hình sự thông thường, phạm nhân quân sự, và người Cộng sản. Loại cuối cùng được xác định là dân sự không vũ trang tại thời điểm bị bắt. Nếu họ có vũ khí, họ được xem là tù binh và được gửi về trại tù binh dưới quyền phán xử quân sự. Các cán bộ Cộng sản, tuy nhiên, rơi vào loại không dân sự cũng không quân sự. CQMN dán cho họ nhãn hiệu “tội phạm” và nhốt họ trong nhà tù dân sự. Người ngoài gọi họ là tù chính trị. Số tù nhân dân sự của CQMN tổng cộng xấp xỉ 33,000, với khoảng 60 phần trăm tội phạm là Cộng sản tình nghi hoặc đã bị kết án, nhiều người phải đợi nhiều tháng trời mới được xét xử ở toà án binh. Chỉ có bốn nhà tù dân sự lớn ở miền Nam, nhưng mỗi tỉnh và một số quận đều có nhà giam. Mặc dù Hoa Kỳ đã bỏ tiền ra để nâng cấp hệ thống hình phạt miền Nam, nhưng các nhà tù tỉnh lẻ vẫn thấp kém. Theo một viên chức Hoa Kỳ có trách nhiệm hỗ trợ phương tiện giam giữ tỉnh lỵ, “mọi thứ đều bẩn thỉu, thiếu thốn cả vệ sinh tối thiểu và có nhu cầu cấp thiết về hệ thống chăm sóc sức khỏe.” Theo tiêu chuẩn CQMN, Côn Sơn được coi là nhà tù tốt nhất.

Khu vực được tù nhân đặt biệt danh Chuồng Cọp là một dãy các khối xà lim bằng bê tông 9 x 15 bộ bên trên mặt đất do người Pháp xây cách đó 75 năm. Biệt danh “Chuồng Cọp” không có ý nghĩa thực chất, vì các khu vực khác cũng có biệt danh. Chẳng hạn, một khu vực được gọi là “chuồng bò”, nhưng nó không có xà lim bê tông tương tự. Vào tháng 11 1968, trưởng trại ở Côn Sơn, chỉ quan tâm đến điều kiện ăn ở của lính gác và gia đình họ, quyết định dời các tù nhân ra khỏi Chuồng Cọp và cho các gia đình lính gác cư ngụ trong đó vì Chuồng Cọp thoải mái hơn. Lính gác và gia đình sống ở đó được một năm cho đến khi có hơn 300 nữ phạm nhân từ nhà tù Chí Hòa ở Saigon chuyển đến Côn Sơn.

Được xem là các cán bộ MTGP kiên cường nhất, và được rèn luyện bài bản  trong kích động chính trị, các nữ tù này gây rối ở các trại giam khác bằng cách khiêu khích các giám thị và lính gác và lôi kéo các tù nhân khác. CQMN quyết định gom họ lại với nhau tại Chí Hòa để các tù nhân khác được yên. Đó là một sai lầm lớn. Gom họ lại với nhau, họ còn khí thế gây náo loạn không tưởng tượng được bằng cách tấn công lính gác và hát vang căc bài ca thâu đêm suốt sáng. Để ngăn ngừa một cuộc nổi loạn đã lên kế hoạch, vào cuối tháng 11 1969, CQMN chuyển 300 nữ tù và khoảng 100 tù nhân nam đến Côn Sơn. Vì đây là nhóm nữ tù đầu tiên ở đảo, và để tránh tái diễn sự kiện Chí Hòa, trại trưởng ra lệnh gia đình lính gác dọn ra khỏi khu Chuồng Cọp. Ông sử dụng các xà lim bê tông để nhốt nữ phạm nhân và thêm một số nam. Vì xà lim chỉ có cửa gỗ yếu ớt, nhiều người phải bị xích lại để ngăn họ trốn thoát hoặc tấn công linh gác.

Sau vụ xâm nhập vào Cao Miên, Quốc hội Mỹ đã thành lập Ủy ban Đặc trách Hạ viện và cử một đội dân biểu đến thăm Đông Nam Á. Chỉ có hai thành viên, Augustus Hawkins (D-Cal.) và William Anderson (D-Tenn.), và nhà báo Don Luce và tùy viên quốc hội Tom Harkin, tham gia, cùng đi đến Côn Sơn. Dân biểu Hawkins là người phản chiến cực kỳ, trong khi Anderson là một thủy thủ tàu ngầm có nhiều huy chương. Luce trước đây là người đứng đầu Công tác Thiện nguyện Quốc tế ở miền Nam, một tổ chức phi lợi nhuận cung ứng các hỗ trợ kỹ thuật cho các dự án khác nhau tại các xứ không phát triển. Vào tháng 9 1967, Luce từ chức để chống đối chính sách Hoa Kỳ, và ông nuôi dưỡng một mối căm thù đặc biệt với CQMN. Ông hiện thời làm việc ở Saigon như một nhà báo cho Hội đồng Giáo hội Thế giới đồng thời cũng dạy tại Đại học Saigon, nơi ông có quan hệ mật thiết với phe sinh viên đấu tranh. Tom Hawkin lúc đó là một tùy viên quốc hội nhưng sau này sẽ trở thành một Thượng Nghị sĩ bang Iowa. Ông đã đọc về Chuồng Cọp ở nhà tù Côn Sơn trong báo cáo của Drinan và đâm tò mò.

Khi đến Saigon vào cuối tháng 6 1970, Harkin liên hệ với Luce để thảo luận về việc điều tra các nhà tù của CQMN, đặc biệt Côn Sơn. Luce giới thiệu ông với Cao Nguyên Lợi, một sinh viên đã từng bị giam giữ ở Côn Sơn nhưng đã được phóng thích vào cuối tháng 4 1970 với bốn sinh viên khác. Lợi lúc đó đang sống với Luce, nhưng anh ta không vô tội. Như Huỳnh Tấn Mẫm, Lợi là một cán bộ nằm vùng của MTGP. Anh ta đã bị túm vào tháng 7 1968 vì tội chống Luật Động viên. Khi bị giam giữ, anh ta nói mình đã bị đánh vào đầu gối và bàn chân tàn tệ đến nỗi anh ta không đứng được và bị dội nước xuống cổ họng. Dù bị tra khảo tàn nhẫn, nhưng anh ta không khai minh là Cộng sản, khăng khăng cho rằng mình chỉ muốn “hòa bình.” Anh ta bị giải đến Côn Sơn và bị nhốt trong Chuồng với các cán bộ Cộng sản sừng sỏ. Mẹ của Lợi than thở với Phó Chủ tịch Quốc hội Đinh Văn Đệ về việc con trai ở tù, và Đệ sắp xếp cho bà đến thăm nuôi Lợi tại Côn Sơn. Được ra ngoài gặp mẹ, Lợi có dịp nhìn ngắm khu trại tù, nhờ đó anh ta có thể phác họa cho Harkin vị trí Chuồng Cọp. Trở lại Saigon, bà báo cáo tình trạng Lợi trong các xà lim nêm cứng người. Đệ can thiệp và Lợi cùng bốn người khác được thả ra. Ắt hẳn việc mẹ Lợi chọn Đệ không phải là ngẫu nhiên. Ông ta cũng là một đặc vụ Cộng sản, đã theo về với hàng ngũ cách mạng trong mùa hè 1969. Sau khi nói chuyện với Luce, Harkin sắp xếp cho

 Hawkins và Anderson gặp Lợi. Sau khi nghe câu chuyện của Lợi, hai dân biểu đồng ý ra đảo tìm hiểu chuyện đó có thật không. Năm tù nhân mà Phó Đệ đã phóng thích ấn hành một báo cáo về điều kiện trại tù Côn Sơn. Họ tuyên bố rằng “chân họ bị xiềng xích cả ngày lẫn đêm. Hầu hết các bạn tù của họ đều bị liệt, không kể có người bị tiêu chảy kinh niên, lao phổi và rối loạn tiêu hóa.” Nguyễn Minh Trí là một trong số năm sinh viên được thả, và anh ta cũng là đặc vụ nằm vùng. Trong một lần thanh tra, có thể trong chuyến thăm của đội Drinan, Trí mô tả bằng cách nào anh ta “giả vờ là một tù nhân đã bị liệt trong 6 tháng.” Sau khi được thả, Trí trở thành trưởng Cụm Gián điệp A10, một mạng lưới được thành lập vào cuối năm 1970 do bộ phận An ninh Nhân dân Cộng sản ở Saigon thành lập.

Với tin tức dậy sóng trên mặt báo, sứ quán Mỹ lập tức đi kiểm soát  hiện trạng và phủ nhận việc tra tấn các tù nhân. Điều đó đúng trong các nhà tù chính, nhưng các phương thức thẩm vấn ban đầu, không khác “các kỹ thuật nâng cao” của CIA, là thủ đoạn tàn nhẫn được định chế hóa nhằm lấy được lời cung khai xác thực. Khi trở lại Mỹ, Hawkins và Anderson đòi phải tiến hành điều tra và ra một nghị quyết “lên án cách đối xử vô nhân đạo và tàn bạo” của “chốn giam giữ chuồng cọp”. Thủ tướng Khiêm ngay lập tức cử một đội thanh tra đến Côn Sơn. Họ đồng ý các điều kiện trong xà lim  là khắt khe nhưng phủ nhận lời cáo buộc có tra tấn và đối xử tàn tệ. Họ quyết định đóng cửa chuồng cọp và xây dựng các nơi giam giữ rộng rãi hơn , nhưng vẫn không ngăn được sự bất bình. Vào cuối tháng 7, Nixon cử một nghị sĩ khác, Philip Crane (bang Illinois), đến thăm Côn Sơn. Ông kết luận rằng các báo cáo về việc tù nhân không đứng được vì bị xiềng xích thường xuyên là sai sự thật và rằng đa số tù nhân đều trong tình trạng sức khỏe tốt, có thêm thực phẩm và được tham gia lao động công ích và  thủ công mỹ nghệ. Crane công khai chỉ trích bản  báo cáo Hawkins và Anderson là phóng đại thái quá.

Trong khi Crane nói đúng và Luce và Harkins đang mưu tính tìm cách gây bối rối cho CQMN, trong tình huống này, miền Nam đã bị bắt tại trận. Sĩ quan sứ quán James Nach cho rằng ông đã nhận “một báo cáo chi tiết từ Anderson ngay khi ông từ đảo trở về. Ông ta bị sốc trước những gì biết được và nhìn thấy. Anderson là một trong những nghị sĩ lịch sự và tử tế nhất tôi gặp trong cuộc đời làm việc của tôi.” Tuy nhiên, CQMN đã ở trong thế kẹt. Trong khi cách đối xử phũ phàng là không thể xá tội được, các tù nhân, khi được nhốt chung tại Chí Hòa, lập tức kích động bạo loạn. Để bắt họ tách ra biệt lập với 9,500 tù nhân ngoan ngoãn còn lại và ngăn họ không tái diễn như ở Chí Hòa, trưởng trại tù Côn Sơn chuyển gia đình lính gác ra khỏi nhà giam và nhốt các tù nhân mới vào đó. Đây là những gì quan khách Mỹ tìm thấy nhưng không hiểu.

Sự la hét om sòm và các trò kích động khác nhau đã hủy hoại kỷ luật của trại giam tại Côn Sơn. Nhiều lính gác bỏ việc, và với các cán bộ cứng đầu không còn bị cô lập, nhiều tù nhân trước đây hợp tác thì nay lại dở chứng thách thức.

 Khi tin tức về Côn Sơn loan truyền, vào tháng 10, Phòng Chỉnh huấn  của CQMN báo cáo rằng “tù nhân gây rối, đốt lửa, nhịn đói và đình công tại Chí Hoà và Thủ Đức.” Tại Côn Sơn, “mọi hoạt động đều bị tắc nghẽn” và còn có các xung đột khác. Vào tháng 12, cho dù người Mỹ có đổ tiền vào Côn Sơn để cải thiện tình hình, trưởng trại buộc phải xiềng xích hơn 1,500 tù nhân, một việc làm trước đây không cần thiết. Sứ quán liền phản đối đến Thiệu “về những hậu quả tai hại khi có thêm công luận mang tính thù địch… cả ở Việt Nam lẫn ở Hoa Kỳ. .. phải khẩn trương chấn chỉnh các thủ tục giam giữ và điều kiện vào đúng chuẩn mực thích đáng.”

Thiệu đồng ý, những đã quá muộn. Ông không chỉ đã được mô tả là một kẻ độc tài áp bức; mà chính miền Nam cũng được xem là một nhà nước chuyên chế và tàn bạo, một quần đảo của các phòng khảo hình. Đối với những ai về mặt ý thức hệ có xu hướng nguyền rủa Saigon, thì nó là, theo thuật ngữ quân sự, một vùng có lắm mục tiêu tác xạ. Cảnh sát tàn bạo, tham nhũng đầy tai tiếng, giết người bừa bãi không xét xử của tổ chức Phượng Hoàng, vụ tàn sát Mỹ Lai rúng động, đang hủy hoại nền tảng cao quý của nghĩa vụ người Mỹ cho miền Nam. Một ly cốc tai độc địa của bộ máy xách động chính trị Cộng sản, các lỗi lầm của chính Saigon, và cuộc đấu tranh cố hữu của một quốc gia nỗ lực xây dựng các định chế dân chủ trong một đất nước chưa hề nếm trải chúng đã để mặc không cho  nhiều người bảo vệ nó về mặt quốc tế. Chiến tranh đã xáo trộn ai là người tốt và ai là bọn xấu không sao cứu vãn được.

VẪN TÌM KIẾM HÒA BÌNH

Đối diện với lập trường không uốn nắn được của Hà Nội tại Paris, Nixon quyết định đề xuất một ý mới. Hàng tháng trời ông đã nhai đi nhai lại đề nghị ngừng bắn ở Việt Nam và rồi bầu cử, hy vọng dẫn dụ được Hà Nội tìm kiếm hoà bình. Nixon đang lên kế hoạch xoay chính sách đối ngoại của Mỹ ra khỏi mô hình Chiến tranh Lạnh và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô. Ông hy vọng bẫy được mối quan hệ tốt đẹp hơn với cả hai xứ để tranh thủ sự hỗ trợ của họ trong việc kiềm chế Hà Nội. Trong khi Nixon không có ảo tưởng nào về sự trung thực của Hà Nội, để thành tựu mục tiêu cho đối sách chính yếu của mình là cải thiện mối quan hệ song phương với Nga và Trung Quốc, ông cần loại bỏ chiến tranh Việt Nam như một chất kích thích. Những nỗ lực ngoại giao của Mỹ đối với Việt Nam sắp sửa tiếp diễn.

Vào đầu tháng 7 1970, Ngoại trưởng Rogers đến thăm Việt Nam để thảo luận về kế hoạch trong tầm ngắm của Nixon. Ông trấn an Thiệu rằng “Hoa Kỳ không có dự tính tìm kiếm thương lượng một giải quyết chính trị riêng lẻ với Bắc Việt … và một chính quyền liên hiệp … sẽ tiếp tục không được người Mỹ chấp nhận.” Quan trọng không kém, “bất kỳ giải pháp chính trị nào cũng sẽ phải được tiến hành bởi Việt Nam Cộng Hòa với phía bên kia.” Thiệu trả lời rằng lập trường của CQMN nêu ra tháng 7 1969 vẫn không thay đổi cho dù đề nghị của ông “dẫn đến nguy cơ” là người Cộng sản có thể nắm được các “vị trí quyền hành” qua tiến trình bầu cử tự do.” Tuy nhiên, Thiệu không tin Cộng sản chịu chấp nhận ngừng bắn. Cuộc chiến rồi chắc chắn sẽ “lụi tàn đi.”

Vào ngày 31/7, Thiệu báo với đất nước mình là trong khi ông sẽ chấp nhận các kết quả của một cuộc bầu cử có quốc tế giám sát, ông tin Hà Nội sẽ không chịu tham gia. Ông cho rằng cơ hội giải quyết được đàm phán là “số không” vì “Cộng sản không bao giờ chịu thương lượng khi yếu thế mà giờ thì họ đang thua trận.” Do đó, “cuộc chiến sẽ kết liễu … với lực lượng ta lớn mạnh và lực lượng họ giảm sút. Chỉ là vấn đề thời gian.” Tuy nhiên với tin tình báo Hoa Kỳ cảnh báo với ông rằng Cộng quân đang lên kế hoạch một trận công kích ngoại giao, vào giữa tháng 9, ông cử Phó Tổng thống Kỳ đến Paris để nắm thấu suốt về hiện trạng của cuộc hòa đàm.

Nhu Nixon, Hà Nội cũng đang lên kế hoạch cho một ván cờ mới. Vào ngày 10/9, Lê Đức Thọ đánh điện cho đoàn VNDCCH ở Paris và cho biết Bộ Chính trị đã quyết định tiến hành một trận công kích chính trị  “để hậu thuẫn cho các phong trào tranh đấu trong các thành phố miền Nam chống đối với cuộc gây hấn của Mỹ và đòi loại bỏ phe cánh Thiệu-Kỳ-Khiêm.” Chính sách này không phải để đạt được hòa bình mà để gieo rắc “sự chia rẽ trong hàng ngũ bọn tay sai và giúp kích động phong trào phản chiến mùa thu của nhân dân Mỹ và phe chống đối ở Hoa Kỳ.” Bộ Chính trị đang theo dõi sát sao Quốc hội Mỹ, vốn vừa bác bỏ một dự luật của hai thượng nghị sĩ đơn phương rút hết binh sĩ Mỹ khỏi Việt Nam vào cuối năm 1971. Đi ngay sau gót chân của tu chính Cooper-Church bác bỏ bất kỳ tài trợ nào cho lực lượng Mỹ ở Cao Miên, Hà Nội muốn đổ dầu vào trận lửa phản chiến bùng phát bằng cách đu đưa một đề xuất hòa bình.

Vào ngày 17/9, Nguyễn Thị Bình, Ngoại trưởng Chính quyền Cách mạng Lâm thời, loan báo một “Làm Rõ Tám Điểm” trong chương trình Mười Điểm của Chính quyền Cách mạng Lâm thời đã được thông báo vào tháng 5 1969. Bà nói rằng nếu người Mỹ rút hết lực lượng vào ngày 30/6/1971, loại bỏ “Thiệu-Kỳ-Khiêm ra khỏi quyền lực, và thành lập một liên hiệp ba bên (CQCMLT, Saigon, và Lực lượng Thứ Ba),  thì sau đó các lực lượng MTGP sẽ không tấn công các binh sĩ đang rút quân, và họ sẽ thảo luận về việc phóng thích các tù binh Mỹ bị bắt. Một khi chính quyền mới được thành lập, bầu cử sẽ được tổ chức để lập ra một quốc hội mới soạn thảo một hiến pháp mới. Bà bác bỏ bất kỳ cuộc bầu cử nào nếu “Thiệu-Kỳ-Khiêm” còn tại chức. Hà Nội muốn lợi dụng những gì họ tin là một phong trào phản chiến của Hoa Kỳ lại nổi dậy, tâm trạng chán chường vì chiến tranh của người miền Nam và sự khinh thường của thế giới đối với Thiệu và Kỳ. Họ cũng hy vọng một đáp ứng thuận lợi từ các chính trị gia chống chính quyền của miền Nam bằng cách chuyển tải ấn tượng là họ có thể hưởng hoà bình nếu họ loại bỏ ba người này. Đây là chiến lược xuất sắc.

Mặc dù Saigon lập tức bác bỏ đề nghị của CQCMLT, Thiệu và Nixon biết rằng mình phải đáp ứng, nên vào ngày 8/10, Nixon đưa ra một trả lời bốn điểm. Ông kêu gọi một sự ngừng bắn, một hội nghị quốc tế để thảo luận những vấn đề Đông Dương, thả tất cả tù binh, và một thời khóa rút quân tất cả các lực lượng. Thiệu lặp lại các đề xuất của năm trước để đàm phán với CQCMLT và tổ chức bầu cử dưới sự giám sát của một ủy ban quốc tế nhằm bảo đảm tính công bình.

Đáp ứng của Hà Nội trước đề nghị của Nixon là tuyệt đối tiêu cực. Trung ương Cục Miền Nam thông tin cho các cán bộ của mình rằng Hoa Kỳ muốn “gây hấn với Đông Dương và giữ đám tay sai nắm quyền lực ở Đông Nam Á. Đó là lý do tại sao Mỹ đã phớt lờ các yêu sách của chúng ta và đưa ra các đề xuất mơ hồ và ngoài lề. Vì lý do đó, Trung ương Cục Miền Nam yêu cầu các cán bộ của mình tiếp tục chiến đấu để đòi binh lính Mỹ rút quân vô điều kiện và rằng họ phải loại bỏ chính quyền bù nhìn Thiệu-Kỳ-Khiêm phát xít.”

Vào đầu tháng 10, Xuân Thủy, trưởng đoàn đàm phán của VNDCCH, gửi một bức điện cho Lê Đức Thọ. Ông báo cáo rằng trong khi ở Paris, Kỳ đã đưa ra một đề nghị đáng ngạc nhiên. Hoặc do ý riêng của mình hoặc được phép của Thiệu thì không biết, nhưng Kỳ đã “truyền đạt một yêu cầu qua trung gian Nguyễn Khánh là muốn gặp Bà Bình, nhưng lời yêu cầu không được đáp lại.” Vì lời yêu cầu của mình bị từ chối, Kỳ trao một thông điệp cho phía Cộng sản về một giải pháp chính trị miền Nam.

Lực lượng Thứ Ba trong chính quyền liên hiệp mà Bà Bình nói đến trong kế hoạch tám điểm thực sự là vô nghĩa … Do đó, để giải quyết vấn đề thứ hai, cấu trúc chính trị ở miền Nam phải được thay đổi. Điều này có nghĩa một sự thay đổi hoàn toàn về chính sách. Nhưng dù cho chúng ta có làm gì, chúng ta có vấn đề là ai sẽ là người làm việc đó? Ai sẽ là người mà anh em chúng ta ở phía bên kia có thể nhìn nhận là người họ có thể đàm phán với? … Nếu họ không thể chấp nhận Thiệu, thế thì loại y ra. Làm tương tự với Khiêm. Và nếu họ tin tôi là một vật cản, thế thì tôi sẵn sàng ra đi. Tuy nhiên, nếu họ tin mình cần sự trợ giúp của tôi  trong việc tìm ra một giải pháp chính trị cho miền Nam, thì khi tôi xong công việc ở đây và ra khỏi chính quyền tôi sẵn sàng trợ giúp.

Thủy đánh giá phát biểu của Kỳ là muốn “xô Thiệu qua một bên để trở thành người đối thoại chủ yếu với phe chúng ta. Phe cánh Kỳ sẽ yêu cầu Mỹ phải rút quân và lực lượng Bắc Việt cũng phải rút … Cuộc họp … có thể đã là một sáng kiến cá nhân về phần Kỳ … hoặc Pháp có thể đã nhờ Kỳ làm việc đó, vì gần đây Pháp đã hậu thuẫn cho việc đẩy Thiệu sang một bên và giờ đang chú ý đến các lực lượng đối lập ở miền Nam.”

Pháp đúng là đang mưu tính một lần nữa. Vào những năm đầu thập niên 1960, cũng đã buông bỏ Algeria, Tổng thống Charles de Gaulle đã nhấn mạnh rằng trung lập là lựa chọn tốt nhất để dừng cuộc chiến Việt Nam. Sau khi ông từ chức vào 28/4/1969, chính sách Pháp ở Việt Nam đã trở nên hạn chế hơn, mặc dù xu hướng chống CQMN của de Gaulle vẫn còn khống chế chính sách Pháp. Những đề xuất hoà bình mới khác nhau, tuy nhiên, đã bật lửa người Pháp. Trong khi Pháp luôn xem Hà Nội thế nào rồi cũng sẽ  thắng lợi, sức mạnh đang lớn mạnh của miền Nam, hiện thân bởi cuộc giáng trả thành công vào Cao Miên, dẫn đến một quan điểm quân bình hơn về sức mạnh tương quan giữa hai bên. Paris giờ tự ví mình như một “người môi giới lương thiện” giữa hai phe giao chiến, nhưng y phải thận trọng nhún nhảy giữa Washington, Bắc Kinh, Hà Nội và Saigon. Dù y ép buộc người Mỹ ấn định một thời khóa rút quân và thúc giục “mở rộng” CQMN – một điều lệ để cho phép CQCMLT một vai trò trong chính quyền – Hà Nội không bị chiến lược Pháp đánh lừa. Họ kín đáo tìm cách vận dụng Pháp nhằm ép buộc người Mỹ loại bỏ Thiệu. Quyết định mở rộng vai trò ngoại giao của Pháp chỉ mang lại kết quả trong vài năm nữa, nhưng cuối cùng nó sẽ cho thấy là thiết yếu.

Với sự Hà Nội bác bỏ thẳng thừng lời đề xuất của Nixon, Thiệu trở về phòng tuyến cứng rắn. Trong diễn văn hàng năm đọc trước Quốc hội vào ngày 31/10, ông ca tụng những thắng lợi quân sự vẻ vang của chính quyền mình và vẽ một bức tranh về một chiến thắng gần kề. Ông nhắc lại lời tố cáo của mình đến những “kẻ hèn nhát và chủ bại” đã chủ trương liên hiệp hoặc “hòa bình trong trung lập.”  “Công dân và chiến sĩ chúng ta,” ông dõng dạc cất tiếng, “phải loại ra các kẻ hèn nhát này … Tôi không bao giờ chịu đầu hàng bọn Cộng sản.” Thiệu đang chơi sát ván cũng nhiều như đang tuyên bố chính sách của mình. Chỉ còn một năm nữa là đến kỳ bầu cử tổng thống, và sau các lời đề nghị hòa bình mới này, ông cần đánh bóng chứng minh thư chống cộng của mình cũng như tái xác nhận sự thống lĩnh chính trị bằng cách thể hiện sự kiên cường.

Đối với phe chống đối Thiệu về mặt chính trị, sự cứng rắn của ông thật đáng nguyền rủa, và các đối thủ miền Nam của ông rơi vào đúng bẫy sập của Hà Nội. Phá tan sự im lặng dài một năm ròng, Dương Văn Minh bác bỏ lập trường cứng rắn của Thiệu. Trong một bài nói chuyện vào hôm sau, Minh đồng ý rằng trong khi tình hình quân sự đã cải thiên, nhưng “tình hình chính trị, kinh tế, và xã hội đang trong giai đoạn ngặt nghèo.” Nếu chiến tranh tiếp diễn, chủ quyền quốc gia sẽ “vô cùng khốn đốn,” có nghĩa người Mỹ đang chịu dụng hết nổi. Vấn đề Việt Nam, ông nói, “phải được người Việt Nam giải quyết vì lợi ích của nhân dân và quốc gia Việt Nam.”

Cho dù ông kêu gọi chủ nghĩa bài ngoại của người Việt, nhiều người xem bài nói chuyện của Minh là nước cờ mở đầu cho cuộc chạy đua tổng thống vào năm 1971. Các chính khách ngoại quốc và chính trị gia Saigon chẳng bao lâu đến thăm viếng ông để tin chắc vào các suy nghĩ của vị tướng trước đây. Giải pháp duy nhất của Minh, ngoài lời than vãn dân tộc cùng quẫn và khốn khổ, là tiếng cất cao mơ hồ thường lệ là miền Nam cần “hòa giải và đoàn kết quốc gia.” Nổi bật là trong lời sáo rỗng của ông vắng mặt một phương thức của cụ thể giải quyết các vấn đề của đất nước. Mặc kệ, ông đã cắm cọc lập trường của một “ứng cử viên cho hòa bình” trong cuộc bầu cử sắp đến. Minh, dù vậy, đang sống ở quá khứ. Ông tin tưởng tiếng tăm mình sẽ đưa mình đến chiến thắng. Ông không tổ chức chiến dịch tranh cử còn tài trợ thì hạn chế. Công thức đó đã được Trần Văn Hương và Phan Khắc Sửu thử nghiệm vào năm 1967 và đã thất bại, nhưng Minh chưa học thuộc bài học của họ.

CÚ ĐẤM KÉP

Sau nỗ lực thất bại trong việc đối thoại với CQCMLT tại Paris, Kỳ trở về Saigon. Vào cuối tháng 11, ông đến thăm Hoa Kỳ, tại đó ông gặp Nixon và Kissenger. Trên chuyến bay chở Kỳ về nhà, cố vấn thân cận của Thiệu, Nguyễn Cao Thăng, chết vào ngày 8/12 vì lên cơn tim. Cái chết của ông là cú đấm thứ nhất mà Thiệu phải chịu đựng. Thăng không chỉ là người hậu thuẫn tài chính chủ chốt mà cũng người tin cẩn. Thăng được thay thế bởi phụ tá của ông, Nguyễn Văn Ngân, sẽ sớm trở thành một nhân vật kiểu Rasputin trong bộ máy hành chính. Tuy Ngân không có nhiều tiền như Thăng, nhưng độ mưu mẹo thì không kém, và ông cuối  cùng cũng sẽ đóng một vai trò chính cho Thiệu.

Với sự rút lui của người Mỹ và hầu hết binh sĩ VNCH ra khỏi Cao Miên, vác đơn vị QĐNDVN bắt đầu dần dần tái thiết lại các căn cứ cũ. Để ngăn ngừa họ trở lại, và để đánh lạc hướng cuộc tấn công tối mật đã được lên kế hoạch vào nam Lào vào tháng 2 1971, Thiệu ra lệnh cho Trung tướng Đổ Cao Trí phát động một chiến dịch xuyên biên giới khác. Mục tiêu là tiêu diệt lực lượng địch quanh Kratie, một thị trấn nằm sâu trong lãnh thổ Cao Miên. Dọc theo đường hành quân, QĐVNCH sẽ đập tan các căn cứ địa trong vườn cao su Chúp và tại các căn cứ hậu cần chủ yếu trong vùng thung lũng Dambe. Đường 7 là con đường duy nhất vào các khu vực này. Ba lực lượng tác chiến, mà mũi tiến công do Đại tá Trần Quang Khôi, người được Trí đỡ đầu, cầm đầu. Dựa trên các bài học học được từ các cuộc xâm nhập vào đất Cao Miên lần đầu tiên, Khôi đã thành lập Lữ đoàn Thiết Kỵ 3. Vay mượn từ ý tưởng kỵ binh Mỹ, nó là đơn vị duy nhất thuộc loại này ở miền Nam. Khôi đã thuyết phục Trí rằng một sự phối hợp giữa thiết giáp, pháo binh, công binh, và Biệt động trong vai trò của các kỵ binh có thể cung cấp một cú đấm chết người. Nhóm Biệt động 5, một đơn vị dự trữ chiến lược của QĐVNCH, là lực lượng tác chiến thứ hai, trong khi một đơn vị biệt động đặc biệt và pháo binh lập thành lực lượng tác chiến 3. Miễn cưỡng loại bỏ các lực lượng phòng thủ ở miền Nam, Trung tướng Trí đã vá víu với nhau một phần tử cỡ sư đoàn các lính Biệt động và lực lượng thiết giáp của mình và các phần tử pháo binh để tiến hành một cuộc đột kích cơ khí hóa sâu hơn 100 dặm vào đất Cao Miên. Với bất cứ tính toán nào, thì đây là một chiến dịch táo bạo.

Phát động cuộc công kích vào 31/1/1971, Khôi và hai mũi tiến công khác quyết tâm tiến lên, đánh tan một số phản công và thọc qua các cứ điểm phòng thủ của kẻ thù. Sau vài tuần bên trong Cao Miên, Khôi đã đến được Thung lũng Dambe. Thiệu liền gọi Trí đến dinh. Cuộc tấn công của QĐVNCH vào hạ Lào đã gặp khó khăn nghiêm trọng, vì thế Thiệu dự định thay thế Trung tướng Hoàng Xuân Lãm ở Quân đoàn I bằng Trí. Vào buổi sáng ngày 23/2, trực thăng của Trí khởi hành đi Tây Ninh để thăm Khôi ở Dambe và báo tin cho ông ta. Rồi thảm họa đã giáng vào Thiệu cú đấm thứ hai. Chiếc trực thăng nổ giữa không trung, Trí và mọi người trên trực thăng đều tử nạn.

Miền Nam đã mất một trong những chỉ huy tác chiến ưu tú nhất. Thiệu bị sốc và đau đớn sâu sắc. Ông chỉ định Trung tướng Nguyễn Văn Minh, chỉ huy Biệt khu Thủ đô, để thay thế Trí. Tuy nhiên, chỉ huy Quân đoàn là vượt quá khả năng của Minh. Đồng bộ hóa thiết giáp, bộ binh, và không lực trong khi phải quản lý hậu cần và tình báo là quá tải đối với ông, chủ yếu bởi vì phong cách chỉ huy mang tính cá nhân hóa của các sĩ quan miền Nam không cho phép họ sử dụng các tham mưu của mình hành xử nhiều chức năng hoặc để lên kế hoạch đầy đủ. Từ đó, mọi thứ trở thành một vũ điệu ba lê ứng biến hơn là một hoạt động phối hợp nhịp nhàng.

Minh điếng người và rời lực lượng tác chiến của Khôi ngồi thừ ra trong suốt một tuần ở Thung lũng Dambe. Chẳng bao lâu Cộng quân bắt đầu bao vây QĐVNCH đang cắm quân. Vào ngày 27/2, Minh ra lệnh Khôi rút quân về Việt Nam dọc theo Đường 7, nhưng đã quá muộn. Tập trung hai sư đoàn cộng thêm quân yểm trợ, QĐNDVN tấn công vào ngày hôm sau. Địch phong tỏa Đường 7 và tràn ngập một tiểu đoàn Biệt động. Lực lượng Biệt động tìm cách giải vây ra Đường 7 vào ngày ⅓ nhưng thất bại. Khi Minh ra lệnh Khôi rút lui dọc theo đường cũ vào ngày hôm sau, Khôi biết mình sẽ tiêu đời nếu thử theo cách đó. Vào đêm ngày ⅔, ông đánh điện cho Minh và yêu cầu theo kế hoạch thoát thân của mình. Minh chấp thuận và gọi trực thăng bốc Khôi khỏi khu vực bị bao vây, nhưng Khôi tư chối bỏ lại binh sĩ của mình.

Sử dụng không kích để đánh lạc hướng, ông tập trung xe tăng và phát động một mũi tiến công thiết giáp thọc xuyên qua rừng thay vì sử dụng Đường 7. Mới đầu bất ngờ khi gặp trận tấn công xe tăng trong rừng cây rậm rạp, Cộng quân phản ứng nhanh chóng trở lại và dội hoả lực như mưa vào đoàn quân địch. Một viên đạn từ một khẩu súng không giật bắn trúng xe chỉ huy của Khôi, nhưng ông đổi xe và tiếp tục dẫn đầu người mình tiến về phía trước. Trong cuộc xáp chiến ác liệt, lực lượng thiết giáp của ông đột phá qua phòng tuyến địch. Ông ngoặt ra phía sau chướng ngại vật trên Đường 7 và rút lui thành công về miền Nam, di tản tất cả thương binh và tử sĩ. Tài chỉ huy đầy quyết đoán của Khôi đã giải cứu gần một sư đoàn khỏi bị tiêu diệt. Nếu ông đã bị tràn ngập, cùng với thảm họa đang ló dạng ở nam Lào, tai ương quân sự phối hợp có thể cho thấy sự nghiệp chính trị của Thiệu đã cáo chung. Cái chết của Trí cũng có hậu quả: nếu Trí đã thay thế Lãm, ông ta có thể đã đẩy lùi được hoặc ít nhất làm giảm nhẹ thảm họa gần như xảy ra  cho Quân đoàn I một năm sau trong cuộc Công kích Phục Sinh 1972. Cuộc chiến đã không lụi tàn; nó đã trở lại với mức độ tàn khốc thậm chí còn lớn hơn nhiều

  • • •

Kể từ 1969, người Mỹ đã gửi đi tín hiệu rằng họ muốn nối lại các thảo luận với Trung Quốc, và vào đầu năm 1970, Bắc Kinh đáp ứng. Người Hoa đề nghị bắt đầu lại các thảo luận cấp thấp ở Warsaw giữa hai xứ đã bị đình hoãn từ năm 1968. Mùa thu đó, một kênh cửa sau qua Palestine giữa Kissenger và Chu Ân Lai được thiết lập, và vào tháng 12 1970, Chu gửi một thông điệp là mình sẽ chào đón một chuyến viếng thăm của Kissenger.

Đây không phải là những động thái duy nhất mà người Trung Quốc đang làm. Người Mỹ không biết rằng, trong khi Chu đang thực hiện chuyến viếng thăm lịch sử đến Kissenger, Nguyễn Xuân Phong, còn ở lại Paris với tư cách phó đoàn CQMN trong hòa đàm Paris, nhận được một cú gọi từ đại sứ Miến Điện tại Pháp. Ông

mời tôi đến ghé nhà uống rượu. Lời mời nói rõ đây là việc cá nhân riêng tư và không phải với tư cách một đại diện của chính quyền Saigon! Tôi báo cáo điều này với Tổng thống Thiệu và được ông cho phép cứ tiến hành. Tại buổi họp mặt với một nhóm nhỏ các chính khách, vị đại sứ Miến Điện kéo tôi sáng một bên và giới thiệu tới với Đại sứ Huang Chen, đại sứ Trung Quốc tại Pháp, ông ta lại giới thiệu tới với một người Hoa khác. Sau đó hai chúng tôi ngồi xuống nói chuyện thân mật và cởi mở. Tôi được cho biết ông là một thành viên trong văn phòng của Chu Ân Lai và ông rất muốn có cơ hội gặp tôi bất cứ khi nào ông có mặt ở Paris.

Vào cuối cuộc gặp, người đàn ông hỏi Phong, “Tổng thống Thiệu có biết ai là những người bạn và ai là kẻ thù  thực sự của ông ta hay không?” Đó là khúc mở đầu ngoại giao của bí ẩn lớn cuối cùng trong Chiến tranh Việt Nam.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s