Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 18)

CHƯƠNG 18: “CHÚNG TA ÍT KHI HIỂU ĐƯỢC CHI PHÍ CỦA THẮNG LỢI“

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Tìm Kiếm An Ninh Kinh Tế

Thiệu lên kế hoạch cho năm 1970 sẽ củng cố thành quả của việc bình định bằng cách phát động chương trình cải cách ruộng đất có tính cách mạng nhất trong lịch sử nhân loại. Thiết kế vĩ đại của ông là thiết lập một xã hội có quyền sở hữu, nâng cao mức sống của một xã hội nông nghiệp bần cùng và biến cải giới nông dân thành tầng lớp hậu thuẫn mạnh mẽ của Đệ Nhị Cộng Hòa. Nhưng khi ông chuẩn bị phát động chương trình in dấu ấn của bộ máy hành chính của mình, căn bệnh kinh tế buộc ông cũng phải tập trung vào việc cải tổ cấu trúc kinh tế thời thuộc địa ở miền Nam. Đồng thời, ông cần tranh thủ Hoa Kỳ gia tăng viện trợ để trang trải chi phí và nuôi ăn các binh sĩ trẻ mới nhập ngũ. Đối với vị tổng thống miền Nam, đó lại thêm một năm mà các thành tựu lớn lao trong nước bị che mờ bởi các bất ổn nội bộ khủng khiếp, trong đó có vụ xét xử và bắt giam Trần Ngọc Châu, cựu tỉnh trưởng Kiến Hòa và dân biểu Hạ viện.

NGƯỜI THU THUÊ ĐẾN

Trong khi các sử gia tập trung vào hậu quả về ngoại giao và kinh tế của vụ Tổng Công Kích Tết 1968, cuộc tấn công của Cộng quân cũng có một hậu quả quan trọng không kém: nó gây ra sự thoái trào nghiêm trọng ở miền Nam. Doanh thu nông thôn giảm sút, sản xuất kỹ nghệ suy sụp, và nhập khẩu giảm sâu.

Hàng trăm ngàn người thình lình mất việc làm hoặc vô gia cư, và niềm tin của các nhà đầu tư vào tình hình an ninh đã bị đánh mất, làm đình trệ các đầu tư vào sản xuất.

Tuy nhiên, vào mùa thu 1968, viện trợ Mỹ, cùng với quỹ từ thiện nước ngoài, phối hợp với kinh phí của chính quyền đã vực dậy nền kinh tế trong quý cuối của năm biểu hiện bằng lượng nhập khẩu đổ vào ào ạt. Việc sụt giảm chi tiêu và viện trợ Mỹ đã kiềm chế mức lạm phát trong giới hạn chịu được trong năm 1968, ít hơn nhiều so với các xứ tàn phá bởi chiến tranh như Nam Hàn trong thời kỳ xung đột 1950-1953. Giá cả ở Nam Hàn trong năm 1952 đã tăng vọt lên 169 phần trăm sau khi chỉ huy Liên Hiệp Quốc và giới lãnh đạo Hàn Quốc đã áp dụng các biện pháp chống lạm pháp gắt gao.

Mặc dù nền kinh tế đang trong giai đoạn hồi phục, con gấu vẫn còn rình rập thị trường Việt Nam. Với kinh phí khổng lồ dành chăm sóc người tị nạn và việc mở rộng QLVNCH, tình trạng bội chi sẽ tăng áp lực cho nạn lạm phát và thâm hụt ngân sách là điều không thể tránh khỏi. Vào tháng 5 1969, khi giá cả tăng 11 phần trăm, Thủ tướng Hương tìm cách tăng thuế để thêm ngân sách, làm bộc phát sự hỗn loạn dẫn đến việc ông phải buộc từ chức. Với các chỉ dấu kinh tế đang trở nên u ám, vào tháng 6 Bunker nhắc nhở Thiệu CQMN phải tăng thu nhập và áp đặt các biện pháp kiểm soát lạm phát nghiêm nhặt để ngăn ngừa bội chi thêm nữa.

Thiết kế một chính sách tài chính bao quát để hoàn thành các nhiệm vụ này là rất khó khăn vì đất nước thực sự có bốn vùng kinh tế riêng biệt. Cơ chế kinh tế thứ nhất là nhập khẩu, được một chương trình Hoa Kỳ có tên Commercial Import Program (CIP: Chương trình Nhập khẩu Thương mại) đảm trách. Hoa Kỳ tài trợ hàng nhập khẩu bằng cách trả tiền cho các doanh nghiệp Mỹ gửi hàng đến Saigon, trong khi nhà nhập khẩu Việt mua các hàng nhập này trả tiền VN vào quỹ đối ứng của CQMN. Quỹ này và tiền thuế nhập khẩu là những dòng thu nhập có ý nghĩa của CQMN. Sức tác động thứ hai là nông sản, đóng góp vào số lượng Sản phẩm Thô Trong Nước của miền Nam. Lúa gạo là mặt hàng chủ lực của thị trường này, nhưng các nhu yếu phẩm khác như cá, thịt heo, và rau củ quả cũng là chủ chốt. Với các khó khăn của thời chiến trong việc trồng lúa rồi vận chuyển đến các thị trường nội địa, Hoa Kỳ cung ứng một số lượng gạo miễn phí dồi dào cho Saigon theo chương trình Thực phẩm vì Hòa Bình PL- 480 của chính quyền Hoa Kỳ. CQMN sau đó bán lại gạo Mỹ viện trợ cho giới tiêu dùng đô thị và bỏ túi doanh thu. Dù an ninh được tăng cường và gạo thần kỳ làm tăng sản lượng gạo trong năm 1969 đến 16 phần trăm so với năm 1968, nhưng như thế vẫn không đủ theo kịp nhu cầu, nhất là trong vùng thành thị. Tổng dân số, và đặc biệt cư dân đô thị, đã gia tăng đáng kể từ những năm 1960.

Nguồn kích thích thứ ba là thị trường chợ đen khổng lồ buôn bán các hàng hóa Mỹ lấy cắp từ các kho hàng quân sự Hoa Kỳ. Đồng bạc Việt Nam  giá cao ngất ngưởng, được chính quyền kềm thấp một cách giả tạo để đạt doanh thu, giúp thúc đẩy hoạt động phi pháp này. Hoa Kỳ mua đồng bạc VN với tỉ lệ hối đoái chính thức là 118 đồng VN ăn một đô-la, bị Quốc hội Mỹ nguyền rủa không sai chút nào là CQMN lóc thịt người Mỹ vì giá thị trường chợ đen đổi đến gần 400 ăn 1. Khi một lần nữa Quốc hội Mỹ tổ chức các buổi phúc trình điều tra về nạn bòn rút  tiền viện trợ Mỹ, Bunker buộc phải đối đầu với Thiệu. Viên đại sứ bảo với Thiệu rằng tham nhũng và hoạt động chợ đen là một “xì-căng-đan công khai”. Thiệu nhanh chóng phái cảnh sát bố ráp bọn con buôn vỉa hè buôn bán đồ ăn cắp, nhưng họ thường được hối lộ và ngó lơ.

Lực kinh tế thứ tư là sự hiện diện của người Mỹ. Hàng trăm ngàn công dân hoặc bán hàng hóa hoặc giúp việc cho người Mỹ hoặc làm trực tiếp cho chính quyền và các công ty Mỹ. Nhưng khi dấu chân người Mỹ bắt đầu thưa thớt vào năm 1969 và rồi rồi giảm hẳn vào năm 1970, nhiều người mất việc làm tạo nên một hậu quả vô cùng điêu đứng về thu nhập.

Bước vào cơn bão tố này là Phạm Kim Ngọc. Được bổ nhiệm vào tháng 9 1969 làm tổng trưởng Kinh tế mới của miền Nam, Ngọc sinh ngày 17/3/1928, trong một gia đình giàu có ở Hà Nội. Khi  Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất bùng nổ, cha mẹ ông gửi ông ra nước ngoài du học và tốt nghiệp Đại học Kinh tế London  danh giá. Ông trở lại Saigon vào năm 1955, tại đó ông cầm đầu Văn phòng Nhập khẩu của Ngân hàng Việt Nam Thương Tín, cánh tay cho vay của Ngân hàng Quốc gia. Ngọc là người được cựu Tổng trưởng Kinh tế Nguyễn Hữu Hanh đỡ đầu, và ông tham gia bộ kinh tế làm phó cho Hanh vào năm 1967. Được biết nhiều trong giới ngân hàng thương mại Saigon, đặc biệt với các thương nhân giàu có người Hoa, Ngọc cũng thân thiết với Nguyễn Cao Thăng của công ty OPV. Vào tháng 8 1969, Thiệu mời Hanh làm tổng trưởng kinh tế, nhưng Hanh thoái thác và giới thiệu Ngọc. Hanh tin rằng mình có thể điều hành chính sách kinh tế miền Nam thông qua Ngọc, nhưng ông đã lầm. Ngọc chẳng bao lâu giữ khoảng cách với ông, cho rằng Hanh đã xa vời với điều kiện kinh tế ở miền Nam. Dù Ngọc chơi thân nhiều bạn bè có thế lực (Hanh, Thăng, và thương nhân gốc Hoa), ông là một nhà kỹ trị và không được phe phái chính trị nào bảo vệ mình. Ngọc tồn tại được vì Thiệu nhìn thấy ở ông một nhà kinh tế năng động, và ông hậu thuẫn Ngọc dù sau này nhiều người đòi loại bỏ ông. Thiệu, vốn như Kỳ biết rất ít về kinh tế, ban cho ông toàn quyền thiết kế chính sách kinh tế.

Ngọc hành động mau lẹ để vực dậy nền kinh tế đang xuống dốc. Trong bài diễn văn tháng 9 1969, ông đưa ra ý kiến rằng với tình trạng thâm hụt ngân sách, miền Nam cần giảm nhập khẩu, giảm chi tiêu, nâng cao doanh thu, và gia tăng xuất khẩu. “Chúng ta đang nhập khẩu nhiều hơn cần thiết,” ông phát biểu, và quy luật tiếp theo là “sống khắc khổ.” Ngọc cho rằng hàng nhập khẩu do Mỹ tài trợ đang kích thích sự bùng nổ tiêu thụ giả tạo và rằng xã hội miền Nam đang sống vượt quá phương tiện của mình nhờ vào tiền bố thí của người Mỹ đóng thuế. Thật ra, hàng nhập khẩu chỉ làm giảm bớt mức lạm phát nhờ thay thế sản phẩm nội địa đã sụt giảm do chiến tranh. Trong khi các phát biểu của Ngọc nhằm xoa dịu chỉ trích của quốc hội Hoa Kỳ, mục tiêu chính của ông là tái cấu trúc nền kinh tế. Ngọc muốn áp dụng “Việt Nam hóa kinh tế” để chi trả cho mức gia tăng lớn lao của chi tiêu quốc phòng giờ phải thay thế binh sĩ Mỹ. Như sau này Ngọc viết, ” chúng ta ít khi hiểu được chi phí của thắng lợi.” Ngân sách CQMN có hai điểm yếu lớn. Thứ nhất, 90 phần trăm thu nhập đến từ tiền thuế gián tiếp, và hai phần ba trong số đó đến từ thuế nhập khẩu. Thứ hai, việc trốn thuế tràn lan làm thất thu cho CQMN hàng triệu đồng mỗi năm. Hậu quả là CQMN không thể tự tài trợ cho mình, dẫn đến chi tiêu thâm hụt lớn, khiến lạm phát gia tăng. Để chỉnh đốn tình trạng thâm hụt, trong mùa hè 1969, Thủ tướng Hương nộp cho Thiệu một kế hoạch kinh tế do Nguyễn Hữu Hanh phát triển. Người Mỹ ra sức ép cho Thiệu giảm giá đồng bạc VN nhưng Hanh không đồng ý. Vào năm 1966 ông giảm giá đồng bạc nên liền bị báo chí Saigon chế giễu bằng biệt danh “Ông Vua Phá Giá”, nên bây giờ Hanh tránh né hành động thảm họa như thế. Ông tìm cách tăng thuế nhập khẩu, nhưng ông muốn điều chỉnh dần dần chỉ tăng 40 phần trăm các hàng hóa đặc biệt trong khi vẫn giữ nguyên thuế đối với các mặt hàng thiết yếu.

Khi chính quyền Hương xuống, Ngọc kế thừa đề xuất của Hanh. Thiệu chấp thuận kế hoạch của Hanh, vốn bản chất là một sự phá giá nhưng không có hành trang chính trị. Sợ một trận chiến pháp lý, Thiệu qua mặt quốc hội và ký một sắc lệnh vào ngày 23/10/1969, áp đặt việc tăng thuế. Dân đô thị một phen cuống cuồng khi giá hàng nhập khẩu chỉ qua một đêm tăng lên đến chóng mặt. Thuế xăng dầu tăng gấp đôi, và giá lương thực nhảy vọt. Để ngăn đầu cơ tích trữ, CQMN không thông báo trước việc tăng thuế. Bị bất ngờ và chỉ sống nhờ đồng lương cố định, nền tảng vững chắc nhất của Thiệu – nhân viên công chức và quân đội – phản ứng gay gắt với việc giá lên cao ngất ngưởng. Bunker gọi nó là “một hành động can đảm mang tính chính trị cao nhưng lại được thi hành tệ hại về mặt chính trị.”

Thiệu ra lệnh cho Ngọc lên truyền hình để biện hộ cho chương trình. Sau khi xuất hiện, báo chí miền Nam lập tức đổ tội giá cả tăng do ông và gọi sắc lệnh là “Thuế Khắc Khổ”. Quốc hội kêu gào sắc lệnh là không hợp hiến và yêu cầu Tối cao Pháp viện vào cuộc. Trong một dấu hiệu của một nền dân chủ đang trưởng thành, quốc hội càng ngày càng muốn thách thức Thiệu và xác lập quyền lực lập pháp của họ. Vào ngày 12/12/1969, tòa tuyên bố chỉ có quốc hội mới có quyền đánh thuế, nhưng nó lấp lửng và không hủy bỏ sắc lệnh. Dù vậy Ngọc đã học được bài học nghiêm khắc. Các cải cách sau này của ông đều được tiến hành với sự đồng thuận của quốc hội.

TRẦN NGỌC CHÂU VÀ NỖI SỢ LIÊN HIỆP TIẾP DIỄN

Vào cuối năm 1969, Thiệu trải qua cơn bão tố chính trị tồi tệ nhất từ khi lên làm tổng thống. Giữa sự thảm bại về thuế khắc khổ, tai hoạ ổ gián điệp, và nỗi sợ gậm nhấm về việc Đôn ngây thơ yêu sách một điều chỉnh chính trị với người Cộng sản có thể lung lạc một công luận đã mệt mỏi vì chiến tranh, Thiệu cảm thấy mình bị bao vây tứ phía.  Quyết tâm đập tan bất kỳ bất kỳ lời kêu gọi liên hiệp nào, ông tìm thấy một con dê tế thần ở Trần Ngọc Châu. Việc bắt giữ anh trai Châu làm gián điệp cho Cộng sản, Trần Ngọc Hiền, đã đặt Châu vào một cái rọ. Trong khi Châu đã báo tin cho vài người Mỹ về việc ông có hội họp với Hiền, vì một số lý do nào đó, ông không báo cáo việc tiếp xúc với chính quyền, một hành động vi phạm luật an ninh quốc gia. Châu giờ đây phải trả giá cho người “em trai-kẻ địch” của mình.

Vào tháng 11 1969, Thiệu yêu cầu Hạ viện tước bỏ quyền bất khả xâm phạm nghị viện của Châu để ông có thể truy tố ông ta vì tội gặp gỡ với Hiền. Phụ tá của Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Văn Ngân, khẳng định rằng

vì Châu đã nghiễm nhiên trở thành lãnh tụ nhóm dân biểu cánh tả … đó là lý do thực sự cho việc lột bỏ quyền bất khả xâm phạm theo luật của ông và cho việc bắt giữ ông. Nếu chính quyền thất bại trong việc cô lập Châu, xu hướng tìm kiếm một liên hiệp với người Cộng sản để kết thúc chiến tranh ắt hẳn đã chiếm ưu thế trong Quốc hội, và việc này hẳn sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hòa đàm Paris, đến chính tình nội bộ, và nhất là đối với cuộc bầu cử Tổng thống ấn định vào năm 1971.

Xét việc Đôn kêu gọi gần đây về một  Lực lượng Thứ Ba, Thiệu cần phải lấy Châu làm gương để dập tắt những yêu sách của phe Quốc gia về một liên hiệp, nhưng chỉ trích quốc tế gay gắt sau đó đã làm Tổng thống cuối cùng tỉnh táo lại. Ông thú nhận với Bunker là “mình biết các khó khăn mà vụ án này sẽ gây ra cho ông ở hải ngoại nhưng ông lâm vào một tình thế khó khăn.” Ông phải vạch ra “một lằn ranh thận trọng giữa các hậu quả bất lợi ở Hoa Kỳ với các hậu quả tai hại ở trong nước … Nếu ông ta hành động do dự … dân chúng sẽ cật vấn về động lực của ông” và ngờ vực ông có cảm tình với Châu. Rồi Thiệu kể việc một tướng lĩnh đã nói với mình, “Chúng tôi nghi ngờ quyết tâm của anh sau khi anh đã có phản ứng quá chậm chạp chống lại Châu, nhưng giờ anh đã hành động , chúng tôi rất hài lòng. Chúng tôi không sợ một liên hiệp.” Thiệu có một lựa chọn: chịu đựng sự phê phán nặng nề của quốc tế hoặc đối mặt với một quân đội khiếp đãm trước liên hiệp. Ông chọn xoa dịu phe hậu thuẫn trong nước, bất kể các tai tiếng trên thế giới.

Sau khi tranh luận, Hạ viện không thể hội đủ số phiếu hai phần ba theo luật định để giải trừ quyền miễn trừ của ông. Phiếu bầu bị ngăn trở bởi một nhóm dân biểu người nam đứng đầu là Nguyễn Bá Cẩn, một người miền nam giàu có sau này sẽ trở thành chủ tịch Hạ viện và rồi thủ tướng cuối cùng của miền Nam. Ông đã xem xét hồ sơ của Châu và tin rằng lời cáo buộc của chính quyền, mặc dù chính xác về mặt kỹ thuật, nhưng không đủ để truy tố. Tuy nhiên, dưới sức ép từ các dân biểu thân chính quyền , Cẩn yêu cầu Châu trinh diện trước nhóm của mình. Ông sẽ hỏi Châu một câu hỏi: ông có thông báo cho viên chức chính quyền nào về cuộc gặp mặt với em mình không? Sau này Cẩn viết, “Tất cả chỉ cần đòi hỏi là Châu thề trên danh dự một sĩ quan và một dân biểu Quốc hội rằng mình phải trả lời sự thật.” Nếu ông ta nói có, họ sẽ bỏ phiếu chống lại việc tước bỏ quyền ông. Nếu nói không, thế thì phe Cẩn sẽ bỏ phiếu chống lại ông ta. Châu, dù biết rằng mình đang đối mặt với tù tội nếu bị tước quyền miễn trừ, vẫn không chịu nói dối. Ông nhìn nhận mình không đã thông báo cho bất kỳ viên chức chính quyền nào. Tính lương thiện của Châu gây ấn tượng với Cẩn. Ông viết rằng “lòng tôi tràn ngập niềm kính trọng vì tinh thần trách nhiệm và danh dự … của đồng sự tôi.” Sau đó Cẩn qua mặt Thiệu. Hạ viện bỏ phiếu tiếp tục xem xét bản cáo trạng nhưng từ chối tước bỏ quyền bất khả xâm phạm của Châu.

Thiệu phản ứng tệ hại. Trong một  bài diễn văn gửi đến dân chúng vào đầu tháng giêng 1970, ông xỉ vả “bọn phù thủy chính trị” trong hàng ngũ Quốc gia và những ai chủ trương một Lực lượng Thứ Ba. Sự trả đũa đến ngay lập tức. Vào ngày 16/1, Thượng Nghị sĩ Đôn tố cáo bộ máy hành pháp đã thất bại không thể giải quyết những vấn đề của xứ sở. Đồng thời, cánh tay chính trị của liên đoàn Trần Quốc Bửu rút khỏi MTDCXHQG của Thiệu, thực sự là giết chết nó. Tổng thống phản công dữ đội hơn. “Vì Cộng sản không còn mơ đến thắng lợi quân sự,” Thiệu nói trong thông điệp Tết hàng năm, chúng đang sử dụng những người Quốc gia “cam chịu trở thành tay sai cho chúng.” Chúng ta phải “cảnh giác trước bọn tay sai này … Chỉ có chúng ta mới tự đánh bại chúng ta.” Hòa bình, Thiệu tuyên bố, “chỉ đến qua sức mạnh của chính chúng ta.” Báo chí nước ngoài đồng loạt lên án những lời lẽ gay gắt của ông.

Dù bị Cẩn cản đường, Thiệu cuối cùng cũng được toại nguyện. Nguyễn Cao Thăng lại dấm dúi hối lộ Hạ viện, mà dư luận gọi là “nhờ  Trần Hưng Đạo giúp đỡ”, theo tên vị anh hùng dân tộc có chân dung được in trên tờ giấy bạc có mệnh giá cao nhất là 500 đồng. Vào đầu tháng 2, Hạ viện dỡ bỏ quyền miễn trừ của Châu khi có hai phần ba thành viên ký đơn thỉnh nguyện thay vì bỏ phiếu như thông lệ. Đó là nỗ lực cuối cùng của Thăng trong quốc hội. Ngay sau đó ông đi Pháp để chữa bệnh ung thư. Mặc dù Thiệu yêu cầu Tòa án Quân sự Lưu động xử Châu, Thượng viện lốp bi Tối cao Pháp viện để xét lại tính hợp hiến của bản thỉnh nguyện.

Châu bỏ trốn với một vài người bạn Mỹ cố thuyết phục ông chuồn khỏi xứ. Châu can đảm từ khước, và vào ngày 23/2 ông xuất hiện tại quốc hội. Ông không chịu ra khỏi tòa nhà quốc hội để dự phiên tòa. Hai ngày sau, Tòa án Quân sự xứ ông tội “phá hoại an ninh quốc gia” và kêu án 20 năm tù.

Ngày hôm sau, cảnh sát Saigon cưỡng chế Châu ra khỏi văn phòng của mình. Cảnh tượng hỗn loạn được loan đi khắp thế giới. Dù được luật sư biện hộ quyết liệt, với Châu hiện giờ đứng trước tòa, vào ngày 5/3, ông được xử lại, và bản án giảm xuống còn 10 năm. Mặc dù Châu đưa ra chứng cứ mình có tiếp xúc với người Mỹ, nhưng họ từ chối gặp ông, không muốn gây khó cho Thiệu.

Trần Văn Tuyên, lãnh tụ VNQDĐ là một trong các luật sư của Châu, rút ra kết luận so sánh không tâng bốc giữa Thiệu và Diệm. Tuyên nhận xét rằng “phiên tòa này là một bài kiểm tra về nền dân chủ của miền Nam, và nền dân chủ đã thua.”

Vào ngày 25/3, cái chân thứ ba của chính quyền miền Nam, Tối cao Pháp viện, cuối cùng cũng có một lập trường. Tôi phán quyết rằng bản thỉnh nguyện của quốc hội là vô giá trị. Một tháng sau, TCPV tuyên bố Toà án Quân sự Lưu động là vi hiến, rồi vào đầu tháng 5 phán quyết rằng Châu có thể chống án. Sau khi hành xử dè dặt trong năm đầu tiên, TCPV, như quốc hội, cũng bắt đầu thi hành trách nhiệm của mình như một ngành độc lập với hành pháp. Tuy nhiên, các ý kiến về luật pháp của TCPV vẫn còn bó hẹp vào việc trả lời các câu hỏi về hiến pháp mà không ra lệnh chấn chính bất kỳ hành động nào của chính quyền. Mặc dù Thiệu càu nhàu, ông sẽ đề nghị một điều luật mới để vá víu luật thuế và áp đặt lại Tòa án Quân sự Lưu động.

Vào ngày 31/10/1970, TCPV hủy án của Châu, nhưng còn dò dẫm thận trọng, không xuống lệnh thả. Khi các viên chức sứ quán Mỹ cật vấn Thủ tướng Khiêm về kế hoạch của Thiệu, Khiêm bày tỏ sự bực bội. Ông nói rằng ông không có “ảnh hưởng nào với Thiệu trong vấn đề này, và trong quá khứ khi ông đưa ra các ý kiến chống đối, ông bị lên án là theo đường lối mềm yếu.” Thiệu không chịu phóng thích Châu, và mặc dù vụ án dần phai nhạt trên các trang báo, hình ảnh của Thiệu ở nước ngoài đã tổn thất tệ hại. Ông đã xoa dịu được dân chúng trong nước hơn là các kẻ gièm pha quốc tế. Nhưng các cú đấm hủy hoại này đang tích tụ đúng vào lúc ông đang tìm kiếm số lượng lớn viện trợ Mỹ mới và  phát động chính sách xã hội quan trọng nhất của mình, cải cách ruộng đất.

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Vụ xử Châu đã qua, Thiệu quay sang các vấn đề cấp bách khác. Từ tháng 7 1969 ông đã quấy rầy quốc hội thúc giục thông qua luật cải cách ruộng đất của ông, một dự luật sẽ cách mạng hóa sở hữu tài sản ở miền Nam. Thiệu đã bảo với Bunker rằng “ông muốn được nhớ đến trong lịch sử Việt Nam như một người đã khởi đầu “công cuộc cải cách ruộng đất toàn diện. Nhiều người khác đã thử, kể cả Bảo Đại vào những năm đầu của thập niên 1950 và Ngô Đình Diệm. Không ai thành công. Để hiểu rõ bản chất biến đổi của chương trình cải cách ruộng đất của Thiệu, ta phải ôn lại ghi chép ảm đạm về các nỗ lực trước đây của Saigon.

Về lịch sử, số các điền chủ thực sự cực kỳ thấp. Vào những năm 1940, khoảng 1,000 gia đình sở hữu một số lượng lớn đất đai trong vùng đồng bằng Cửu Long. Người Pháp đã từng nắm giữ các dải đất to lớn, nhưng phần nhiều các điền chủ còn lại là người Việt, nhiều người trong số đó đã bám giữ những mảnh đất cò bay thẳng cánh ngay từ thời triều đại nhà Nguyễn và tiếp tục tận thời Pháp thuộc. Tiền thuê đất mà họ tính với tá điền đi từ trung bình đến cắt cổ. Các thương nhân người Hoa sau đó thu mua lúa rồi chở về các nhà máy xay lúa do người Hoa sở hữu ở Saigon, tại đó họ bán gạo đã xay để kiếm lợi nhuận kết sù. Nông dân thấp kém, bị kẹp giữa hai nhà độc quyền này, thường chỉ làm ngày nào xào bữa nấy.

Bảo Đại lần đầu tiên nỗ lực thực hiện điều chỉnh việc thuê đất, nhưng các cố gắng của ông chết yểu do chính quyền của ông chỉ kiểm soát hạn chế trong thời Chiến tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất. Vào tháng 10 1956, tầm nhìn ban đầu của Diệm về cải cách ruộng đất được gọi là Quy định 57. Sắc lệnh được thiết kế nhằm hạ giá thuê đất và hạn chế diện tích sở hữu không nhiều hơn 250 mẫu mỗi người. Chính quyền sẽ tịch thu những điện tích lớn từ các điền chủ giàu có hoặc tài sản của người Pháp rồi phân chia lại cho nông dân.

Tuy nhiên, tầm nhìn của ông lớn lao hơn một sự cải thiện kinh tế đơn thuần. Quan niệm của Diệm về phát triển nông thôn là nó phải cung cấp cả an ninh chống lại sự xâm lấn của Cộng quân và giáo dục nông dân chống lại sự dụ dỗ của chủ nghĩa Mác. Trong khi ông trân trọng viện trợ Mỹ, là một nhà lãnh đạo có niềm tự hào dân tộc ăn sâu, ông ra sức cắt giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ nước ngoài cho nhân dân mình bằng cách làm việc để xây dựng một xã hội mới dựa vào tinh thần tự lực cánh sinh. Diệm hy vọng rằng với sự hỗ trợ ban đầu của chính quyền, một tinh thần tự túc Việt Nam sẽ ló dạng từ tín ngưỡng cộng đồng mà ông nghĩ đã thấm nhuần vào giới nông dân trung bình. Ông muốn cách tân và tái tạo thế giới quan của nông dân bằng cách hòa nhập triết lý Nhân vị của nhà Ngô với các truyền thống làng quê và tập quán văn hóa. Ý tưởng ông xuất phát từ một khao khát khai phá một con đường giữa các cực kinh tế của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, con người vốn miễn cưỡng thay đổi, đặc biệt khi bị cưỡng bách thay vì được thuyết phục. Từ đó, quan điểm của Diệm bị đắm giữa bãi cạn của tính bướng bỉnh cá nhân, và ông trở thành một nhà cai trị trong một hàng dài các nhà cai trị đã ra sức áp đặt một tầm nhìn mới cho một tập thể dân chúng không sẵn lòng. Chỉ 100,000 gia đình từng nhận được quyền sở hữu cho ruộng đất của mình.

Khánh cũng đã bắt đầu cải cách ruộng đất, chủ yếu do sự thúc giục của Nguyễn Tôn Hoàn, lãnh tụ Đại Việt. Nỗ lực này cũng thất bại khi hai người nhanh chóng xuống dốc. Vào thời điểm Kỳ và Thiệu nắm quyền lãnh đạo vào tháng 6 1965, tình hình ở nông thôn quá khó khăn đến nỗi cải cách ruộng đất phải đợi cho đến khi tình hình an ninh được cải thiện. Mặc dù Kỳ thường nói về việc khởi động lại cuộc cải cách ruộng đất và phân phát một số quyền sở hữu, nỗ lực của ông cũng ở mức tối thiểu.

Tuy nhiên Thiệu nhìn việc cải cách ruộng đất như là Giai đoạn Hai trong mục tiêu của ông nhằm biến đổi cuộc sống của giới nông dân bần cùng và xây dựng tính hợp pháp cho nền cộng hòa của mình.

Giai đoạn Một là phục hồi uy quyền cho làng ấp và cải thiện an ninh địa phương qua Lực lượng Nhân dân Tự vệ. Việc thuê đất làm ruộng là kế sinh nhai phổ biến nhất ở miền Nam, và trình độ canh tác vẫn còn sơ khai và hầu hết là do gia đình chung tay. Bằng cách biến tá điền thành chủ đất, cải thiện việc sản xuất nông nghiệp qua cơ khí hóa, và đưa vào chất phụ gia canh tác như phân hóa học, thuốc trừ sâu, và lúa thần kỳ, Thiệu tìm cách phá vỡ chu kỳ khai thác và sức lao động nặng nhọc đã từng là biểu tượng các thời đại nông dân không có đất.

Hơn nữa, ông muốn tiếp tục mở rộng điện khí hóa nông thôn, chăm sóc y tế, và giáo dục để dắt nông thôn bước vào thế giới hiện đại. Tầm nhìn của ông là tạo ra một “xã hội sở hữu” bằng cách cung ứng cho nông dân một phương tiện sản xuất trong khi hun đúc tinh thần dân chủ và pháp trị, những ý tưởng sẽ đứng ra đối chọi công khai với lời hứa hẹn tập thể hóa của người Cộng sản.

Vào ngày 16/3/1970, quốc hội cuối cùng thông qua dự luật của Thiệu. Vào ngày 26/3, ông ký sắc luật trong một buổi lễ ở Cần Thơ, thủ phủ vùng đồng bằng. Từ lúc này, ông tuyên bố, ngày 26/3 sẽ là một ngày lễ quốc gia có tên Ngày Nông dân. Với một nét bút, Thiệu đã xoá bỏ những năm tháng làm ruộng thuê truyền thống cho một dân tộc mà kế sinh nhai gắn liền với đất đai. Nổi bật hơn, không giống như cải cách ruộng đất đẫm máu ở miền Bắc, với đấu tố công khai, các phiên tòa dàn dựng và sau đó hàng ngàn người bị hành hình, miền Nam hoàn thành chương trình của mình mà không người nào bị sát hại hoặc làm nhục công khai.

Được biết dưới tên Người Cày Có Ruộng (NCCR), sắc luật là đứa con tinh thần của Cao Văn Thân, tổng trưởng nông nghiệp và cải cách điền địa. Thân đã làm việc trên dự án này từ giữa năm 1968. Như Phạm Kim Ngọc, Thân không có nền tảng quyền lực nào khác hơn là sự ngưỡng mộ của Thiệu. Cùng với Ngọc và Hoàng Đức Nhã (người mà từ tháng 9 1969 đã được chỉ định làm thư ký báo chí và bí thư của Thiệu), Cao Văn Thân sẽ trở thành một trong ba nhà kỹ trị quan trọng nhất của Đệ Nhị Cộng Hòa và, lạ kỳ thay, được ít người biết nhất.

Một người trầm tĩnh, nhún nhường, ông sinh ngày 5/11/1932, ở Hóc Môn, một thị trấn nhỏ ngay bên ngoài Saigon. Ông nhận một nền giáo dục của Pháp và đồng thời học thêm tiếng Anh. Ông tham gia Quân đội Quốc gia Việt Nam và tốt nghiệp trường sĩ quan vào năm 1953. Ông trở thành bạn thân của Thiệu khi Bộ Tổng Tham mưu Liên quân cử ông đến Trường Võ bị Đà Lạt vào năm 1956 để giúp dịch thuật các tài liệu quân sự của Mỹ ra tiếng Việt. Sau vụ đảo chính Diệm, Thân rời quân đội và du học ở Hoa Kỳ. Ông nhận được bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Pittsburgh, sau đó trở về Saigon vào tháng 11 1967 khi Thiệu mời ông tham gia ban tham mưu của mình với vai trò phụ tá các vấn đề kinh tế. Sau nhiều tranh luận sôi nổi về cải cách ruộng đất, Thiệu cuối cùng giao ông công việc thiết kế và thi hành chương trình mới. Thân chấp nhận, nhưng ông bảo Thiệu hãy kiên nhẫn, để ông nghiên cứu vấn đề phức tạp này và tìm ra giải pháp tốt nhất. Thiệu đồng ý, và ngài tổng thống bỏ ngoài tai các đòi hỏi ồn ào bắt nhanh chóng thi hành cải cách ruộng đất.

Thân xem xét tất cả các kế hoạch của CQMN trước đây và đối chiếu chúng với các chương trình của Nhật, Hàn, và Đài Loan. Ông đặc biệt xem xét tỉ mỉ những nỗ lực cải cách ruộng đất của người Cộng sản vì ông muốn đánh bại MTGP tại trò chơi này.

Thân soạn bộ luật sao cho đơn giản. Bộ luật dài đúng 5 trang và chỉ có 22 điều khoản. Biết rằng mình sẽ đương đầu với sự chống đối ở quốc hội từ các địa chủ giàu có, ông âm thầm xin ngài chánh thẩm của Tối cao Pháp viện góp ý về pháp luật. Ông ta khẳng định rằng nó hợp hiến. NCCR sẽ phân phát 2.5 triệu mẫu đất miễn phí cho nông dân, biến cải xấp xỉ 600,000 gia đình từ người nông dân không tấc đất thành điền chủ trung lưu trong thời gian ba năm. Điều này biểu thị 60 phần trăm diện tích đất hiện đang cày cấy, vượt qua hẳn diện tích trong chương trình của các quốc gia khác, được thi hành chậm hơn nhiều và lại trong thời bình. Đa số các gia đình này sống trong vùng châu thổ, vựa lúa của miền Nam. Họ sống từ vụ mùa này đến vụ mùa khác, và địa chủ có thể đuổi cổ họ bất cứ lúc nào. Một phần lớn thu hoạch của họ được nộp cho điền chủ thay tiền thuê đất, và họ sống nhờ hoặc bán thu hoạch còn lại để sinh nhai. Mặc dù Mặt trận đã bãi bỏ tiền thuê đất trong những vùng đó họ kiểm soát, họ lại “đánh thuế” các người lĩnh canh này thường cao không kém các điền chủ. 

Theo luật, những tá điền hiện đang cày ruộng thuê có quyền ưu tiên, tiếp theo là các gia đình có người thân hy sinh trong nhiệm vụ hoặc các cựu quân nhân tàn phế.

Để mở rộng quyền sở hữu đất, Thân giảm diện tích mỗi nông dân vùng châu thổ nhận được từ 250 mẫu thời Diệm xuống còn 7 mẫu, hạn chế việc bán lại đất trong vòng 15 năm. Trong khu vực miền trung và bắc đất đai khan hiếm, nông dân chỉ được 2.5 mẫu. Thay vì chính quyền tịch thu đất trắng trợn, điền chủ sẽ được bồi thường bằng 20 phần trăm tiền mặt và phần còn lại trả bằng trái khoán chính phủ với lãi suất 10 phần trăm trong thời hạn 8 năm. Số tiền trả cho điền chủ mỗi mẫu bằng 2.5 lần sản lượng lúa thu hoạch hàng năm dựa trên lượng trung bình của 5 vụ mùa vừa qua. CQMN sẽ thanh toán hóa đơn, ước tính lên đến 400 triệu đô la. Chi phí có tiềm năng phá sản ngân sách, vậy mà trong khi Washington đã hối thúc Saigon nhiều năm trời hãy thi hành cải cách ruộng đất, người Mỹ chỉ hỗ trợ 40 triệu đô la dưới dạng tiền CIP bổ sung trong ba năm. Sứ quán sợ bị lên án là “mua chuộc” điền chủ. Với sự thận trọng, Thân không lập ra một bộ phận hành chính khổng lồ của Saigon để điều hành chương trình NCCR. Như Thiệu, ông cũng tin vào sự phân tán quyền lực và giao quyền hành về cho lãnh đạo làng xã. Việc đầu tiên là phăn ranh đất ruộng và khẳng định nhân thân của nông dân thực sự làm ruộng. Ông giao cho các cán bộ PTNT đúc kết việc phân ranh điền thổ bằng cách sử dụng các không ảnh được Mỹ cung cấp thay vì các bảng vẽ trong hồ sơ làng đã quá xưa cũ. Một khi đã hoàn tất, ông dùng máy tính của cơ quan USAID để in ra các giấy xác nhận quyền sở hữu đất đồng thời tạo ra cơ sở dữ liệu điền chủ quốc gia. Trước đây, văn tự thường được viết tay thật đẹp, và người viết giấy chỉ có thể làm được hai bản một ngày. Bằng cách in đại trà giấy chứng nhận, Thân có thể cung cấp hàng ngàn văn tự một ngày, đẩy nhanh tiến trình chuyển giao đất. Sau đó ông giao trách nhiệm cho Ủy ban Phân phối Đất Làng vừa mới thành lập, cầm đầu là trưởng làng, để làm trọng tài khi co tranh chấp và khiếu nại nhỏ xảy ra. Uỷ ban ghi tên các điền chủ mới vào danh sách phải đóng thuế làng, và chủ nhân mới sẽ được miễn thuế một năm. Để tránh các địa chủ làm tắc nghẽn hệ thống toà án bằng việc kiện tụng, ông lập ra Toà án Đất đai Đặc biệt để thụ lý các tranh chấp lớn về đất đai.

Quyết tâm phá vỡ chương trình nông thôn của MTGP và thu hút nông dân phí chính trị về với chính quyền, một chiến lược chính trị khéo léo cũng làm nổi bật kế hoạch của Thân. Ông cho phép người nông dân giữ lại đất mà MTGP đã cấp cho họ, nhưng ông bảo đảm quyền sở hữu của họ bằng cách cấp họ văn tự mới cho lô đất của mình. Đây là điều mà MTGP đã không chịu làm vì học thuyết Cộng sản quy định rằng đất đai là sở hữu của toàn dân. Ngay cái tên giản dị của chương trình cũng do ông suy nghĩ tìm ra sao cho người nông dân ít học có thể hiểu được dễ dàng. MTGP gọi chương trình họ là Cải Cách Ruộng Đất. CQMN trước đây gọi tên chương trình là Cải Cách Điền Địa. Hai từ cuối này gốc Hán tự, nghe có vẻ quá hình thức. Thân mới nghĩ ra tên Người Cày Có Ruộng cho chương trình của mình.

Vào tháng 6, Thiệu ban hành sắc lệnh vạch ra thủ tục để các tá điền có thể làm đơn nhận đất. Thể hiện một tính đồng bộ hành chính ít người nghĩ chính quyền có khả năng hoàn thành, các văn tự đất đầu tiên đã sẵn sàng vào cuối tháng 8 1970. Tiền bồi thường đầu tiên cho địa chủ được thực hiện vào tháng 12 1970. Cả hai người đều về nông thôn để trao văn tự đất. Thân cố tình lui lại phía sau để Thiệu nhận hết công trạng về mình, ông còn muốn Thiệu đứng trước và ngay trung tâm để các tỉnh trưởng và các chỉ huy quân sự nắm được điểm chính: tổng thống quan tâm sâu sắc đến chương trình này, được người hậu thuẫn hoàn toàn, các ông khéo mà liệu hồn.

Tuy nhiên, NCCR chỉ là bước một trong chương trình cải tiến nông thôn. Cơ khí hóa cũng rất trọng yếu. Nhưng các nông dân lấy tiền ở đâu để mua được máy bơm nước hoặc máy đập lúa? Cùng với gạo thần kỳ và quyến sở hữu đất, cung cấp tín dụng để mua sắm công cụ thay thế sức người hoặc trâu bò là chìa khóa mở ra tiềm năng to lớn của đồng bằng miền tây. Để chuẩn bị cho việc cải cách ruộng đất, Thân muốn Ngân hàng Phát triển Nông thôn (NHPTNT) mở các chi nhánh tại vùng châu thổ để cho vay tín dụng và mở các dịch vụ ngân hàng cho dân chúng nông thôn. Hiện giờ chưa có sự hiện diện ngân hàng thương mại ở cấp địa phương nào khác hơn là bọn cho vay người Hoa hoặc Hợp tác xã Nông nghiệp. Mỗi nơi đều chỉ cho nông dân vay với lãi suất cao do nguy cơ thất thu sản lượng lúa  lớn hàng năm. NHPTNT khựng lại; vì thế vào tháng giêng 1970, Thân sa thải chủ tịch và bổ nhiệm phó tổng trưởng kinh tế, Nguyễn Đặng Hải, làm chủ tịch mới. Thân muốn phá tan bọn cho vay cá mập hành hạ nông dân, nhưng ông cũng có động cơ chính trị. Theo Hải, NHPTNT sẽ trở thành “một công cụ của chính quyền miền Nam nhằm xúc tiến việc sản xuất nông nghiệp, chống lại nghèo đói, và cải thiện cuộc sống nông dân, nhờ đó lôi kéo được họ về với chính quyền Quốc gia trong cuộc chiến chống lại Cộng sản.” Vì ngân hàng không phải là một “định chế tài chính nhằm mục đích tạo lợi nhuận”, chúng ta có thể “cho vay mềm với lãi suất cực thấp.”

Thân đã tạo ra một hệ thống tự củng cố. Tài trợ cho các ngân hàng nông thôn mới này đến từ một mạo hiểm liên kết giữa chính quyền và nhà đầu tư tư nhân. Nếu câc địa chủ đồng ý tạo lập một ngân hàng với tiền mặt và trái phiếu họ đã nhận được khi giao đất, Thân sẽ hùn vào quỹ tương ứng của nhà nước. CQMN đã đền bù cho địa chủ vì đã truất hữu đất đai của họ và sau đó thành lập một hệ thống ngân hàng nơi các địa chủ có thể gửi tiền mình, và ngân hàng lấy tiền đó cho nông dân vay.

Các ngân hàng nông thôn cung cấp các khoản vay nhỏ cho nông dân mua giống lúa thần kỳ, máy bơm, hoặc các công cụ khác. 36 năm trước khi Muhammad Yunus và Ngăn hàng Grameen ở Bangladesh nhận được giải Nobel Hoà Bình 2006 vì hoạt động cho vay nhỏ, Thân và các ngân hàng nông thôn cũng làm điều chính xác tương tự. Theo thời gian, 86 ngân hàng nông thôn được thành lập, hầu hết trong vùng châu thổ. Hải tuyên bố rằng số người vay tăng gấp bốn từ 1970 đến 1974 và rằng số tiền cho vay nhảy vọt từ 6 tỉ đồng trong 1970 đến 63 tỉ vào cuối 1974. Để bảo đảm thành công, và hạn chế tham nhũng hoặc ăn cắp, cả Thân và Hải liên tục liều lĩnh đi sâu vào vùng quê, thăm các ngân hàng và tổ chức các buổi lễ chuyển giao quyền sở hữu đất.

 Nếu tạo ra các sở hữu chủ đất ruộng và cung cấp tín dụng mua sắm nông cụ tạo thành nền tảng để phát triển xã hội nông nghiệp miền Nam và xây dựng sức hậu thuẫn cho chính quyền Thiệu, thì bước tiếp theo là các phương pháp và sản phẩm nông nghiệp. Lúa thần kỳ, giờ được gọi là “Lúa Honda” vì nhờ nó mà nông dân có dư dả để mua sắm xe máy Honda nhập khẩu, là chương trình chủ yếu. Các giống lúa và thời tiết địa phương chỉ sản xuất được một mùa vụ mỗi năm với năng suất khoảng 2 tấn lúa mỗi mẫu. Lúa thần kỳ, thuốc trừ sâu, máy bom, và phân hóa học tăng gấp đôi sản lượng và khiến nông dân có thể trồng 3 vụ mỗi năm. Các nông dân trước đây thu hoạch hai tấn một vụ mỗi năm giờ thu được bốn tấn mỗi vụ trong số hai hay ba vụ. Sản lượng gạo tăng 11 phần trăm trong năm 1970 so với năm 1969. Không còn phải trả tiền thuê đất hoặc trả lãi suất cho vay cao ngất, doanh thu của nông dân tăng lên một cách ấn tượng.

Việc cải tiến giống vật nuôi là một chìa khóa khác. Sau gạo, thịt heo là lương thực chủ lực trong khẩu phần người Việt. Tuy nhiên, các nông dân nuôi gà và heo trên cơ sở tiêu dùng, và tổn thất cao do bệnh dịch. Năm 1967, Bộ Nông nghiệp bắt đầu  Chương trình Bổ sung Chất Đạm để cải thiện dinh dưỡng cho người Việt. Chương trình chính quyền mới này do Bác sĩ Trần Quang Minh cầm đầu, một trong hai bác sĩ thú y đầu tiên được đào tạo tại Hoa Kỳ. Minh sinh ra tại cứ địa Hoà Hảo của Tỉnh Châu Đốc trong vùng châu thổ, và ông đã học cách nuôi gà  trên trang trại nuôi gà to lớn của cha mình. Năm 1967, Minh được bố nhiệm cầm đầu chương trình nhằm gia tăng việc sản xuất chất đạm cho miền Nam. Ông nhập các giống ngoại lớn con nào heo, vịt, và gà để thử nghiệm và tìm ra giống nào thích hợp với khí hậu nhiệt đới Việt Nam. Ông cũng đích thân đào tạo hàng trăm cán bộ nông nghiệp, những người sẽ truyền lại cho nông dân những kỹ thuật chăn nuôi mới. Quan trọng hơn, Minh phát triển mạnh số thuốc chủng ngừa gia súc sản xuất trong nước, và đến năm 1969, sản lượng gà và heo đã tăng vọt. Như lúa gạo thần kỳ, các giống Minh chọn làm gia tăng đáng kể lượng thịt và trứng ra thị trường. Năm 1969, thịt heo là mặt hàng lương thực duy nhất có giá rẻ hon năm 1968.

Gia súc không chỉ là những cải tiến duy nhất. Các đội kỹ thuật gia Đài Loan được đưa vào để dạy cách sản xuất rau củ. Cá cũng phát triển nhanh chóng. Hơn nữa, vào giữa năm 1970, ba vùng thí điểm điện lực nông thôn đã được hoàn thành, và đất nước bắt đầu khuếch trương năng lượng điện. Vào giữa năm 1971, toàn bộ các chương trình này đã cách mạng về mặt kinh tế đời sống nông dân. Sứ quán ở Saigon đã đến thăm làng Mỹ Thuận ở Tỉnh Vĩnh Long để xem xét những biến đổi này. Làng này vào năm 1960 đã được một đội Mỹ đến nghiên cứu, họ thấy ở đây “một tình hình kinh tế trong đó các lối canh tác chưa duoc phát triển cao và mức sống rất thấp.” Sứ quán muốn xem xét sau 11 năm thay đổi ra sao. Vào tháng 7 1971,

họ tìm thấy với diện tích canh tác it hơn, dân cư trong làng phồn thịnh và chứng cứ vật chất của sự đổi thay hiển hiện khắp mọi nơi … Lối đi trong lang giờ đã tráng xi măng, cầu khỉ đã được thay bằng cầu đúc bê tông. Đa số nhà giờ đã lợp ngói hoặc lợp tôn và nhiều nhà giờ đã được xây gạch. Dân chúng đi lại bằng Honda, mọi thuyền tam bản đều có gắn máy đuôi tôm, gần như nhà nào cũng có máy phát thanh … Sự thay đổi xảy ra đã rất ấn tượng và rõ ràng được người dân nhìn nhận … Ông trưởng làng già làm từ năm 1960 cho biết ‘giờ đây hầu như mọi người sống giống các địa chủ ngày xưa.’ 

 Báo cáo của sứ quán liệt kê một tá thay đổi vật chất, tất cả đều nhờ có “một cuộc cách mạng về kỹ thuật nông nghiệp” và phá vỡ “vòng lẩn quẩn vay nợ để làm ruộng rồi thu hoạch để trả nợ.” Hàng triệu nông dân miền Nam có cuộc sống tốt đẹp hơn nhờ ơn của Cao Văn Thân, người đã biến đổi tầm nhìn của Thiệu về một xã hội có sở hữu thành hiện thực.

BẦU CỬ THƯỢNG VIỆN VÀ SỰ CHỐNG ĐỐI NỔI LÊN

Hiến pháp quy định rằng phân nửa Thượng viện sẽ được bầu lại ba năm sau kỳ bầu cử 1967. 16 khối mỗi khối 10 ứng cử viên đang chạy đua tranh cử, nhưng chỉ có ba khối đầu sẽ thắng. Năm khối thuộc Công giáo và bốn khối Phật giáo, kể cả một khối được phe Ấn Quang hậu thuẫn. Khí thế chống chính quyền của chùa chiền đã nguội lạnh nhiều vào năm 1969 sau khi các ngôi mô tập thể đã được phát hiện gần Huế. Vài nạn nhân được nhận diện đã đóng vai trò tích cực trong Phong trào Đấu tranh 1966, và khi đài phát thanh Hà Nội nhìn nhận rằng “bọn tay sai ác ôn mắc nợ máu  … đã bị lực lượng vũ trang miền nam tiêu diệt,” Ấn Quang bị tác động sâu sắc.

Không còn tin tưởng rằng “quyền lực nhân dân” của mình có thể lấy được chút ít cảm tình từ Cộng sản, Ấn Quang giờ tìm kiếm quyền lực theo phong cách cũ: tranh cử vào chính quyền. Với việc hô hào tẩy chay thất bại trước đây, chùa chiền đã quyết định chường mặt ra từ chốn mờ mịt buồn thảm và hồi sinh với âm thanh ồn ào chói tai quen thuộc. Sự lột xác đau đớn của Ấn Quang từ phe đứng ngoài kích động đến đại diện chính quyền tiềm năng là sự chuyển hướng đáng ngạc nhiên trong nồi lẩu chính trị miền Nam. Thượng Nghị sĩ Trần Văn Đôn, trong khi tìm cách cầu cạnh sự hậu thuẫn của Ấn Quang cho một chiến dịch tranh cử mới, cũng đến gặp Thiệu vào ngày 13/6, lần gặp đầu tiên sau nhiều tháng trời. Thiệu, biết được Đôn là một trong các thượng nghị sĩ xui xẻo bị bầu lại do bắt thăm, hiểu Đôn gặp mình chỉ vì có rắc rối về chính trị. “Những phát biểu của Đôn về trung lập và hòa bình đã khiến ông đánh mất sự ủng hộ trong giới quân đội và cánh hữu.” Thiệu nghĩ rằng Đôn sẽ không ra tranh cử, và ông đúng. Vào ngày 15/7, Đôn loan báo mình không tái ứng cử. Người đứng đầu trong bảng Ấn Quang là Vũ Văn Mẫu, ngoại trưởng trước đây của Diệm và đã từ chức vì phản đối vụ bố ráp chùa tháng 8 1963.

Luật bầu cử Thượng viện quy định chiến dịch tranh cử bắt đầu vào đầu tháng 8, chỉ dành thời gian hạn chế cho việc tranh luận các vấn đề. Số cử tri đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử 30/8 là 65 phần trăm, và hành động khủng bố của MTGP cũng hiếm. Giống như nền chính trị Mỹ, nơi các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ thường chứng kiến sự phản kháng đối với tổng thống, nhất là trong thời kinh tế khó khăn, khối đối lập của Mẫu thắng với số phiếu cao nhất. Hai khối Công giáo do cựu tướng lĩnh Huỳnh Văn Cao và Thượng Nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền đứng thứ 2 và 3. Bảng Nguyễn Ngọc Huy của Phong trào Quốc gia Cấp Tiến cầm đầu đứng thứ 5, chính đảng duy nhất có được một mức độ hậu thuẫn quốc gia. Dù Mẫu về nhất, nhưng các bảng thân chính quyền thắng được khoảng phân nửa tổng phiếu bầu, và phe đối lập và phe độc lập mỗi phe hốt một phần tư số phiếu.

Có một ít lời tố cáo đây đó có gian lận bầu cử. Hoàng Đức Nhã lưu ý rằng “dân chúng lúc nào cũng vu cho chính quyền nhúng tay vào” nhưng nếu có, “thì chinh quyền làm quá tệ vì khối Mẫu đứng đầu trên khắp nước.” Phân tích kiểu dạng bầu chọn cho cuộc bầu cử tổng thống 1971 sắp đến, Nhã cho rằng “cơ sở chính trị và do đó cơ sở bầu chọn ở Việt Nam thực sự không theo đảng mà theo cá nhân và rồi tôn giáo và phe phái sắc tộc.” Điều đó ắt hẳn chứng tỏ là đúng trong phiếu bầu Thượng viện. Tôn giáo đã nổi lên trở lại như là nhân tố chủ chốt do chu kỳ bầu cử ngắn. Nhưng nếu Thiệu ra tranh cử tổng thống năm tới 1971, ông “ắt sẽ trông cậy phần lớn vào dân quê. Họ bày giờ biết mặt tổng thống, và hơn nữa họ tin mình được khấm khá hơn với cuộc sống bảo đảm hơn là nhờ những việc tốt mà chinh quyền ông đã làm.” Trong khi Nhã đang nhìn về tương lai, cuộc bầu cử Thượng viện đã âm thầm tạo ra một kết quả quan trọng trong đời sống chính trị miền Nam: Ấn Quang giờ sẽ phải thực hiện sự chống đối của mình trong quốc hội thay vì trên đường phố.

MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KINH TẾ

Thảo luận về những vấn đề kinh tế khô khan thường tẻ nhạt so với các chuyện đụng độ rợn tóc gáy trên chiến trường hoặc đấu trí ngoại giao căng thẳng. Vậy mà trong khi vũ khí tạo nên thắng lợi, “tiền bạc là hệ thần kinh của cuộc chiến.” Kế hoạch của Thiệu nhằm mở rộng QLVNCH để thay thế binh sĩ Mỹ có một gót chân  Achilles: ai sẽ trả tiền trang bị, huấn luyện, và nuôi ăn tất cả số binh lính mới này? In tiền vô tội vạ sẽ dẫn đến lạm phát, và việc tăng thình lình giá sinh hoạt từ việc tăng thuế khắc khổ tháng 10 đã đánh vào hàng ngũ QLVNCH cấp thấp đặc biệt nặng nề. Lương họ vốn chỉ có thể vừa đủ nuôi sống gia đình giờ đây tình thế trở nên căng thẳng. Nhận biết được nỗi bất mãn đang tăng cao, vào ngày 12/1/1970, Thiệu yêu cầu người Mỹ bảo đảm chi trả khẩu phần lương thực và xây dựng trại gia binh cho những tân binh vừa đăng lính. Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird dự kiến sẽ đến thăm Saigon vào giữa tháng 2 để đánh giá tình hình Việt Nam hóa. Sau khi thấy được “sự lạc quan thận trọng” trong số các chỉ huy Mỹ về tình trạng cải thiện của QLVNCH, Laird thông báo với Nixon rằng “việc hạn chế lớn sự can thiệp của Mỹ giờ đây có tính kinh tế và việc tài trợ của Mỹ bị cắt giảm trong thực tế và trong triển vọng vì an ninh quốc gia nhất định đang thu hẹp biên độ hành quân của chúng ta ở Đông Nam Á. Hiểu rõ vấn đề đó là điều sống còn đối với việc phát triển tiếp tục trong Việt Nam hóa.”

Phạm Kim Ngọc tuyệt đối nhất trí, và trong khi ông quyết tâm cuối cùng cũng sẽ dứt miền Nam ra khỏi sự bố thí của người Mỹ, nhưng hiện giờ thì ông cần nó một cách tuyệt vọng. Xét mức độ phản chiến và phản đối trong quốc hội dâng cao đối với viện trợ cho đất nước mình, ông biết rằng nền cộng hòa không thể mãi mãi sống nhờ vào tiền Mỹ. Sau khi điều chỉnh lạm phát, hàng nhập khẩu Mỹ năm 1969 đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ khi chương trình viện trợ bắt đầu vào năm 1954.

Quan ngại Tối cao Pháp viện sẽ vô hiệu hóa sắc lệnh thuế khắc khổ, vào ngày 3/4/1970, Ngọc đề xuất Thiệu đưa ra luật mới để chuyển đối chương trình khắc khổ từ hoạt động của hành pháp thành luật. Tình trạng thâm hụt ngân sách mãn tính ngăn cản Thiệu có thể tạo ra các chương trình xã hội để có thể tự túc được. Để đạt được độc lập kinh tế, Ngọc cần cải thiện tỉ lệ tiết kiệm nội địa, tăng giá sản xuất, và thêm doanh thu thuế. Ông hy vọng đẩy doanh thu năm 1970 thêm 40 tỉ đồng, nhưng thậm chí số tiền đó chỉ đủ trang trải một phần mức chi tiêu tăng vọt cho quân số bổ sung.

Hoa Kỳ chủ yếu tài trợ ngân sách quốc phòng vi miền Nam không thể hậu thuẫn tài chính cho bộ máy quân sự khổng lồ. Gần 73 phần trăm ngân sách quốc phòng đi vào lương và phụ cấp, và điều duy nhất khiến nó không chìm lĩm là nhờ Ngũ Giác Đài thu mua số lượng lớn tiền đồng VN để sử dụng trong xứ với tỉ lệ hối đoái thấp giả tạo. Tuy nhiên dòng tiền ào ạt đó sẽ sớm biến thành nhỏ giọt khi binh lính Mỹ rút đi và sự thịnh nộ của quốc hội Hoa Kỳ về tỉ lệ hối đoái. Với chi phí quân sự gia tăng và viện trợ Mỹ giảm sút, Việt Nam Cộng Hòa đang ở vào khúc ngoặt tải chính: nó phải cắt giảm chi tiêu quốc phòng hoặc tăng thuế. Nói khác đi, Saigon đang đối mặt với cơn lốc xoáy lạm phát mà Ngọc không thể trị được, một con lốc xoáy có thể dễ dàng hủy diệt tính hợp pháp của chính quyền cũng như để thua trận chiến chủ yếu.

Người Mỹ muốn phá giá đồng bạc, mà cả Thiệu lẫn Ngọc đều bác bỏ vì giá cả sẽ lập tức tăng vọt khủng khiếp, gây ra hỗn loạn và làm sụp đổ chính quyền. Thay vào đấy, ban tham mưu pháp lý của Thiệu thiết kế Luật Chương trình nhằm ban cho tổng thống các quyền hành sắc lệnh trong 5 tháng để giải quyết việc đánh thuế, tỉ lệ hối đoái, và ngân sách. Tuy nhiên, thậm chí nếu quốc hội chấp nhận, tình hình cũng rất u ám. Chính quyền đang trố mắt vào khoản thâm hụt tối thiểu là  53 tỉ đồng trong năm 1970. Giá bán lẻ ở Saigon đã tăng 30 phần trăm kể từ sắc lệnh tháng 10 1969, niềm tin vào đồng bạc lúc nào cũng thấp, và dự trữ ngoại hối đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm 1966. CIA rung chuông báo động: “hiệu quả tích lũy của nạn lạm phát và thất bại của chính quyền trong việc đưa ra những biện pháp chống lạm pháp có tính quyết định đã khiến các vấn đề kinh tế lần đầu tiên trở thành một nhân tố thực sự trong sự ổn định chính trị.”

Một cuộc khảo sát công luận ở Saigon vào đầu tháng 5 1970 ghi nhận rằng “63 phần trăm công chúng và 84 phần trăm người có trình độ cao đẳng xem những vấn đề kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đang đối mặt.” Sức mua của binh lính và công chức giờ giảm còn 50 phần trăm so với mức 1967 dù được tăng lương vào 1/7/1969. Xét rằng lương công chức ngốn phân nửa ngân sách CQMN nên việc tăng lương tháng 7 làm phình chi phí, và đến lượt lại làm tăng mức lạm phát và đánh bạt việc tăng lương. Kết quả, các tín đồn lan truyền rằng đồng bạc sẽ bị phá giá, gây tỉ lệ hối đoái thị trường chợ đen nóng lên. Ngọc nhớ là mình “không có sự lựa chọn nào khác trừ phải nhìn vào một đại tu toàn bộ cấu trúc kinh tế và tài chính. Đã từ lâu chúng ta đã bước đi quanh quẩn các điều cấm kỵ của sự phá giá và đánh thuế … Chúng ta chỉ sử dụng các biện pháp chắp vá và lẩn tránh các quyết định táo bạo phá giá tiền tệ để phản ánh các điều kiện của thị trường, chấp nhận một cấu trúc lãi suất hiện thực để đơn giản hóa mã thuế. “

Ngọc cũng không đơn giản chỉ bắt chước các kế hoạch kinh tế của các đồng minh Á châu. Nguyễn Đức Cường, phó của Ngọc và là người sẽ thay thế ông làm tổng trưởng kinh tế vào năm 1973, phát biểu rằng trong khi họ muốn bắt chước các thành tựu có nền tảng thị trường của các đồng minh Á châu của mình, “chúng ta không đi theo hình mẫu nào. Chúng ta đã có các cuộc gặp gỡ cấp bộ trưởng mỗi năm một lần với các phái đoàn Đài Loan, hoặc Hàn Quốc, hoặc Singapore để trao đổi ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm, và thảo luận các dự án cùng quan tâm. Tình hình của họ khác xa với chúng ta, họ thời bình còn ta thời chiến, thành ra chúng ta không học hỏi được gì nhiều trừ ra nỗ lực hoàn thành những gì họ đã hoàn thành, đặc biệt Nam Hàn.”

Cộng tác với tổng trưởng tài chính, Ngọc tạo ra một chiến lược giải cứu kinh tế miền Nam. Vào ngày 28/4, ông trình kế hoạch kinh tế của mình lên Thiệu. Nếu quốc hội thông qua Luật Chương trình – điều rất khó khăn vì họ đã bác bỏ một biện pháp tương tự vào tháng 3 1968 – ông đề nghị những thay đổi triệt để. Ngọc đề nghị thu thuế tăng gấp đôi, tăng lãi suất lên 24 phần trăm để thu hút tiền mặt thặng dư, và cải cách tỉ lệ hối đoái. Ông muốn phát động một thị trường song hành cách tân sẽ đổi 275 ăn 1 đô la cho mọi giao dịch ngoại tệ liên quan đến người Mỹ đóng tại Việt Nam. Ngọc đề xuất “một kế hoạch năng động nhằm tăng việc thu thuế nội địa bằng cách thiết lập lại trung tâm chính sách thuế xoay quanh thuế nội địa và thuế trực tiếp thay vì thuế nhập khẩu và gián tiếp.” Để chi trả cho Việt Nam hóa, Ngọc muốn “đánh thuế lợi tức tuyệt đối trên mọi nhóm lợi tức … từ đô thị đến nông thôn … bởi vì toàn bộ dân chúng phải chia sẻ gánh nặng đóng góp việc mang an ninh lại cho tất cả.” Nếu đánh thuế mọi người chứng tỏ là bất khả, điều đó chỉ còn lại “duy nhất một biện pháp khả dĩ – giảm chi tiêu,” nghĩa là giảm QLVNCH ngay lúc Thiệu đang hô hào mở rộng quân đội để thay thế binh sĩ Mỹ.

Ngọc nhớ là trong buổi họp của mình với tổng thống để thảo luận kế hoạch của ông, Thiệu lặng lẽ duyệt lại bản ghi nhớ của mình, “gạch viết chì đỏ chỗ này chỗ kia. Ông đọc báo cáo mật của tôi trước mặt tôi trong vòng 15 phút. Sau đó ông bảo tôi lui ra cầm theo báo cáo, mà không bình phẩm một lời nào.” Thiệu, chưa hề là một người sôi nỗi nhiệt tình, lạ là dù không nói gì với Ngọc trong buổi họp quyết định này, ông lại kể với Bunker rằng Ngọc đã tính kỹ càng những biện pháp và đưa ra lộ trình để giải quyết chúng. Thiệu dự tính yêu cầu Hạ viện duyệt xét Luật Chương trình. Thủ tướng Khiêm bảo với Bunker rằng “chúng tôi đã học được một bài học (với sắc lệnh khắc khổ) và không muốn lặp lại lỗi lầm đó.”

Vào ngày 20/5, Thiệu gửi đề xuất của mình đến quốc hội. Để xoa dịu quốc hội, Thiệu cam kết thông báo cho quốc hội “ít nhất trước 24 giờ ” về bất kỳ sắc lệnh nào ông đưa ra nếu được ban cho quyền hạn khẩn cấp, và ông hứa không sắc lệnh nào sẽ “định ra các sắc thuế mới mà chỉ có thể điều chỉnh mức thuế cơ bản và các thủ tục thu các thuế hiện có đã được Quốc hội phê chuẩn.” Ngọc rất phấn khích; Thiệu đã “vượt qua dòng sông Rubicon và giờ đây chấp nhận các biện pháp cải cách.”

Các dân biểu đối lập, tuy nhiên, quyết liệt chống lại việc trao cho Thiệu quyền hạn ra sắc lệnh, và khi phát ngôn nhân Hạ viện kêu gọi vào ngày 21/6 bỏ phiếu chốt lại dự luật của Ngọc, các dân biểu thuộc phe thân và chống chính quyền gần như là choảng nhau ngay trên sàn nhà quốc hội. Một dân biểu ném trứng thối vào phát ngôn nhân. Dù có các trò hề, vào ngày 24/6, dự luật được thông qua với chỉ các thay đổi nhỏ, nhưng 25 dân biểu đối lập tẩy chay cuộc bỏ phiếu, và 40 dân biểu khác không bỏ phiếu hoặc vắng mặt.

Thượng viện cho thấy là khó khăn hơn. Thượng Nghị sĩ đặc trách Uỷ ban Tài chính muốn Ngọc bị sa thải để đổi lấy sự hậu thuẫn của mình. Thiệu từ chối thậm chí cho dù kế hoạch của Ngọc bắt mọi người phải đóng thuế để lấp đầy khoản thiếu hụt ngân sách và trang trải gánh nặng quốc phòng, nói không quá đáng, chẳng khác gì thuốc nổ chính trị. Không có người dân nào chào đón việc tăng thuế bất ngờ, bất kể có tình huống gì, nhất là tại xứ mà tình trạng trốn thuế và nghèo khổ lan tràn như bệnh dịch. Với phân nửa Thượng viện được bầu cử lại, nhiều người thậm chí không ngó mắt đến nội dung dự luật, còn Thượng Nghị sĩ đặc trách Uỷ ban Tài chính thì không lay chuyển.

Xét việc chính quyền Nixon muốn CQMN tiến hành phá giá đồng bạc, và việc quốc hội chán nản không muốn viện trợ cho miền Nam, và mặc dù Laird trách cứ về viện trợ kinh tế, đáp ứng của Hoa Kỳ với yêu cầu xin viện trợ của Thiệu cho binh sĩ mình vào tháng giêng vẫn chậm trễ. Vào ngày ⅘, Thiệu viết một bức thư gửi Nixon một lần nữa khẩn khoản xin xét lại trường hợp của mình, và khi Đại sứ Bùi Diễm đôn đốc vào ngày 14/5, ông được báo là “Các đề nghị của CQMN không thể được cứu xét độc lập với các vấn đề kinh tế khác mà CQMN được yêu cầu phải hành động” Rõ ràng, Hoa Kỳ đang sử dụng viện trợ như đòn bẩy để buộc Saigon thi hành các cải cách kinh tế, nói trắng ra là phá giá đồng bạc. Vào cuối tháng 6, ủy ban quốc hội giám sát chương trình viện trợ Mỹ phát đi một thông báo yêu cầu CQMN phá giá đồng bạc và điều chỉnh lại lương bổng và kiểm soát giá.

Một lần nữa Ngọc từ chối và nói rằng “Hoa Kỳ phải chọn hoặc là họ muốn miền Nam thay thế binh lính Mỹ hoặc tài nguyên Hoa Kỳ. Tôi đã làm rõ là chúng tôi không thể làm cả hai việc.” Trong khi nhận thức được sự viện trợ hào phóng của  Hoa Kỳ, Ngọc than thở, “Có ích gì khi cho binh lính các khẩu M-16 trong lúc họ suy dinh dưỡng?”

Mặc dù tìm kiếm những cải cách kinh tế của CQMN và đối mặt với việc quốc hội chống đối viện trợ mạnh mẽ, Nixon càng ngày càng sợ rằng những điều kiện kinh tế ngặt nghèo của QLVNCH có thể khiến việc Việt Nam hóa lâm nguỵ. Kết quả là, vào đầu tháng 7, ông gửi thư đến Thiệu đồng ý cung cấp 100 triệu đô la để xây dựng 20,000 đơn vị phòng trọ trong trại gia binh mỗi năm trong 5 năm và cung cấp hàng triệu khẩu phần đóng hộp cho binh sĩ miền Nam. Vào ngày 18/7, Laird nhắc Nixon là “các kế hoạch kinh tế của chúng ta là mối liên kết yếu nhất trong chương trình Việt Nam hóa.” Nixon tán thành thêm 750 triệu đô la để chống đỡ kinh tế Saigon. Ngọc thở phào. Trong khi ông xấu hổ vì phải cầu viện, “không ai hiểu tường tận lãnh vực kinh tế của chương trình Việt Nam hóa khi nó mở đầu.” Như một viên chức cao cấp CQMN nhận xét, “Chính trị thường quyết định kinh tế.”

Để giải giới các lời chỉ trích ở quốc hội Việt Nam và Hoa Kỳ, vào giữa tháng 7, Ngọc thuyết phục Bộ Tài chính phái các thanh tra thuế đi thu các thuế chưa trả của các người giàu. Việc kiểm toán thuế, đặc biệt đối với các thương nhân người Hoa và các nhà thầu Mỹ – những đích nhắm doanh nghiệp và chủng tộc hoàn hảo – tăng lên một cách ấn tượng. Để tăng cường sự phục tùng, Ngọc cho in đầy trang báo số tiền phạt thuế và số thuế truy thu được tính đối với cánh doanh nhân giàu có với sự hồ hởi của chủ báo. Tiền thu thuế tăng hơn trong năm 1970 đến 38 tỉ đồng, nhưng chi tiêu tiếp tục vượt mức thu thuế. Ngọc than thở rằng “tôi lúc nào cũng đuổi theo cái đuôi của mình. Vấn đề là không có hoạt động sản xuất kỹ nghệ để đánh thuế và trong xứ không có cơ chế đánh thuế nông gia, hơn nữa có các hậu quả chính trị và xã hội nếu làm thế. Nếu bạn muốn cố gắng tranh thủ trái tim và khối óc (nông dân), đánh thêm thuế là không ổn.” Cuối cùng, vào cuối tháng 9, ông lặng lẽ tăng gấp đôi lãi suất trong hệ thống ngân hàng thương mại để thu hút tiền tiết kiệm nội địa và buộc các ngân hàng gia tăng tiền dự trữ của mình để hạn chế việc cho vay, nhờ đó giảm bớt việc cung cấp tiền.

Sau cuộc bầu cử Thượng viện, Thiệu đưa ra một hòa giải về Luật Chương trình đang bị bế tắc. Ông sẽ không cách chức Ngọc, nhưng sẽ giới hạn các yêu sách pháp lý của mình chỉ cho thị trường song hành. Với nhiều người gây chướng ngại vật giờ đã đi rồi, Thượng viện cuối cùng cũng chấp thuận. Luật 10/70 được thông qua vào ngày 29/9 thiết lập một tỉ lệ hối đoái song hành 275 đồng ăn 1 đô la bên ngoài thương vụ của chính quyền, ở đây vẫn giữ tỉ lệ 118 đồng ăn 1 đô la. Tỉ lệ hối đoái cao hơn khiến Thiệu có thể xoa dịu phe mình vì không phá giá đồng bạc, trong khi Ngọc đã vỗ về cơn thịnh nộ của quốc hội Mỹ vì nhờ đó người phục vụ Mỹ ở miền Nam bổng có thêm rất nhiều tiền Việt Nam để xài. Hơn nữa, ông đã duy trì một dòng chảy lợi tức chủ chốt vì việc mua tiền đồng của Mỹ vẫn sẽ tiếp tục với tỉ lệ cũ.

Vào ngày 3 tháng 10, Thiệu ký sắc luật. Những thay đổi này khiến Thiệu có thể, với sự thúc giục của Ngọc, thông báo vào giữa tháng 10 một đợt tăng lương khác cho binh sĩ, thương phế binh, vợ góa các tử sĩ, và công chức. Mặc dù việc này sẽ ngốn thêm 25 tỉ trong ngân sách, nhưng mức cung tiền tệ của CQMN không tăng lên vì dân chúng gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng lợi dụng lãi suất cao hơn mà Ngọc đã âm thầm ấn định vào đầu tháng 9. Các cải cách đã khiến nền kinh tế có thể  thu hút tiền lương tăng thêm mà không gây ra lạm phát mới.

Tuy nhiên, Ngọc biết rõ đây chỉ là hiệp mở màn. Nói với báo chí, ông lưu ý rằng “Việt Nam hóa sẽ không  được quyết định bởi cách thức cuộc chiến sẽ tiến hành ra sao. Nó sẽ được phán xét bởi cách thức cuộc chiến được duy trì ra sao về mặt quân sự, xã hội, và kinh tế.” Không giống Thân, người vẫn tiếp tục gần như là vô danh, Ngọc chịu đựng một làn sóng chỉ trích và đòi ông từ chức, nhưng các thay đổi của ông đã làm thời kỳ lạm phát tồi tệ nhất từ năm 1966 ngừng lại, tỉ suất đô la tại thị trường chợ đen đã giảm đáng kể, và lạm phát chỉ tăng chút ít. Tuy vậy, tỉ lệ hối đoái song hành có thể “hạn chế, nhưng không thể dừng hẳn, nạn lạm phát.” Phải cần nhiều thứ hơn, nhưng kiến trúc sư của một loạt các thay đổi kinh tế sâu xa, chỉ đứng thứ hai sau cải cách ruộng đất về mặt tác động xã hội, đã cung cấp một vũ khí chống Cộng cũng quan trọng không kém các khẩu M-16: an toàn kinh tế. 


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s