Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 17)

CHƯƠNG 17 : “ĐƯỜNG DÀI, GIÁ RẺ”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Thiệu Đề Xuất một Chiến Lược Mới

Sau nửa đầu năm 1969 hỗn loạn, Thiệu buớc vào nửa năm cuối quyết tâm xây dựng trên những thành tựu của miền Nam. Ông còn đối mặt với địch thủ không khoan nhượng Lê Duẩn, nhưng được Nixon đảm bảo hậu thuẫn hoàn toàn khiến Thiệu có thể bắt đầu điều mà Hoàng Đức Nhã gọi là “vừa đàm vừa xây”, nghĩa là Thiệu sẽ tìm cách giải quyết hòa bình cho cuộc chiến trong khi vẫn phát triển đất nước.

Không may, trong khi ông vẫn tương đối hiệu quả trong công cuộc tái thiết miền Nam, một trận tuyết lở các vụ xì-căng-đan chính trị bắt đầu vào tháng 4 1969 và tiếp tục qua năm 1970 che mờ các thành tựu trong nước của ông. Phần nhiều các rối loạn này là tự mình gây ra, một số xuất phát từ tình trạng mất trật tự thường tình của một xã hội đang chuyển tiếp, và phần còn lại là do tình hình rối loạn trong nước Mỹ.

CÁC CHIẾN LƯỢC MỚI

Các chỉ trích trong nước lập tức quấy rối đề xuất hòa bình ngày 11/7 của Thiệu. Thượng Nghị sĩ Trần Văn Đôn phê phán ông khắt khe vì  đưa ra quá ít, trong khi báo chí và các lãnh tụ Quốc hội khác chê ông đưa ra quá nhiều. Họ hành hạ ông vì đề nghị một nhượng bộ phá giá – MTGP có thể tham gia bầu cử – mà không nhận điều kiện gì đáp lại. Những người Quốc gia theo thuyết âm mưu lớn tiếng cho rằng Thiệu chỉ đưa ra đề xuất này do bị người Mỹ o ép. Bị đả từ mọi phía, Thiệu xác nhận rằng 6 điểm của ông không phải là nhượng bộ mà là “sáng kiến” để khởi đầu thương lượng. Ngoại trưởng Thành nhìn nhận rằng trong khi đề nghị của Thiệu cho phép MTGP tham gia bầu cử, nhưng họ không thể tham gia với tư cách người Cộng sản theo Điều khoản 4 của Hiến pháp. Khi được cật vấn liệu Thiệu có dự định tu chính Điều khoản 4, Thành trả lời rằng nếu người Cộng sản chấp nhận đề nghị, mọi thắc mắc có thể được giải quyết. Lời bình phẩm của ông, nhằm thuyết phục mọi người về sự nghiêm túc của Thiệu, lại tạo thêm tức tối cho người Quốc gia.

.Hà Nội ngay lập tức bác bỏ đề nghị của Thiệu, gọi đó là một “động thái lừa bịp” và một ‘cuộc bầu cử trò hề” … để duy trì chú nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam.” Phản ứng của Thiệu rất kềm chế. Ông bảo riêng với Bunker là “phải làm rõ là chúng ta không nổi nóng hoặc đóng cửa lại.” Về mặt công khai, Thiệu trả lời bằng cách yêu cầu người Cộng sản “suy nghĩ” về kế hoạch của ông trong khi khăng khăng cho rằng “Tôi là một người yêu hòa bình đang ra sức tìm kiếm một giải pháp thỏa hiệp. Tôi không phải là người hiếu chiến, nhưng cũng không đầu hàng Cộng sản.” Rồi ông tuyên bố rằng đây là đề nghị hòa bình cuối cùng của mình. Ông đã đưa ra một đề nghị thiện chí, giờ đến lượt Hà Nội trả lời. Bunker, trong khi nhận thức được những khó khăn trong nước mà bài diễn văn gây ra cho Thiệu, nhận xét rằng bốn tháng trước không thể nghĩ được là Thiệu có thể đưa ra đề nghị đối thoại trực tiếp với MTGP như thế. Bài diễn văn này là “chứng cứ đầy ấn tượng cho thấy ý kiến của miền Nam liên quan đến hòa bình đã thực sự tiến hóa.”

Trên một chuyến đi hải ngoại không lâu sau hội nghị Midway, Nixon tuyên bố vào ngày 25/7 điều được biết dưới tên Học thuyết Nixon, Mỹ sẽ không còn đưa lực lượng tác chiến xen vào các cuộc chiến huynh đệ trong tương lai mà chỉ yểm trợ các chính quyền thân hữu bằng viện trợ hoặc huấn luyện quân sự. Sau đó Nixon dừng chân ngắn ngủi tại Saigon vào ngày 30/7 để thăm Thiệu và binh lính Mỹ. Để chuẩn bị cho cuộc viếng thăm, Thiệu bỏ ra hai ngày họp kín với các cố vấn của mình. Đội của ông phát triển điều ông gọi  là cách tiếp cận mới sẽ xử lý những lo lắng của chính quyền Mỹ trong khi vẫn hậu thuẫn Saigon.

Mở đầu cuộc họp, Thiệu cho ý kiến rằng mình đã đưa ra đề xuất tối đa, như bầu cử và rút binh lính Mỹ, nhưng miền Nam đã đến giao lộ. Ông không thể làm gì hơn được. Nixon đồng ý rằng họ không nên đưa ra nhượng bộ thêm nữa. “Chúng tôi không thể để ngài bị gặm nhấm thêm,” ông ta nhận xét. Thiệu, kiểm nghiệm Học thuyết Nixon mới, sau đó đề xuất chính sách của riêng mình. Thiệu tuyên bố rằng giờ các đồng minh chỉ có hai lựa chọn: tìm kiếm một thắng lợi quân sự hoặc theo đuổi một lộ trình khác. Vì một chiến thắng quân sự hiện giờ dường như vượt khỏi tầm với, ông đề nghị “chuẩn bị cho điều ông gọi là chính sách ‘đường dài, giá rẻ’.” Ông bình luận rằng “nếu người Mỹ muốn buông tay, lộ trình tốt nhất là giúp miền Nam lớn mạnh.” Thiệu muốn được tăng cường viện trợ để “giúp CQMN tiếp nhận thêm gánh nặng chiến tranh.”

Vào tháng 7 1965, Thiệu và Kỳ đã yêu cầu binh lính Mỹ vào miền Nam để ngăn chặn cuộc công kích mùa hè của Cộng quân đang đe đọa tràn ngập miền Nam. Bốn năm sau, Thiệu đang đề xuất một chiến lược để quản lý việc rút quân của binh lính Mỹ. Công thức của ông sẽ làm giảm bớt đáng kể số lượng binh sĩ Mỹ, làm yên lòng một Quốc hội Mỹ có lập trường phản chiến đang lên cao, trong khi điều chỉnh chiến lược và ngân sách của CQMN để đương đầu với thách thức kép vừa chiến đấu vừa phát triển nông thôn.

Để hoàn thành phần việc của mình, Thiệu đã thực hiện hai bước đi chủ yếu. Thứ nhất, ông đã chuyển dịch triết lý hành pháp của CQMN để mở rộng bộ máy địa phương nhằm xây dựng từ đáy lên thay vì áp đặt từ trên xuống. Thứ hai, Thiệu lý giải việc Mỹ rút quân cho dân chúng “không phải là điều gì đó cưỡng bách đối với miền Nam” mà xuất phát từ sáng kiến riêng của miền Nam.” Thiệu miệt thị thuật ngữ “Việt Nam hóa”, và không bao giờ sử dụng từ này trong diễn văn của mình. Ông cũng không thích từ “rút quân” ưa từ “thay quân” hơn. Tuy nhiên, Thiệu hình dung một đóng góp còn lại của Mỹ – hậu thuẫn hậu cần, tài chính, và quân sự như ở Hàn Quốc và Đức – để buộc Hà Nội phải dè chừng. Với hỗ trợ như thế, ông sẽ làm phần việc còn lại.

Về nguyên tắc, Nixon đồng ý. Ông khẳng định lại sự hậu thuẫn mạnh mẽ cho Thiệu, hứa sẽ tham vấn sát sao với ông, và thề không nhượng bộ thêm nữa. Vậy mà vài tuần sau đó, và không thông báo với Saigon, Nixon phái Kissenger bí mật đàm phán riêng với Bắc Việt. Tuy nhiên Thiệu sớm biết về các cuộc họp mặt bí mật này của Mỹ. Vào tháng 4 1969, tình báo miền Nam đã cử Thiếu tá Lực lượng Đặc Biệt QĐVNCH Mai Văn Triết tiếp nhận trạm Văn phòng Tình báo Trung ương ở Paris. Theo Triết, sau buổi họp bí mật đầu tiên của Kissenger vào năm 1969, “một sĩ quan an ninh Pháp, còn căm giận về việc Mỹ không dội bom yểm trợ họ tại trận Điện Biên Phủ, bảo cho người tiến nhiệm của tôi về cuộc gặp gỡ. Ông nhanh chóng báo về Saigon, vì thế khi Kissenger đến trình bày vắn tắt với Thiệu về cuộc gặp mặt bí mật đầu tiên của ông, vị Tổng thống đã biết nhưng không tiết lộ ra. Sau đó, tình báo Pháp cũng cấp cho tôi một trang tài liệu về mọi cuộc họp bí mật giữa Kissenger và người Cộng sản.

Thế rồi vào 16/9, một lần nữa không tham vấn với Thiệu, Nixon thông báo lịch rút một bộ phận binh sĩ thứ hai, một động thái sẽ hoàn tất vào tháng 12. Thiệu muốn khớp thời khóa quân Mỹ rút về nước với việc huấn luyện và mở rộng các lực lượng thay thế của mình, đặc biệt Địa phương quân và Nghĩa quân. Thay vào đó, Nixon ấn định thời khóa rút quân  do nhu cầu chính trị trong nước và không dựa vào điều kiện chiến trường hoặc kế hoạch của Thiệu. Ông cũng không căn cứ vào việc rút quân đồng thời của bộ đội QĐNDVN, mà ông từng tuyên bố như một điều kiện để người Mỹ rút quân trong bài diễn văn ngày ⅘. Theo cố vấn thân cận của Thiệu, Hoàng Đức Nhã, trong con mắt người miền Nam, “đây là khởi đầu của tiến trình phản bội.”

Nếu mở rộng quân đội và tăng cường chính quyền địa phương là điều cấp thiết đối với Thiệu, thì việc đoàn kết người Quốc gia để đương đầu với Cộng sản trong trận đấu tranh chính trị là việc cấp thiết tiếp theo. Hai việc có tương quan mật thiết với nhau. Đối với Thiệu, đoàn kết quốc gia ngang hàng với sức mạnh quốc gia. Dù cho việc đó có hảo huyền hay không, nó là mục tiêu ông nhắm tới với tất cả nhiệt huyết của mình. Như Thiệu từng bảo với Nixon, vấn đề nội bộ của ông là “giữ chặt các siêu điều hâu và các  bồ câu không cho chúng được đi quá xa.” Hơn nữa, có “nguy cơ trong cách giải quyết ‘đường xa, giá rẻ’ vì dân chúng miền Nam chưa tin chúng tôi có khả năng đương đầu với Cộng sản về mặt chính trị.” Tuy nhiên, trước khi Thiệu có thể đoàn kết thành một khối những người Quốc gia chia rẽ mãn tính, một loạt các xì-căng-đan chính trị đã bùng nổ hủy hoại nỗ lực của ông nhằm thuyết phục người Mỹ tham gia vào các chính sách “đường dài, giá rẻ” và “vừa đàm vừa xây”.

HÊT XÌ-CĂNG-ĐAN NÀY ĐẾN XÌ-CĂNG-ĐAN KHÁC

Vụ hỗn loạn bắt đầu vào ngày 6/4/1969, với việc bắt giữ đặc vụ tình báo Cộng sản Trần Ngọc Hiền, anh ruột của cựu tỉnh trưởng Kiến Hòa và dân biểu đương nhiệm Trần Ngọc Châu. Hiền khai ra mạng lưới gián điệp của y, và hơn 25 người bị bắt. Kẻ hợp tác quan trọng nhất là Nguyễn Lâu, chủ nhà in tờ báo viết bằng Anh ngữ Saigon Post của Bùi Diễm. Lâu là bạn từ nhỏ của Hiền, đã không khai báo cảnh sát khi ông phát hiện mục đích thực sự của Hiền, và đã nhận công việc thu lượm thông tin tổng quát. Tuy nhiên, vụ án Hiền làm nổi lên một vấn nạn chính trị lớn. Hiền cũng nhìn nhận đã họp với Châu 8 lần, nhưng Châu đã không trình báo với chính quyền. Các cuộc tụ tập này là bất hợp pháp nếu chính quyền chưa cho phép họ trước. Châu, đã từng gặp rắc rối khi lên tiếng kêu gọi điều đình với MTGP hồi tháng giêng, thình lình bị nhìn dưới ánh mắt  ngờ vực vì không khai báo các buổi họp của mình với điệp viên Cộng sản.

Hiền không phải là vụ án điệp viên duy nhất đã hủy hoại tiếng tăm. Không lâu sau cuộc Tổng Công Kích Tết, Ngành Đặc Biệt (NĐB), đơn vị cảnh sát có nhiệm vụ phản gián dân sự, bắt đầu điều tra bằng cách nào MTGP đã có được thông tin chi tiết được sử dụng trong việc lên kế hoạch các trận tấn công vào Bộ Tổng Tham mưu Liên quân và Dinh Độc Lập. Khi lực lượng Mỹ sau đó tịch thu được bản sao các tài liệu nhạy cảm từ văn phòng Thiệu trong một chiến dịch càn quét ở Tỉnh Tây Ninh, NĐB lập tức nghi là có gián điệp. Họ tăng cường việc giám sát những người được cho là có móc nối lén lút với Cộng sản. Ngành Đặc Biệt lúc ấy đang theo dõi một người sống ở Saigon có tên Lê Hữu Thúy. Dưới một bút danh, Thuý đã cho đăng các bài viết phê phán chính quyền cho một tờ báo do một dân biểu Hạ viện Hoàng Hồ làm chủ, và ông này cũng chính là một điệp viên. Khi NĐB điều tra Thúy, họ phát hiện nhiều năm trước, cảnh sát thời Diệm đã bắt ông vì tình nghi hoạt động cho Cộng sản, nhưng ông đã được phóng thích dưới lệnh ân xá tất cả tù nhân chính trị của Minh Cồ. Phát động một chiến dịch mật danh “Bệ Phóng”, Ngành Đặc Biệt cử một mật vụ đóng giả thợ sửa chữa làm quen với Thúy. Khi Thúy khoác lác với anh về số gián điệp bên trong chính quyền, họ bắt đầu giám sát nhà Thúy và đặt rệp nghe lén bên trong.

Vào đầu năm 1969, NĐB bị sốc khi phát hiện một vị khách thường xuyên đến nhà Thúy là Vũ Ngọc Nhạ, cố vấn của Thiệu về vấn đề tôn giáo. Như Phạm Ngọc Thảo, Nhạ buổi đầu đã theo Việt Minh và rồi “tập kết” dưới lá cờ Người Quốc gia. Nhạ là người bắc cải sang đạo Thiên chúa và gia nhập giáo khu của Cha Hoàng Quỳnh ở Phát Diệm. Sau khi vô nam vào năm 1954, Nhạ lập nghiệp gần Huế, nhưng vào cuối tháng 12 1958, y bị bắt vì tình nghi hoạt động cho Cộng sản. Vì Nhạ không khai báo, Minh Cồ cũng phóng thích y không lâu sau đảo chính 1963. Cha Hoàng Quỳnh cuối cùng giới thiệu Nhạ cho Thiệu, và ông trở thành cổ vấn cho tổng thống về quan hệ giữa CQMN và các tôn giáo khác nhau.

Theo đuôi Nhạ từ nhà Thúy, NĐB ngắm được Nhạ gặp gỡ Huỳnh Văn Trọng, cố vấn đặc biệt của Thiệu về vấn đề chính trị, người mà Thiệu đã gửi đến Mỹ với sứ mạng nghiên cứu chiến dịch tranh cử tổng thống của Mỹ. Các đặc vụ NĐB quan sát thấy Trọng giao một phong thư cho Nhạ. Sau khi Trọng đi rồi, đặc vụ thấy Nhạ giao một gói đồ cho một phụ nữ đưa tin. Vụ án này giờ đã trở thành chính trị hóa ở cấp tối cao vì cả hai đều là cố vấn tin cẩn của vị lãnh đạo hành pháp miền Nam. Khi CIA và NĐB báo cáo cho Thiệu và đề xuất cho bắt giam hai người, Thiệu buồn rầu đồng ý nhưng nhắc nhở họ rằng nếu không chứng minh được họ có tội sẽ rất tai hại. Sau khi thu thập đủ chứng cứ, NĐB cho bắt Trọng và Nhạ vào tháng 7, lục soát thấy các tài liệu được xếp loại cao cấp trong nhà họ. Lần này, Nhạ thú nhận đã hoạt động cho Cộng sản 20 năm. Trọng khẳng định rằng mình biết Nhạ là gián điệp và y đã tuồn các tài liệu mật cho Nhạ. Hơn 50 người bị bắt giữ trong ổ gián điệp của Nhạ, trong đó có vài nhà báo và hai viên chức cao cấp trong Bộ Chiêu Hồi, bộ có chức năng hỗ trợ những đào binh Cộng sản về dưới chính nghĩa Quốc gia. Vụ xử tiếp sau đó kết án Hiển, Thúy, Nhạ, và Trọng tù chung thân, khiến chính quyền miền Nam có vẻ như lúc nhúc bọn gián điệp thù địch.

Khi Nixon và Thiệu đang gặp nhau tại Midway, vào đầu tháng 6 một nhóm người được phe phản chiến Quốc hội tài trợ và được Cha Robert Drian, khoa trưởng Cao đẳng Luật Boston, dẫn đầu đến miền Nam để khảo sát tình hình áp bức chính trị. Ra sức cung cấp tính minh bạch, CQMN cho phép đội của Drinan đến thăm các tù nhân chính trị khác nhau. Vào giữa tháng 6, nhóm đến thăm Chí Hòa, nhà tù chính của Saigon, nơi họ phỏng vấn Trương Đình Dzu. Drian cũng gặp Thích Thiện Minh, trong khi những thành viên khác ra thăm Côn Sơn, một nhà tù chính trị có từ thời thực dân. Mặc dù vài tuần trước Thiệu đã giảm án tù cho Thiện Minh xuống còn ba năm và ông đã gặp đội của Drinan để giải thích lý do đằng sau các án tù của họ, lời giải thích của ông như nước đổ lá môn.

Khi trở về Mỹ vào cuối tháng 6, Drian cho in bản thuyết trình nóng bỏng và được đăng lại trên nhiều mặt báo. Ông thoá mạ Thiệu đã bỏ tù “một người không Cộng sản cổ xúy cho hoà bình” như Dzu, “một người mà ý tưởng lật đổ duy nhất của ông là xúi giục thương thảo và hoà giải với hy vọng thành lập một chính phủ liên hiệp.” Đây là con bão phản chiến lớn đầu tiên trong nhiệm kỳ của Nixon. Toàn bộ những lời tố cáo của Drinan đều tô vẽ Thiệu là một con người phản động đàn áp bất cứ ai đưa ra  giải pháp chính trị cho cuộc chiến, và nó đã mở toang cánh cửa đập phản chiến tràn vào nước Mỹ. Các lãnh tụ của phong trào phản chiến, vốn đã nằm im trong sáu tháng đầu tiên của nhiệm kỳ Nixon, quyết định hành động. Vào ngày 15/10, nhiều cuộc biểu tình rầm rộ với khẩu hiệu Lãng Công để Chấm Dứt Chiến Tranh ở Việt Nam được tổ chức trên khắp nước Mỹ. Bùi Diễm đánh điện cho Thiệu về các cuộc biểu tình nổi dậy và yêu cầu ông giải quyết. Biết rằng các cuộc đấu tranh phản chiến chỉ là một phần của tình trạng đổ vỡ văn hóa khủng khiếp đang xâu xé xã hội Mỹ. Bùi Diễm ray rứt với suy nghĩ rằng “tương lai của xứ sở ông đang bị ảnh hưởng bởi các lực tác động xã hội mà chúng tôi không thể giải toả và chỉ một phần dính líu đến chúng tôi.” Nếu Thiệu muốn công luận Mỹ chấp nhận chiến lược “đường dài, giá rẻ”, Bùi Diễm đề xuất tái lập CQMN để dư luận Mỹ hậu thuẫn việc đầu tư tiếp tục sinh mạng và tiền bạc người Mỹ. Giờ lược bỏ những truyền đạt nhạy cảm giữa Nixon và Thiệu và đau đớn biết rằng tổng thống của ông không tin cậy ông hoàn toàn. Bùi Diễm phán đoán rằng mình đã thất bại trong việc  thuyết phục Thiệu nhìn “các sự kiện ở Việt Nam qua lăng kính của cuộc tranh luận vĩ đại đang rung lắc xã hội Mỹ.” Đó là điều đáng tiếc lớn nhất của ông, nhưng sự cự tuyệt của Thiệu là do chính quyền Mỹ  nhắc đi nhắc lại là các cuộc biểu tình phản chiến sẽ không ảnh hưởng đến Nixon nhiều hơn là do Bùi Diễm không có khả năng truyền đạt tác động của sự biến động xã hội Mỹ. 

aa

Cuộc biểu tình phản chiến ngày 15/10

Nixon đáp trả cuộc biểu tình ngày 15/10 vào ngày 3/11, khi ông nói chuyện với quốc gia và kêu gọi “đa số người Mỹ thầm lặng vĩ đại” hãy hậu thuẫn chống lại phe biểu tình phản chiến. Không nao núng, vào ngày 15/11, một cuộc biểu tình phản kháng khổng lồ gồm nửa triệu người tuần hành đến Nhà Trắng. Cho dù đám đông rất ấn tượng, một cuộc  thăm dò do viện Gallup thực hiện vào giữa tháng 11 cho thấy phần đông người Mỹ đều hậu thuẫn Nixon. Cụ thể, 74 phần trăm chống đối một cuộc rút quân tức thì, trong khi chỉ có 21 phần trăm đồng ý.

Hà Nội ngay lập tức tìm cách đầu tư vào cơn vùng dậy Lãng Công ở Mỹ bằng cách khích động nhiều bất ổn chính trị hơn nữa ở miền Nam. Một bức điện được gửi đến các chỉ huy miền Nam thông báo rằng “Bộ Chính trị tin rằng chúng ta phải bắt đầu chuẩn bị ngay lập tức xúi giục một phong trào rộng khắp để đáp ứng với cuộc đấu tranh đang đến gần.” Mục tiêu là dân chúng ở đô thị miền Nam. “Các lực lượng có thể được động viên vào nỗ lực này bao gồm thanh niên, học sinh sinh viên, công nhân, Phật tử … Chúng ta có thể sử dụng các hình thức đấu tranh khác nhau, như hội họp, xê-mi-na, gửi đơn thỉnh nguyện, và xuống đường để biểu dương sự hậu thuẫn cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ.” Với binh giáp te tua, sự khích động chính trị giờ đây là công cụ chủ yếu của Bộ Chính trị để tấn công CQMN từ bên trong và đánh đuổi người Mỹ ra ngoài.

Cuộc biểu tình Lãng Công, tuy nhiên, sẽ lu mờ nếu so sánh với biến cố được biết dưới tên Vụ Thảm Sát Mỹ Lai. Vào tháng 3 1968, một đại đội bộ binh Mỹ được lệnh lục soát một tiểu đoàn lực lượng địa phương địch nghi là đang ẩn núp trong một vùng do Cộng sản kiểm soát ở Tỉnh Quảng Ngãi mà người Mỹ đã châm biếm đặt tên thánh là “Pinkville.” Sau khi liên tục chịu các tổn thất từ bọn bắn tỉa và mìn treo, vào ngày 16/3/1968, đơn vị Mỹ đi vào ấp Mỹ Lai và nổi cơn điên tiết sát nhân. Vài trăm dân làng bị hành quyết, và hàng chục phụ nữ bị hãm hiếp. Vài phi công trực thăng yểm trợ hỏa lực trên không báo cáo lại vụ tàn sát, nhưng một loạt chỉ huy sư đoàn phớt lờ câu chuyện của họ. Vào ngày 12/11/1969, nhà báo Seymour Hersh tháo xích cho câu chuyện, làm bốc phừng các đòi hỏi quyết liệt phải tiến hành điều tra. Mặc dù Quân đội có vào cuộc điều tra, chỉ có một sĩ quan, Trung úy William Calley, bị ra tòa án binh. Đó là một trong những vết nhơ tồi tệ nhất trên danh dự của Quân đội Hoa Kỳ trong lịch sử của nó.

Nixon rất lo lắng việc công khai về vụ Mỹ Lai sẽ ảnh hưởng đến công luận Hoa Kỳ và thế giới. Ông tìm cách lấm liếm sự kiện, và chính quyền miền Nam cũng vậy. Vì Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định lân cận chắc chắn là căn cứ địa lớn nhất của Cộng sản trong xứ, các lãnh đạo QĐVNCH không quan tâm đến việc các nạn nhân bị sát hại đều thuộc thành phần hậu thuẫn MTGP. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, chỉ huy Quân đoàn I, ban đầu chối phăng những gì xảy ra nhưng cuối cùng cho mở cuộc điều tra. Thiệu cũng bày tỏ hoài nghi. Ông tuyên bố khu vực đó “không phải là một dải đất bình yên ở nông thôn mà là một khu vực Việt Cộng có phòng thủ,” và ồn ào về vụ Mỹ Lai không giúp ông thực hiện được chiến lược giữ người Mỹ ở lại chiến đấu.

Một ít người Quốc gia không chia sẻ quan điểm của Thiệu; họ chỉ tìm cơ hội để xiên xẻo vị tổng thống Việt Nam. Thượng Nghị sĩ Trần Văn Đôn tuyên bố điều tra. Ông đi đến hiện trường vài lần, và vào giữa tháng 12, Mặt trận Cứu quốc của ông phát đi một tuyên bố lên án vụ thảm sát. Sợ làm bùng lên cơn xúc động phản chiến của người Mỹ, tuyên bố của Mặt trận thận trọng tránh đề cập đến binh lính Mỹ là thủ phạm của hành động dã man. Tuy nhiên, MTCQ khiển trách CQMN đã tuyên bố không có vụ thảm sát nào xảy ra. Vào ngày 5/1/1970, liên ủy ban của Đôn phát đi một thông báo khẳng định binh lính Mỹ đã giết hại dân làng nhưng tìm cách quy tội Thiệu đã cố tình lấp liếm sự dính líu của Mỹ và “phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho vụ thảm sát.” 

Thiệu phản ứng dữ dội. Ông đã bực bội với Đôn sau một bài diễn văn trước đây mà vị tướng hưu trí đọc vào ngày 30/10 nhân ngày Quốc Khánh. Sau một chuyến đi đến Mỹ, Đôn tin rằng người Mỹ đang trên đường tháo chạy và đặt nước ông cần phải thích nghi. Ông viết: “Tôi nhận ra rằng miền Nam phải thay đổi lộ trình nếu muốn tồn tại, vì nếu cứ tiếp tục đi theo lộ trình cũ đất nước sẽ gặp hiểm họa.” Trong diễn văn Đôn đề xuất một kế hoạch ông đặt tên là “Quốc Gia Sinh Tồn”. Sau khi cảm tạ sự hy sinh của Hoa Kỳ, ông yêu cầu mọi binh lính Mỹ và QĐNDVN rút về nước. Tuyên bố Việt Nam Hóa là một sai lầm, Đôn kêu gọi một “Lực lượng Thứ Ba”, bề ngoài là một nhóm trung gian giữa MTGP và phe chống cộng của Thiệu, cai trị đất nước. Miền Nam sẽ trở thành một quốc gia không liên kết “tự tách mình khỏi trò chơi quyền lực của quốc tế.”

Về kinh tế, ông chủ trương một “chế độ chủ nghĩa xã hội tiến bộ” sẽ tái phân phối tài sản của đất nước.

Đôn đã từng âm thầm làm việc để thuyết phục người bạn cũ, Dương Văn Minh, cầm đầu Lực lượng Thứ Ba. Vì Đôn không thể làm tổng thống – Hiến pháp chỉ cho phép những người Việt sinh ra tại Việt Nam còn Đôn ra đời tại Pháp – Đôn đề bạt Minh, cũng như Ấn Quang, mặc dù miễn cưỡng hơn. Minh nhanh chóng góp thêm tiếng nói của mình vào âm thanh om sòm của Đôn. Vào ngày 2/11, trong ý kiến công khai đầu tiên của mình từ khi trở về nước một năm trước  sau thời gian sống lưu vong, Minh bảo với các nhà báo mình chủ trương một cuộc trưng cầu dân ý để xác định nguyện vọng của nhân dân. Sau đó, một “hội đồng quốc gia” có thể thành lập một “chính quyền đại diện thực sự cho miền Nam.” Về tính cách, Minh mơ hồ về ý nghĩa chính xác các phát biểu của mình. Ý tưởng trưng cầu dân ý của ông chỉ là để “xác định những khát vọng của nhân dân” để khiến “cuộc chiến đấu chống cộng ” hiệu quả hơn. Ông không chủ trương một chính phủ liên hiệp, ông tuyên bố, và ông hạ bệ đề xuất của Đôn bằng tuyên bố rằng ông “không có ý định lập một lực lượng thứ ba.” Mặc dù các quan sát viên bên ngoài cho rằng Mình được dân chúng yêu mến, đặc biệt trong giới Phật tử và người miền nam, nhưng lời kêu gọi của ông không hề được kiểm nghiệm, một điểm mà những người ủng hộ Minh làm nhà lãnh đạo của Saigon tránh né.

 Để đáp trả, Thiệu công kích một cách hằn học nhưng người chủ trương quan điểm Lực lượng Thứ Ba. Trong một bài diễn văn, ông gọi họ là “chó”. Đối với ông, ý tưởng về Lực lượng Thứ Ba hủy hoại sự đoàn kết của người Quốc gia trong khi cũng cắt đứt mọi nỗ lực của ông nhằm duy trì sự viện trợ của người Mỹ. Ở trên một mức độ khác, đó là trò ăn miếng trả miếng chính trị. Để hiểu tường tận chính tình Saigon, ta phải nhận ra rằng một số chính trị gia Saigon có lập trường chính trị không khác mấy với Thiệu; họ đơn giản tranh giành quyền lực. Nhiều người Quốc gia nghi ngờ Đôn, mù quáng bởi tham vọng và thù hằn cá nhân đối với tổng thống, bí mật nuôi hy vọng đề xuất của mình sẽ khuyến dụ người Mỹ rút ghế ông. Theo ngôn từ chính trị ngày nay, Đôn đã có kết quả “âm tính” trong việc thuyết phục người Mỹ loại bỏ Thiệu. Tin rằng người Mỹ tuyệt vọng muốn ra đi, và vì người Mỹ đã giúp Đôn lật đổ Diệm, ông ta hy vọng họ cũng sẽ làm như vậy đối với Thiệu. Để tự đề cao mình và Minh với các viên chức sứ quán như một người thay thế thu hút, ông ta liên tục miệt thị Thiệu là một nhà độc tài không muốn mở rộng chính quyền hoặc tìm kiếm hoà bình.

Khổ thay, Thiệu xem người ta hoặc là trung thành hoặc là chống đối, và ông đáp ứng một cách thô bạo đối với đối thủ thực sự hoặc tưởng tượng. Phân biệt sự khác nhau gần như là không thể trong thời kỳ có ý thức hệ như điện cao thế. Vấn đề là tất cả điều này làm cho Thiệu khó giữ hơn nữa sự hậu thuẫn của công luận Mỹ.

Một mặt trận Quốc gia đoàn kết cũng có nghĩa, trong đầu Thiệu, là không có sự chỉ trích của báo chí, nhưng bắt báo chí câm lặng lại nảy sinh chỉ trích của quốc tế. Ông đã nới giãn hạn chế báo chí vào tháng 5 1968, nhưng ông đã tìm cách ấn định các luật lệ quy định hoạt động báo chí. Với mục đích này, quốc hội thông qua một sắc luật mới vào ngày 30/12/1969, nêu rõ những quyền lợi và trách nhiệm về truyền thông đại chúng, nhất là đối với việc bình luận về hòa bình. Với sự thông qua vào tháng 6 sắc luật quy định việc thành lập các chính đảng, chính quyền giờ ban hành một đạo luật lớn thứ hai nhằm bảo vệ đời sống xã hội-kinh tế trong Đê Nhị Cộng Hòa. Dưới luật mới, Bộ Thông tin có thể kiểm duyệt một bài viết hoặc tịch thu báo phát hành trong ngày đó, nhưng không thể đóng cửa tờ báo nếu không có án tòa. Dưới đường lối chỉ đạo mới, sứ quán Mỹ ghi nhận rằng từ 1970 đến 1971, “báo chí miền Nam được hưởng tự do báo chí nhiều hơn … điều rất ấn tượng nếu so với mức thang thế giới về tự do báo chí. Tuy nhiên, … một thiểu số nhỏ các tờ báo … còn sử dụng quyền tự do mới có được để phát động các cuộc tấn công cay cú lên bộ máy hành chính của Thiệu và chính quyền Hoa Kỳ.” Từ đó Thiệu tìm cách điều chỉnh một phần của đạo luật cho phép tờ báo in bất kỳ bài bình luận nào của các thành viên lập pháp mà không bị trừng phạt. Ông sợ các dân biểu tự do sẽ bôi nhọ ông. Vì hiến pháp cho phép Thiệu tu chính bất cứ luật nào được quốc hội thông qua, nhưng nó có thể gạt ra những sửa đổi của ông với đa số phiếu của cả hai viện. Trong một dịp bất đồng hiểm hoi, nó phủ quyết sự sửa đổi của ông.

 ĐỔI GÁC

Sau cuộc gặp với Nixon, và để  những sáng kiến địa phương phát huy tốt hơn, Thiệu cần thay thế thủ tướng Trần Văn Hương. Người kế nhiệm ông sẽ là Trần Thiện Khiêm. Hương rơi đài vào ngày 24/8 do ba sự kiện: cuộc đấu đá của ông với quốc hội, sức khỏe ông, và sự thiếu chuyên nghiệp trong công tác bình định.

Các lời bàn ra tán vào về việc loại bỏ Hương nhằm nâng cao hiệu năng của chính quyền hoặc do các xích mích giữa ông và Thiệu, đã luân phiên xảy ra kể từ khi ông lên nhậm chức vào tháng 5 1968. Thiệu bỏ ngoài tai các lời đồn, nhưng vào giữa tháng 6 1969, Hạ viện đã gửi cho tổng thống yêu cầu thay thế Hương. Các dân biểu nổi giận vì các sắc luật gần đây của Hương về việc tăng thuế nhiều mặt hàng nhập khẩu xa xỉ không tham vấn trước với bên lập pháp. Hương giận dữ đáp trả bằng cách chỉ trích công khai quốc hội. Các dân biểu phản ứng bằng cách từ chối không xem xét một vài đoạn pháp lý tối thiết, rồi yêu cầu các bộ trưởng Nội vụ, Quốc phòng, và Tư pháp có mặt giải trình những vấn đề liên quan đến bắt bớ tùy tiện, tra tấn, và tham nhũng trong chương trình Phượng Hoàng, nỗ lực để trừ khử các cán bộ MTGP ở nông thôn.

Làm chứng trước quốc hội vào ngày 20/6, Bộ trưởng Nội vụ Khiêm bào chữa cho chương trình nhưng đồng ý có sự lạm quyền xảy ra ở cấp độ địa phương. Vì việc thu thập các chứng cứ vững chắc về các tù nhân thường rất khó khăn, ông nhìn nhận có nhiều nghi can bị tra hỏi phũ phàng và có thể bị giam giữ lên đến hai năm mà không bị xét xử. Với các máy quay của đài TV Việt Nam phát đi việc tra hỏi ông, Khiêm cam kết sẽ sửa đổi những đối xử tàn tệ, nhưng việc thủ tướng xuất hiện bị quốc hội cật vấn vừa củng cố vừa cổ vũ phe chống đối điều tra những sai sót của chính quyền. Trong quan điểm cai trị của người Mỹ, việc giám sát của quốc hội là mệnh lệnh. Trong một nền dân chủ non trẻ như miền Nam, việc giám sát này là điều tối thiết để nó trưởng thành, nhưng việc phê phán thường được xem như một thách thức với quyền lực.

Vào ngày 20/8, Khiêm ban hành những quy định mới siết chặt các thủ tục bắt giữ nghi phạm. Vào tháng 10, Khiêm phát động một chiến dịch  quảng bá quốc gia để giải thích chương trình Phượng Hoàng và yêu cầu sự hợp tác của nhân dân trong việc báo cáo các cán bộ Cộng sản nằm vùng. Vậy mà mặc dù có những nỗ lực này, Phượng Hoàng sẽ tiếp tục bị phe phản chiến Mỹ lên án, tốt nhất là vi phạm nhân quyền tập thể, hoặc tệ nhất là một chương trình ám sát đê hèn.

Tuy nhiên, Phượng Hoàng không phải là một giấy phép giết người kiểu James Bond nào đó, hoặc CQMN thắng lợi trong việc chấm dứt các lạm dụng. Phượng Hoàng là một ý tưởng lớn lao khác chỉ thành tựu phân nửa do không được đào tạo đầy đủ và quản lý yếu kém. Ban cho các viên chức cộng đồng, nhất là cảnh sát địa phương, quyền bắt bớ và giam giữ theo ý mình là kêu gọi lạm dụng, và nhân sự địa phương thường lợi dụng để giải quyết thù riêng và đòi hối lộ. Phượng Hoàng cho thấy là một công cụ cùn nhụt khi cần đến sự chính xác của nhà giải phẫu, nhưng các thủ tục an ninh của Cộng sản thường triệt tiêu việc biết chính xác phải cắt ở đâu và cách nào.

Mặc dù chương trình Phượng Hoàng làm xói mòn nghiêm trọng cơ sở chính trị nông thôn của MTGP, nó không bao giờ nhổ tận gốc rễ kẻ địch, một phần vì CQMN bất lực và một phần vì một tên gián điệp. Vào năm 1967, An ninh của Trung ương Cục miền Nam đã cài một đặc vụ vào Ngành Cảnh sát Đặc biệt . Đặc vụ này cuối cùng đã lên nắm quyền chỉ huy Uỷ ban Phượng Hoàng Khu 6, và y

có được thông tin về toàn bộ cấu trúc tổ chức của các Uỷ ban Phượng Hoàng và một vài chiến dịch Phượng Hoàng khác nhau đã được tiến hành. Hàng tuần ông dự các buổi họp của Ủy ban Phượng Hoàng Vùng Thủ đô … Ông lấy được danh sách các xếp điều tra và các cán bộ của chúng ta  mà kẻ thù đang theo dõi, cũng như danh sách các cán bộ bị bắt của chúng ta  và đang bị kẻ thù thẩm vấn. Mỗi tuần (từ 1968 cho đến đầu năm 1972), ông gửi hai danh sách này và chúng ta có thể đưa ra các biện pháp phòng thủ đúng lúc để hạn chế mức độ thiệt hại cho tổ chức chứng ta.

Với việc đình trệ ban hành luật mới, các ngoại trưởng của mình bị luộc, và lời kêu gọi càng tăng đòi cải tổ hiệu năng của chính quyền, Thiệu nhận ra rằng thời gian của Hương đã hết. Dưới cái vỏ ngụy trang là “mở rộng chính quyền”, vào ngày 19/7, Thiệu thông báo mình sẽ thay đổi một số thành viên nội các. Sau ba tuần không có chuyển biến gì về việc cải tổ nội các, vào ngày 8/8, Mặt trận Dân chủ Xã hội Quốc gia công khai kêu gọi loại bỏ Hương, một thông báo mà nhiều người xem là cách Thiệu ngấm ngầm ra hiệu cho Hương ông cần rút lui hơn là ép Thiệu sa thải ông ta.

Cuối cùng cúi đầu trước điều không tránh được, Hương từ chức vào ngày 24/8. Lập tức Thiệu nhờ Khiêm thành lập một chính quyền mới. Tổng thống đã chọn một sĩ quan làm thủ tướng vi ông muốn có người cầm đầu nỗ lực bình định hoá quan trọng. Đó là một sự lựa chọn kiểu Faust vì một ứng viên dân sự có thể đã rút hết nọc độc của lời tuyên bố là CQMN là một chế độ độc tài quân phiệt. Khiêm, một người béo tốt 43 tuổi đeo kính dày không gọng, được người miền Nam xem là một nhà quản trị có năng lực nhưng lắm mưu mô. Không màu sắc và dè dặt, ông thích làm việc phía sau hậu trường hơn là dẫn đầu. Những người Việt Nam kém khoan dung hơn gọi ông là một “người cơ hội bậc thầy với tài năng siêu việt về tính mềm dẻo trong việc giải quyết các biến động chính trị.”

Vào ngày 1/9, Khiêm thông báo nội các mới của mình. Với phần đông là các kỹ thuật gia, hai lựa chọn quan trọng nhất của ông là một thanh niên năng động có tên Phạm Kim Ngọc làm tổng trưởng kinh tế và Thượng Nghị sĩ Trần Văn Lắm thay thế Trần Chánh Thành làm ngoại trưởng. Lắm, một người khác trong danh sách dài các người hậu thuẫn Diệm lúc ban đầu nhưng đã cuối cùng rời bỏ ông ta, là một người miền nam giàu có và một người Công giáo hàng đầu đã từ lâu thân thiết với hoạt động chính trị ở Saigon. Ông sinh ngày 30/7/1913 tại Chợ Lớn. Ông theo học trường Petrus Ký danh giá, rồi tốt nghiệp khoa dược Đại học Hà Nội vào năm 1939. Năm 1967, Lắm thành lập liên danh Thượng viện của mình kết quả đứng thứ 5 trong cuộc bầu cử. Lịch lãm và nói trôi chảy cả tiếng Anh lẫn Pháp, ông là một con người vui tính rất hứng thú đến các vấn đề đối ngoại. Vào tháng 4 1968, ông thành lập Hội đồng Việt Nam về Quan hệ Đối ngoại, sẽ trở thành một tổ chức phi lợi nhuận tiếng tăm ở miền Nam. Tuy không hề là người quan trọng về mặt xây dựng chính sách, ông sẽ trở thành ngoại trưởng phục vụ lâu thứ hai của Saigon.

Bunker ngay lập tức thúc ép Thiệu sử dụng cơ hội này để đưa vào nhiều chính trị gia “bên ngoài” hơn, điệp khúc quen thuộc của ông. Thiệu thêm lần nữa mời vào nội các một số chính trị gia lão làng như Hà Thúc Ký của ĐVCM và Trần Văn Tuyên của VNQDĐ, nhưng hai người này chỉ muốn các chức vụ chóp bu. Khi Thiệu đưa họ các vị trí nội các họ xem xét các người bên dưới họ, rồi họ thoái thác, vì vậy ông phải chọn lựa các nhà kỹ trị thay thế.

Như những nhà lãnh đạo chống cộng khác, Thiệu chọn cải tổ tính hiệu quả của chính quyền qua việc mở rộng chính quyền. Dù đối với người ngoài việc này là một nguyên tắc lỗi thời, Thiệu không quan tâm. Thiệu biết rằng các quan tâm chính của người nông dân là kế sinh nhai và sống dưới một chính quyền địa phương tử tế và có được an toàn không bị hành hạ từ cả hai bên. Thực tế là Thiệu và bộ mặt chính quyền của ông trong mắt phần đông  người miền Nam nói chung là cân bằng, trừ trong giới ưu tú Saigon lúc nào cũng dè bỉu mọi động thái của ông. Chẳng hạn, theo kết quả đầu tiên trong một loạt các thăm dò công luận hàng tháng được tiến hành trong tầng lớp dân quê bởi cơ quan CORDS của Mỹ sử dụng người Việt được huấn luyện, 30 phần trăm số người được hỏi đồng ý rằng chính quyền quốc gia là mạnh và “có nhiều cố gắng trong việc hỗ trợ dân chúng.” Vậy mà các khát vọng chính trị khác vẫn tồn tại trong cơ thể chính trị miền Nam, và Thiệu cần xử lý chúng để xây dựng một ý thức quốc gia, trong đó có lý tưởng dân chủ. Đối với Thiệu, dù vậy, đó là một bước nhảy vọt về triết lý bất khả trong cuộc huynh đệ tương tàn. Cho dù quyết tâm trân trọng nền pháp trị, ông lại tin rằng một người lãnh đạo mạnh mẽ là cần thiết để dẫn dắt nhân dân và xây dựng đất nước, một vang dội của đồng thời một nền dưỡng dục theo truyền thống lẫn ước mơ noi gương các thành tựu kinh tế của Đài Loan và Hàn Quốc.

Không may, nỗ lực mới nhất của Thiệu nhằm sáp nhập các đảng        Quốc gia để cạnh tranh trong các cuộc bầu cử đã thất bại. Dù nhận được nguồn tài trợ lớn và lén lút từ Bunker, MTDCXHQG vẫn héo hắt. Đây là nỗi thất vọng ê chề vì đoàn kết phe Quốc gia trong tâm trí Thiệu là chìa khóa để thắng lợi trong cuộc tuyển cử tiếp theo và thuyết phục Hà Nội họ không thể đánh thắng. Tuy nhiên lời kêu gọi của Thiệu cho một đảng đối lập đã có kết quả. Đảng thân chính quyền mới ra đời của Tiến sĩ Nguyễn Văn Bông, Phong trào Quốc gia Cấp Tiến đang “cho thấy có nhiều năng lượng chính trị hơn và động lực tổ chức hơn bất kỳ những đảng đang hoạt động nào khác.” Mặc dù đảng này đang lớn mạnh, nó không có nền tảng rộng lớn. Vào cuối năm 1969, thành viên của PTQGCT khoảng 30,000 người, chủ yếu thuộc giới trung lưu. Bông đang tập trung xây dựng một tổ chức cán bộ nhằm đạt thắng lợi trong các cuộc bầu cử xã ấp trước khi ra sức lôi kéo hàng ngàn người. Dù nó chưa đủ mạnh để cạnh tranh và thành công trên bình diện quốc gia, điều miền Nam cần là một đảng có nền tảng quần chúng có thể hốt phiếu cho phe Quốc gia, và trong khoảng trống đó bước vào liên đoàn lao động của Trần Quốc Bửu, CVT. Vào ngày 29/10, liên đoàn của Bửu làm hồ sơ thành lập Đảng Công Nông. Với số thành viên lớn lao và ý thức chống cộng mạnh mẽ, nó có thể đóng vai một thành trì chống lại việc chiêu mộ giới công nhân thành phố của MTGP. Đảng Công Nông nhanh chóng được cho phép dưới bộ luật mới về chính đảng, và Thiệu nhờ Bửu nói với các đảng phái khác sáp nhập vào đảng ông. Khi Bửu cũng thất bại trong việc thuyết phục họ gác qua một bên các khác biệt, Thiệu bắt đầu nuôi dưỡng một ý tưởng trước đó được các người Nam Hàn đề cập nhưng giờ đây được Phan Quang Đán đề xuất với ông. Vào giữa tháng 10 1969 Đán khuyến cáo Thiệu và Khiêm nên thành lập một đảng cầm quyền, giống như Quốc Dân Đảng ở Đài Loan.

Đán, các tội trước đây của ông đã được xoá giải, đã trở về làm việc với chính quyền khi Khiêm chỉ định ông làm bộ trưởng không giữ bộ nào phụ trách quan hệ quốc tế. Đán nhận xét với một viên chức sứ quán Mỹ rằng Thiệu “có một trải nghiệm cay đắng với các đồng minh của mình trong MTDCXHQG.” Sự thất bại của Mặt trận là kết quả do cố gắng đoàn kết các chính trị gia. Thiệu giờ hiểu rằng phải vận dụng một công thức hoàn toàn mới cho việc động viên chính trị.” Đán nêu ý kiến rằng “các quan sát viên nước ngoài” đã chỉ trích Thiệu không “mở rộng chính quyền” đã không hiểu được rằng “trông cậy vào các chính đảng xưa cũ” là vô ích. Đán công kích các chính trị gia già “chỉ biết ngồi khoanh tay đợi Thiệu lâm vào cảnh rắc rối để họ có thể trục lợi. Kết quả rõ ràng,” Đán nói, “là việc động viên chính trị từ trên đỉnh xuống đã thất bại và giờ đây chính quyền phải tiếp cận nó từ bên dưới.” Tuy nhiên, ông thực lòng “sợ rằng sự bới móc liên tục của nước ngoài về sự cần thiết phải ‘mở rộng nền tảng’ đã làm lu mờ cơ hội thực sự để động viên sự hậu thuẫn nhân dân đang tồn tại cho Thiệu.”

Thiệu cổ vũ Đán nên bắt đầu suy nghĩ về một đảng cầm quyền. Tại buổi họp nội các vào tháng 2 1970, Đán phát biểu rằng “việc động viên chính trị người Quốc gia thực sự chỉ có thể đạt được nếu chính quyền phát động đảng chính trị của riêng mình.” Mục đích của đảng cầm quyền là bảo đảm “sự tái đắc cử của Tổng thống Thiệu.” Ý tưởng của Đán nhanh chóng bị gạt bỏ, khi Thủ tướng Khiêm nói rằng họ không có đủ thời gian để lập đảng và phát triển cán bộ. Tuy nhiên, Thiệu có mưu đồ. Rũ bỏ sự miễn cưỡng trước đây của ông về việc ràng buộc chức vụ tổng thống với một đảng đặc biệt như Cần Lao, Thiệu bật đèn xanh cho Đán bắt đầu tổ chức hoạt động. Từ sự kiện này cuối cùng sẽ xuất hiện Đảng Dân chủ của Thiệu, một nỗ lực nhằm động viên dân chúng sử dụng các nhân viên nhà nước làm bộ khung của đảng. Đảng cầm quyền này cũng sẽ củng cố việc bình định bằng cách cải thiện dịch vụ công ở nông thôn, và tiếp theo là đưa tới số phiếu trong cuộc bầu cử.

Trong lúc này, Khiêm bắt tay vào việc sắp xếp lại bộ máy hành chính. Dù vậy  động thái đầu tiên của Khiêm báo trước một vấn đề sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng đến nền cộng hòa. Vào ngày 16/9, trong diễn văn đầu tiên trong vai trò thủ tướng, Khiêm không hề đề cập đến việc chống tham nhũng. Người Saigon nghe một thông điệp trơn trụ. Giờ đây chỉ còn tồn tại Ban Thanh tra vô tích sự, một cơ quan có trách nhiệm điều tra về những vụ vi phạm của chính quyền.

Đối với các  đầu óc hay nghi ngờ, hành động của Khiêm dường như canh đúng cho một vụ xét xử gần đây của Ban Thanh tra đối với Chuẩn tướng Nguyễn Văn Toàn, chỉ huy Sư đoàn 2 đóng ở Quảng Ngãi. Toàn bị xét xử vì tội sử dụng quân xa vào tháng 7 1967 để chuyên chở vỏ cây quế từ tỉnh lỵ. Việc buôn bán vỏ cây quế có lợi nhuận cao đã bị cấm từ năm 1965 khi vùng duy nhất nơi cây quế mọc nhiều rơI vào tay MTGP. Toàn khai rằng mình chỉ giúp đỡ một thương nhân địa phương đã nhờ ông chuyển vỏ cây đã được thu hoạch về Đà Nẵng, và ông trình ra giấy tờ cho thấy số tiền ông nhận đã được trao cho các đơn vị quân xa vận tải liên quan, ông không bỏ túi riêng. Bất chấp, ban Thanh tra đã đề nghị cách chức chỉ huy của Toàn và thuyên chuyển ông ra khỏi Quân đoàn I. Một vài chỉ huy quân đội cao cấp lập tức phản đối, và Thiệu từ chối áp dụng đề nghị. Toàn trở nên được biết dưới tên hiệu “Quế Tướng Công”, một trong ít sĩ quan cao cấp của QLVNCH bị bắt tại trận. Tuy nhiên, việc Thiệu không thể xử phạt Toàn phải trả giá. Nhiều sĩ quan trẻ hoá ra tỉnh ngộ khi chứng kiến việc Thiệu bao che cho một kẻ nịnh thần. Góp thêm bất mãn của họ là việc các sĩ quan này không thể nuôi sống gia đình  nếu vợ họ không đi làm. Tham nhũng ở giới có chức quyền vẫn mãi là căn bệnh ung thư làm thối rữa xuơng thịt miền Nam.

Không chỉ tham nhũng đang làm điên đầu Thiệu, mà một vụ hỗn loạn sắc tộc khác đã bùng phát. Vào tháng 4 1969, Thiệu thổ lộ rằng ông muốn cải thiện mối quan hệ ngoại giao với các đất nước khác nhau. Ông tái lập đại sứ Saigon tại Lào, và phái Ngoại trưởng Thành đến Indonesia để hàn gắn mối quan hệ đã bị cắt đứt từ năm 1962. Tuy nhiên sáng kiến quan trọng nhất của ông là với Cao Miên. Vì ông hoàng Sihanouk gần đây đã thú nhận rằng QĐNDVN đã vi phạm lãnh thổ Cao Miên, cả Nixon và Thiệu hy vọng họ có thể nối lại đối thoại về việc xác định đường biên giới và các vấn đề khác vốn đã chìm vào quên lãng từ năm 1964. Dù vậy Sihanouk vẫn dè dặt kết thân với Thiệu, và không có tiến bộ nào đạt được trong việc giải quyết vấn đề ranh giới.

Cố gắng thuyết phục Sihanouk về thiện chí của Thiệu, vào ngày 18/9, Khiêm ký một sắc lệnh thành lập Văn phòng Phát triển người Việt gốc Miên. Giáo hội Phật giáo Cao Miên, nhóm lớn nhất trong giáo phái Quốc Tự của Tâm Châu, đã choàng tỉnh khỏi tình trạng bất động chính trị của mình và bắt đầu gây sức ép với Thiệu từ tháng 12 1968 đòi có một cục riêng biệt với ngân sách riêng. Với hận thù sắc tộc giữa người Miên và người Việt, người Miên không thể vươn lên trong xã hội miền Nam, nhất là trong lãnh vực quân sự, và các sư sãi muốn chấm dứt sự kỳ thị. Khi Thiệu thành lập Hội đồng Thiểu số Sắc tộc vào ngày 14/10 nhằm cố vấn ông về các vấn đề hoặc pháp lý liên quan đến nhóm thiểu số, người Miên phần nào bị bỏ rơi. Các nhà sư Miên với áo choàng đỏ cam ở Saigon lập tức biểu tình ngồi bất bạo động trước Dinh Độc Lập. Mặc dù lúc đầu để yên không quấy rối họ, nhưng vào ngày 18/11, cảnh sát giải tán gần như 200 nhà sư phản kháng. Một tháng sau, các nhà sư trở lại và lần này đụng độ với cảnh sát . Sử dụng lưu đạn cay và vòi rồng bắn nước, cảnh sát dẹp tan cuộc biểu tình, nhưng Thiệu đã chịu đựng đủ.

Vào ngày 22/12, ông thêm người Miên vào hội đồng. Trong khi sự bất ổn lắng xuống ở Saigon, người Miên ở vùng Cửu Long tiếp tục biểu tình nhỏ trong các khu vực phía nam của họ, nhưng họ dừng lại sau khi Lon Nol lật đổ Sihanouk vào tháng 3 1970. Đây là rối loạn sắc tộc cuối cùng Thiệu đối mặt cho đến năm 1974.

TIẾP TỤC KHUẾCH TRƯƠNG NHÀ NƯỚC

Bình định hoá vẫn là chương trình cấp thiết nhất trong chiến lược của Thiệu để gìn giữ nền cộng hòa. Thiệu bắt đầu đi kinh lý các quân đoàn, tại đó ông thường khiển trách các viên chức địa phương tội nhũng nhiễu. Kế hoạch bình định hoá mới của ông dành cho năm 1970 có ba mục tiêu lớn: chấm dứt chiến tranh, xây dựng dân chủ, và đạt được sự tự túc. Ông đặc biệt hy vọng gia tăng lợi tức của nông dân bằng cách cải thiện sản lượng nông nghiệp. Khi một trận lũ lụt vào cuối năm 1968 quét sạch lượng thu hoạch của thị trấn Võ Đắc, một vùng sản xuất lúa gạo lớn cách Saigon khoảng 75 dặm về phía đông bắc, USAID chở đến những bao thóc giống IR-8, “giống lúa thần kỳ” được nghiên cứu ở Phi Luật Tân. Được phát triển bởi Viện Nghiên cứu Lúa gạo, dòng lúa mới cho sản lượng tăng gấp đôi mà thời gian trồng lại ít hơn một phần ba. Mặc dù gạo IR-8 ăn không ngon bằng gạo nội địa, giống gạo thần kỳ này đã cứu vụ mất mùa ở Võ Đắc.

Rất ấn tượng, Thiệu mở rộng chương trình và bắt đầu năn nỉ nông dân trồng giống lúa mới này. Khoảng 100,000 mẫu được canh tác trong năm 1968, và Bộ Nông nghiệp nhanh chóng đặt tên cho giống mới này là Thần Nông. Sản lượng gạo năm 1969 tăng lên gần một triệu tấn so với năm 1968. Thiệu lên kế hoạch tự túc lúa gạo trở lại cho miền Nam trong vài năm tới, nhưng gạo thần kỳ cần phân hóa học và thuốc trừ sâu, rất tốn kém đối với nông dân. Dù vậy, chẳng bao lâu gạo thần kỳ sẽ đem lại cuộc cách mạng trong thu nhập canh tác.

Thành quả về an ninh cũng thúc đẩy các chức năng chính quyền thiết yếu khác. Vào tháng 7 1969, bầu cử được tổ chức gần như trên tất cả làng mạc và 80 phần trăm ấp. Giờ đây Thiệu lên kế hoạch cho các cuộc bầu cử hội đồng tỉnh trong năm 1970 để củng cố thêm nữa quyền lực địa phương.

Người tị nạn, một bao thủng đáy triền miên của CQMN, đã giảm từ 1.4 triệu người trong tháng 2 1969 đến khoảng 350,000 vào cuối năm. Dù mắc các chứng bệnh thông thường về nạn tham ô và tình trạng ngặt nghèo ở trại cứu trợ, từ năm 1965, CQMN đã chăm sóc cho gần 4 triệu dân tị nạn ở nông thôn và thành thị, một phần tư dân số. Văn phòng tị nạn của Bộ Phúc Lợi Xã hội, gần như không tồn tại bốn năm trước, giờ đã có 1,600 nhân viên. Khi vấn đề người tị nạn tưởng chừng không cách nào giải quyết được, nhờ người Mỹ liên tục đổ tiền và phương tiện tái định cư, CQMN đã đi một quãng đường dài trong bốn năm.

Về quân sự, Thiệu dự tính dịch chuyển mỗi bộ phận lực lượng vũ trang của ông – Lực lượng Nhân dân Tự vệ, Địa phương quân/Nghĩa quân, và QĐVNCH – đến một vai trò khác để thay thế lực lượng Mỹ sẽ ra đi. Giới chỉ trích đã từ lâu nhấn mạnh rằng quá dựa vào lực lượng quân sự là tự chuốc lấy thảm bại trong một trận đối đầu chính trị cơ bản. Trong khi điều đó là đúng trong những năm đầu của cuộc chiến, nhưng giờ thì một trận đánh có tính quy ước nhiều hơn giữa các đơn vị có quy mô lớn hơn, sử dụng pháo binh và xe tăng đang hiện ra ở chân trời, một thay đổi ít người thấy đang đến gần. Cho dù Thiệu cũng không lên kế hoạch cho một trận xung đột tương lai giữa các đối thủ trang bị nặng, kế hoạch của ông rất đơn giản: bốn triệu dân tham gia Nhân dân Tự vệ sẽ đảm nhận việc canh giữ làng ấp thay Nghĩa quân. Nhờ đó Nghĩa quân có thể tuần tra phía ngoài làng, thay thế Địa phương quân, giờ sẽ tiếp nhận vai trò bình định của QĐVNCH. Tăng cường hoả lực và huấn luyện Địa phương quân/Nghĩa quân là vấn đề có tính quyết định vì giờ họ lên đến 40 phần trăm trong quân số 1 triệu người. Giải phóng khỏi nhiệm vụ phòng thủ buồn tẻ, lực lượng chính quy sẽ trở về vai trò cơ động ban đầu  và đem chiến tranh đến QĐNDVN.

LLNDTV không chỉ là chìa khóa để dịch chuyển các vai trò quân sự, nó còn quan trọng sống còn đối với cuộc thách thức chính trị sắp đến xảy ra ở thùng phiếu. Ẩn giấu bên trong thiết kế của Thiệu là việc các thành viên trong LLNDTV sẽ được huấn luyện trong học thuyết chống cộng và trở thành bộ binh trong một chính đảng có nền tảng quần chúng mà ông đã khao khát một cách tuyệt vọng. “Quan niệm,” Thiệu nói, “là “đào tạo LLNDTV không chỉ giỏi sử dụng vũ khí mà còn chỉ dẫn họ về công dân học, để xiển dương động lực chính trị … và do đó biến họ là các thành tố hiệu quả của chính quyền và các chính sách của nó. Chiến đấu với người Cộng sản không chỉ là vấn đề phòng thủ chống các gây hấn vũ trang … mà còn là vấn đề mang tình cảnh của chính quyền đến với nhân dân.”

Dựa vào kế hoạch mà ông đã phác họa với Nixon tại cuộc họp của họ vào cuối tháng 7, và để hậu thuẫn việc tái cơ cấu quân sự của ông, vào ngày 20/8, Thiệu gửi Nixon một yêu cầu viện trợ khổng lồ cho năm 1970. Ông bảo cho Nixon rằng “CQMN tha thiết mong ước nhận lãnh trách nhiệm tăng trọng trong Cuộc chiến Việt Nam … nhưng CQMN cần sự yểm trợ của Mỹ giúp củng cố đất nước.” Thiệu muốn bổ sung 148,000 quân vào QLVNCH trong năm 1970, và ông nhờ Mỹ cung cấp trang thiết bị và huấn luyện. Tuy nhiên miền Nam nằm dưới lòng thương xót của Quốc hội Hoa Kỳ, và Quốc hội rất cáu bẳn về việc viện trợ cho nước ngoài.

Vào tháng 10 1968, Quốc hội thông qua một số tiền viện trợ nhỏ nhất kể từ khi Hoa Kỳ bắt đầu chương trình viện trợ sau Thế Chiến II. Không lâu sau đó, vào tháng 2 1969 Thượng viện tiến hành một cuộc điều tra  nạn tham những và hối lộ thương mại trong các công ty Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Cảm nhận được làn sóng ý kiến Quốc hội đang đổi chiều về hướng chống lại ông, Thiệu quyết định đưa ra một đề xuất táo bạo. Trong bài diễn văn hàng năm đọc trước quốc hội, vào ngày 6/10/1969, ông tuyên bố rằng “để giúp chính quyền Mỹ trong các vấn đề nội bộ và giảm gánh nặng cho nhân dân Mỹ, chúng ta quyết tâm thay thế đa phần các đơn vị tác chiến trong năm 1970.”

Đề nghị của ông bị lạc lõng giữa các cuộc biểu tình Lãng Công, nhưng mặc dù Nixon tán thành tăng viện trợ cho Saigon vào ngày 1/12, Quốc hội một lần nữa thông qua một số lượng đã cắt giảm rất nhiều cho năm 1970. Nixon giờ phải rút bớt tiền viện trợ từ các nước khác để hậu thuẫn kế hoạch Thiệu vì mục tiêu kinh tế theo nguyên tắc Mỹ cho miền Nam là để “bảo đảm rằng các nguồn tài chính Mỹ có đủ được dùng để phụ giúp CQMN giữ cho mức lạm phát ở trong giới hạn quản lý được và tiếp tục tạo áp lực lên CQMN để thi hành các biện pháp tiền tệ và tài khóa thiết yếu để hoàn thành kết quả này.” Không được thêm tiền viện trợ, “các tiến bộ về quân sự và chính trị có thể lâm vào tình trạng hiểm nghèo nếu các đồ dự phòng không được cung cấp để duy trì nền móng kinh tế của những nỗ lực chiến đấu khi thời kỳ Việt Nam hóa phát triển.”

Vậy mà cũng vào lúc ấy, Nixon công bố một lịch trình rút quân khác, lần thứ ba vào năm 1969. Thiệu chỉ có thể hy vọng rằng kế hoạch quân sự của mình sẽ thành công trước khi người Mỹ bỏ đi. Sau này Kissenger thú nhận, “Sau năm 1969 chiến tranh Việt Nam đã biến thành một cuộc chạy đua giữa việc rút quân của chúng ta, sự cải thiện của quân đội miền Nam, và khả năng của Hà Nội gây gián đoạn cho tiến trình bằng các trận đột kích.”

May mắn cho Nixon, cục diện của cuộc chiến thuận lợi cho kế hoạch rút quân của ông. Bô Chính trị cũng đã quyết định thay đổi chiến lược. Viết sau chiến tranh, họ công nhận vào cuối năm 1969,

Các đơn vị bộ đội đã suy yếu nghiêm trọng và gần như toàn bộ quân chủ lực của chúng ta phải rút về Bắc Việt hoặc để tái tập họp và tải trang bị hoặc họ phải chuyển đến phía bên kia biên giới. Một số đơn vị bị giải thể hoàn toàn. Đây là một trong hai thời kỳ mà chúng ta gánh chịu những tổn thất to lớn nhất trong lịch sử cách mạng miền Nam: bốn năm sau việc ký kết Hiệp định Geneva (1954-1958) và hai năm sau Tết Mậu Thân, từ giữa năm 1968 đến đâu năm 1970. Trong thời kỳ này, số thương vong tổng cộng của chúng ta lên đến hơn 100,000 cán bộ, bộ đội, và đặc vụ, một con số xấp xỉ ngang với tổng thương vong của chúng ta trong suốt thời kỳ chống Pháp … Trong hai năm 1968-1969 tổn thất của chúng ta chỉ tính riêng trong Mặt trận B-52 thôi đã gấp hai tổng tổn thất trong bảy năm trước (từ 1961 đến 1967) và bằng một phần ba toàn bộ quân số ở miền Nam vào thời kỳ đó. Kẻ thù chiếm lại được gần 3,000 ấp và nắm quyền kiểm soát thêm 3 triệu dân.

Thậm chí mức độ xâm nhập giảm sâu từ năm 1968; chỉ 81 ngàn người đi nam vào năm 1969. Với khó khăn quân sự gia tăng khủng khiếp, trong năm 1970, Bộ Chính trị sẽ quay sang vũ khí khác của họ, khuấy động chính trị. Các cuộc biểu tình phản chiến ở Mỹ và những chia rẽ xã hội và chính trị ở miền Nam mang đến cho Bộ Chính trị một cơ hội họ không có được từ những ngày đáng sợ của những năm 1963 và 1966.

Ngọn lửa đấu tranh sẽ một lần nữa tiến đến gần trận hủy diệt miền Nam.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s