Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 16)

 CHƯƠNG 16: “CHÚNG TÔI NHỮNG NGƯỜI  ĐIỀU HÀNH ĐẤT NƯỚC NÀY KHÔNG PHẢI LÀ LÃNH CHÚA”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

 Thiệu Đề Xuất Hòa Bình

Liên minh Mỹ/Việt đã trải qua thử thách cam go, và mối quan hệ vẫn không dễ dàng cho khoảng thời gian còn lại của nhiệm kỳ Tổng thống Johnson.

Thoát khỏi sự kềm kẹp của Hội đồng Quân sự và được sự yểm trợ mạnh mẽ theo sau việc ông không chịu cúi đầu trước đòi hỏi của người Mỹ, sáu tháng đầu tiên của năm 1969 là một trong các thời kỳ năng động nhất của cuộc đời tổng thống Thiệu. Đặc biệt, Thiệu tìm cách gây ảnh hưởng đến bộ máy hành pháp mới của Nixon bằng cách đưa ra liên tiếp các đề xuất hòa bình. Hơn nữa, ông sẽ tiếp tục các nỗ lực của mình để đoàn kết người Quốc gia ương ngạnh. Tuy nhiên, nỗ lực quan trọng nhất của ông là củng cố các dự tính trước đây nhằm trả lại quyền lực cho làng ấp. Ông tái thiết chiến lược đối nội của CQMN để tập trung vào công cuộc phát triển quốc gia nhằm cải thiện đời sống nông dân qua các chương trình nhà nước sôi động. Không theo cách tiếp cận từ trên xuống kiểu thời Tổng thống Diệm, Thiệu muốn bắt chước các mô hình thành tựu của Đài Loan và Nam Hàn. Mặc dù ông không sao chép chính sách của các đồng minh chuyên chính của mình, ông ắt hẳn mong muốn đạt được những thành tựu như họ. Không may, tính độc đoán ngày càng tăng của ông đẩy các thành tựu của ông ra khỏi tầm mắt.

HẬU QUẢ BẤT NGỜ

Phản ứng trước quyết định không tham dự hòa đàm Paris của  Thiệu đến nhanh chóng. Đứng lên dám chống lại người Mỹ ngay lập tức gây tiếng tăm. Khi nhiều nhà lập pháp tuần hành đến dinh sau bài diễn văn của Thiệu, một ngài Nguyễn Cao Kỳ hồ hởi ra mặt nói trước đám đông và lên án Hoa Kỳ đã ra sức ép với người miền Nam bắt ký tên vào một thông cáo chung và tham dự hòa đàm. Mặc dù một ngài Thiệu điềm tĩnh hơn không quên tri ân người Mỹ vì đã hỗ trợ và “thậm chí đã góp xương máu cho miền Nam,” nhưng ông cũng tỏ ra cứng rắn hơn. Ông xác nhận rằng nếu Hoa Kỳ “tiếp tục khăng khăng đòi quyết định mọi việc … CQMN sẽ cắt đứt mối ràng buộc với Mỹ và phát triển các mối quan hệ vững chắc hơn” với các đồng minh như Nam Hàn. Để đáp lại, giới ưu tú Saigon bùng nổ một trận  khẩu khí cuồng nhiệt. Quốc hội phát đi bản lên án bốc lửa bài diễn văn của Johnson, gọi đó là một “hành động phản bội” và vi phạm lời cam kết với CQMN. Các bài chính luận trên báo đả phá “hành động đơn phương” của người Mỹ. Lực lượng Đại Đoàn kết Công giáo tổ chức một cuộc biểu tình để ủng hộ Thiệu, trong khi lãnh tụ Phật giáo Thích Tâm Châu cũng lớn tiếng lên án quyết định của người Mỹ.

Vì các đồng minh Á châu đã mạnh mẽ cổ vũ ông không tham dự hòa đàm Paris hoặc đàm phán với MTGP, Thiệu tưởng rằng họ toàn tâm toàn ý hậu thuẫn mình. Buồn thay ông đã sai lầm. Sau bài diễn văn đọc trước quốc hội của ông, các đối tác Hàn Quốc bất ngờ trở nên xa lạ. Tổng thống Park Chung-hee triệu tập khẩn cấp nội các để thảo luận tình hình. Các thính giả trong nước của ông thường tạo hình cho chính sách đối ngoại của ông cũng như thính giả trong nước của Thiệu. Park phải bước đi thận trọng giữa một bên là không làm nổi giận phe cứng rắn của ông với một đáp ứng quá ngoan ngoãn với bên kia là công khai hậu thuẫn Thiệu, và do đó đánh liều cắt đứt quan hệ với ân nhân của mình. Park quyết định đi hàng hai. Ông gửi cho Johnson một bức thư lặp lại những gì ông đã bảo với đại sứ Mỹ vào đầu tháng 10: ông hậu thuẫn sáng kiến hòa bình của Hoa Kỳ nhưng nhắc nhở là Hà Nội không thể tin cậy được. Đọc giữa hai hàng chữ, Cố vấn An ninh Quốc gia của Johnson Walt Rostow thông tin cho Johnson rằng người Hàn “rất ý thức về quyền lợi của họ nên không thể cho Thiệu sự đồng lòng mà hiện giờ ông ta có thể mong muốn.”

Người Đài Loan phản ứng tương tự. Ý kiến của Tưởng Giới Thạch về bài diễn văn của Thiệu ta không rõ, nhưng như Park, ông bí mật đi nước đôi. Vào cuối tháng 12, ông gửi một đặc sứ đến Thiệu thúc giục ông tham dự hòa đàm, rồi nhanh chóng báo tin cho đại sứ Mỹ về động thái của mình, lưu ý rằng “ông xem việc hậu thuẫn Hoa Kỳ hoàn toàn …  trong tình hình Việt Nam là nghĩa vụ của mỗi đồng minh.” Trong hai tháng đầu năm 1969, Tưởng gửi thêm vài thông điệp nữa đến Tổng thống Richard Nixon. Theo ý ông, đồng minh có thể đạt được một nền hòa bình danh dự “nếu tránh được sự hấp tấp và nôn nóng không thích hợp … Bất kỳ manh mối nào về sự sốt sắng thái quá của Hoa Kỳ-CQMN tại bàn hội nghị đều sẽ không khỏi bị địch coi là dấu hiệu của sự yếu thế.” Thông điệp củng cố thêm suy nghĩ của Nixon.

Trong nội bộ Johnson, mức độ phản ứng trước hành động của Thiệu đi từ cung cách điềm tĩnh của Rusk đến cơn thịnh nộ của Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford. Clifford, trong một cuộc họp báo vào ngày 12/11, mạt sát Thiệu và gợi ý là Hoa Kỳ có thể tham dự hòa đàm Paris một mình. Bunker bỏ ra vài ngày tế nhị tháo ngòi nổ cho bãi mìn đó. Mặc dù có khó khăn giữa hai xứ, vị đại sứ luôn tích cực tiếp tục bảo vệ Thiệu một cách hào hiệp. Có tình cảm với miền Nam, ông báo tin cho các lãnh tụ cao cấp Hoa Kỳ rằng bài diễn văn khích động của Thiệu vào ngày 2/11 giúp ông ta “rũ bỏ được hình ảnh của người đứng đầu ngành hành pháp do Mỹ chỉ định và trở thành một nhà lãnh đạo đúng nghĩa. Bằng cách dẫn dụ đến chủ nghĩa quốc gia, ông đã có được vầng hào quang của một nhà ái quốc đởm lược  dám đứng đối mặt với ngoại bang.” Kỳ đồng ý với vị đại sứ, phát biểu rằng “giả dụ Thiệu đã nhượng bộ Mỹ, nhân dân sẽ gọi chính quyền Thiệu là tay sai của Hoa Kỳ và Thiệu có thể bị ám sát.” Rusk xuôi theo luận điểm của Bunker, cho rằng “chúng ta không muốn lấy đi của Thiệu và miền Nam những lợi thế như ông ta và người Quốc gia có thể đã rút ra được từ đoạn đường đau đớn của sự tự xác định mình này.” Thiệu, tuy nhiên, cần nhanh chóng suy xét lại thái độ đanh thép của mình. Rusk lưu ý vị đại sứ rằng “nhận thức của Quốc hội và báo chí đang lớn mạnh nhanh chóng” và rằng “nó đều như nhau và vô cùng tiêu cực.”

Mặc dù Hoa Kỳ tin chắc Hà Nội đã đồng ý các điều kiện của Johnson, cố vấn chính sách đối ngoại của Thiệu Nguyễn Phú Đức lớn tiếng cho rằng “các e ngại của CQMN đều được khẳng định về mọi phương diện bởi các phát biểu và hành động của Hà Nội.” Đức đã cảnh báo Hoa Kỳ rằng không công khai khẳng định, Bô Chính trị sẽ lập tức nuốt lời. Ông nói đúng. Hà Nội nhanh chóng xác nhận rằng việc ngừng dội bom là vô điều kiện và hoà đảm bao gồm cả bốn bên. Họ tiếp tục lai rai pháo kích vào các thành phố miền Nam.

Tuyên bố của Hà Nội không chỉ là để tuyên truyền ra nước ngoài cho thế giới tiêu thụ. Vào ngày 9/11, Bộ Chính trị ban hành  một bản cập nhật cho nghị quyết tháng 8 1968 của họ. Câu đầu tiên phát biểu rằng Bộ đã họp để đánh giá tình hình sau khi “người Mỹ buộc phải ngưng dội bom vô điều kiện và . . . đồng ý bước vào hội nghị bốn bên.” Sau một đoạn phân tích dài dòng trong đó Bộ Chính trị thừa nhận mình còn ở kèo trên và một thắng lợi quân sự vẫn là mục tiêu cơ bản, một lựa chọn thứ hai đang bắt đầu le lói. Hà Nội sẽ khuấy động sự bất ổn chính trị ở miền Nam để lật đổ chính quyền Thiệu. Sự bất đồng chính kiến của phe Quốc gia thường là do Cộng sản kích động, cho dù bọn gièm pha Thiệu phủ nhận điều đó. Bộ Chính trị xác định rằng lúc này là thời cơ để

tăng cường đấu tranh chính trị trong thành phố. Các khẩu hiệu đấu tranh là nhân tố cốt lõi để động viên quần chúng nổi dậy. Bằng cách xúi giục người biểu tình mang theo các biểu ngữ như “Đối thoại với MTGP” hay “Vãn Hồi Hòa Bình”, những người đối kháng này sẽ thu hút được mọi tầng lớp, mọi giới yêu nước, mọi nhóm sắc tộc, và tôn giáo, đặc biệt là Phật tử … Chúng ta phải lợi dụng mọi xung đột trong hàng ngũ kẻ thù. .. cuối cùng đưa đến lật đổ chính quyền bù nhìn … Chúng ta phải sử dụng mọi phương thức tranh đấu (hợp pháp, bán hợp pháp, bất hợp pháp), bao gồm hội thảo, trình bày yêu sách, mít tinh, biểu tình, đình công, bãi thị, bãi học, v…v…) để mạnh dạn dẫn đầu nhân dân xuống đường tạo thành một phong trào cách mạng rộng khắp, nhiều tầng lớp trong quần chúng nhân dân. Chúng ta phải chú ý hết sức việc sử dụng tờ rơi và báo chí kể cả báo công khai. Chúng ta phải sử dụng mọi hình thức hoạt động hợp pháp trong nỗ lực này.

Trong khi người Cộng sản đã thất bại trong việc tập họp biểu tình, đây là lúc khởi đầu một sự dời chuyển tạm thời từ việc tìm kiếm một thắng lợi quân sự trước mắt đến việc gây bất ổn chính trị đặt lên hàng đầu. Trong vòng một năm, phe chống đối sẽ trở lại đường phố Saigon. Một số phong trào chống đối là do Cộng sản tổ chức, một số khác thì không. Tuy nhiên, Lê Duẩn không thể nhìn nhận, hoặc bên ngoài hoặc bên trong, rằng cuộc phiêu lưu quân sự của ông đã trả giá đắt. Ông vẫn cuồng tín quyết tâm thống nhất Việt Nam dưới lá cờ của chủ nghĩa Mác. Hoà bình vẫn còn là một ảo ảnh.

BƯỚC TIẾP THEO CHO CÁC ĐỒNG MINH

Sau khi nhiệt huyết của người Quốc gia đã nguội xuống, họ nhận ra rằng một sự cắt đứt hoàn toàn với Hoa Kỳ chẳng khác nào một bản án tử, và Bunker cùng Thiệu bất đầu soạn thảo một lộ trình mới cho đồng minh. Khi Johnson quyết định chống lại việc mở ra đàm phán vào ngày 6/11, Ngoại trưởng Thành đưa một phản đề nghị cho Bunker vào ngày 8/11, yêu cầu, trong số những đề mục khác, liệu Mỹ có thể chỉ định CQMN làm trưởng đoàn đàm phán của phe đồng minh không. Nếu người Mỹ cầm đầu, ông nói, nó sẽ tạo cớ cho Hà Nội tuyên truyền Saigon là tay sai của Mỹ còn Hồ Chí Minh nghiễm nhiên là người danh chính ngôn thuận mang đến độc lập cho Việt Nam. Mặc dù Rusk bác bỏ, ông ta nhượng bộ trên một số điểm thủ tục để Saigon đỡ mất mặt.

Sau một phen tranh cãi, Thiệu đồng ý gửi một phái đoàn đến Paris. Thiệu cử Kỳ đi “giám sát” tiến trình thương thảo, chủ yếu cho ông ta có việc làm, nhưng ông chỉ định cựu Ngoại trưởng Phạm Đăng Lâm làm người cầm đầu chính thức của phái đoàn Saigon. Lâm chọn Nguyễn Xuân Phong, cựu tổng trưởng lao động của Kỳ và là bạn cũ của Lâm làm phó cho mình. Trưởng đoàn thương thuyết phía Mỹ Harriman khinh khi Lâm, nhưng Phong thấy Lâm “thông minh và có kỷ luật … một nhà ngoại giao tinh túy,” Không có ảo tưởng gì đạt được tiến bộ với một Hà Nội rõ ràng bất trị, Lâm nhận xét với Phong rằng việc hòa đàm chẳng khác nào “nói chuyện với thằng điếc.” Cả hai đều tin rằng lập trường thương thuyết của Hà Nội không có gì thay đổi: Mỹ rút quân và “loại bỏ hoàn toàn” Việt Nam Cộng Hòa.

Đúng như Nguyễn Phú Đức đã dự đoán, hai bên lập tức bế tắc về vấn đề thủ tục. Tranh cãi chủ yếu là kích cỡ và sự sắp xếp của bàn hội nghị. Hà Nội muốn một bàn có bốn cạnh, một mưu tính rõ ràng sử dụng hình dáng để biểu thị một thỏa thuận bốn bên. Khi Saigon phản đối, các quan sát viên bên ngoài đổ lỗi cho Thiệu cho điều dường như là một ngõ cụt lố bịch, vậy mà ông hiểu rõ ràng câc vấn đề thủ tục biểu thị cho các vấn đề thực chất. Chiếc bàn đó tượng trưng cho chủ quyền của miền Nam, và ông nhấn mạnh không được đánh dấu nó để ngăn Hà Nội xiển dương MTGP như là một bên tham dự độc lập, và suy ra, là một đối tác ngang hàng với chính quyền được dân bầu ra hợp pháp. Khi Hà Nội vẫn khăng khăng, cuộc đàm phán bế tắc, không thể nào khởi sự phần thảo luận chính cho đến khi vấn đề hậu cần đã được hoàn tất..

Vào ngày 10/1/1969, Bunker đến gặp Thiệu để thuyết phục ông thôi kèn cựa hơn nữa về việc chiếc bàn. Vị đại sứ giải thích rằng người Mỹ và bộ máy hành pháp sắp đến của Nixon muốn bắt đầu đàm phán có thực chất. Sau khi lắng nghe, Thiệu lưu ý rằng mình “không phải là siêu diều hâu” và rằng hai năm trước ông đã phát biểu rằng cuộc chiến sẽ không kết thúc bằng một thắng lợi quân sự. Trong khi Thiệu tin rằng một ngày nào đó trong tương lai sẽ có một trận thanh toán cuối cùng với Quân đội Nhân Dân, ông cho rằng không có bên nào có thể chiến thắng về mặt quân sự. “Cuối cùng,” Thiệu nói, “sẽ phải giải quyết về mặt chính trị liên quan đến việc cạnh tranh với Cộng sản, một cuộc cạnh tranh có tính quyết định.” Thỏa thuận thực sự để đạt được sự cạnh tranh đó không thể bắt đầu nếu Hà Nội không chấp nhận nguyên tắc này, một sự chấp nhận dường như là một mục tiêu bất khả.

Tuy nhiên, Thiệu để lại một điểm chủ chốt không nói ra. Nhiều năm rồi, các lãnh tụ Quốc gia đã đòi hỏi một thắng lợi quân sự. Thậm chí đề cập đến một giải pháp chính trị cũng được coi là “chủ bại” và có nguy cơ bị cảnh sát đến hỏi thăm.

Giờ Thiệu phải thuyết phục nhân dân mình chấp nhận một cuộc dàn xếp qua bầu cử, và việc đó cần thời gian … Nhân dân miền Nam giờ hiểu được rằng sẽ có hòa bình mà không cần phải chiến thắng, rằng họ phải chờ đợi một cuộc cạnh tranh khó khăn với phe Cộng sản, và rằng người Mỹ cũng muốn và mong chờ điều này. Do đó, câu hỏi đã trở thành làm thế nào để khiến miền Nam đủ mạnh về mặt chính trị để thắng cuộc cạnh tranh đang hiện ra lờ mờ … cuộc chiến tuyên truyền cực kỳ quan trọng. Đây không chỉ là một vấn đề về chất, nó cũng ngang bằng, và đôi khi thậm chí nhiều hơn, là một vấn đề về dáng dấp, về bộ mặt, về uy tín … Vấn đề chung của chúng ta là làm cách nào đánh thắng cuộc chiến chính trị và làm cách nào để phát huy lập trường tuyên truyền để hậu thuẫn cuộc chiến đó.

Thiệu tin rằng vấn nạn về quan hệ công cộng của mình là phải duy trì sự lạc quan và lòng quyết tâm trên cả hai bờ Thái Bình Dương. Từ đó, ông cần thỏa mãn cả công luận Mỹ lẫn tinh thần của nhân dân Việt Nam để thắng trận quyết đấu chính trị.

Vào ngày 15/1, một chiếc bàn tròn không đánh dấu đều được các phe đàm phán đồng ý. Thiệu đã miễn cưỡng hòa giải, chủ yếu để lấy lòng vị tổng thống mới đắc cử và thuyết phục các quan sát viên nước ngoài mình không phải là vật cản đối với một cuộc hòa giải có ý nghĩa. Thiệu biết rằng hình ảnh quốc tế của ông đã bị lu mờ nhiều, vậy mà trong nước uy tín ông lên cao. Kể từ khi được bầu, ông đã xoay sở khéo léo giữa các tiếng nói Quốc gia bất hòa để tạo ra một chính quyền vững chãi nhất kể từ thời Diệm. Mặc dù còn bị ám ảnh bởi sự kín đáo và thận trọng quá mức cần thiết, ông đã lèo lái ra khỏi bãi cạn mà các nhà lãnh đạo thiếu năng lực đã mắc cạn. Sau khi đã khắc chế thành công nhóm tướng lĩnh khó chịu, công luận xem ông là một nhà vận động khéo léo trong chính tình Saigon phức tạp hơn là một người lãnh đạo gây cảm hứng, một người vượt thắng nhờ cần cù, bản năng sinh tồn siêu hạng, và có tính thực dụng sắc sảo. Bunker, tuy vậy, nhìn thấy ở Thiệu một nhà lãnh đạo trưởng thành trong nhiệm vụ. Mối quan hệ càng ngày càng mật thiết của vị đại sứ với vị tổng thống miền Nam, được trui rèn trong lò luyện của những ngày khó khăn cuối tháng 10 và đầu tháng 11 đó, sẽ giúp Thiệu vươn cánh tay nhà nước một cách đầy ấn tượng đến với làng mạc trong năm 1969.

XÂY DỰNG TÍNH HỢP PHÁP

Trong khi Thiệu lao đầu vào thảo luận hòa bình và phục hồi quán tính công cuộc bình định hoá, Thủ tướng Trần Văn Hương đã kiên trì thiết lập một phạm trù vô định hình nhất, quyền uy đạo lý của chính quyền. Tuổi của Hương, thường được coi là điều kiện tiên quyết để vận dụng quyền lực, và danh tiếng liêm khiết và tận tụy đối với đất nước của ông đã phát huy tâm thế của chính mình. Dù không phải là người tin cẩn bậc nhất của Thiệu, ông và tổng thống làm việc tâm đắc với nhau và tôn trọng nhau. Hương thi hành chính sách nhà nước còn Thiệu thì thiết kế nó. Thiệu được xem như một nhà hành pháp có năng lực, còn Hương đem lại cho chính quyền tiếng tăm trong dân chúng đã không giữ được kể từ những ngày đầu của chế độ Diệm.

Chẳng hạn, uy tín của Hương giúp chữa lành mối rạn nứt giữa CQMN và nhóm nổi dậy người Thượng FULRO. Dù mất 4 năm tìm kiếm thỏa hiệp, cuộc tranh chấp vẫn chưa được dứt điểm. Sau lời kêu gọi nối lại đàm phán của Hương, vào ngày 2/8/1968, thủ lĩnh FULRO Y’Bham Enuol rời chốn ẩn náu trong rừng rậm ở Cao Miên đến gặp các đại diện CQMN tại Ban Mê Thuộc. Tuy nhiên yêu sách của ông vẫn không thay đổi: cho phép các đơn vị Thượng trong quân đội, cho trương cờ FULRO song song với cờ miền Nam, và ban cho dân họ một số quyền tự trị. Hương mong muốn thỏa hiệp và mang ông về Saigon để đàm phán chi tiết hơn, nhưng vẫn gặp bế tắc vì vấn đề tự trị. Không giải quyết được,  Y’Bham rời Saigon vào ngày 28/8. Hương tuy vậy vẫn tỏ ra kiên trì. Trong khi vấn đề tự trị của dân tộc vùng cao chưa thỏa thuận được, sự bảo đảm cá nhân của Hương rằng có thể tin cậy vào thiện chí của Saigon đã thuyết phục được Y’Bham. Vào ngày 12/12/1968, hai bên cuối cùng đi đến hiệp ước. Người Thượng được phép trương cờ của họ và thành lập các đơn vị quân đội riêng. Vào ngày 1/2/1969, Tổng thống Thiệu đến dự lễ phủ cờ tại Ban Mê Thuộc tại đó hơn 5,000 chiến binh FULRO và gia đình trở về cam kết trung thành với VNCH.

Không may, với sự thông đồng của Sihanouk, một nhóm nhỏ FULRO bất mãn bắt Y’Bram và rút về Nam Vang, nơi ông bị giữ làm tù binh để ngăn ông ký tên vào hiệp ước. Mặc dù họ không tin Saigon sẽ ban cho họ các quyền này, FULRO sẽ không chạm trán với chính quyền lần nào nữa cho mãi đến cuối năm 1974.

Mặc dù Hương thành công, nhưng thách thức vẫn còn ung mũ bên dưới sự ổn định vừa mới đạt được. Mặc dù những tranh chấp vùng miền và căng thẳng tôn giáo đã giảm nhiều so với những năm trước, lũ quỷ xã hội và kinh tế đang trỗi dậy để hành hạ xã hội miền Nam. Nhận thức được hình ảnh nghèo nàn của Thiệu trong mắt Hoa Kỳ, Thiệu sợ rằng Mỹ, cũng như Pháp, sẽ rút khỏi cuộc chiến và bắt ép một chính phủ liên hiệp. Bộ Chính trị sau đó sẽ sử dụng sự lật đổ để mở rộng đầu cầu này cho đến khi họ nắm quyền kiếm soát. Nếu miền Nam muốn sống còn, nó cần phải ngăn  bất kỳ nỗ lực nào của Mỹ tại một đám cưới chạy bầu có tính chính trị và để thuyết phục Hà Nội rằng việc làm mất ổn định là một chiến lược không vững chắc. Để đạt được cả hai mục tiêu, miền Nam cần phát huy tình đoàn kết và sức mạnh.

Đối với Thiệu, điều đó có nghĩa hạn chế những luận bàn về hòa binh, thỏa hiệp chính trị, và bất đồng chính kiến về những kênh nhỏ hẹp. Các chỉ trích phương Tây chê Thiệu không có khả năng phân biệt giữa chống đối và dấy loạn, và do đó xem các hành động của ông như đàn áp quyền tự do ngôn luận. Nhiều người lấy sự chuyên chế của Thiệu để nhạo báng lập luận cho rằng Saigon là một nước dân chủ, trong khi những người khác xác quyết rằng một chính quyền dân cử có nghĩa vụ tự bảo vệ chống lại cuộc nổi dậy sử dụng khủng bố và mưu mẹo nhằm đạt được ưu thế. Khổ thay, các mô tả đơn giản các sự kiện phức tạp chỉ khuấy đục nước, nhất là khi cả hai quan điểm đều có những phần đúng. Vậy mà khi CQMN đưa ra bằng cớ về chủ nghĩa xách động của Cộng sản, ít ai tin nó. Saigon bị nguyền rủa vì đã la làng chó sói đến quá thường hoặc công luận mắt lắp tai ngơ không thèm nhận bất cứ lời giải thích nào.

Gợi ý đầu tiên về những rối rắm hồi sinh đến từ sự bất mãn của sinh viên. Các đại học Saigon, vốn đã im ắng kể từ một số quấy rối nhỏ sau cuộc bầu cử tháng 9 1967, bắt đầu sôi sục trở lại. Việc thông qua Luật Tổng Động viên đã làm bùng cháy sự bất ổn nhỏ, Bô Nội vụ của Khiêm bắt đầu giám sát tình hình. Khi một bài báo sinh viên đề cập đến chính phủ liên hiệp với MTGP, Khiêm liền đóng cửa tờ báo. Vào ngày 2/8/1968, Toà án Quân sự Lưu động vừa được thành lập kết án vắng mặt chủ biên tờ báo và chủ tịch Tổng Hội Sinh viên Saigon Nguyễn Đăng Trừng, 10 năm tù vì “làm suy yếu tinh thần chống Cộng của nhân dân và quân đội.” Trừng, đúng là một đặc vụ Cộng sản nằm vùng, đã trốn thoát vào vùng giải phóng.  Trong khi Khiêm đã loại được một tên Cộng sản hoạt động trong giới sinh viên, một tên khác thậm chí còn nguy hiểm hơn nữa, Huỳnh Tấn Mẫm, sẽ lên thế chỗ y. (Cùng thời gian ấy, bên Đại học Sư phạm nơi người dịch đang học năm cuối, còn có ít nhất Hồ Hữu Nhựt và Trần Triệu Luật nằm trong Ban Đại diện, cũng hoạt động cho Cộng sản:  ND)

Việc hạn chế báo chí của CQMN được tăng cường khi mối quan tâm trong hòa đàm Paris tăng lên. Vào cuối tháng 12 1968, Bộ Thông tin bắt đầu cưỡng chế quy định các tờ báo phải nộp các bài báo để kiểm duyệt trước. Sau đó bộ sẽ đưa ra “các đề nghị” cho rằng hoặc bài báo đó xuyên tạc, làm phương hại đến lập trường quốc gia, hoặc làm lợi cho Cộng sản. Tờ báo sau đó sẽ “tự đục bỏ” bài báo đó, cho phép CQMN chối là mình đã kiểm duyệt nội dung bài viết.

Bất kể là gì, vào ngày 4/2/1969, gần nửa quốc hội ký một bản thỉnh nguyện yêu cầu Thiệu giải phóng chính sách báo chí. Thiệu bắt đầu soạn thảo dự luật báo chí mới, nhưng việc CQMN nặng tay với báo chí góp thêm hình ảnh đang sút giảm ở hải ngoại.

Với thông báo hoà đàm đang bắt đầu, một vài nhân vật dân sự một lần nữa kêu gọi thương thảo với MTGP. Người nổi tiếng nhất là Trần Ngọc Châu, cựu tỉnh trưởng trước đây ở Kiến Hòa và giờ là dân biểu. Vaò ngày 20/1/1969, Châu công khai tuyên bố CQMN nên nói chuyện trực tiếp với MTGP. Sáu ngày sau, Thích Thiện Minh một lần nữa kêu gọi hòa đàm.

Cảnh sát cảnh báo cả hai người, nhưng không như Trương Đình Dzu, họ không bị bắt.

Bất cử chỉ dấu nào cho thấy Thiệu đang điều chỉnh nhanh chóng tiêu tan khi ông lên tiếng vào ngày 6/2/1969, tại một cuộc họp báo trước Tết. Các lực lượng đồng minh đã tịch thu được tài liệu Cộng sản kêu gọi gia tăng khuấy động chính trị, những động thái xuất phát từ tuyên bố tháng 11 của Bộ Chính trị. Với hòa đàm bắt đầu, và ý thức được các nỗ lực của Cộng sản nhằm đốt lên cuộc gây rối loạn chính trị, Thiệu tuyên bố rằng miền Nam đang bước vào “thời kỳ hiếm nghèo nhất trong lịch sử của mình.” Sự ổn định, ông cảnh báo, là “tuyệt đối cần thiết” trong “thời kỳ đấu tranh chính trị” này, và không dung thứ cho bất cứ ai đe đọa đến tình đoàn kết quốc gia.”

Bị lạc lõng giữa bi kịch đàn áp báo chí và trừng trị thẳng tay, tuy nhiên, là một vài sáng kiến mới của chính quyền cho năm 1969, tất cả được lên kế hoạch nhằm mở rộng nhà nước vào tận nông thôn. Vào đầu tháng 2 1969, Thiệu loan báo 4 ưu tiên lớn: bình định hoá và tái thiết, củng cố chính quyền địa phương, bầu hội đồng xã, và chương trình cải cách ruộng đất thực sự mang tính cách mạng trong tinh thần đất cho người cày.” Ông thú nhận rằng các nỗ lực cải cách ruộng đất trước đây đã thất bại vì vấn đề an ninh chưa bảo đảm và thái độ “phản động” của một số viên chức chính quyền. Thiệu ra lệnh tất cả khu đất còn lại thuộc sở hữu chính quyền sẽ được phân phối vào cuối năm 1969 và một dự luật mới sẽ được trình lên quốc hội. Chương trình cải cách ruộng đất mới đã được âm thầm soạn thảo bởi một kinh tế gia do Mỹ đào tạo tên Cao Văn Thân, đã bắt đầu công việc ngay sau cuộc tổng công kích Tết. Tuy nhiên, dự luật sẽ nằm lì trong quốc hội thêm một năm nữa.

Ngay khi Thiệu tuyên bố các kế hoạch của mình, Quân đội Nhân dân tái diễn các cuộc tấn kích. Võ Nguyên Giáp đã bắt đầu lên kế hoạch vào cuối tháng 7 1968 làm mới lại các cuộc tấn công vào năm 1969. Đây là mô thức “vừa đánh vừa đàm” mà Hà Nội đã theo đuổi: bắt đầu thương thuyết với một cuộc công kích và hy vọng một thắng lợi sẽ buộc đối thủ nhượng bộ. Nó thành công tại Geneva với chiến dịch Điện Biên Phủ, nó thử một lần nữa với cuộc công kích mini Tết và cuộc họp Paris đầu tiên, và giờ đây Hà Nội đang lặp lại mô thức đó khi mở cuộc đối thoại chính thức. Cuộc công kích 1972 là đỉnh cao của chiến lược này.

Ba ngày sau bài diễn văn 31/10 của Johnson, Bộ Chính trị họp lại để duyệt xét kế hoạch của Giáp. Bị trở ngại vì báo cáo nội bộ nghèo nàn và mù quáng vì ý thức hệ, Bộ Chính trị vẫn tin rằng các lực lượng của mình còn gặt hái được những thắng lợi vang dội trong năm 1968 và vẫn còn mạnh. Trong khi các phái đoàn đang thoả thuận thủ tục đàm phán  ở Paris, thì Bộ Chính trị quyết định phát động một trận tấn công khác. Sau khi chuẩn bị xong công tác hậu cần, vào ngày 22/2, Cộng quân tiến hành các trận công kích trên khắp miền Nam. Không giống năm trước đánh vào trung tâm quyền lực của CQMN, lần này họ nhắm chủ yếu vào binh lính Mỹ. Bộ Chính trị hy vọng rằng tổn thất tăng cao của lực lượng Mỹ sẽ được chuyển thành các nhượng bộ của Mỹ ở Paris. Xổ toẹt vào các điều kiện của Johnson, Hà Nội pháo kích Saigon và các thành phố khác bằng hoả tiễn. Dù bị khiêu khích và nội bộ kêu gọi giáng trả, Thiệu vẫn đề nghị tiếp tục ngừng dội bom VNDCCH, muốn xem người Mỹ phản ứng ra sao. Ông không phải đợi lâu. Để đáp trả một cuộc pháo kích vào Saigon ngày 15/3, và để thuyết phục VNDCCH khởi động đối thoại riêng, Nixon ra lệnh bí mật cho B-52 dội bom các căn cứ QĐNDVN tại Cao Miên.

Mặc dù đánh giá của Bộ Chính trị đầy màu hồng về sức mạnh của mình, phe đồng minh dễ dàng đẩy lùi các trận tấn công của Cộng quân. Chiến dịch đầu tiên tiếp tục cho đến cuối tháng 3, theo sau là một đợt thứ hai vào đầu hè năm 1969. Kết quả cũng tương tự như hồi Tết Mậu Thân 68. Tổn thất của Cộng sản thật choáng váng.

Theo Bộ Chỉ huy Tối cao QĐNDVN,

trong 6 tháng đầu năm 1969, lực lượng ta đã chịu tổn thất tổng cộng  48,365 thương vong trên khắp miền Nam. Tổng số này bao gồm 19,385 bị giết chết, 25,408 bị thương, 522 bị bắt, 2,915 mất tích, và 135 đào ngũ. Chiến trường gánh chịu thương vong lớn nhất là Mặt trận B-52, với tổng cộng 25,934 thương vong. Chúng ta đã tổn thất 19,400 thương vong trong đợt tấn công mùa xuân (22/2 đến 3q/3/1969), chiếm 40 phần trăm tổng số thương vong; 19,030 thương vong trong đợt tấn công mùa hè (11/5 đến 20/6/1969), chiếm 39 phần trăm tổng số thương vong của chúng ta; và 9,935 thương vong trong các đợt hành quân chính quy thường kỳ, chiếm 21 phần trăm tổng số thương vong.

Hà Nội kết hợp công kích với làn sóng khủng bố đô thị, tìm cách gây đấu đá nội bộ trong giới chính trị gia  Quốc gia như đã xảy ra sau vụ ám sát Trần Văn Văn. Vào ngày 6/1, bọn sát nhân Cộng sản sát hại tổng trưởng giáo dục của CQMN bằng một quả lựu đạn ném vào ô tô ông. Rồi trong một mưu toan thậm chí còn trơ trẽn hơn, vào ngày 5/3, đội ám sát Saigon tìm cách giết Thủ tướng Hương. Một quả bom được ném dưới xe ông, nhưng không nổ. Một vài thủ phạm bị bắt và đày ra Côn Sơn, và được phóng thích năm 1973.

Đã đẩy lùi Cộng quân, Thiệu trở lại với mục tiêu trung tâm của mình cho năm 1969, mở rộng dấu chân CQMN ra vùng nông thôn. Khi Chiến dịch Bình Định Hóa Tăng Tốc hoàn thành vào cuối tháng giêng, CQMN tuyên bố đã mang hơn 1 triệu người về dưới vùng kiểm soát của mình và 90 phần trăm dân số giờ sống trong những vùng “tương đối an ninh” hoặc tốt hơn. Mặc dù CORDS tin con số chỉ là 80 phần trăm, phe phản chiến trong Quốc hội phũ phàng lên án con số của CORDS, vốn dựa vào HES (Hệ thống Đánh giá Ấp). Trong HES, “tương đối an ninh” được đánh giá “C”. “A” là hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của CQMN, trong khi “E” là do Cộng sản cai trị. Trong khi các thống kê của HES thường gây tranh cãi, thông tin của Cộng sản cũng khớp với CORDS. Một báo cáo của QĐNDVN cho rằng trong 6 tháng đầu năm 1969 Cộng sản kiểm soát ít hơn 19 phần trăm dân số miền Nam trong khi thừa nhận rằng họ đã mất “1,015,594 người so sánh với năm 1968.”

Giờ an ninh được tăng cường, dân số về dưới CQMN tăng cao cho phép Thiệu củng cố quyền tự trị của địa phương bằng cách giao cho các viên chức làng xã thêm quyền hành và trách nhiệm. “Nguyên tắc căn bản của kế hoạch 1969,” ông nói, “là phát triển hợp tác cộng đồng giữa dân chúng, chính quyền, và giữa các bộ phận chính quyền.” Mỗi tỉnh sẽ đặt ra các mục tiêu của mình, và vì làng là “cộng đồng xã hội truyền thống và đơn vị hành chính cơ bản, làng sẽ được phục hồi vai trò truyền thống của mình là kết nối chính quyền với nhân dân.”

Bước đầu tiên là thiết lập quyền cai trị của CQMN trong những vùng vừa kiểm soát được bằng cách tổ chức bầu cử cấp làng và ấp. Các quận trưởng giờ có trách nhiệm kiểm tra danh sách cử tri, lập ra kế hoạch an ninh, và bảo đảm tính hợp thức của các ứng cử viên. Saigon cũng sẽ xác minh kết quả. Theo mô hình bầu cử 1967, việc đi bầu bắt đầu vào chủ nhật đầu tiên của tháng 3 1969 và tiếp tục mỗi chủ nhật trong suốt tháng đó.  Gần 600 ngôi làng và hơn 3,000 ấp giờ đã đã bầu ra các viên chức và ủy ban mới. 80 phần trăm làng ấp miền Nam giờ nằm trong nền hành chính của CQMN. Số người đi bầu rất đông, cho thấy tình trạng yếu kém của Cộng sản ở nông thôn, gần như không có vụ phá hoại bầu cử nào được ghi nhận. 

Vào ngày ¼ Hương ký một sắc luật tu chính Sắc luật 198 của tháng 12 1966 về phục hồi quyền hành cho xã trưởng, trưởng ấp và ủy ban. Trong một diễn văn đọc tại Vũng Tàu ngày 21/4, Thiệu giải thích kế hoạch được sửa đổi của mình. Nói trước khoa huấn luyện đầu tiên trong năm 1969, Thiệu phác họa dự tính khuếch trương nền dân chủ quần chúng. Để đánh bại Cộng sản, ông nói, “Dân chủ phải được vận dụng tại mỗi mức độ trong đời sống miền Nam.” Sắc lệnh tu chính sẽ giao cho xã trưởng  quyền chỉ huy các tiểu đội Nghĩa quân, các đơn vị Nhân dân Tự vệ và các cán bộ PTNT trong mỗi làng. Thiệu cũng loan báo sẽ cung cấp kinh phí cho mỗi hội đồng xã để chi tiêu trong các dự án Tự Túc . “Với quyền hành mới này và những tài trợ hỗ trợ,” Thiệu nhấn mạnh, “các viên chức địa phương sẽ chịu trách nhiệm làm một công bộc tốt cho người dân.” Thiệu cho họ phương tiện và quyền hành để “quyết định mọi việc phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Đây là công lý, đây là dân chủ.” Thành công, Thiệu cổ xúy, “không phụ thuộc vào tôi, mà vào các bạn. Chúng ta sẽ thành công vì các bạn làm tốt nhiệm vụ của mình.” Tổng thống thêm rằng ông dự tính thi hành các chương trình như trợ giúp phân bón hóa học và nông cụ nhằm giúp nông dân trồng được loại lúa thần kỳ.

Chính sách của Thiệu cho việc tăng cường quyền hành địa phương vừa nhìn xa vừa thực tiễn. Không giống các chính đảng Việt Nam khác, vốn xem việc cai trị là trung ương tập quyền từ “trên xuống”, Thiệu theo đuổi việc cai trị từ “dưới lên”. Ông tin rằng các tổn thất cán bộ của MTGP quá nặng nề đến nỗi phải mất vài năm mới hồi phục được. Do đó, “chúng ta phải đặt trọng tâm lên việc cạnh tranh với họ trong làng ấp và quận. Đó là lý do tại sao tôi đang tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ của chúng ta ở cấp độ này, trên việc cải thiện nền hành chính địa phương và cải thiện cuộc sống của nhân dân chúng ta tại ấp làng.” Thiệu dự tính sẽ thắng trong bất kỳ cuộc quyết đấu chính trị tương lai nào. Sau một thập niên thảo luận chính sách để xem chương trình chính trị nào đáp ứng tốt nhất với mối hiểm họa Cộng sản dựa vào nông thôn, Thiệu đã trả lời với cương lĩnh của mình: một sự chuyển đổi suy nghĩ triệt để trong cách cai trị ở miền Nam.

Dù vậy trước tiên Thiệu phải cần tề gia. Vào ngày 12/3, Hương thộng báo một vài thay đổi nội các. Hai thay đổi chủ chốt là việc đề bạt Cao Văn Thân, phụ tá của Thiệu về chương trình cải cách ruộng đất, lên chức vụ tổng trưởng bộ nông nghiệp và cải cách điền địa. Việc kia là nâng Trần Thiện Khiêm lên chức Phó Thủ tướng phụ trách bình định và phát triển nông thôn. Khiêm sẽ thay thế Hương cầm đầu công việc bình định hoá, nhưng Thiệu bí mật nắn gân cốt cho Khiêm chuẩn bị thay Hương. Tuổi tác và sức khỏe đang cản trở ngài thủ tướng, nhưng trong khi ông đã cải thiện được vị thế của chính trong mắt dân chúng, ông đã thất bại trong việc xây dựng các cầu nối chính trị để đến được cơ quan lập pháp hoặc nuôi dưỡng tình đoàn kết quốc gia. Điều đó sẽ khiến ông rơi đài.

Tìm kiếm kỷ luật thời chiến chặt chẽ, Thiệu một lần nữa bắt đầu thẳng tay với bất cứ ai xiển dương một thỏa hiệp với MTGP. Vào ngày 23/2, ngay sau khi Cộng sản phát động cuộc công kích mới, cảnh sát Saigon bố ráp trụ sở Cánh Trẻ của Thích Thiện Minh. Cảnh sát tuyên bố các cán bộ MTGP bị bắt gần đây đã khai rằng  các người Cộng sản khích động là từ trung tâm. Nhưng khi cảnh sát bố ráp trung tâm, họ tìm thấy một căn hầm bí mật trong phòng của Minh tại đó có vài thanh niên trốn quân dịch đang ẩn nấp. Chứng cứ khác được phát hiện trong trụ sở là một khẩu súng lục và một số truyền đơn Cộng sản. Họ bắt Thiện Minh. Việc giam giữ ông ngay lập tức được bêu xấu là “giam giữ người chống đối”.

Theo luật mới do Thiệu ký ngày 5/11/1968, Khiêm chuyển Minh sang Toà án Quân sự Lưu động. Vào ngày 15/3/1969, họ kêu án nhà sư 10 năm tù, bản án nặng nhất từng được đưa ra cho một nhân vật Phật giáo chống đối. Trí Quang, mặc dù đang bất mãn với Thiện Minh, lên án việc bắt bớ nhưng không xách động biểu tình phản đối, cho thấy một cách hùng hồn tình trạng yếu kém của Ấn Quang. Lo lắng trước phản ứng của người Mỹ, ngày hôm sau Thiệu ra lệnh Hương đặt Mình dưới sự quản thúc tại gia.

Trong khi những vấn đề xã hội, chính trị, và quân sự khống chế Saigon, Thiệu may mắn có thời gian tập trung vào chúng khi bộ máy hành chính của Nixon đang xem xét chính sách về Việt Nam. Mặc suy đoán của nhà báo, Nixon không có một “kế hoạch bí mật” nào nhằm kết thúc cuộc chiến, nhưng ông ta nhắm đến một chiến lược nhằm hạ thấp lực lượng tham chiến mà không hy sinh miền Nam. Thiệu sắp sửa cho ông một kế hoạch.

RÚT QUÂN

Vào tháng 1 1969, với một tổng thống mới của Hoa Kỳ, Thiệu sửa đổi các thủ tục nội bộ để tập trung mọi quyết định chính sách đối ngoại trong văn phòng ông. Sau vụ tranh cãi giữa Harriman và Lâm vào cuối tháng 10 1968, Hoa Kỳ đã báo tin cho Thiệu rằng mọi truyền đạt về chính sách đều phải đến trực tiếp từ Nhà Trắng thông qua Bunker. Bắt chước người Mỹ, Thiệu bảo Bùi Diễm và Phạm Đăng Lâm vào ngày 1/1/1969 rằng từ đây về sau các xét đoán về chính sách đối ngoại phải được xử lý nghiêm nhặt giữa ông và và Bunker. Bùi Diễm không phải “bàn bạc quá nhiều các thành viên trong chính quyền Mỹ và chỉ nói trên bình diện cá nhân.” Ông ta chỉ đơn giản “thu thập nhiều sự lựa chọn như có thể … và báo cáo đến chúng tôi … Thông tin của ông sẽ rất có giá trị nhưng phải luôn đợi kết quả làm việc ở Saigon.”

Theo sự chỉ dẫn của Thiệu, vào ngày 13/1, Bùi Diễm gửi bản đánh giá của ông về quan điểm của Hoa Kỳ, đường hướng hành động của Nixon, và các đáp ứng tiềm năng của CQMN. Đối với tình trạng bế tắc của hoà đàm, Bùi Diễm lưu ý rằng công luận Mỹ “nhắm sự chỉ trích của mình vào chính quyền miền Nam, nói rằng Việt Nam đã trì hoãn thương thuyết. Mặc dù chúng ta nỗ lực giải thích lập trường của chúng ta về những vấn đề thủ tục mà Việt Nam coi là quan trọng, công luận Mỹ cho rằng các vấn đề đó không quan trọng.” Nixon “sẽ bị buộc phải chọn lựa trong ba tháng sau, và sự thay đổi chính sách đó sẽ căn cứ vào các quyết định được làm trong những tháng sắp tới,” Phản chiếu ý kiến của Thiệu, ông đề nghị miền Nam nên tiên phong tạo hình các chính sách của Nixon. “Chính quyền chúng ta nên đề xướng việc rút quân trước. Chúng ta không nên để cho Mỹ bàn việc này trước bởi vì công luận Mỹ và dư luận quốc tế sau đó có ấn tượng là chúng ta bị ép buộc vào một lập trường phải nhất trí.”

Thiệu lắng nghe. Vào tháng 4 1968, ông trước tiên thăm dò khả năng Mỹ rút quân. Ý tưởng của ông giả định tình hình khẩn cấp mới khi người Mỹ đưa ra cách tiếp cận đàm phán được duyệt lại vào đầu tháng giêng 1969. Lý thuyết chủ yếu là đạt được hòa bình qua sự rút lui đồng thời của binh sĩ Mỹ và bộ đội Bắc Việt. Vì Thiệu chắc chắn là Hà Nội sẽ không chịu chấp nhận, ông xem chìa khóa để gìn giữ tự do cho miền Nam nằm trong việc cách tân QLVNCH. Để đạt được tham vọng đó, ông nhắm đến trang bị và cách huấn luyện mới.

Thiệu cho rằng sức mạnh của quân đội ông lớn hơn nhiều so với suy nghĩ của bất cứ ai khác. Mặc dù Tướng Abrams ấn tượng trước thành tích cải thiện của QLVNCH, ông không tin người miền Nam sẵn sàng bảo vệ đất nước chống đồng thời quân du kích lẫn chính quy được huấn luyện bài bản.

Đúng là QLVNCH đã tăng quân số từ 643,000 vào năm 1968 đến 820,000 vào cuối tháng giêng 1969. Trong khi Bunker cho rằng trong số 160,000  tân binh tình nguyện, không nghi ngờ gì một phần đã tham gia các đơn vị Địa phương quân/Nghĩa quân để mong được ở gần nhà. Cộng với số cảnh sát và cán bộ PTNT, Saigon giờ đã có hơn 1 triệu người vũ trang, chiếm 5 phần trăm dân số, một trong những tỉ lệ cao nhất thế giới. Đánh nhau ác liệt chắc chắn làm gia tăng thương vong, và tổn thất tác chiến trong năm 1968 tổng cộng hơn 87,000 người, gấp đôi năm 1967. Số đào binh cũng góp thêm tổn thất của Saigon. Xét số thương vong và tỷ lệ đào ngũ luôn cao, để duy trì cấu trúc lực lượng mới, Saigon phải tuyển thêm và huấn luyện hơn 150,000 tân binh mỗi năm.

Bất chấp, Thiệu đã bàn bạc hơn một năm trời về cách thức giảm thiểu dấu chân binh lính Mỹ ở miền Nam. Làm được điều này sẽ đánh đổ được sự dè biểu của Cộng sản cho ông là “tay sai” của Đế quốc Mỹ đồng thời cũng làm giảm nhẹ gánh nặng áp lực lên vai của Nixon từ giới phản chiến Mỹ. Vào ngày 15/1/1969, Ngoại trưởng Thành đề cập vấn đề với Bunker. Thành cho biết Thiệu nghĩ rằng giữa sức mạnh quân sự đang lớn mạnh của mình so với tình trạng yếu kém của địch, “một sự thay thế từng phần binh sĩ Mỹ là có khả năng.” Thiệu, Thành nói, nhắc nhở rằng một sự ra đi đột ngột sẽ làm giảm nhuệ khí của QLVNCH, và ông muốn một lực lượng Mỹ ở lại để giúp đảm bảo hòa bình, nhưng ông muốn bắt đầu lên kế hoạch với Abrams rút hai sư đoàn tác chiến Mỹ trong năm 1969. Ba ngày sau, Thiệu nói với một vị khách rằng ông “nghiêm túc về việc binh sĩ Mỹ rút đi.” Mục đích của ông là hỗ trợ chính quyền Mỹ “trong quan hệ với công luận trong nước, để họ có thể duy trì chương trình hỗ trợ miền Nam và không gấp rút ra đi một cách ồ ạt.” Thiệu nhận thức được “sức ép chính trị mà Nixon đang đối mặt”, và ông “muốn chứng minh đánh giá của mình “bằng cách chứng tỏ rằng miền Nam đang góp phần xương máu của mình một cách công bình. Tuy nhiên, Bunker ra sức thuyết phục Thiệu đừng vội đề cập công khai bất kỳ con số hoặc thời khóa chính xác nào. Chiến lược thương thảo hiện giờ của Hoa Kỳ đòi hai bên đều rút quân, và Bunker không muốn cho Hà Nội cái cớ chỉ ngồi đợi và xem Mỹ đơn phương bỏ đi. Nixon cũng muốn lợi ích về mặt chính trị khi tuyên bố trước tiên với nhân dân Mỹ.

Vào cuối tháng giêng, Thiệu đã chắc ý rằng vị tân tổng thống “ắt cần một hình thức giải quyết nào đó” cho Việt Nam trước kỳ bầu cử Quốc hội 1970. Tìm kiếm một phương cách khác nhằm tạo hình cho chính sách khẩn cấp của Nixon, Thiệu bảo với Nguyễn Phú Đức rằng mình đã quyết định đưa ra một đề xuất khác “nhằm giúp cơ quan hành pháp mới của Mỹ đối mặt với sự nhọc nhằn của chiến tranh và ông đang “nhắm tới một sáng kiến chính trị táo bạo.” Đối với Thiệu, điều quan trọng là “đón đầu những gì người Mỹ sẽ làm để phòng thủ các điều thiết yếu.” Ông lên kế hoạch đưa ra những cuộc bầu cử địa phương “trong đó người Cộng sản được phép tham gia.” Nếu tình hình tiếp tục phát triển thuận lợi, ông tin, vào tháng 6 ông sẽ sẵn sàng giải quyết với MTGP. Đức sửng sốt hỏi ông làm thế nào khắc phục được phản ứng của quốc hội và ngăn cấm của hiến pháp về hoạt động của Cộng sản, nhưng Thiệu gạt qua một bên các quan ngại của ông ta.

Tìm cách gây ảnh hưởng đến hành pháp Hoa Kỳ, Thiệu bảo với Bunker vào giữa tháng 3 nhờ thông báo cho Nixon rằng Saigon không còn tìm kiếm “hoặc nói về một thắng lợi quân sự hoàn toàn nữa. Chúng tôi biết cuộc chiến không thể thắng được bằng quân sự. . . Việt Nam phải làm mọi việc có thể để giảm bớt gánh nặng mà người Mỹ đang gánh vác . .  . Chúng tôi những người điều hành đất nước này không phải là lãnh chúa hoặc bọn gây hấn tìm cách kéo dài chiến tranh. Chiến tranh này người Cộng sản đã áp đặt lên chúng tôi: chúng tôi không gây ra nó.” Thiệu đang trả lời cho những người chỉ trích mình; miền Nam đang bị tấn công, và ông không cố tình gây ách tắc đàm phán để duy trì quyền lực.

Một giải pháp, theo Thiệu, yêu cầu hai điều: “Chúng ta cần đủ mạnh để thắng cuộc đấu tranh chính trị với Cộng sản sau khi hòa bình được vãn hồi, và chúng ta phải bảo đảm khi chúng ta kiến tạo hòa bình sự gây hấn từ bên ngoài phải ngừng hẳn . . .  Không thể có giải pháp sai lầm như hồi năm 1954.” Với cách kết thúc đó, Bắc Việt phải rút quân và đưa ra các bảo đảm không làm mới lại các vụ gây hấn, và QLVNCH phải gia tăng sức mạnh để cưỡng chế sự bảo đảm đó. Mối quan ngại lớn nhất của ông vẫn là “công luận Mỹ về Việt Nam. Người Cộng sản đang dựa vào sự thiếu kiên nhẫn và bận bịu giải quyết khó khăn trong nước.”

Trong khi lịch sử vinh danh Nixon đã thiết kế “Việt Nam hóa chiến tranh”, tức chiến trình rút quân Mỹ trong khi tăng cường khả năng của QLVNCH, một khái niệm đã phát triển một cách độc lập trong hai chính quyền. Kỳ cho rằng mình đặt tên “Việt Nam hóa” thay vì “phi Mỹ hóa” trong một buổi họp với Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird vào đầu tháng 4 1969, nhưng tài liệu Hoa Kỳ khẳng định từ đó được thoả thuận trong một buổi họp của Hội đồng An ninh Quốc gia vào ngày 28/3. Trong khi ý tưởng xuất xứ từ Thiệu, ông không tác động ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách Việt Nam của Nixon mà ông đã hy vọng. Còn nữa, ông đang chuẩn bị một ngày không tránh khỏi khi người Mỹ ra đi.

ĐỀ NGHỊ HÒA BÌNH

Dù trong nước Thiệu trừng trị bất kỳ ai chủ trương đối thoại với MTGP, ông lại phóng khoáng với quan điểm đó. Vào tháng giêng 1969, Kỳ đã đề cập với các nhà báo mình muốn gặp gỡ riêng tư với các đại diện của MTGP. Báo chí tràn ngập tin tức về khúc ngoặt bất ngờ này trong cách suy nghĩ của CQMN, và vào ngày 2  tháng 3, Nixon âm thầm cổ vũ nỗ lực này. Nixon bảo với Kỳ rằng việc CQMN đua ra đề nghị đối thoại với MTGP là động thái “rất khôn khéo.” Được Nixon bật đèn xanh, vào ngày 25/3, Thiệu ra tay. Trong một tuyên bố gây ấn tượng, ông công khai đưa ra đề nghị tổ chức đối thoại với MTGP ở Paris mà không đòi hỏi điều kiện trước. Hơn nữa, thậm chí hoả tiễn tiếp tục nã vào Saigon, ông sẽ không đề xuất dội bom vì việc đó sẽ chỉ đưa mọi người trở về hiện trạng cũ. Để ngăn cản sự phản xung của QLVNCH, Thiệu tổ chức ăn trưa hai ngày sau với Tướng Viên và các chỉ huy cao cấp khác. Sau khi giải thích cặn kẽ những suy nghĩ của mình, họ nhất trí cho rằng đề nghị là hữu ích và lấy cắp được “tiếng sấm của MTGP và đặt CQMN dưới một vầng ánh sáng công luận nước ngoài thuận lợi.” Việc các sĩ quan cao cấp chấp nhận dễ dàng đề nghị trước đây được coi là *ngoại giáo” của Thiệu cho thấy giờ đây họ đã nhìn nhận tài lãnh đạo của ông nhiều đến thế nào. Tin rằng quân đội và công luận hậu thuẫn mình, vào ngày 7/4, Thiệu đưa ra một đề nghị hoà bình thứ hai táo bạo. Trong bài diễn văn hàng năm về “Tình hình Quốc gia” đọc trước quốc hội, ông đưa ra chương trình 6 điểm nhằm kết thúc chiến tranh. Để đổi lấy sự rút quân của bộ đội miền Bắc, ngưng mọi hành động bạo lực, và đồng ý tôn trọng hiến pháp cua miền Nam, CQMN sẽ mở rộng quyền lợi đầy đủ cho mọi người thuộc MTGP. Nếu họ không tự xưng là Cộng sản, họ có thể lập ra chính đảng của riêng mình và đề cử các ứng cử viên ra tranh cử. Các giám sát viên quốc tế sẽ bảo đảm các quyền lợi của họ. Thiệu cũng kêu gọi dỡ bỏ các căn cứ QĐNDVN tại Lào và Cao Miên, tôn trọng vùng Phi Quân sự và tái thống nhất hai đất nước qua cuộc bầu cử có quốc tế giám sát. Ông đã một lần nữa chấp nhận MTGP như một thực tế nhưng không như một thực thể chính trị.

Bunker đã rời Saigon vào đầu tháng 4 để tham khảo với Nixon. Khi trở lại, ông trình bày vắn tắt với Thiệu. Nixon, Bunker nói, cho rằng bài diễn văn ngày 7/4 là cực kỳ bổ ích, và ông ta đồng ý với đề nghị của Thiệu về việc cắt giảm quân số vì “công luận của chúng ta.” Như Tưởng Giới Thạch, Nixon cũng tin rằng các đồng minh không nên “tỏ ra quá nôn nóng” trong việc đàm phán. Bunker nhấn mạnh rằng Nixon muốn sát cánh với Thiệu và dung hòa các chính sách của họ. Tuy nhiên, trong vòng bí mật bộ máy hành chính mới đã bắt đầu lên kế hoạch gỡ thoát cho Mỹ ra khỏi cuộc chiến. Vào ngày 10/4, trong Ghi nhớ Nghiên cứu An ninh Quốc gia #36, Nixon “chỉ đạo chuẩn bị một thời khóa đặc biệt cho việc Việt Nam hóa chiến tranh.” Thời khóa sẽ bắt đầu vào ngày 1/7/1969.

Nixon cũng hậu thuẫn các nỗ lực của Thiệu nhằm xây dựng hệ thống lưỡng đảng. Bài diễn văn ngày 7/4 của Thiệu đã kêu gọi xây dựng một hệ thống chính đảng vững chắc ở miền Nam. Thiệu tin rằng Trần Văn Đôn xem Liên minh như một nền tảng cho ông ta trở thành thủ tướng, và khi việc đó thất bại, việc tham gia của Đôn ngừng lại. Khi vào ngày 10/3 Mặt trận Cứu quốc của Đôn kêu gọi nội các Hương cải tổ, Thiệu nhìn thấy việc này như là một vụ tấn công trực diện. Ông quyết định tiến lên không cần có Đôn, và sau một loạt điều đình sôi nổi giữa các tổ chức Quốc gia khác nhau, Thiệu phát động mặt trận của riêng mình. Có tên Mặt trận Dân chủ Xã hội Quốc gia (MTDCXHQG), nó gồm Lực lượng Dân chủ Tự do của Thiệu, Đại Việt Cách mạng, một phần VNQDĐ, lực lượng Đại Đoàn Kết Công giáo, khối Hòa Hảo lớn nhất. Về cơ bản, Thiệu đã chắp vá các phe phái khác nhau kịch liệt chống đối liên hiệp và thoả hiệp với Cộng sản. Vào ngày 25/5/1969, Thiệu nói trước 2,500 đại biểu đến dự lễ thành lập MTDCXHQG. Ông nhấn mạnh rằng mục tiêu của mặt trận mới là mang tất cả nhóm Quốc gia lại với nhau để đương đầu với Cộng sản. Không giống hai nỗ lực đầu tiên, lần này Thiệu đồng ý tham gia trực tiếp. Nhưng ông liên tiếp phủ nhận rằng mình lập ra mặt trận là để lãnh đạo nó, ai cũng quá biết về tác hại do Đảng Cần Lao gây ra.

Mặt trận mới của Thiệu không phải là tổ chức chính đảng duy nhất. Sau nhiều năm khuếch trương kín đáo, Tân Đại Việt cuối cùng sẵn sàng chường mặt ra. Trong khi TĐV đã tổ chức giấu giếm những đảng bộ tại nhiều tỉnh, họ mạnh nhất dọc theo Quốc lộ 1 từ Saigon đi nam Tây Ninh, thường được gọi đùa là “Đường Tân Đại Việt”. Tìm cách thu hút nhiều tầng lớp quần chúng, Nguyễn Ngọc Huy đã đặt tên thực thể mới là Phong trào Quốc gia Cấp tiến (PTQGCT). Xét vì có nguồn gốc TĐV, Huy sợ mình sẽ không được chấp nhận làm lãnh tụ đảng mới này. Vì thế ông nhờ Tiến sĩ Nguyễn Văn Bông, hiệu trưởng đáng kính của Học viện Hành chính Quốc gia rất có uy tín ở Saigon, đại học đào tạo các công chức cho CQMN, làm lãnh tụ PTQGCT. Bông chấp nhận, và Huy làm phó cho ông. Huy đã thỉnh nguyện chính quyền vào mùa hè 1968 chính thức công nhận đảng. Vào tháng 11, Hương cấp phép cho các đảng bộ địa phương bắt đầu hoạt động công khai. Sau đó Huy đi Paris như một bộ phận của phái đoàn CQMN, để Bông hoàn thiện tổ chức đảng. Việc công nhận chính thức cuối cùng được cấp phép vào tháng 4 1969, và PTQGCT mở cuộc họp báo nhân ngày ra mắt. Như Đôn đã làm với Liên Minh, Huy gắn nhãn hiệu đảng là thân chính quyền nhưng không phò Thiệu. Tiếp sau tuyên bố của MTDCXHQG, vào ngày 19/6/69, CQMN ban hành Luật 009/69 cung cấp nền tảng pháp lý cho các chính đảng. Luật được thiết kế để nhổ tận gốc nhiều đảng nhỏ , thường gồm một vài tên cuồng tín ở đô thị và một nhúm các đệ tử. Để đạt được tư cách pháp lý của một chính đảng, mỗi thực thể phải cung cấp chứng cứ cho thấy họ nhận được một mức độ hậu thuẫn tại ít nhất 15 tỉnh. Bằng cách lập ra MTDCXHQG và xáp nhập mọi đảng không cộng sản cũ vốn không ủng hộ mình thành một khối chống đối vững chắc, Thiệu hy vọng người Quốc gia sẽ không chia phiếu trong cuộc đấu tranh với Cộng sản.

Mặc dù Điều 4 của hiến pháp ngăn cấm hoạt động chính trị của Cộng sản, cánh tả giờ được tự do lập đảng riêng và ra ứng cử. Vậy mà cho dù có hiểm họa chính trị và quân sự lù lù trước mắt, phe Quốc gia vẫn còn chia rẽ khi Thiệu chuẩn bị đến gặp vị tân tổng thống mới của Mỹ.

GẶP GỠ NIXON

Bài diễn văn ngày 7/4 của Thiệu buộc Hà Nội và Washington cập nhật các đề xuất hòa bình của mình. Vào ngày 8/5, MTGP đưa ra kế hoạch hoà bình 10 điểm để kết thúc chiến tranh. Họ đòi rút hoàn toàn lực lượng Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp, soạn thảo hiến pháp mới, và tổ chức bầu cử – theo thứ tự đó.

Nixon phản công vào ngày 14/5. Luôn ý thức về công luận, trong lần thảo luận đầu tiên với tư cách tổng thống, hai luận điểm của ông là Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Saigon và rằng nhân dân miền Nam nên quyết định tương lai của mình mà không có sự can thiệp từ bên ngoài. Ông công khai đưa ra đề nghị rút binh sĩ Mỹ trong vòng 12 tháng nếu Hà Nội cũng làm như vậy. Sau khi hai bên đều rút quân, sẽ tổ chức các cuộc bầu cử có quốc tế giám sát. Đây là bước thối lui so với chính sách của Johnson đòi Hà Nội phải rút quân trước, sáu tháng sau Mỹ sẽ rút quân.

Thiệu, luôn luôn siêu nhạy cảm trước các đổi thay tiềm năng của chính sách Mỹ, phần nào đánh hơi được động thái hướng về một chính quyền liên hiệp trong bài diễn văn của Nixon. Mặc dù Bùi Diễm bảo với Thiệu rằng Kissenger đã “khẳng định với tôi là việc chuyển tiếp cuối cùng các trách vụ quân sự cho lực lượng chúng ta là một động thái chân thành về phía người Mỹ và không phải là một chính sách bỏ rơi được ngụy trang,” Thiệu muốn nghe điều đó từ chính Nixon. Ông yêu cầu được gặp, và hai vị tổng thống quyết định họp vào ngày 8/6/1969, trên hòn đảo nhỏ Midway, nơi diễn ra trận hải chiến lừng danh trong Thế Chiến II. Để tìm kiếm hậu thuẫn và cố vấn, Thiệu quyết định trước tiên đến thăm Nam Hàn và Đài Loan trước khi gặp Nixon. Đến Seoul vào ngày 27/5, hàng ngàn dân Hàn đứng xếp hàng hai bên đường vẫy cờ chào đón ông. Thiệu được cho là đã nhờ Park tiếp tay với ông trong việc chống lại mọi động thái rút quân đơn phương hoặc cưỡng bách liên hiệp. Park, luôn luôn nhất quán, thúc giục ông tìm kiếm một thắng lợi quân sự hơn là “mời mọc một thảm họa không thể phục hồi bởi rơi vào bẫy sập của quỷ kế Cộng sản.” Dù Thiệu quyết định tìm kiếm hoà bình, tuy nhiên, Hàn Quốc sẽ “sát cánh vững chắc bên ngài” cho đến khi hòa bình được lặp lại. Tuy nhiên, trong khi hậu thuẫn hai điểm của Thiệu, Park sẽ không “tác động bất kỳ áp lực trực tiếp lên người Mỹ trong vấn đề này.” Ông rút ra một sự khác biệt giữa sự nhất trí của mình với Thiệu và “một xác tín độc lập trực tiếp” của ông với Washington. Park vẫn đứng vững chắc trên hàng rào. Ông hậu thuẫn Thiệu, nhưng ông sẽ không dám xa mặt với người Mỹ.

Thiệu sau đó bay sang Đài Loan, tại đó các đám đông lần nữa xếp hàng hai bên đường từ sân bay chào đón ông. Tưởng Giới Thạch cũng mạnh mẽ thúc giục ông đừng chấp nhận chính quyền liên hiệp dưới bắt cứ tình huống nào. Tưởng bảo với Thiệu rằng Nixon là “một người chống cộng kiện cường … người có mối quan tâm thực lòng đến các quốc gia tự do ở châu Á” và hai đất nước “nên đặt niềm tin vào Nixon” và hợp tác trọn vẹn. Tại buổi tiệc chiêu đãi tối hôm đó, Thiệu đã nhắc đến Tưởng như một minh họa về sự nhượng bộ của người Mỹ đã dẫn đến việc Cộng sản chiếm trọn Trung Hoa lục địa. Nhưng như Park, Tưởng cũng đi nước đôi. Vài ngày sau khi Thiệu về nước, sứ quán Mỹ nhận được một bản phúc trình về cuộc trao đổi, với việc Tưởng hy vọng thông tin sẽ được “chuyển trực tiếp đến Nixon trước cuộc gặp với Thiệu tại Midway.”

Tin rằng mình được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các đồng minh Á châu, vào ngày 4/6, Thiệu lên truyền hình phát biểu rằng mình và các lãnh đạo Nam Hàn và Đài Loan đã nhất trí chống giải pháp liên hiệp. Được đồng minh Á châu, quốc hội, và quân đội ủng hộ, Thiệu bay đến Midway. Chiến lược của ông không thay đổi: làm giảm sức ép phản chiến lên chính quyền Mỹ bằng cách cắt giảm vai trò tác chiến của Hoa Kỳ và dịch chuyển chi tiêu tài chính từ quân sự sang viện trợ kinh tế. Dù vậy, Thiệu “rất quan ngại về việc Nixon sẽ dành ưu tiên cho lộ trình điều đình mà CQMN biết là sẽ vô ích và ảo tưởng.”

Nixon, trái lại, muốn trấn an một ngài Thiệu nhạy cảm đối với vấn đề liên hiệp. Nixon khẳng định rằng “hiện thời có nhiều suy đoán liên quan đến sức ép của Mỹ về một chính quyền liên hiệp và điều đó không có căn cứ.” Tuyên bố của Nixon  khiến Thiệu yên lòng, và hai người cùng tuyên bố 25,000 binh sĩ Mỹ – cơ bản là hai sư đoàn tác chiến mã Thiệu đã đề nghị hồi tháng giêng – sẽ rút về nước vào cuối tháng 8. Trong khi các nỗ lực của Thiệu ắt hẳn chỉ ảnh hưởng chút ít đến quyết định của Nixon, ông chắc chắn không phải là một kịch sĩ thụ động chỉ biết căm phẫn trước sự phản trắc của người Mỹ hoặc một bù nhìn chuyên chế tự động thi hành theo mệnh lệnh của Hoa Kỳ. Ông đã tính toán tìm cách tạo hình nên chính sách Việt Nam đang lộ diện của Nixon trong khi câu giờ và tranh thủ tăng cường viện trợ để bù lại việc Mỹ rút quân.

Để đáp trả các bài diễn văn trước đây của Thiệu, vào ngày 10/6, MTGP tuyên bố thành lập một Chính quyền Cách mạng Lâm thời (CQCMLT) để thay thế nó. Tia lửa là việc Việt Nam hóa chiến tranh. Theo Trương Như Tảng, người đã trốn khỏi Saigon vào bộ chỉ huy Trung ương Cục miền Nam,

Việt Nam hóa là một mưu đồ chính trị được sử dụng để giáng trả chúng ta bằng cách cắt vây cánh phe chống đối chiến tranh trên vũ đài Mỹ quốc tế và trong nước. Chúng ta cương quyết đáp trả bằng cách phản công mối đe doạ này tại chính xác cùng một chiến trường. Từ lâu chúng ta đã phát triển các kế hoạch dựng lên những đường rãnh chính quyền chính thức của MTGP ở cấp độ vùng và thấp hơn nữa; giờ chúng ta chuyển sang bước tạo ra một thực thể chính trị trung ương nhằm cạnh tranh với Saigon trên cơ sở thế đứng hợp pháp, chính thức … Mục đích của chúng ta là gây ảnh hưởng đến dư luận quần chúng: trong nước, nơi một chính quyền không cộng sản sẽ cho chúng ta sự tin cậy hơn nữa với nhân dân miền Nam; và quốc tế, nơi đó chúng ta sẽ có thể cạnh tranh với Saigon để được công nhận chính thức … và ở Mỹ, nơi chúng ta sẽ xiển dương chính nghĩa đại diện nhân dân miền Nam, góp thêm trọng lượng cho phong trào hòa bình.

Mặc dù tuyên bố của CQCMLT thu hút sự quan tâm trên thế giới, Thiệu gạt phăng nó như “một mánh khóe tuyên truyền” và nói rằng MTGP/CQCMLT vẫn chỉ là một bộ phận của bên kia.” Trong khi bề ngoài khinh thị, Thiệu biết rằng mình cần trả miếng. Ông có hai động thái. Sau khi trở lại từ Midway, ông tuyên bố miền Nam đang chuyển hướng ưu tiên từ hành động quân sự sang “giai đoạn chính trị đấu tranh cho hòa bình.” Tuyên bố thành lập CQCMLT cũng khiến Thiệu tăng tốc các nỗ lực đàn áp mọi thảo luận công khai về hòa bình. Ông cảnh báo rằng “Ai loan tin đồn” cổ vũ liên hiệp sẽ bị “trừng phạt nghiêm khắc vì tội thông đồng với kẻ thù và tôi sẽ trừng trị họ nhân danh Hiến pháp.”

Ông nổi dóa vào ngày 4/6/1969 trước sự thành lập một nhóm chống đối có tên Lực Lượng Quốc Gia Tiến Bộ của Trần Ngọc Liểng, người đứng chung liên danh với Dương Văn Minh trong cuộc bầu cử 1967. Gồm một nhóm nhỏ các trí thức gốc Saigon, đây là nhóm cánh tả cạnh tranh được tổ chức đầu tiên kể từ Ủy ban Đòi Hòa Bình vào tháng 3 1965, mà thành viên của nó đã bị CQMN xét xử và kêu án tù. Trong phát biểu ngày 4/6 của mình, Liễng yêu cầu rút quân “nước ngoài” trong khi cho phép bộ đội Bắc Việt ở lại trên lãnh thổ miền Nam, và ngừng bắn ngay lập tức. Thiệu thấy Liễng không như một kẻ chống đối xây dựng nhưng là một cái gai thường xuyên. Ông nói đúng. “Mục đích của chúng ta,” Liễng viết, “là tranh đấu đòi Mỹ rút quân, và chúng ta không dự tính tham gia vào bất cứ chính quyền nào.” Theo mệnh lệnh của Bộ Chính trị phải khuấy động chống đối, “chúng ta tìm cách chống đối mọi chính sách của chính quyền Mỹ và Thiệu, sử dụng nhiều phương thức mạnh bạo, sống động, như cổ vũ cử tri đốt thẻ cử tri trong cuộc bầu cử, xúi giục sinh viên tấn công và đốt cháy xe cộ Mỹ, v….v…” Thiệu cho rằng việc thành lập CQCMLT và Lực Lượng Quốc Gia Tiến Bộ của Liễng không phải là ngẫu nhiên, và ông ra lệnh cảnh sát điều tra. Hai tuần sau, cảnh sát triệu tập Liễng để thẩm vấn. Ông được thả ra với lời cảnh cáo nghiêm khắc, nhưng những tên cánh tả như Liễng vẫn luôn là cỏ dại trong ngôi vườn của Thiệu mà việc nhổ tận gốc là điều phiền toái.

Tìm cách lấy lại  một thế đứng chính trị cao, động thái tiếp theo của Thiệu là đưa ra đề xuất hòa bình vươn xa nhất của bất kỳ một lãnh đạo miền Nam nào, một đề xuất mà ông bám vào đó cho đến ba năm sau. Đằng sau sân khấu, Nixon đã phái Bunker đến thảo luận với Thiệu về một vài ý tưởng, nhưng ông bảo Bunker đừng có ép buộc Thiệu phải tiếp nhận chúng. Điểm chính của Nixon là nếu Hà Nội không đáp ứng với màn dạo đầu của họ vào tháng 9 1969, Nixon sẽ xem xét hành động quân sự mạnh mẽ để buộc địch thương thuyết. Để làm rõ là “chúng ta không có sự lựa chọn” nào khác cho một hành động như thế, Nixon hỏi Thiệu hãy “rất sẵn sàng” trong bài diễn văn ngày 11/7 của mình. Vì MTGP đã đòi Thiệu từ chức và chính quyền ông bị thay thế bởi một chính quyền lâm thời trước khi tổ chức một cuộc bầu cử, Nixon đề nghị rằng Thiệu đồng ý từ chức nếu MTGP đồng ý tham gia bầu cử. Thiệu từ khước “bởi vì hiệu quả tâm lý của từ đó đối với nhân dân Việt Nam và nhất là do mối hiểm họa một số người có thể cho rằng ông sẵn sàng chấp nhận chính quyền liên hiệp.” Còn nữa một tiền lệ đã được đặt ra, và quả bóng thăm dò nay bắt Thiệu từ chức trước khi tổ chức bầu cử với MTGP sẽ có những vang dội trong tương lai giữa các đồng minh.

Thiệu nói với quốc gia vào ngày 11/7. Ông kể chi tiết các vi phạm tiếp diễn của Cộng sản về những thấu hiểu đã tạo thành cơ sở cho các đồng minh để đồng ý đối thoại hòa bình Paris. Ông chỉ ra rằng thỏa hiệp trước đây cho phép MTGP là một thực thể riêng biệt trong cuộc bầu cử minh chứng  cho việc theo đuổi trung thực hoà bình của mình. Sau đó Thiệu đưa ra đề xuất: ông thách thức MTGP tham gia bầu cử có quốc tế giám sát, nhưng chỉ khi MTGP từ bỏ bạo lực và cam kết chấp nhận kết quả. Hơn nữa, ông đề nghị cho MTGP hỗ trợ thiết lập và giám sát bầu cử, hứa sẽ không có giáng trả nào sau bầu cử, và nói rằng CQMN sẽ tôn trọng kết quả bầu cử dù kết quả thế nào. Ông nhắc lại lập trường trước đây của mình là ông muốn tổ chức các cuộc gặp gỡ riêng với MTGP mà không có điều kiện tiên quyết để thảo luận về hậu cần bầu cử. Trong khi Thiệu rào đón vài điểm, mọi việc đều có thể thỏa thuận được, trừ ra quan điểm về một cuộc tổng tuyển cử tự do.

Thiệu đã thách thức người Cộng sản cạnh tranh bầu cử, nhưng chỉ đến mức mà ông đã sẵn sàng. Ông đã đến giới hạn của mình và việc gì có thể trong vòng chính trị Quốc gia. Sau cuộc tổng công kích Tết và khởi đầu hòa đàm, mỗi bên đã bắt đầu mưu tính để tranh thủ lập trường của mình. Nixon muốn cắt giảm đóng góp quân sự của Mỹ để làm giảm áp lực do phe phản chiến và Quốc hội gây ra. Saigon đang tìm cách đưa ra giải pháp hòa bình trong khi củng cố lập trường tương lai chống Cộng. Hà Nội đang hy vọng trì hoãn cho đến khi họ có thể tái lập quyền lực. Hòa bình rút cục tùy thuộc vào Lê Duẩn, nhưng ông ta biết rằng đồng hồ của người Mỹ đang rầu rĩ vì cuộc chiến  chạy nhanh hơn đồng hồ của ông ta.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s