Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 15)

CHƯƠNG 15: “HỘI NGHỊ NÀY SẼ QUYẾT ĐỊNH SỐ PHẬN CỦA QUỐC GIA TÔI”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Tìm Kiếm Hoà Bình

 Tháng 10 1968, một tháng hỗn loạn khác trong một năm đầy biến động. Năm năm bi thảm đã đi qua kể từ các sự kiện trọng đại của 1963 đã in dấu số phận của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Từ đó, miền Nam đã chịu đựng một cuộc chiến khốc liệt, những thử nghiệm chính trị tan vỡ, những bức bách về kinh tế, và những tai ương về xã hội, nhưng thình lình từ vùng nước xoáy một tia hy vọng yếu ớt về hòa bình bổng lóe sáng. Đây là tập lớn thứ ba của năm 968. Thứ nhất là Tổng Công Kích Tết. Thứ hai là tuyên bố gây choáng váng của Tổng thống Johnson về việc ngừng dội bom và quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ 2, tiếp theo là một làn sóng tấn công thứ hai và thắng lợi của Thiệu đối với Hội đồng Quân sự. Đối với Thiệu lộ trình đi đến hòa bình luôn bắt đầu từ Hà Nội và kết thúc ở Saigon. Kể từ khi thắng cử ông đã trở nên quan ngại các kế hoạch của Hoa Kỳ về cách thức đạt được một hiệp ước. Các đồng minh Á châu chuyên chế thiển cận của ông cảnh báo với ông rằng người Mỹ sẽ “bán đứng ông”, khiến căn bệnh hoang tưởng của ông càng trầm trọng thêm. Sợ rằng người Mỹ có thể cưỡng chế ông chấp nhận liên hiệp, ông bác bỏ sự tham gia của MTGP trong bất kỳ đối thoại hòa bình nào và yêu cầu chính quyền của mình dẫn đầu cuộc hòa đàm Paris và Hà Nội nói chuyện trực tiếp với Saigon. Lập trường cứng rắn của ông xuất phát từ nhiều nhân tố. Ông tin rằng Hà Nội không thực sự mong muốn hòa bình, và ông quan tâm nhiều nhất đến việc phần đông người Quốc gia sẽ phản ứng giận dữ với bất kỳ thỏa thuận nào cho phép MTGP tham gia vào đàm phán. Khi Hà Nội khựng lại trước yêu sách của ông, việc tiếp theo Thiệu khước từ tham dự hòa đàm Paris sẽ dẫn đến một cuộc đối đầu kịch tính giữa các đồng minh và tạo ra một truyền thuyết chính trị là ứng cử viên tổng thống Richard Nixon đã bí mật âm mưu với ông để xoay chuyển cuộc bầu cử Hoa Kỳ.

HOÀ ĐÀM NÓNG LÊN

Vào ngày 7/10, Thiệu đọc diễn văn khai mạc phiên họp thường kỳ thứ hai của Quốc hội. Ông nhấn mạnh đến việc chu toàn trách nhiệm của mình trong chính quyền hợp hiến và nhờ quốc hội hỗ trợ thiết lập một nền pháp trị. Về vấn đề hòa bình, ông nhắc lại rằng mình sẽ không cho phép một chính quyền liên hiệp, không nhượng bộ tấc đất nào, hoặc cho phép MTGP tham gia vào bầu cử như một thực thể chính trị. Lòng tin của ông được chống đỡ khi thế cục diện quân sự đã nghiêng về phía ông.

Việc động viên đang mở rộng quân đội ông, và vũ khí mới đang nâng cấp hoả lực cho binh sĩ ông. Ở nông thôn, LLNDTV đang phát triển nhanh chóng, Phượng Hoàng đang gây tổn thất cho các cán bộ nằm vùng, và chương trình bình định hoá mới sẽ bắt đầu vào ngày 1/11.

Bunker và Tướng Abrams cũng tin rằng cục diện chiến tranh đã nghiên về phía họ. Tình báo Hoa Kỳ chỉ ra rằng hầu hết các đơn vị chủ lực của Cộng sản đã rút lui qua biên giới Lào và Cao Miên để hồi phục sau khi chịu những thảm bại nhức nhối. Các cuộc hành quân càn quét của đồng minh đã tiêu hủy nhiều chỗ cất giấu đồ tiếp tế của địch, tước đoat khả năng phát động các cuộc tấn công mới của kẻ thù.

Phân tích chiến lược chiến trường của Hà Nội, Abrams kết luận rằng Bộ Chính trị “đã ra một quyết định chủ yếu là chuyển trọng tâm từ quân sự đến chính trị” vì “cái giá của cuộc chiến đấu của họ đã quá đắt.”

Hà Nội, tuy nhiên, không nhìn giống như vậy. Nếu Bunker và Thiệu cảm nhận rằng miền Bắc không thể đánh thắng về mặt quân sự, Hà Nội cũng nghĩ như thế về Hoa Kỳ. Bộ Chính trị phán đoán rằng sự căng thẳng leo thang của trận xung đột sẽ sớm buộc người Mỹ kết thúc chiến tranh. Hà Nội thấy rằng “bọn đế quốc/tư sản/thực dân kiểu mới” đang gánh chịu căng thẳng tài chính gay gắt và rối loạn xã hội nghiêm trọng, đang làm gãy đổ khả năng duy trì những cam kết toàn cầu khác. Các gánh nặng chồng chất sẽ buộc người Mỹ tìm kiếm một lối thoát. Bộ Chính trị tuyên bố rằng bài diễn văn của Johnson tuyên bố dừng dội bom từng phần là “một thắng lợi cho chúng ta.” Thắng lợi đó họ cho là nhờ “các cuộc đấu đá tàn bạo diễn ra bên trong giới lãnh đạo Mỹ, nhất là trong những cuộc tuyển cử sơ bộ tại Hoa Kỳ, và bởi sức ép mạnh mẽ từ công luận thế giới và chính nước Mỹ.”

Các cuộc đối thoại ở Paris hiện thời gặp bế tắc vì Hà Nội khăng khăng đòi Hoa Kỳ ngừng các cuộc dội bom vô điều kiện xuống lãnh thổ của mình như là điều kiện tiên quyết để đàm phán thực sự. Hà Nội cũng từ chối bắt đầu thương lượng để đổi lấy việc ngừng dội bom. Sẽ không có sự hỗ tương, mà chỉ có  Hoa Kỳ phải nhìn nhận là tư thế chính nghĩa của Hà Nội đã đánh bại các hành động “hiếu chiến và tội lỗi” của người Mỹ. Hơn nữa, Hà Nội bác bỏ sự có mặt của Saigon tại cuộc hòa đàm, tuyên bố rằng CQMN chỉ là “tay sai” của Mỹ. Chỉ có MTGP mới là đại diện “thực sự” của miền Nam. Mặc dù Mỹ đã phản bác những yêu sách của VNDCCH, Hà Nội vẫn kiên nhẫn đợi, tin tưởng rằng “các xung đột nội bộ” sẽ sớm ép buộc họ phải đưa ra nhượng bộ. Vào cuối tháng 8, Bộ Chính trị đưa ra bản phân tích tình hình cho Hội nghị 15 Trung ương Đảng. Mục tiêu của hội nghị vẫn không thay đổi: đánh thắng cuộc chiến quyết định trên chiến trường, buộc người Mỹ phải rút lui, hoặc cưỡng bách Mỹ và Saigon phải đối thoại với MTGP. Chỉ khi đó nó mới chịu đồng ý giải quyết “vấn đề Việt Nam qua thoả thuận.” Các nhà cai trị ở Hà Nội cũng không điều chỉnh chiến lược của mình. “Đánh và đàm,” họ viết, “liên kết mật thiết với nhau… Chúng ta đang sử dụng các cuộc đối thoại để che giấu việc chúng ta chuẩn bị phát động các cuộc tấn công ác liệt ở miền Nam.”

Tuy nhiên, thực tiễn đang chen chân vào. “Mặc dù chúng ta trong một vị thế mạnh hơn kẻ thù, chúng ta vẫn chưa đến được điểm có thể buộc chúng thỏa mãn các yêu sách của chúng ta. Vì lý do đó, hoà đàm Paris không tránh khỏi phải mất chút thời gian.” Chiến thuật của Hà Nội không phải tìm kiếm hoà bình mà là  trì hoãn cho đến khi điều kiện chín mùi để đạt đến thắng lợi.

Còn nữa, bản phác lược của Bộ Chính trị là lời cổ vũ gửi đến quân đội đã kiệt sức cũng nhiều như những kim chỉ nam chính trị. Người Xô-Viết đã bí mật báo tin cho người Mỹ vào đầu tháng 6 là Hà Nội cuối cùng sẽ chấp nhận ngừng dội bom hoàn toàn để đổi lấy đối thoại hòa bình nghiêm túc. Người Nga nói đúng, bởi vì mặc dù lời lẽ đanh thép vào cuối tháng 8, Bộ Chính trị sẽ mềm dẻo hơn khi cần thiết. Vào ngày 10/10, Bộ Chính trị thông báo cho Trung ương Cục miền Nam rằng họ đã quyết định khai thác chiến dịch tranh cử của Mỹ bằng cách đưa ra đề nghị đổi chác việc tham gia đối thoại của Saigon lấy việc chấm dứt hoàn toàn dội bom miền Bắc. Hà Nội lý giải việc thay đổi bất ngờ này bằng cách tuyên bố lời đề xuất này sẽ “phi Mỹ hóa chiến tranh”, có nghĩa đây là bước đầu tiên trong việc loại bỏ người Mỹ. Như Thiệu, Lê Duẩn cũng đang tìm kiếm một cách thức để loại người Mỹ ra khỏi cuộc xung đột. Sau 5 tháng VNDCCH công kích và ngăn chận, vào ngày 11/10, các nhà đàm phán của Hà Nội đột nhiên xoay chiều.  Họ hỏi Averell Harriman, trưởng đoàn thương thuyết Hoa Kỳ, liệu người Mỹ có chấm dứt dội bom miền Bắc để đổi lấy câu trả lời về việc CQMN tham gia. Tuy nhiên, Johnson không mắc mồi nhử. Mặc dù là đáp ứng bán tích cực đầu tiên của Hà Nội, Johnson đưa ra ba yêu sách phải được hội đủ trước khi ông đồng ý: ngưng pháo kích gián tiếp vào các thành phố miền Nam, ngưng tấn công vượt qua khu phi quân sự, và bắt đầu đàm phán với Saigon. Hy vọng một cú đột phá cuối cùng đã xuất hiện, Johnson nhanh chóng phái Bunker đến hội ý với Thiệu. Viên đại sứ giải thích diễn biến mới với các lãnh đạo Saigon và yêu cầu Thiệu đồng ý tiến tới nếu CHDCVN chấp nhận ba điều kiện của Johnson. Ngạc nhiên thay, tổng thống miền Nam đáp bằng lòng. “Suy cho cùng,” ông trả lời, “vấn đề không phải là ngừng dội bom, mà để kết thúc chiến tranh, và chúng ta phải thử theo lộ trình này để xem họ có nghiêm túc không. Rồi Thiệu hỏi về vị trí của MTGP tại bàn đàm phán. Bunker nói rằng Hoa Kỳ đã thông báo với phái đoàn Hà Nội là Mỹ không chấp nhận sự hiện diện của MTGP tại bàn đàm phán, nhưng sau khi họ không chịu, Harriman đã đề xuất một công thức phe anh – phe tôi trong đó bất cứ ai cũng có thể được xếp ngồi với phe mình. Kế hoạch của Mỹ là tránh yêu sách của Hà Nội đồng thời bác bỏ lá cờ, bảng tên, và những thể thức khác có thể ám chỉ Mặt trận là một đối tác đầy đủ trong cuộc đối thoại.

Vào ngày 16/10, Bunker một lần nữa đến gặp Thiệu và bảo ông rằng Harriman ở Paris sẽ sớm gặp phái đoàn VNDCCH. Nếu Hà Nội chấp nhận ba điều kiện, Hoa Kỳ sẽ ngừng dội bom ngay sau đó.

Bunker muốn Thiệu ký một thông cáo chung tuyên bố các cuộc hòa đàm chính thức đã bắt đầu. Thiệu ngay lập tức họp Hội đồng An ninh Quốc gia (HĐANQG)  vừa mới thành lập để bàn bạc về yêu cầu của Bunker. Ông cũng mời lãnh đạo lưỡng viện tham gia. Phụ tá Đặc biệt về Ngoại vụ của Thiệu, Nguyễn Phú Đức dự tất cả các phiên họp của HĐANQG và ghi chép cẩn thận. Ông phát biểu rằng “buổi họp này rất quan trọng vì nó mở màn cho lộ trình ra quyết định trong tiến trình thương thảo về phía miền Nam.” Trong khi Thiệu, Kỳ, Ngoại trưởng Thành, và Đức tiến hành các thoả thuận với Bunker, “các quyết định chỉ đưa ra sau khi tham vấn và bàn luận đầy đủ trong HĐANQG.”

Sau khi Thiệu giải thích tình hình, Kỳ xổ toẹt ra rằng mục tiêu thực sự của Johnson chỉ là để hỗ trợ cuộc tranh cử của  Humphrey hơn là giúp đỡ Việt Nam. Hầu hết đều đồng ý với cách suy nghĩ mang tính âm mưu của Kỳ,và sau khi thảo luận ngắn ngủi, HĐANQG yêu cầu Thiệu trước tiên phải làm rõ vị thế của MTGP tại cuộc đối thoại trước khi ký vào thông cáo chung. Sau đó Thiệu gửi Đại sứ Bùi Diễm một bức điện ra lệnh ông “nhấn mạnh với Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng về những hậu quả tai hại mà việc tham gia của MTGP trong cuộc hòa đàm có thể gây ra cho tinh thần chiến đấu của các lực lượng vũ trang và nhân dân chúng ta. . . Sự kiện đó thậm chí có thể gây tiếng vang nguy hiểm cho sự ổn định chính trị của chúng ta. . . Quốc hội lẫn công luận đều không chấp nhận một sự đảo ngược.”

Ngày hôm sau, Thiệu giải thích với Bunker mình sợ đám thính giả trong nước. “Nếu tôi và thủ tướng chấp nhận,” ông nói, “bước vào buổi họp mà vị thế của MTGP chưa được làm rõ, sẽ xảy ra phản ứng dữ dội ở đó.” Thiệu lo lắng phe quá khích – Đại Việt Cách mạng, Công giáo phía bắc, và một số sĩ quan quân đội – sẽ bùng nổ. Trong khi ông nhận thức được rằng thế giới sẽ đổ lỗi cho ông nếu Saigon từ chối tham dự, ông than thở rằng “tôi không nghĩ là mình đủ mạnh để hành động; có quá nhiều người ở đây . . . sẽ lợi dụng chuyện này làm cái cớ để gây rối.” Đối thoại với Mặt trận là một lằn mức mà Thiệu sẽ không, không thể, vượt qua. Lập trường của Saigon là MTGP chỉ là một chi nhánh của Hà Nội và nếu CQMN đồng ý đàm phán với MTGP như hai bên bình đẳng, điều đó sẽ phá vỡ lập luận của Saigon cho rằng chiến tranh là cuộc gây hấn từ miền Bắc chứ không phải là một cuộc nội chiến. Như Tổng thống Diệm đã hạ bệ Tướng Nguyễn Văn Hinh, Thiệu “muốn đánh liều mọi thứ hơn là chấp nhận MTGP có tư cách một phái đoàn riêng biệt.” Khi các bài báo Mỹ loan tin rằng việc ngừng dội bom được đề xuất là “vô điều kiện”, vào ngày 19/10, Thiệu lên đài truyền hình và đài phát thành Việt Nam phản bác bất kỳ quyết định ngừng dội bom nào trừ khi Hà Nội công khai lên tiếng chấp nhận ba điều kiện của Johnson. Thiệu nói rằng mình không chấp thuận việc ngừng dội bom nếu Hà Nội vẫn cứ tiếp tục pháo kích vào các thành phố miền Nam, giết hại dân lành. Hơn nữa, ông muốn Hà Nội công khai “nhìn nhận CQMN là đại diện duy nhất của nhân dân miền Nam” và “bày tỏ thiện chí bằng cách xuống thang chiến tranh.” Sau hết, “chấm dứt dội bom có ích lợi gì … trừ khi nó nhanh chóng đưa đến hoa bình?” Nếu không, Hà Nội chỉ đang dục hoãn cầu mưu, hy vọng Hoa Kỳ sẽ cưỡng ép một chính phủ liên hiệp hoặc bỏ cuộc.

Thiệu nhắm đến các đảm bảo công khai này, sẽ trút đổ lời tuyên truyền của Hà Nội, nhằm xác định xem liệu miền Bắc có thực lòng muốn hòa bình hay không hay chỉ sử dụng đối thoại để phun ra lời thoá ma. Ông muốn tránh “một nền hòa bình giả trá”, một nền hòa bình mà nhờ đó Bộ Chính trị chỉ đơn giản chuyển sự đụng độ vũ trang sang hù dọa và ám sát, một nỗ lực nhằm thắng cuộc chiến bằng việc lật đổ hơn là chinh phục quân sự. Mục tiêu không thể thỏa hiệp được của Thiệu là bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa và ông muốn “loại hoà bình nào có thể giữ gìn được tự do cho miền Nam” thậm chí nếu điều đó có nghĩa “phải chống đối với đòi hỏi của người đồng mình bức bách.” Từ đó, Thiệu đòi có cam kết vững chắc là VNDCCH không tính đến việc dở trò cũ rích. Tuy nhiên, ông không yêu cầu Hà Nội đầu hàng. Nếu Hà Nội công khai đồng ý đối thoại nghiêm túc và trực tiếp với saigon, Thiệu sẵn sàng “trung thực trong đối thoại của chúng tôi … từ lúc chúng tôi bước vào phòng hội nghị, là chúng tôi đến vì hoà bình. Chúng tôi sẽ thảo luận bất kỳ vấn đề gì với họ … không như kẻ thù mà như những đồng bào.”

Để đáp ứng với phát biểu của Thiệu, hai ngày sau, Phó Tổng thống Humphrey được hỏi trên TV CBS trong chương trình “Đối điện Quốc gia” về các thương thảo hòa bình. Ông tuyên bố rằng người miền Nam “không có quyền phủ quyết” về đề xuất ngưng dội bom của Mỹ. Cho dù ông không công khai chỉ trích Thiệu, ông cho rằng vì người Mỹ đã gánh chịu  “một nghĩa vụ nặng nề” giúp đỡ miền Nam, Thiệu “nên tỏ ra hợp tác hết lòng” với Johnson.

Ngày hôm sau, Thiệu phát đi một thanh minh, phát biểu rằng ông không chống đối thẳng thừng với việc ngừng ném bơm, nhưng sẽ đồng ý chỉ sau khi Hà Nội đã chỉ ra dấu hiệu rõ ràng sẽ xuống thang chiến tranh và đối thoại trực tiếp với Saigon. Rồi Thiệu thông báo với Diễm rằng lời bình luận của ông “không có nghĩa là một lập trường mềm yếu hơn như báo chí trong nước và ngoài nước lý giải. Mục tiêu cốt yếu trong tuyên bố đó là nhằm đẩy lùi bắt kỳ toan tính nào của Hoa Kỳ và thế giới muốn lên án chúng ta hiếu chiến hoặc ngăn cản việc ngừng ném bom … Tuyên bố cố tính nói với dư luận thế giới và nhân dân Mỹ để ngăn ngừa sự mất tỉnh táo và có được sự cảm thông.”

Sau đó Thiệu tìm cách điều chỉnh ngôn ngữ của thông cáo chung. Ông muốn ngôn từ không được mơ hồ và cự tuyệt rõ ràng sự tham gia của MTGP và xác nhận rằng Hà Nội phải tham gia đối thoại trực tiếp với CQMN. Động lực của ông thật đơn giản. Nếu Hà Nội không giữ được lời hứa, như họ đã từng rất nhiều lần trước đây, ông muốn ấn định một cách cụ thể các điều khoản này trước tiên để các đồng minh có thể cắt đứt thương thảo mà không bị công luận thế giới lên án.

Người Mỹ thay vào đó cố gắng vá víu các khác biệt với VNDCCH về những biện pháp này. Sự mơ hồ của văn từ Mỹ trong thông cáo chung là có tính toán. Phái đoàn Mỹ ở Paris tin rằng Hà Nội sẽ không bao giờ công khai chấp nhận các yêu sách của Saigon. Người Xô-Viết trấn an Harriman là trong khi VNDCCH sẽ không bao giờ công khai đồng thuận với các điều kiện, họ sẽ tôn trọng triệt để ở mức riêng tư. Harriman, đã có nhiều thời gian trong sự nghiệp đàm phán với người Cộng sản, cho rằng tốt hơn nên khởi đầu dựa vào “sự thông hiểu” này hơn là để đàm phán vẫn đình đốn. Sau một vài phiên họp nữa giữa Bunker và Thiệu, vào ngày 28/10, người miền Nam, dù vô cùng dè dặt, cũng bực bội chấp thuận bản nháp thông cáo chung. Mặc dù Thiệu ưng thuận, ông vẫn thầm hy vọng rằng thông điệp chung sẽ còn có thể bàn luận vì Hà Nội vẫn còn chưa trả lời với đề xuất của Mỹ. Đúng ra Hà Nội bổng thình lình cứng đầu. Vào ngày 13/10, Bộ Chính trị gửi một bức điện cho Lê Đức Thọ, trưởng đoàn đàm phán ở Paris, với yêu sách mới gắt gao. Cũng như Thiệu muốn VNDCCH công khai chấp thuận ba điều kiện của Johnson, Hà Nội cũng cực lực đòi Hoa Kỳ quy định trong thông cáo chung  rằng việc ngừng ném bom là “vô điều kiện”. Thêm nữa, Hà Nội muốn đợi một thời gian vô hạn định sau khi việc ngừng ném bom bắt đầu trước khi mở đầu các cuộc đàm phán chính thức, và họ nhắm tới một hội nghị bốn cường quốc để thổi phồng vị thế của MTGP. Lê Đức Thọ, nhận thức được rằng ngoại giao là nghệ thuật về những điều có thể, cho rằng những yêu sách này là “quá đáng và không thực tiễn.” Ông ta biết rằng Mỹ sẽ không đồng ý, nên lập tức bay về Hà Nội để hội ý. Những phụ tá của Thọ ở Paris phải đình hoãn Harriman. Phái đoàn Mỹ lúng túng vì bỗng nhiên họ trở chứng. Tuy nhiên, Thọ thuyết phục Bộ Chính trị hãy từ bỏ yêu sách , và vào ngày 27/10, đại diện Cộng sản chấp thuận ba điều kiện của Johnson. Như người Xô-Viết đã nói rõ, họ yêu cầu các điều khoản giữ trong vòng bí mật, vì họ không chấp nhận bất kỳ sự hỗ tương nào cho việc ngừng dội bom. Vào ngày 29/10, Bunker báo tin cho Thiệu là Hà Nội đã đồng ý. Hoa Kỳ cho rằng việc Hà Nội chịu nhượng bộ cho Saigon tham gia trong hội nghị là một thắng lợi chính yếu, và rằng VNDCCH đã chịu nhượng bộ vào ba điều kiện. Johnson dự tính thông báo việc ngừng ném bom vào ngày 31/10, và đề nghị đàm phán buổi đầu tiên vào ngày 2/11. Bunker muốn Thiệu đồng ý gửi một phái đoàn đi dự hội nghị và ký tên vào thông cáo chung.

Sau buổi họp với Bunker, Thiệu lập tức triệu tập HĐANQG. Thiệu và các cố vấn của mình rất sốc khi Hà Nội chấp nhận ngay sau khi ông đã đồng ý với thông cáo chung và ông sửng sốt trước sự vội vàng khởi động đàm phán. Không mấy tin cậy người Mỹ và lời bảo đảm của VNDCCH rằng họ có một sự “thông hiểu về các điều kiện của Johnson, Thiệu xem xét việc ấn định giờ giấc với sự ngờ vực, và khi HĐANQG thảo luận về yêu cầu của Bunker, một bức điện gây choáng váng đến từ Paris. Trưởng quan sát viên CQMN tại bàn hội nghị, Phạm Đăng Lâm, viết rằng Harriman đã thông báo ông rằng Hoa Kỳ không thể ép buộc Hà Nội tham gia đối thoại trực tiếp với Saigon cũng không thể ngăn cản họ xếp ghế ngồi cho MTGP như một phái đoàn riêng biệt. Cả hai điểm đều đi ngược với ngôn ngữ của thông cáo và mọi bảo đảm mà Bunker đã đưa ra cho dân miền Nam. Bức điện như một quả bom làm trầm trọng thêm sự nghi ngờ của Thiệu về các động lực của Mỹ, và ông thông báo với Bunker rằng ông sẽ không đồng ý ngồi vào bàn hội nghị chừng nào phát biểu của Harriman chưa được làm rõ.

Khi Bunker đánh điện cho Rusk rằng Thiệu đang khựng lại, vị Ngoại trưởng trả lời rằng Johnson “đã quyết định phải tiến hành trên lập trường liên kết đã được đồng y giữa chính ông ta và Thiệu như được phác họa trong thông cáo chung.” Trong gợi ý đầu tiên về điều sẽ được biết dưới tên Vụ Chennault, Rusk cũng bảo với Bunker rằng *chúng tôi có thông tin xáo trộn từ giới chính trị cho rằng có vài phần tử chính trị ở Hoa Kỳ đang tìm cách can thiệp vào Saigon.”

Trong khi Saigon thảo luận  phải đáp thế nào cho tối hậu thư của vị đại sứ, Washington ép buộc Bunker lấy cho được câu trả lời. Ông đến Dinh Độc Lập nhiều lần trong hai ngày sau đó nhưng không khai thông được bế tắc. Rồi một biến cố khác làm tăng cao căng thẳng giữa hai xứ. Việc Thiệu ngờ vực các hứa hẹn của Hà Nội sâu đậm thêm khi 8 hoả tiễn phóng vào Saigon vào đêm 31/10, vụ pháo kích đầu tiên sau một tháng. 19 thường dân bị giết chết khi một hoả tiễn đâm trúng một nhà thờ. Thiệu căm phẫn, xem đó như một vi phạm có tính toán về “sự hiểu rõ” của Harriman về điều kiện của Johnson không được pháo kích vào các thành phố miền Nam. Bunker đến dinh ngay trước nửa đêm 31/10. Ông chịu đựng lời phàn nàn tuôn ra như suối của người miền Nam, nhưng dưới mệnh lệnh nghiêm nhặt của Rusk, Bunker chuyển hướng cuộc thảo luận và kêu gọi đoàn kết. Thiệu vẫn không lay chuyển. Bực tức, ông tuyên bố rằng “cuộc hội nghị này sẽ quyết định số phận của xứ sở tôi. Chúng tôi cần nhiều thời gian bàn việc đó. Nếu chính quyền các ông quyết rằng mình không có thời gian hơn được, thì tùy ở các ông. Nhưng tôi phải có trách nhiệm với đất nước và nhân dân tôi.” Đức ngưỡng mộ ghi chép rằng sau khi Bunker bỏ về để hội ý với Rusk về việc Việt Nam cần điều chỉnh nhiều hơn bản thông cáo chung. Thiệu binh tĩnh đợi Bunker trả lời. Như các nhà lãnh đạo miền Nam khác, Thiệu trong lòng sợ rằng nếu ông cự tuyệt những yêu sách của Hoa Kỳ, ông sẽ bị thay thế bởi một người khác ngoan ngoãn hơn. Để ngăn ngừa điều đó,  ông tuyên bố rằng mình đã học được bài học của Diệm. Ông bảo với Đức mình sẽ không tự đặt mình “trước đầu một xe tăng Mỹ đang rùng rùng chạy tới để bị đè bẹp nhưng sẽ ngồi bên người lái và cố gây ảnh hưởng với anh ta.” Diệm đã chọn con đường bảo vệ lợi ích của đất nước mình và đứng án ngữ trước xe tăng đang chạy tới, dù bất kỳ giá nào, và hình ảnh thi thể đầm đìa máu của ông vẫn còn in đậm trong tâm trí ông. Người Mỹ, tất nhiên, không có kế hoạch hạ bệ Thiệu, nhưng Bunker lấy làm tiếc báo tin cho ông vào sáng ngày 1/11 (giờ Saigon) rằng Johnson không chấp thuận sửa đổi gì thêm nữa vào bản thông cáo. Johnson sẽ thông báo vào lúc 8 giờ tối ngày 31/10. Ông cũng sẽ phát biểu rằng việc ngừng dội bom sẽ bắt đầu vào sáng hôm sau và buổi họp hoà đàm đầu tiên sẽ xảy ra vào ngày 6/11. Thiệu không nhượng bộ, và câu trả lời của ông là không. Nhưng biết hậu quả, ông nhờ Bunker nhắn đến Tổng thống là ông “mang ơn ông ta và chính quyền Hoa Kỳ rất nhiều.”

Vào ngày 2/11, Thiệu đọc diễn văn trước quốc hội. Ông xác nhận rằng “vấn đề cơ bản không phải là chấm dứt dội bom” mà là chấm dứt chiến tranh.” Ông tuyên bố rằng “CQMN  sẵn sàng thực thi bắt kỳ hành động nào nhằm giúp vãn hồi hòa bình” và lặp lại đề nghị của mình là thương thảo trực tiếp với Hà Nội. Tiếng ông cất lên, ông lớn tiếng tuyên bố rằng vì những điều kiện đó không được thoả mãn, “VNCH sẽ không tham dự” hội nghị được ấn định vào ngày 6/11. Những tràng pháo tay vang dội tưng hô lời tuyên bố của ông. Sau khi Thiệu kết thúc, một phái đoàn dân biểu đi bộ đến dinh để chúc mừng ông. Ông đã làm được điều không thể; ông đã đoàn kết những phe phái chính trị hay tranh chấp nhau.

Quyết định của Thiệu căn cứ trên một số nhân tố. Thứ nhất, Thiệu cho rằng Johnson nóng ruột muốn nhanh chóng tuyên bố đàm phán hòa bình là để giúp cuộc tranh cử của Humphrey. Thứ hai, tại sao vội vã muốn ngừng dội bom trong khi các báo cáo đang đổ về cho thấy kẻ thù đang bị tổn thất lớn lao và nỗ lực quy mô của việc bình định hoá sắp sửa bắt đầu? Thứ ba, Thiệu sợ rằng đối thoại với MTGP sẽ làm mất nhuệ khí của QĐVNCH và chính quyền, không nói đến mối quan ngại có thật về một cú đảo chính hoặc mưu sát ông do phe cánh hữu thực hiện. Thứ tư, Thiệu không ưa Harriman, trưởng đàm phán của Mỹ. Sự thất bại tại Hiệp định Lào 1962 đã tạo điều kiện cho Hà Nội mở rộng Đường Mòn Hồ Chí Minh, mà người miền Nam chế giễu gọi là “Xa lộ Tưởng niệm Harriman”. Họ cho rằng Harriman quá nôn nóng muốn thỏa thuận với Hà Nội. Nếu Nixon thắng cử, Harriman sẽ bị thay thế. Cuối cùng, Thiệu không phải là người có thể đưa ra quyết định chóng vánh, và sức ép quá lớn của Mỹ càng làm ông rúc cổ.

Bất kể cách phân tích của ông thế nào, đối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, một thời khắc chân lý đã đến. Kêu gọi lòng tự hào quốc gia của người miền Nam và đứng lên chống lại người Mỹ đã xiết chặt  hàng ngũ Việt Nam sau lưng ông. Vậy mà điều đó phải trả một giá cao: việc tranh cãi về cuộc đối thoại hòa bình đã tạo ra khủng hoảng tồi tệ nhất giữa Hoa Kỳ và CQMN kể từ ngày cuối cùng của chế độ Diệm. Johnson ngược lại  cho rằng Thiệu trước đây đã nhượng bộ trước các yêu sách của Hoa Kỳ nhưng vào giây cuối cùng đã làm ngược lại. Tại sao ông ta thình lình thay đổi lộ trình? Johnson suy đoán rằng sự xoay chiều là do có sự dàn xếp trong bóng tối giữa Thiệu và ứng viên tổng thống Richard Nixon, một âm mưu được biết dưới tên Phi vụ Chennault. Các nhà báo và các tác giả chuyên điều tra đã duyệt lại chứng cứ trong thư khố Hoa Kỳ, nhưng ngoại trừ ghi chép của Bùi Diễm, họ đã phớt lờ các ghi chép của miền Nam. Đây là lần đầu tiên phía Saigon nói về những gì đã xảy ra.

PHI VỤ CHENNAULT

Theo câu chuyện được biết rõ, ứng viên Cộng Hòa Richard Nixon sử dụng bà Anna Chennault, goá phụ gốc Hoa của Thiếu tướng Mỹ Claire Chennault, chỉ huy đội Phi Hổ lừng lẫy trong Thế Chiến II như một kênh liên lạc bí mật đến Thiệu thông qua Đại sứ miền Nam Bùi Diễm. Thông điệp được cho là của Nixon nói rằng Thiệu nên từ chối lời yêu cầu của Johnson đến Paris  tham dự đàm phán trước kỳ tuyển cử, và đổi lại, Nixon sẽ hậu thuẫn yêu sách hòa bình của Thiệu sau này. Trong kịch bản này, Nixon đang tuyệt vọng tìm cách ngăn cản một quả bom chính trị của Johnson, gọi là “Bất Ngờ Tháng 10”, để xoay ngược cục diện bầu cử về phía Humphtey. Nixon cho rằng mình đã thua chức tổng thống năm 1960 do tính thất thường của cử tri (nhưng không phải vậy), và không nghi ngờ gì ông đang cảnh giác trước một toan tính đánh cắp cuộc bầu cử.

Xác quyết chống Nixon này dựa trên thu thập tình báo lén lút mà Johnson ra lệnh trong những ngày cuối cùng của cuộc bầu cử 1968 nhằm phát hiện ra âm mưu đáng ngờ giữa Nixon và Thiệu. Mặc dù chính quyền Hoa Kỳ đã nhận được tin tình báo chính xác về các cuộc thảo luận trong nội bộ CQMN – Cục An ninh Quốc gia chặn lại và phiên dịch toàn bộ thư từ ngoại giao, và CIA đã lắp đặt máy nghe lén trong văn phòng của Thiệu tại Dinh Độc Lập – Johnson chỉ thị cho FBI theo dõi sự di chuyển của Chennault và nghe lén điện thoại của Bùi Diễm để lật tẩy bắt kỳ âm mưu nào. Công cuộc giám sát của FBI và các phương pháp dùng để thu thập thông tin từ miền Nam quá nhạy cảm đến độ Johnson chỉ đạo Cố vấn An ninh Quốc gia Walt Rostow giữ lại các báo cáo này khi Rostow rời chính quyền. Mặc dù các nhà báo bắt đầu in các câu chuyện ngay từ đầu năm 1969 nhắc tới việc hỗ trợ Nixon của Chennault, Rostow chỉ giao tài liệu cho Thư viện LBJ vào giữa năm 1973. Được gọi là “Phong bì X”, cuối cùng thư viện loại nó ra khỏi bảng xếp loại tài liệu mật. Thông tin khác chi tiết hoá các cuộc bàn bạc của Johnson về âm mưu của Nixon với các nhân vật chính trị và ban tham mưu của ông chứa trong các cuộc gọi điện hoặc buổi họp được ghi chép lại ra văn bản và được in ấn như một phần của loạt bài Quan hệ Đối ngoại của Bộ Ngoại giao. Hai tuyển tập này cung cấp cơ sở dữ liệu cho những gì Johnson tin tưởng và các hành động của ông.

Các ghi chép Hoa Kỳ có sẵn  hiện thời, vốn cung cấp ít chứng cứ về một vụ âm mưu, đã được khảo sát hoàn toàn. Các tác giả cứ khăng khăng Nixon có dính líu trong kế hoạch này thường chấp nhận nó bởi vì Johnson tin điều đó và hành động dựa trên niềm tin đó. Tuy nhiên, phần đông các học giả đã phán đoán rằng việc Thiệu khước từ tham dự đối thoại có liên quan đến chính sách đối nội của ông và không phải do Nixon khẩn khoản như được viện dẫn. Các cá nhân miền Nam có dính líu cực lực khẳng định cách đánh giá này. Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi thời hậu chiến, Thiệu cũng phủ nhân việc ông chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mưu đồ của Nixon. Ông nhấn mạnh rằng bài diễn văn đọc trước quốc hội vào ngày 2/12 bác bỏ việc tham gia đối thoại của CQMN là “phát biểu của riêng tôi, ý tưởng của riêng tôi, trách nhiệm tôi là trình bày lập trường của chúng tôi cho công dân chúng tôi, quốc hội chúng tôi, quân đội chúng tôi. Nixon không bảo tôi phải làm như thế hoặc ép buộc tôi làm như thế.” Sự kiện về thái độ của Thiệu trong thời kỳ 10/1972 – 1/1973, khi người Mỹ tìm cách thuyết phục ký vào Hiệp định Hòa Bình Paris, song hành mật thiết với các hành động của ông trong thời kỳ tháng 10 – tháng 11 năm 1968 này có thể được xem như là chứng cứ rằng các yêu cầu được cho là của Nixon không phải là nhân tố xác định trong quyết định không tham dự hòa đàm vào tháng 11/1968 của ông.

Bùi Diễm cũng đã nhiều lần phủ nhận có bất kỳ thoả thuận nào với chiến dịch của Nixon để phá hoại hòa đàm. Việc trao đổi duy nhất từng được đề cập đến, ông nói, là một gợi ý rằng Nixon sẽ viếng thăm Saigon nếu ông ta đắc cử. Chennault cũng bác bỏ các viện dẫn. Hơn nữa, cố vấn chính sách đối ngoại của Thiệu, Nguyễn Phú Đức, phát biểu rằng ông biết Chennault trong thời gian  ông ở Washington và ông thường gặp bà khi bà viếng thăm Saigon. Nếu bà muốn gửi thông điệp, Đức nói, bà có thể liên lạc với ông, nhưng bà chưa hề làm thế. Đức nói thêm rằng “Tôi đã nhận được những bản sao tất cả tin điện từ Washington … Tôi chưa hề nghe Thiệu hoặc Ngoại trưởng Thành đề cập đến một thông điệp từ Bà Chennault qua Bùi Diễm, hoặc một trung gian nào khác.”

Dù có các phủ nhận từ mọi bên, câu chuyện này phức tạp hơn âm mưu đơn giản của Nixon nhiều. Điều vẫn chưa được xem xét là tác động qua lại giữa Thiệu, các đồng minh Á châu của ông, và chiến dịch tranh cử của Nixon. Chỉ tập trung vào các chứng cứ phía Hoa Kỳ và biết trước vụ tai tiếng Watergate của Nixon sau này, nên họ thiếu khả năng biết được Thiệu và các đồng minh Á châu của mình có thể đã tìm cách vận dụng cuộc tuyển cử về hướng có lợi cho mình.

Làm thế nào mà Anna Chennault lại trở thành nhân vật trung tâm cho một sứ mạng nhạy cảm như thế? Một bà chủ nổi tiếng và giao thiệp rộng đối với giới ưu tú Washington, sau khi chồng mất vào năm 1958, bà thay chồng nắm quyền điều hành công ty hàng không, thực hiện các hợp đồng béo bở chuyên chở hàng hóa từ Hoa Kỳ sang miền Nam. Bà và chồng cực kỳ thân thiết với vợ chồng Tưởng Giới Thạch, và vợ chồng Chennault là thành viên của nhóm “Lốp-bi Trung Quốc”, một mạng lưới không chính thức của giới lãnh đạo cánh hữu Hoa Kỳ hoạt động hợp tác với các viên chức Trung Hoa Dân Quốc hậu thuẫn ước mơ chiếm lại lục địa của Tưởng. Tưởng và bà vợ đã từ lâu tìm cách tạo ảnh hưởng với chính sách Mỹ, hoặc qua các chiến dịch quảng bá được tài trợ mạnh hoặc các cuộc tấn công chính trị ghê tởm chống lại đối thủ không muốn viện trợ tiếp tục cho Trung Hoa Dân Quốc.

Xét mối tiếp xúc của bà với giới lãnh đạo chóp bu của CQMN, bà là nguồn thông tin vô giá về miền Nam. Ngay từ tháng 7 1965, một tài liệu lưu trữ Đài Loan đã chỉ ra rằng bà đang báo cáo cho Tưởng Giới Thạch về diễn tiến chính trị ở cả Hoa Kỳ lẫn miền Nam. Trong hồi ký của mình, bà giải thích bằng cách nào vào mùa xuân 1967, Nixon nhờ bà cung cấp cho ông quan điểm thấu đáo về cuộc xung đột và hoạt động như một đường dây liên lạc giữa chính ông và CQMN. Ấn tượng trước mong muốn bộc lộ của Nixon muốn đánh thắng cuộc chiến ở miền Nam, một luận điểm chủ chốt trong ý kiến của Trung Hoa Dân Quốc về cuộc chiến, bà đồng ý. Như miền Nam, Đài Loan cho rằng người Mỹ đã “phản bội họ” vì không đánh bại Cộng sản.

Vào năm 1968, Chennault là phó chủ tịch Ủy ban Tài chính Quốc gia của Phụ nữ Cộng Hòa, một vai trò gần như là có tính biểu tượng về một tổ chức hậu thuẫn Nixon. Bà đầu tiên được giới thiệu với Bùi Diễm tại Saigon vào năm 1965 khi ông là phụ tá của Nguyễn Cao Kỳ. Sau khi ông đến Hoa Kỳ làm đại sứ, ông làm mới lại mối quen biết như một phương tiện nhằm gặp gỡ được một số thế lực chính trị ở Washington. Mặc dù bà gặp Kỳ vai lần, bà cho rằng mình chỉ gặp được Thiệu không lâu sau khi ông nhậm chức. Tại thời điểm này, bà báo với ông là Nixon đã nhờ bà làm việc cho ông ta với vai trò liên lạc thông tin với nhà lãnh đạo miền Nam. Khi chiến dịch tranh cử ở Hoa Kỳ bắt đầu nóng lên, các cuộc thăm dò đều cho kết quả Nixon đang dẫn đầu khá xa đối thủ Humphrey. Tin này mang đến phấn khởi cho Saigon. Việc giới lãnh đạo miền Nam thích Nixon hơn Humphrey không có gì bí mật. Thiệu nhớ lại cuộc trò chuyện khó chịu của ông với phó tổng thống tại một cuộc họp vào ngày 1/11/1967. Bằng lời lẽ thẳng thắn, Humphrey đã trình bày về áp lực phản chiến gia tăng mà chính quyền Johnson đang đối mặt và bày tỏ quy mô sứ mạng của Hoa Kỳ là không thể bền vững được. Ông ta thẳng thừng nhấn mạnh Thiệu phải nhanh chóng cải thiện chính quyền và quân đội của mình. Thiệu tin chắc rằng Humphrey không phải là người hậu thuẫn mạnh mẽ đất nước mình, một niềm tin lớn mạnh hơn trong thời gian chiến dịch tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Kỳ nhận xét rằng “chúng tôi chưa hề nhận được lời nào từ Humphrey và nhiệt tình của ông cho miền Nam dường như cũng nguội lạnh không lâu trước cuộc bầu cử.”

Trái với Humphrey, Nixon được biết là người hậu thuẫn miền Nam và được coi là một diều hâu chống cộng. Ông có mối quan hệ từ lâu với miền Nam. Nixon đã hậu thuẫn người Pháp trong Chiến tranh Đông Dương Thứ Nhất, và ông đã viếng thăm Việt Nam ngay trước trận Điện Biên Phủ. Để chuẩn bị cho chiến dịch tranh cử tổng thống được kỳ vọng, tháng 4 1967, ông lên đường đi một vòng châu Á, trong đó có Đài Loan và miền Nam. Ở Saigon, ông công khai “đề xuất tăng cường mạnh mẽ những nỗ lực của Hoa Kỳ để đánh thắng cuộc xung đột Việt Nam.” Thiệu ghi nhận.

Sau thông điệp ngày 11/10 của Hà Nội, Johnson phái các đại sứ của Hoa Kỳ tại mỗi nước có quân chiến đấu tại miền Nam để tranh thủ sự hậu thuẫn cho sáng kiến hòa bình của mình. Ông đặc biệt lo lắng với Tổng thống Park Chung-hee của Nam Hàn. Sau bài diễn văn ngày 31/3/1968 của ông, Johnson đã bay đến Seoul vào giữa tháng 4 để gặp Park và xoa dịu nỗi lo âu của ông ta. Nhà lãnh đạo Nam Hàn bảo với Johnson rằng người Á châu cảm thấy sốc khi nghe quyết định không ra tranh cử của ông. Park cũng bày tỏ quan ngại sâu sắc rằng “chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ hướng đến châu Á có thể rút lui” sau khi Johnson ra đi, và ông thấy bị xúc phạm bởi quy luật giao tranh  quân sự hạn chế của người Mỹ tại Việt Nam. Park lên tiếng xiển dương một thắng lợi quân sự thẳng thừng, và ông tin Johnson đang vứt bỏ thắng lợi chỉ vì hạn chế những chọn lựa quân sự.

Khi đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Hàn báo tín cho Park về lời đề nghị ngày 11/10 của Hà Nội, vị tổng thống Nam Hàn trả lời rằng ông không chống đối đàm phán hòa bình nhưng ông hoài nghi việc Hà Nội chấp thuận ba điều kiện. Ông không mất thời gian bảo với Thiệu quan điểm của mình. Vào ngày 18/10, con rệp CIA gắn trong văn phòng Thiệu ghi lại cuộc đối thoại giữa tổng thống và vị đại sứ Nam Hàn tại Việt Nam. Sau khi nói lướt qua về các phản đối của ông đối với đề nghị của Hoa Kỳ, Thiệu phát biểu rằng mình cho rằng việc ngừng dội bom sẽ giúp cho Humphrey, và đây chính là mục đích của việc đó.”

Thiệu biết rằng việc ngừng dội bom mà không có sự nhất trí của ông chỉ làm lợi cho Mixon. Từ đó, ông tin rằng Johnson sẽ không làm việc ấy nếu không có sự đồng thuận của Saigon. Đanh thép hơn, Thiệu nói rằng vì “các tỉnh hình chiến sự và chính trị bên trong Việt Nam đang phát triển có lợi cho chúng ta, chúng ta càng đình hoãn việc ngừng dội bom, lợi thế của Việt Nam càng lớn.” Vị đại sứ Hàn Quốc trả lời rằng “không có khác biệt giữa lập trường của Hàn Quốc … và lập trường của Việt Nam,” và ông tuyên bố rằng Hàn Quốc “đang hậu thuẫn Saigon mạnh mẽ” và rằng hai nước nên “sát cánh cùng nhau”. Nguyễn Phú Đức cho biết đại sứ Nam Hàn “khuyến cáo CQMN hãy rất thận trọng, nhất là về vị thế của MTGP.” Trong suốt tháng 10, cả Thiệu và Kỳ duy trì liên lạc với các viên chức cao cấp của Hàn Quốc, luôn cổ vũ người miền Nam hãy giữ lập trường cứng rắn. Johnson vẫn tỏ ra quan ngại về lời khuyên của Park với Thiệu. Ông bảo với cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara rằng “chúng tôi đang theo dõi những gì Hàn Quốc nói với miền Nam.” Không có gì ngạc nhiên khi chính quyền Mỹ nhúng tay vào một nỗ lực tương tự chống lại Nam Hàn. Nhiều năm sau này, một xì-căng-đan được biết dưới tên “Koreagate” bùng nổ trong đó một số người Nam Hàn bị kết tội rót tiền hối lộ cho một số dân biểu quốc hội nhằm đảo ngược quyết định của tổng thống Nixon muốn rút quân khỏi Nam Hàn. Chi tiết về sự dính líu của Park Chung-hee được phát hiện qua máy theo dõi điện tử. Các tờ báo trích dẫn các nguồn tin chính quyền Mỹ không tên cho rằng tình báo đã “dùng kỹ thuật điện tử chặn được điện thoại của Hàn Quốc và các tín điện qua lại giữa Seoul và Washington.”‘ Nếu tin tức về Phi vụ Chennault đã lấy được từ phương tiện giám sát người Nam Hàn (hay Đài Loan), không có tin tình báo nào như thế đã được lấy ra từ kho tài liệu tham khảo tự do.

Tuy nhiên, Park không phải là người duy nhất rỉ vào tai Thiệu. Tưởng Giới Thạch của Đài Loan cũng bực tức tương tự với tuyên bố của Johnson vào tháng 3. Như Park, vị thống soái nhận thức chắc chắn là tuyên bố của Johnson báo trước một sự rút quân của Mỹ khỏi châu Á. Tưởng cũng khao khát một thắng lợi quân sự ở miền Nam. Vụ tổng cộng kích Tết thuyết phục ông rằng chính sách chiến tranh hạn chế của Mỹ không thể đánh bại Cộng sản Việt Nam.

Vào cuối tháng 6, Tưởng trở nên báo động hơn sau khi bài chính luận New York Times thúc giục Hoa Kỳ tăng cường mối quan hệ với Trung Hoa lục địa. Nhiều người xem tờ Times như lời báo trước chính sách của Mỹ. Ông tin rằng Humphrey có thể tiến gần hơn đến Bắc Kinh, trong khi Nixon ai cũng biết là một diều hâu đã đích thân tới gặp ông và thảo luận về chính sách quốc gia.

Sợ rằng chính quyền Humphrey có thể bỏ rơi hòn đảo căn cứ của mình, ông bắt đầu tìm cách “đánh thức sự hậu thuẫn của người Mỹ đối với Đài Loan, vốn đã chịu đựng một loạt những bất mãn khi người Mỹ không hỗ trợ lập trường của Đài Loan trên một số vấn đề.” Khi Bộ Ngoại giao không chịu bác bỏ bài chính luận Times, ngoại trưởng Đài Loan trở nên nổi nóng. Ông thẳng thừng bảo với đại sứ Mỹ rằng một tuyên bố phủ nhận chính thức là một vấn đề “cực kỳ khẩn cấp … nhằm xoa dịu nhân dân Đài Loan. . . Kể từ lúc Johnson đọc bài diễn văn ngày 31/3, các quốc gia Á châu, đặc biệt Đài Loan, đã trở nên cảnh giác hơn về sự rút lui khỏi châu Á của người Mỹ.”

Điều cấp thiết là hiểu rõ tâm tư của cả hai người liên quan đến sự bảo trợ của người Mỹ. Họ nhìn những hành động và không hành động của người Mỹ qua lăng kính của nhu cầu riêng mình, và họ đổ lỗi sự đánh mất Trung Hoa và sự chia đôi Hàn Quốc là do người Mỹ hậu thuẫn không đến nơi hơn là do họ kém năng lực. Trong khi ở Đài Loan, Đại sứ  CQMN Trần Thiện Khiêm thường dùng bữa với Tưởng Giới Thạch. Ông ta thường bảo Khiêm rằng “Việt Nam và Đài Loan như hai thành viên trong một gia đình, tương tự như mối quan hệ giữa Mỹ và Anh. Ông cũng nói rằng vì người Mỹ bỏ rơi ông vào năm 1949 khiến ông phải bôn tẩu, rằng tình hình sẽ rất khó khăn cho miền Nam.” Mặc dù cả hai nhà chuyên chế Á châu đều hậu thuẫn miền Nam, họ làm thế chủ yếu vì quyền lợi của riêng họ. Một sự rút lui tháo chạy của người Mỹ khỏi miền Nam, theo quan điểm của họ, sẽ khuyến khích Cộng sản xâm lược chống họ.

Hơn nữa, sự hiểu biết về tính phức tạp của xã hội Mỹ và gánh nặng của nghĩa vụ toàn cầu của Hoa Kỳ là rất nông cạn. Chẳng hạn, sau bài diễn văn của Johnson, vào tháng 4 và 5 1968, Trung tướng Wang Sheng, sĩ quan chiến tranh chính trị cao nhất của Đài Loan, đi quan sát một vòng nước Mỹ để bảo đảm sự cam kết của Mỹ ở châu Á. Trước chuyến thăm, quan điểm của ông không nghi ngờ gì phản ánh học thuyết Trung Hoa Dân Quốc điển hình. Wang “thường lên tiếng về mối quan ngại đối với Bộ máy Hành chính không có khả năng duy trì lộ trình về Việt Nam chống lại lực lượng chỉ trích trong nước về những nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ.” Ông “lúc nào cũng nhìn thấy bàn tay đen tối của bọn lật đổ Cộng sản đằng sau” các phong trào dân quyền và biểu tình đối kháng của sinh viên. Vị tướng tỏ ra nghi ngờ năng lực của người Mỹ “trong việc lãnh đạo Thế giới Tự do chống lại mưu đồ Cộng sản, vì xét rằng người Mỹ quá ngờ nghệch không nhận ra hầu hết các các vấn đề nổi cộm trong nội bộ hay ngoài nước đều do Cộng sản kích động.”

Do đó, hai đồng minh thân cận nhất của Thiệu có cùng quan điểm: một khao khát cháy bỏng thắng lợi quân sự ở Việt Nam và cảnh giác trước chiều sâu lời cam kết của người Mỹ kết hợp với một quyết đoán ăn sâu là người Mỹ “đã bán đứng họ” và sẽ làm như vậy đối với Saigon. Cả hai đều muốn Nixon thắng cử, và quan trọng nhất, họ cổ vũ Saigon hãy luôn quyết tâm và không suy sụp trước yêu sách của Mỹ. Một viên chức Việt Nam thân cận với Thiệu mô tả mối gắn bó giữa ông, Park, và Tưởng như mối quan hệ anh em, một cụm từ trong xã hội Việt Nam ám chỉ vai trò dạy dỗ trong một gia đình. Ý kiến của họ rõ ràng ảnh hưởng đến Thiệu, vốn đã từng tuyên bố với khách khứa trong bữa cơm chiều vào ngày 11/11 rằng việc ngừng dội bom của Johnson là một “hành động phản bội có thể so sánh với việc Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch.”

Tuy nhiên, điều đó là không đúng để cho rằng Thiệu lắng nghe ngoan ngoãn các “huynh trưởng” của mình mà không có suy nghĩ riêng. Vào ngày ⅘, Cơ quan Tình báo Trung ương của ông trình bày một kế hoạch phác họa cách thức Saigon có thể đạt được mục tiêu của mình trong cuộc hòa đàm. Phòng Tỉnh báo đề xuất Thiệu tiến hành đồng minh vận, một khái niệm được thiết kế “nhằm thuyết phục người Mỹ cho phép CQMN có vai trò cầm đầu trong cuộc đàm phán”. Phòng Tình báo nhắm đến “các xứ khác có tham gia chiến đấu ở Việt Nam, như Nam Hàn … nhằm thuyết phục họ đưa ra hậu thuẫn mạnh mẽ nhất cho lập trường của miền Nam.” Trong một dự báo về các hành động tương lai của Thiệu, Phòng Tỉnh báo khuyên nên chấp nhận một chính sách tống tiền, mà các nước nhỏ yếu có thể sử dụng để chống lại các nước lớn hùng mạnh có mối dây ràng buộc với các nước nhỏ mà không thể lập tức cắt đứt.”

Phòng Tình báo cũng đề xuất hai hoạt động cấp thiết khác. “Duy trì liên lạc sát với các đồng minh Á châu của chúng ta – Nam Hàn, Thái Lan, và Phi Luật Tân – giờ cũng đang lo bị Hoa Kỳ bỏ rơi.” Phòng Tình báo sau đó khuyên Thiệu nên phái các cá nhân bắt liên lạc với các nhân vật Mỹ hàng đầu nhằm cung cấp thêm thông tin cho CQMN hiểu biết hơn về chính sách của Johnson. Trong một điềm báo xấu về những gì sẽ xảy ra, họ chủ trương tiến hành “những thăm dò khám phá trong nước Mỹ … Chỉ có loại cá nhân không nằm trong chính quyền mới có thể thực hiện tốt nhất loại công việc thăm dò lập trường Mỹ, bởi vì nếu chúng ta giao công việc cho các phái đoàn chính thức của ta, các viên chức Hoa Kỳ có thể phớt lờ họ hoặc lảng tránh họ. Các cá nhân được chọn phải là hạng người mà nhân thân chưa được biết đến trong chính tình Việt Nam, nhưng họ phải có năng lực Anh ngữ vững vàng và phải có hiểu biết về kỹ năng và chiến thuật ngoại giao.” Khi những trao đổi qua lại giữa Thiệu và các bạn đồng minh Á châu của mình đang diễn tiến sau sân khấu, việc bóc trần  vụ dàn xếp bầu cử được cho là xảy ra sớm vào ngày 29/10. Sáng hôm đó, em của Rostow gọi điện cho ông từ New York để chuyển một tin nhắn từ Alexander Sachs, một nhà kinh tế lừng danh. Một nguồn tin trong đội chiến dịch của Nixon bảo  Sachs rằng vị ứng cử viên đang tìm cách thuyết phục Saigon đừng tham dự hòa đàm. Khi Bunker đồng thời cũng báo động cho Washington vào sáng cùng ngày rằng Thiệu bất ngờ từ chối tham gia, Johnson nhìn thấy có âm mưu và ra lệnh cho FBI nghe lén điện thoại Bùi Diễm và theo dõi Chennault. Tại một buổi họp muộn hơn vào ngày đó, Johnson và ban tham mưu thảo luận về sự can thiệp được cho là của Nixon và tại sao Thiệu khựng lại. Rusk cảnh báo Johnson nếu CQMN “không thể đồng ý ngừng bắn trước 7/11 hoặc đồng ý họp trước 10/11, chúng ta hiểu rằng họ đang chơi trò chính trị.”

Ngay lập tức sau bài diễn văn 31/10 của Johnson, Chennault nói bà nhận một cú điện thoại của cố vấn Nixon là John Mitchell. Ông gọi để bày tỏ quan ngại của mình về tác động của việc tuyên bố ngừng dội bom vào kết quả bầu cử. Mitchell nói rằng mình đang nói thay cho Nixon và ông ta muốn bà truyền đạt “lập trường của đảng Cộng Hòa” đến CQMN. Bà tuyên bố mình rất bối rối trước yêu cầu của Mitchell vì nó thay đổi vai trò của bà từ cố vấn của Nixon sang hậu thuẫn cho việc thay đổi chính sách của Thiệu. Vào ngày 2/11, trong ắt hẳn là một mẫu chứng cứ kết tội thu thập được, FBI ghi được một cú điện thoại bà gọi cho Diễm. Bà “cố vấn ông rằng chủ của mình … muốn bà đích thân giao cho Đại sứ ” một bức thông điệp hãy “cứ đợi đấy, chúng ta sắp sửa thắng.” Bà dùng từ “chủ” ở đây để chỉ Mitchell, nhưng Johnson cho là bà ám chỉ Nixon. Khi Thiệu từ khước vào ngày 2/11 việc gửi đại diện đến dự hòa đàm, sự kiện đó cùng với cuộc điện đàm được ghi âm, đã tạo nên truyền thuyết.

Có một vài khiếm khuyết trong thuyết này. Trước nhất, dù Mitchell rất khẩn cấp, Chennault chỉ truyền thông điệp hai ngày sau. Trong khi đúng là sứ quán CQMN có tổ chức tiệc mừng lễ 1/11, nếu bà muốn sử dụng Diễm như người đưa tin của phe Nixon, ta có thể giả định một thông điệp quan trọng cỡ này lẽ ra phải được giao ngay lập tức. Bà không đề cập đến cú gọi này trong hồi ký của mình, và tính vắn tắt và mơ hồ của nội dung cuộc gọi là bất thường. Ngôn ngữ bà dùng dường như có tính hình thức xã giao hơn là cấp thiết. Cũng quan trọng không kém, bản chép lại không thấy có trả lời nào của Bùi Diễm. Ông ta không tìm cách bàn bạc hay mình định thông điệp của bà ta, cũng không đề cập đến cuộc gọi của bà trong bất kỳ tin điện nào đánh về Saigon sau đó. Nếu ông là kênh đưa tin, tại sao ông không báo cáo thông điệp của bà ấy? Đến ngay sau gót chân bài phát biểu Johnson, nếu ông chuyển giao thông điệp, một mối tiếp xúc khẩn cấp như thế ắt hẳn đã được nhanh chóng truyền tải đến Thiệu. Cục An ninh Quốc gia ắt hẳn sẽ chặn được và giao cho Rostow. Bức điện như thế sẽ là một chứng cứ cụ thể của âm mưu, nhưng không có tài liệu nào như thế đã từng xuất hiện.

Bùi Diễm bảo với tác giả rằng ông không báo cáo thông điệp của bà vì “nó không có nghĩa gì cả hoặc làm thay đổi tình hình.” Gợi ý có khả năng duy nhất về cuộc gọi của bà đến trong một bức điện ông gởi cho Thiệu vào ngày hôm sau. Bản nháp viết tay của ông cho rằng bài diễn văn đọc trước Quốc hội của Thiệu đã “nhận được nhiều lời bình phẩm ở đây. Nhiều người bạn đã điện thoại khen ngợi chúng ta hoặc tuyên bố ủng hộ chúng ta.” Tuy nhiên, Cục An ninh Quốc gia chặn được và thêm vào cụm từ”hoặc kêu gọi chúng ta tiếp tục quyết tâm” vào cuối câu đó. Phần còn lại của bức điện nêu chi tiết những sự kiện mới nhất và phần phân tích của ông về tính hình hiện thời.

Có một ý kiến là một bức điện từ Bùi Diễm đến Thiệu đề cập đến cuộc điện đàm của bà ấy không tồn tại. Vào ngày 4/11, Johnson nhìn nhận với Rusk là chứng cứ rất mong manh. Ông giải thích rằng

 Tôi không biết gì nhiều hơn điều tôi bảo với các ứng cử viên ngày hôm đó. . . ấy là, bọn đó đã toan tính một chuyện gì ngoài đó và rồi họ đâm ra nghi ngờ vì chúng ta nhận được báo cáo về một nhóm nào đó – nhóm Lốp-bi Trung Hoa cũ – móc nối với các sứ quán, và vân vân. Giờ, tôi không nhận được gì đặc biệt hơn điều đó, A, bởi vì tính nhạy cảm của nguồn tin … và B, bởi vì bản chất hạn chế của thông tin. Tôi đã làm việc đó trên cơ sở của hai điều, một, tin chặn được từ  Đại sứ nói rằng ông ta đã nhận được một cuộc gọi và ông chủ nói hãy đợi và vân vân, và thứ hai, chiến dịch Lốp-bi Trung Hoa này, Madame dính líu.

Bỏ qua một bên việc ông nhìn nhận một cách thảm hại rằng phần lớn sự tin tưởng của ông đều dựa vào “thông tin hạn chế”, liệu Johnson đang đề cập đến thông điệp qua điện thoại của bà ta tới Bùi Diễm hay một tin điện từ ngài đại sứ là điều không chắc chắn. Vì không có tin điện nào lộ diện, ắt hẳn Johnson nói sai và ý ông muốn nói về vụ nghe lén điện thoại, vì ông đã không thể thấy được bức điện bị chặn vào ngày 3/11 trước khi ông gọi cho Rusk. Cuộc đối thoại đó xảy ra lúc 12:27 p.m., còn con dấu ghi thời gian cho cuộc đối thoại trên bản dịch của Cục An ninh Quốc gia là 2228Z (10:38), hay 5:38 p.m.

Do đó, chuyện là Johnson, cố tìm hiểu những hành động của Thiệu, và trong một cơn nóng nảy, đã nhảy đến kết luận dựa vào sự trùng hợp thuần túy ngẫu nhiên. Bất luận thế nào, với Johnson cứ đinh ninh là Chennault đang làm việc cho Bùi Diễm, phần còn lại của chính quyền đều rơi vào hàng. Trong một cuộc họp vào ngày 4/11, Clifford bảo với ban tham mưu rằng “Việc rối rắm chúng ta đang mắc phải hoàn toàn là do Saigon làm ra và chỉ vì sức ép của đảng Cộng Hòa lên Việt Nam qua Bùi Diễm.”

Như mọi sự kiện chính trị, không có gì là thẳng thừng. Chân lý của vấn đề, được phát hiện ở đây lần đầu tiên, là Chennault quả là có tìm cách thuyết phục Thiệu không tham dự hòa đàm Paris, nhưng bà làm việc ấy vì lợi ích của Tưởng Giới Thạch, chứ không vì Nixon. Bà cũng không sử dụng Bùi Diễm làm kênh liên lạc. Bà có một phương tiện khác để liên lạc với Thiệu. Theo Hoàng Đức Nhã, em họ cấp hai của Thiệu (có cùng ông cố) và thư ký riêng của ông vào năm 1968, bà sử dụng anh ruột của Thiệu, Nguyễn Văn Kiểu, làm đường dây liên lạc của mình. Kiểu lúc đó là tùy viên ngoại giao của CQMN ở Đài Loan, và ông từng làm trung gian cho Thiệu với các phe nhóm ở miền Nam, từ Đại Việt đến Công giáo. Tiểu sử của Chennault khẳng định rằng “bà quen thân với anh Thiệu Nguyễn Văn Kiểu.”

Thế thì bằng cách nào Chennault giao thông điệp này từ Tưởng? Theo Nhã, đối với một thông điệp mang tính nhạy cảm này, Tưởng gửi thông điệp qua một thành viên trong gia đình. Gia đình luôn là mối ràng buộc gắn bó nhất, và ông biết rằng Thiệu không mấy chắc về lòng trung thành của Bùi Diễm, vì trước đây ông ta là người của Kỳ. Nhã phát biểu rằng đâu đó sau bài diễn văn ngày 31/3 của Johnson, “Người Đài Loan tiếp xúc với Kiểu ,.. để sắp xếp  một cuộc họp với Thiệu và Anna . Kiểu bay về Saigon. Thiệu sử dụng tôi và Nguyễn Phú Đức xử lý những vấn đề chính sách ngoại giao nhạy cảm vào thời gian đó. Đức không được mời tham dự buổi họp này, đó là lý do tại sao ông nói nó không xảy ra trong quyển sách của mình.”.

Trong buổi họp có tính cách gia đình, Kiểu trao thông điệp của Tưởng yêu cầu Thiệu gặp Chennault để bàn bạc về cuộc bầu cử. Thiệu đồng ý gặp bà nhưng ông muốn tránh cặp mắt rình rập của người Mỹ. Bà bay đến Saigon, tại đó Tổng trưởng Nội vụ Trần Thiện Khiêm đón bà. Khiêm quen biết bà vào thời gian ông ở Đài Loan. Theo lời Khiêm, ông đón bà tại sân bay và mang bà đến Vũng Tàu bằng trực thăng để gặp Thiệu. Họ nói chuyện trong hai giờ.” Khiêm không có dự cuộc họp, và trong khi ông nghĩ rằng thông điệp là về việc Nixon không muốn Thiệu tham dự hòa đàm, một nguồn tin thân cận với Thiệu sau chiến tranh nói rằng bà Chennault bảo Thiệu là Tưởng đã đề xuất Thiệu không đi và nhờ đó sẽ giúp Nixon thắng cử. Theo nguồn tin này, tổng thống, theo phong cách điển hình, lắng nghe rất chăm chú và ghi chép kỹ nhưng không cam kết gì với lời yêu cầu của bà.

.Bùi Diễm nhất trí và nói rằng những năm sau ông biết được ngài Thiệu đa nghi tin vào thông điệp của bà nhưng “ông không thực sự tin tưởng nó,” nghĩa là ông chưa bị thuyết phục. Thiệu sau đó tìm cách bắt liên lạc với Nixon để khẳng định đó đúng là điều ông muốn. Một con rệp của CIA ghi lại lời Thiệu phát biểu rằng “trong chiến dịch tranh cử ông đã gửi hai đặc sứ bí mật đến Hoa Kỳ để bắt liên lạc với Nixon.” Trong khi Thiệu không nói rõ, một đặc sứ chắc chắn là bà Chennault. Bà kể lại cuộc đối thoại với Thiệu “khi chiến dịch đang tới gần đỉnh điểm” tại đó ông phàn nàn về sức ép của Hoa Kỳ bắt tham gia đàm phán ở Paris. Sau khi nói rằng ông “thích tham dự hòa đàm sau bầu cử của bà hơn,” bà hỏi ông, “đây có phải là thông điệp gửi cho đảng tôi không?” Bà tuyên bố rằng Thiệu đáp vâng và hãy chuyển thông điệp này đến các ứng cử viên của bà.” Rủi thay, bà không tiết lộ khi nào đối thoại này xảy ra, cũng không liệu bà có giao nó không.

Theo đề xuất của Cơ quan Tình báo Trung ương phải sử dụng người Việt tượng đối không được giới chính trị Mỹ biết đến, người đưa tin khác là Huỳnh Văn Trọng, khi đó là phụ tá của tổng thống về vấn đề ngoại giao và chính trị. Trọng dẫn đầu một phái đoàn Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối tháng 9 đến giữa tháng 10. Ông mang theo một bức thư cá nhân của Thiệu ủy quyền cho chuyến thăm của ông, bề ngoài là để phục vụ cho các sinh viên Việt Nam ở Hoa Kỳ. Trọng bí mật được hướng dẫn quan sát chiến dịch và báo cáo về cho Thiệu. Trọng thận trọng tránh tiếp xúc với Bùi Diễm để ngăn cản sứ quán CQMN giám sát hoạt động của ông. Vậy mà trong cái éo le mỉa mai, Trọng lại là một gián điệp Cộng sản. Ông bị bắt vào mùa hè 1969 và bị kết tội gián điệp. Luật sư của Trọng cho biết Trọng đã bảo với ông rằng “Thiệu đã gửi Trọng đến Mỹ để lốp-bi cho quốc hội Mỹ, báo chí và các tổ chức lao động.”

Mặc dù mọi vận động cửa sau, vào cuối tháng 10 1968, Thiệu có lý do riêng để phá hoại việc Mỹ quá sốt sắng đàm phán với Hà Nội. Mỗi người miền Nam có dính líu vào cuộc hòa đàm nhấn mạnh rằng họ không tham dự hòa đàm Paris là bị những vấn đề chính trị, chứ không vì yêu cầu của Nixon. Nhã xác nhận rằng “việc chúng tôi từ khước đến Paris lần đầu là bởi vì chúng tôi không liên kết với phía Mỹ về chiến lược cũng như về các thể thức cho cuộc hòa đàm đó.” Cố vấn chính sách đối ngoại của Thiệu là Nguyễn Phú Đức cũng nhất trí, viết rằng “CQMN cảm thấy rằng tương lai của miền Nam không nên bị lâm nguy” bởi quá vội vàng tiến hành đối thoại. “Đó là lý do,” Đức phát biểu, “chứ không phải CQMN xen vào nền chính trị của Hoa Kỳ.  … trong hy vọng sẽ cộng tác với Nixon tốt đẹp hơn.”

Cho dù Nixon công nhận hành động của Thiệu đã giúp ông thắng cử, trong những ghi chép bí mật của ông, ông không hề đề cập đến bất cứ liên lạc gì đến Thiệu. Trong một nhận xét về Thiệu và cuộc bầu cử, ông bảo Kissenger nhiều năm sau rằng “điều cứu giúp chúng ta, ngay cái ót của chúng ta, là sự kiện Thiệu nhảy vào ngay cái ngày trước bầu cử.” Như các đồng minh Á châu của mình, Thiệu đã cân nhắc người Mỹ và thấy họ khiếm khuyết. Ông đã từ chối tham dự vì những lý lẽ chính trị  riêng tư, và nếu sự đình hoãn của ông cho ông nhiều thời gian hơn và thêm một vị tổng thống Mỹ mới, thế thì càng tốt.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s