Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 14)

CHƯƠNG 14 : “MỘT XỨ SỞ KHÔNG THỂ TỰ TỔ CHỨC THÌ KHÔNG THỂ LÀ MỘT XỨ SỞ

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Thiệu Bứt Bỏ Xích Xiềng

Các học giả đồng ý rằng cuộc tổng công kích là bước ngoặt lớn đối với người Mỹ trong cuộc chiến, vì nó dẫn đến việc chính quyền Johnson nhượng bộ từng phần yêu cầu ngừng dội bom của Hà Nội để đổi lấy thỏa thuận hòa bình. Tuy nhiên, hiệu quả đối với miền Nam cũng rất sâu xa nhưng ít được ai để ý. Tết Mậu Thân làm trầm trọng thêm những căng thẳng chưa giải quyết được trong cấu trúc nội bộ Saigon và khởi động sự chuyển dời quyền lực cho phép Thiệu nắm được quyền kiểm soát đòn bẩy của chính quyền. Ông hoàn thành được kỳ vọng này bằng cách dựa vào hiến pháp. Thứ hai, việc vươn lên của ông khiến ông có thể lợi dụng được sự thoái lui về mặt quân sự của Cộng sản để củng cố và mở rộng pháp lệnh của Saigon lên khắp đất nước. Gót chân Achilles của miền Nam đã luôn là mối gắn kết yếu ớt giữa uy quyền của chính phủ và thôn ấp. Thiệu muốn củng cố mối liên hệ đó và thắng được cuộc chiến thôn làng bằng cách thành lập lực lượng dân quân bán phần mới để bảo vệ dân chúng và tấn công các cán bộ chính trị Cộng sản nằm vùng. Thứ ba, ông tìm cách thành lập một chính đảng Quốc gia cho cuộc tranh cử nhiệm kỳ tới. Kết quả là Saigon ở vào vị thế mạnh mẽ nhất kể từ khi chiến tranh bắt đầu.

THIỆU NẮM ĐƯỢC QUYỀN KIỂM SOÁT

Mặc dù Thiệu đã ký văn kiện giao các tướng lĩnh quyền kiểm soát trong bóng tối, nhưng hiến pháp lại tập trung quyền hành pháp cho vị tổng thống. Xác định chiến lược của CQMN sau vụ tổng công kích mở lại câu hỏi ai là người có quyền quyết sách cuối cùng, Thiệu hay Hội đồng Quân sự. Vị tổng thống dạn dày đối mặt với một sự lựa chọn trần truồng: cai trị vì lợi ích của một phe nhóm các tướng lĩnh hay ôm lấy vai trò của một vị đại diện do dân cử của một chính quyền hợp hiến.

Vào tháng 5, sự tương quan quyền lực ở miền Nam vẫn còn mù mờ. Phe Kỳ chiếm hầu hết các vị trí cao cấp trong quân đội. Do ở gần Saigon và chỉ huy các lực lượng tác chiến trọng yếu, ba tướng lĩnh quan trọng nhất vào giữa năm 1968 là tổng tư lệnh Cao Văn Viên, Lê Nguyên Khang – chỉ huy Thủy quân Lục chiến, Quân đoàn III, và Đặc khu Thủ đô – và Nguyễn Ngọc Loan, trùm ngành cảnh sát. Thiệu được sự hậu thuẫn của người Mỹ và nhiều sư đoàn trưởng.

Kỳ và các tướng lĩnh cao cấp xét Thiệu là một nhà lãnh đạo thiếu quyết đoán và yếu đuối vì nhiều lý do, chủ yếu bởi vì ông không muốn cai trị cứng rắn. Người phương Tây đánh giá các tướng lĩnh là độc tài, nhưng họ lại tự xem mình là người yêu nước và, qua trải nghiệm và dấu ấn văn hóa, họ kết luận rằng chế độ chuyên chế là giải pháp tối ưu cho các vấn đề của miền Nam. Các nhà lãnh đạo Á châu khác như Park Chung-hee của Nam Hàn và Tưởng Giới Thạch của Đài Loan cũng cho rằng nhân dân chưa sẵn sàng cho nền dân chủ, nhất là trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Thật ra không chỉ vì tranh cãi về chính sách mới châm ngòi cho sự xích mích giữa Thiệu và các tướng lĩnh. Bên dưới các bất đồng về việc cai trị, cá tính lập dị và xung đột cá nhân cũng góp thêm sự bất hòa. Những trào lưu xã hội khác không nhìn thấy được cũng tạo hình cho các quyết định chính trị, đặc biệt ảnh hưởng to lớn của các bà vợ. Họ điều hành các “vụ làm ăn” của chồng, đưa đến những hiềm thù qua việc thăng cấp và tiền đút lót.

Trong khi miền Nam đang ra sức phục hồi sau vụ tổng công kích Tết, đối với Lê Duẩn ở Hà Nội, thất bại trong đợt tấn công thứ nhất không cho phép ông dừng nghỉ. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là ông cần tiếp tục cuộc công kích cho đến thắng lợi cuối cùng. Dù đồng ý đối thoại hòa bình, Hà Nội vẫn tăng cường đổ quân và khí tài vào miền Nam trong chiến lược nổi tiếng “vừa đánh vừa đàm” đã được bí thư thứ nhất vạch ra vào tháng 12 1965. Quan trọng hơn, vào ngày 24/4/1968, Bộ Chính trị họp lại để phân tích tình hình và thảo luận các bước tiếp theo. Dù đợt thứ nhất có thất bại, “họ quyết tâm tiến hành một đợt tổng công kích và nổi dậy thứ hai . .  . Cho dù chúng ta đã chịu đựng những tổn thất to lớn, bộ đội và nhân dân ta vẫn còn thừa quyết tâm tiếp tục tiến công và nổi dậy để đạt được những thắng lợi to lớn hơn nữa.” Phân tích của Thiệu đã cho thấy có tính dự báo.

Vài ngày trước cuộc họp thứ nhất ở Paris để bắt đầu thỏa thuận hòa bình, vào đầu tháng 5, bộ đội Cộng sản phát động một loạt các cuộc tấn công vào thành phố. Mặc dù 126 thị trấn bị pháo kích bằng đại bác và hoả tiễn, Saigon là thành phố duy nhất đương đầu với cuộc tấn công bằng bộ binh. Thường được gọi là “Tết Mini”, trận đánh tại thủ đô rất ác liệt, và những tên gan lì cuối cùng mới chịu rút đi vào giữa tháng 5.

Các trận đánh tiếp theo lại bùng phát vào cuối tháng 5, nhưng Trung ương cục miền Nam cuối cùng ngừng tấn công vào ngày 13/6. Ở Saigon và vùng phụ cận, trận chiến đô thị phát sinh 107,000 dân tị nạn mới. Thêm 18,000 nhà bị phá hủy. Vẫn còn phải chăm sóc cho 500,000 người tị nạn từ đợt tấn công trước,  khả năng hạn chế của chính quyền miền Nam (CQMN) giờ đã đến mức tới hạn. Số thương vong của địch một lần nữa rất nặng nề. Quân sử Cộng sản viết về năm 1968 thú nhận rằng “bộ đội chúng ta chịu tổn thất rất nặng nề” trong đợt công kích thứ hai. Tài liệu của QĐND được nói trước đây cho rằng “Tết Mini” chiếm 38 phần trăm tổng số tổn thất của họ trong  năm 1968, chỉ hơi kém 34 phần trăm của đợt thứ nhất. Nói chung,

 trong hai đợt công kích kế tiếp nhau (Tết và tháng 5) bộ đội và nhân dân ta đã chịu đựng những tổn thất nặng nề về người, vũ khí, và khí tài … Thêm vào đó, các lực lượng bí mật của chúng ta ẩn nấp trong các thành phố và hầu hết đặc vụ và cơ sở bí mật – nơi chúng ta dấu vũ khí và trang bị, nơi bộ đội chúng ta đặt căn cứ, nơi từ đó chúng ta xuất phát tấn công – đã bị bóc trần và gần như đã bị loại ra và phá hủy. Đây là những vấn đề nghiêm trọng không dễ gì khắc phục trong một thời gian ngắn.

Những cuộc tấn kích mới này buộc các tướng lĩnh cao cấp và Kỳ đến gặp Thiệu ngày hôm sau để bàn về tình hình hiện tại. Thiệu cho rằng họ “rất thẳng thắn khi nói với ông là bộ máy hành chính của ông yếu kém, không hiệu quả.” Nhưng vì Kỳ đã khăng khăng chọn Lộc và đã giúp ông ta lập ra nội các để bảo đảm vai trò chính sách của mình, các tướng lĩnh vô tình tạo cho Thiệu màn khởi đầu. Tổng thống dè dặt đáp lại đó không phải “chính quyền của ông. Đó là chính quyền của họ. Lộc không phải lựa chọn của ông, mà là một thỏa thuận để làm hài lòng Kỳ và các tướng lĩnh.” Giờ các tướng lĩnh đã “chỉ trích”, ông sẽ tiến lên và hành động như được yêu cầu.”

Trước đây, vào cuối tháng 4 Hạ viện đã gay gắt chất vấn Lộc về sự thật bại của tình báo CQMN không phát hiện ra vụ tổng công kích. Lộc đương đầu với sự chỉ trích nặng nề vì các lý do chính trị đơn giản nhất; đất nước cần một con dê tế thần cho việc bị kẻ địch tiến hành thành công trận tấn công bất ngờ. Sau khi bị các tướng lĩnh quở trách, vào giữa tháng 5 Thiệu phái anh mình Kiểu bí mật thuyết phục Hạ viện bỏ phiếu “bất tín nhiệm” Lộc.

Với Lộc giờ rõ ràng là con vịt què, Thiệu cuối cùng thuyết phục Trần Văn Hương chấp nhận vị trí thủ tướng. Dù vậy, giá của Hương là được thẳng tay loại trừ tham nhũng và thay thế các đàn em của Kỳ như Loan. Ông nhắc nhở Thiệu là ông coi mình là “đầy tớ của nhân dân chứ không phải công cụ của tổng thống.” Thiệu đồng ý, và đến lượt Hương hứa sẽ không lặp lại lỗi lầm quá khứ là lấp đầy nội các với toàn phe cánh người miền nam của mình. Ông cũng trấn an tổng thống là mình “không có tham vọng tham gia chính quyền lần nữa. Khi tình hình được vãn hồi … ông sẽ xin từ chức.”

Biết tin Thiệu trao đổi với Hương, vào ngày 15/5, Hội đồng Quân sự một lần nữa triệu tập Thiệu. Tôi nhắc lại rằng với cuộc họp giữa Hoa Kỳ và VNDCCH tại Paris, và Cộng quân đang tấn công thành phố, “chính quyền phải mạnh mẽ, quyết tâm, và tổ chức chặt chẽ.” Quốc hội nên trao cho Thiệu “toàn quyền … Giờ không phải là lúc để thử nghiệm các khái niệm hành pháp dân sự” vốn có thể hiệu quả trong thời bình nhưng trong thời chiến thì không đủ. Họ cho rằng cách tốt nhất để ảnh hưởng công luận Mỹ “là đạt được tiến bộ quân sự và chính trị vững chắc,” và “chỉ một chính quyền mạnh mẽ và đoàn kết do quân đội cầm đầu” mới có thể hoàn thành điều này. Hội đồng tướng lĩnh cũng yêu cầu Thiệu hủy bỏ sắc lệnh chuyển quyền bổ nhiệm các tỉnh trưởng cho Bộ Nội vụ, và đợi cho biết về kế hoạch của ông đối với Lộc.

Nền dân chủ ở miền Nam đã đi đến một giao lộ, cũng như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Thật đáng khen, ông bác bỏ các tối hậu thư của họ. Ông đồng ý rằng quốc hội đã hành động quá chậm chạp, nhưng “ông không thấy có cách nào khác giải quyết việc đó,” cũng sẽ không “đảo ngược bất kỳ cải cách hành pháp nào hoặc thay đổi các kế hoạch ‘dân sự hoá’ chính quyền.” Hơn nữa tổng thống cũng từ chối bàn luận về dự tính thay đổi thủ tướng của mình nhưng nói ông “sẽ nêu rõ các dự tính của mình vào ngày 18/5.” Đó là một thời điểm chủ chốt trong lịch sử chính trị miền Nam. Thiệu đã một mình đối mặt với Kỳ và đồng bọn, và các tướng lĩnh đang trố mắt.

Trong khi mọi học giả tin rằng việc loại bỏ phe cánh Kỳ là sự độc chiếm quyền lực của Thiệu, kết luận này thiếu các lực tác động sâu xa. Vài người phe cánh Kỳ bị loại ra vì hoạt động tác chiến, các người khác như Thủ tướng Lộc rõ ràng là bất tài, và phần còn lại bị cách chức để cải thiện tình hình an ninh ở Saigon. Vì những diễn biến phức tạp và mục tiêu thực sự của cách thức Thiệu hoàn thành được sự chuyển giao quyền lực chưa hề được xem xét thấu đáo, nên ta cần bàn bạc thêm.

Người hậu thuẫn Kỳ đầu tiên phải ra đi là Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia Loan. Vào ngày 5/5, ông đang cầm đầu một cuộc tấn công chống lại một tên bắn tỉa VC thì bị trúng đạn nghiêm trọng vào chân phải. Tiếp theo là Lộc, từ chức vào ngày 18/5. Đêm đó, Thiệu thông báo rằng Hương đã chấp nhận vai trò thủ tướng và sẽ thành lập nội các mới. Một cách đanh thép, Thiệu không báo tin trước cho Kỳ về sự thay đổi, và ngài phó tổng thống lúc đó đang ở Nha Trang. Các tướng lĩnh đón nhận tin Hương được bổ nhiệm với sự im lặng như gỗ đá. Vào ngày 20/5, họ họp với Kỳ và “quyết định không có hành động nào chống Thiệu và giữ thái độ ‘đợi rồi xem’ với Hương.” Các tướng “triệu tập cuộc họp vì Thiệu đã không tham vấn họ trước về vụ bổ nhiệm Hương … Các tướng lĩnh xem hành vi của Thiệu là vi phạm thoả hiệp mà các tướng lĩnh cao cấp, trong đó có Thiệu, đã ký tên sau buổi họp 30/6.” Họ quyết định hiện giờ không làm gì, nhưng nếu chính quyền Hương thất bại, họ sẽ sử dụng điều đó như một cái cớ để nắm lại quyền lực. Hoặc họ có thể tấn công Thiệu trên một vấn đề nhạy cảm hơn, như giải quyết hòa bình hoặc liên hiệp với MTGP. Các sự kiện này  – một tướng Loan gần như chết, việc sa thải Lộc, và vị thế gan góc của Thiệu trước Hội đồng Quân sự – báo trước sự thất thế của Nguyễn Cao Kỳ. Những diễn tiến tiếp theo sẽ tăng tốc sự trượt dài của ông ta.

Vào ngày 25/5, Hương lên nắm quyền. Ông chắc chắn là chính trị gia được trọng vọng nhất miền Nam. Thậm chí các học sinh cũ của ông còn gọi ông là “Thầy”. Vậy mà tư cách khiêm nhường và tính liêm khiết không hồ nghi của ông che giấu bên trong một sức ngoan cường và sắt thép khiến những ai hiểu rõ ông sợ rằng sẽ làm ông thất bại trong cương vị mới. Họ nghĩ Saigon cần một người có tầm nhìn và thủ đoạn chính trị vì nó đang trải qua một thời kỳ thử thách nhất kể từ vụ khủng hoảng Phật giáo 1966. Những đòn tấn công mới của Cộng quân và việc mở ra hòa đàm ở Paris đã khuấy động bầu không khí chính trị, một bầu không khí đã căng thẳng nặng nề từ cuộc tổng công kích Tết và lời tuyên bố gây choáng váng không ra tranh cử tiếp của Johnson. Hơn nữa, tình hình kinh tế và bình định hoá đã bị ngưng trệ, QLVNCH thì đang củng cố, còn công tác chăm sóc dân tị nạn và tái thiết đang ngốn hết tài lực của CQMN.

Hương biết các hạn chế của mình, nên thay vì tập trung vào chính sách, vốn là lĩnh vực của Thiệu, ông thấy mục đích chính của mình là thiết lập uy quyền đạo lý của nhà nước bằng cách tuân thủ vững chắc hiến pháp và pháp luật. Ông tin rằng vấn đề chính yếu của đất nước là sự thiếu vắng mối ràng buộc đạo đức giữa nhà nước và nhân dân, khế ước xã hội giữa chính quyền và người bị trị. Bằng cách xây dựng CQMN trên nền tảng danh dự, ông hy vọng mình có thể tranh thủ lòng trung thành của nhân dân. Nạn tham nhũng là điều ông nguyền rủa, và ông nhắm vào Kỳ. Ông luôn khinh thị Kỳ và đánh giá các đồng sự của ông ta là siêu tham nhũng. Ông tin vào tin đồn cũ cho rằng Kỳ dính líu vào “vụ buôn lậu vàng và buôn bán bất hợp pháp ma túy và vũ khí,” cho dù sứ quán Mỹ báo cáo rằng Hương “không có đủ chứng cứ” hậu thuẫn cho nhận định của mình.

Tuy vậy Kỳ chỉ là một phần của vấn đề. Các tướng lĩnh hiện thân cho “việc vơ vét các lợi ích tiếp tục xiết chặt một vài quyền lực và đặc quyền nào đó.” Loại bỏ các tướng lĩnh (chủ yếu thuộc phe cánh Kỳ) ra khỏi nội các là bước đi đầu tiên cấp thiết trong việc thuyết phục người dân rằng chính quyền đúng là người đại diện cho họ. Vậy mà dù chướng ngại vật lù lù mà họ gây ra, Hương bảo, “Thiệu có phần miễn cưỡng hành động.” Ông nói đúng. Trong khi Thiệu đã bứt bỏ xiềng xích của các tướng lĩnh, việc đó khác hơn việc thách thức họ trực tiếp, và ông dự tính giữ nguyên hiện trạng. Hương, ngược lại, đã kết luận rằng việc sáng lập một nhà nước hợp pháp có nghĩa là giảm thiểu sự kiểm soát của quân đội. Quân đội phục vụ nhà nước chứ không phải điều ngược lại.

Về đối ngoại, Hương cũng cực lực chống liên hiệp. Ông tin rằng mọi thành phần không Cộng sản đều đã rút khỏi MTGP từ lâu. Như nhiều gia đình, quan điểm của ông không chỉ là chính trị, mà còn là một sự lựa chọn cá nhân khó khăn. Con trai trưởng của ông là một sĩ quan trong Quân đội Nhân dân, một trong ba người miền nam duy nhất chiến đấu tại Điện Biên Phủ. Khi con trai ông tập kết ra Bắc, Hương mất liên lạc với anh và tin rằng anh đã mất. Như em trai của Minh Cồ, vào giữa thập niên 1960 Cộng sản lệnh cho con trai ông viết một bức thư  để bắt liên lạc lại với ông, tất nhiên hy vọng sẽ lung lạc được ông. Cho dù nhận được thư, ông không trả lời. Ông không gặp lại con mình một lần nữa cho đến năm 1978.

Thiệu cũng đã chọn nhân vật lão thành miền Nam để “mở rộng nền tảng” của chính quyền mình, hy vọng nó có thể cố vũ những người Quốc gia cứng đầu cuối cùng cùng đoàn kết nhau. Khi Hương tiến hành lập nội các mới, Thiệu cố gắng thuyết phục các lãnh tụ chính đảng khác tham gia. Nhưng họ hoặc yêu cầu một vị trí cao cấp hoặc thoái thác, dường như tiên liệu chính quyền hiện thời sẽ sớm sụp đổ và nhờ một phép mầu nào đó họ có thể đoạt lấy quyền lực. Chẳng hạn, lãnh tụ Đại Việt Cách mạng Hà Thúc Ký từ khước tham gia khi được đề xuất vị trí Bộ Nội vụ, một vị trí ông đã giữ dưới thời Khánh, và đã bị sa thải vì tham nhũng và mưu toan đảo chính. Tuy nhiên, Phan Quang Đán đồng ý cũng như Mai Thọ Truyền, người từng đứng cùng liên danh tranh cử với ông. Truyền là chọn lựa dùng để dỗ dành giới Phật tử, và quả là có hiệu quả; Chùa Ẩn Quang tuyên bố ủng hộ nội các mới, một tình huống hiếm có.

Trong khi Thiệu bị lên án là thay thế nhiều người thuộc phe cánh Kỳ, thực sự là Hương đã thay thế họ trong nội các. Người tin cẩn duy nhất của Kỳ là Tổng trưởng Quốc phòng Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ. Ngạc nhiên thay, Hương cũng thay Trần Văn Đỗ. Ngoại trưởng mới của ông là Trần Chánh Thành. Gia đình Thành là người bắc, nhưng cha ông làm việc tại Huế với tư cách là phát ngôn nhân cho hoàng đế. Thành đã nhận bằng cử nhân luật tại Đại học Hà Nội và thoạt đầu theo về Việt Minh, nhưng như nhiều người Quốc gia, ông thoát ly khi phát hiện sự khống chế của Việt Minh. Ông đã hành nghề luật ở Saigon cho đến khi được bầu vào Thượng viện năm 1967.

Dù vậy, cú sốc thực sự là việc bổ nhiệm Trần Thiện Khiêm làm tổng trưởng nội vụ mới. Khánh đã tổng khứ Khiêm ra khỏi xứ vào cuối năm 1964 làm đại sứ Việt Nam tại Washington. Khi Kỳ lên nắm quyền, ông muốn có người của mình ở D.C., vì thế vào tháng 10 1965, Thiệu phái Khiêm đến Đài Loan làm Đại sứ CQMN. Nhiều người, nhất là ở sứ quán Mỹ, tưởng hai người thân thiết nhau vì Thiệu đã mang Khiêm trở lại từ chức vụ đại sứ lưu vong để về củng cố cho sức hậu thuẫn nội bộ của ông. Cả hai điểm đều không đúng. Thực ra, vào thời điểm đó họ chỉ quen biết ở mức giao tiếp. Trước đó, Khiêm đã xin được trở về nhà để dự tang lễ của ông anh. Thiệu đã thoái thác nhưng sau đó đã xuôi lòng. Khi cuối cùng Khiêm về đến Saigon thì tang lễ gần như hoàn tất. Ông nhớ lời Thiệu nói với ông, “Giờ anh đã về đến Việt Nam thậm chí tôi không biết đặt anh ở chỗ nào.” Hương phái ông đến Bộ Nội vụ.

Tất nhiên, các lựa chọn nhân sự của Thiệu làm Kỳ bực mình. Ông cho rằng Hương đã già khú, và ông thù ghét Khiêm, bảo ông ta “tham lam, phản trắc, và vị kỷ … Khiêm chỉ trung thành với Đảng Đại Việt.” Bị đẩy vào bóng tối cũng khiến vị phó tổng thống căm tức. Than thở với một viên chức Mỹ, Kỳ kêu ca là nhiều sĩ quan cao cấp hỏi ông chuyện gì đang xảy ra. Kỳ “phải thú nhận với họ là chính mình cũng không biết ý đồ của tổng thống.” Ông chả biết mô tê ai có mặt trong nội các mới” cho đến khi nghe loan báo trên truyền hình.” Rồi ông phát hiện ra chiến lược thực sự của ông ta. Như các tướng khác, Kỳ chỉ đợi cho Thiệu thất bại. Lúc đó ông sẽ chồm lên. “Một số người,” ông nói, “đã tiếp cận tôi bàn về một cú đảo chính nhưng tôi bảo họ đảo chính là ngoài vấn đề. Tôi bảo họ hãy kiên nhẫn…. Có cả ngàn cách để hủy diệt một nhà lãnh đạo mà không cần đảo chính.” Dù có lời kêu gọi đoàn kết, rạn nứt giữa Thiệu và Kỳ, và giữa Kỳ với ý tưởng của chính quyền hợp hiến, tiếp tục mở rộng.

Không khác  vết thương của Loan, số phận một lần nữa chơi một vai trò lớn trong sự vươn cao của Thiệu. Vào ngày 2/6, một hoả tiễn bắn từ một trực thăng Hoa Kỳ tình cờ đánh trúng sở chỉ huy tại Chợ Lớn đang chỉ đạo cuộc phản công chống một số tên xâm nhập gần đấy. Hoả tiễn giết chết sáu trong số phụ tá hàng đầu còn lại của Kỳ. Bị thương trong vụ nổ là Đại tá Văn Văn Của, thị trưởng Saigon và là anh vợ Loan. Bunker xin lổi, và một cuộc điều tra của người Mỹ cho thấy hoa tiêu trực thăng đã nhắm lầm tòa nhà. Báo chí Việt Nam ngay lập tức chế giễu lời tuyên bố của Bunker cho rằng đây là một rủi ro do bắn lầm với tít lớn là hoả tiễn là một hành động có tính toán của người Mỹ nhằm hậu thuẫn Thiệu bỏ Kỳ.

Không lâu sau đó, hai người hậu thuẫn chính cuối cùng của Kỳ từ chức. Trung tướng Lê Nguyên Khang rời bỏ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III, cũng như Nguyễn Đức Thắng Quân đoàn IV. Trong một bức thư gởi Thiệu vào đầu tháng 6 Thắng nói mình đã giải quyết những vấn đề ở đồng bằng Cửu Long và xin được phân công lại. Thiệu xin hai người hãy ở lại, và Khang đồng ý ở lại cho đến khi Thiệu tìm được người thay thế. Mặc dù không ưa Thắng, Thiệu viết cho Thắng một bức thư “ca ngợi công lao của Thắng và nói công việc vẫn còn dang dở.” Vào ngày 3/6, cố gắng xoa dịu Thắng, Thiệu cất nhắc ông lên trung tướng, nhưng vào giữa tháng 6, Thiệu bảo Bunker rằng “tôi vừa biết tin Thắng gửi thư cho Viên nói rằng mình cần được nghỉ ngơi.” Vào ngày 1/7, Thiệu thay ông bằng Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, Sư trưởng sư đoàn 7. Thắng sẽ không hề trở lại làm việc cho đến khi đất nước sụp đổ.

Sự kiện trực thăng cũng tạo cho Thiệu cơ hội tái tạo hình cho bộ máy hành chính của Saigon. Trong khi tổng thống bị cáo buộc đã lấp đầy chính quyền Saigon với những người trung thành với mình, điều đó chỉ đúng một phần. Ông quan tâm nhiều hơn đến việc cải thiện sức phòng vệ và trình độ quản trị của thủ đô. Các cuộc pháo kích bằng hoả tiễn của địch vẫn tiếp diễn khiến làm gãy đổ những nỗ lực tái thiết, và các đơn vị Cộng quân vẫn quanh quẩn gần thủ đô. Quyết định chủ yếu của ông là loại bỏ Trung tướng Khang khỏi vị trí chỉ huy Quân khu Thủ đô . Vào ngày 4/6, ông giao cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh, chỉ huy Sư đoàn 21 ở vùng hạ lưu Châu thổ, quyền chỉ huy của Khang. Ông muốn một người giám sát duy nhất tập trung vào việc phòng thủ thủ đô. Minh, tuy  là một sư trưởng xuất sắc, lại là một hổ lốn các tật xấu. Sinh tại Saigon trong một gia đình Phật giáo, ông là người được Thiếu tướng Đặng Văn Quang bảo trợ, và như người đỡ đầu mình, chống Kỳ và thân Thiệu. Minh, mặc dù mắc bệnh ung thư dạ dày, tâm trạng thất thường, và nổi tiếng tham nhũng từ những phi vụ “lợi ích làm ăn” tràn lan trong vùng Châu thổ. Cùng lúc, Thiệu giao cho Đại tá Đổ Kiến Nhiểu thay thế Đại tá Của làm thị trưởng Saigon. Nhiểu, một người miền nam khác hậu thuẫn Hương, chủ yếu phục vụ trong các vai trò tham mưu, nhưng ông thân cận với Thiếu tướng Minh. Sự thay thế nhanh chóng quá nhiều nhân vật phe cánh Kỳ đã làm bùng phát sự phản xung. Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ, người cuối cùng trong số các tướng lĩnh lão thành, phản đối việc bổ nhiệm Nhiểu. Vỹ là một người bắc nhiệt thành và người hậu thuẫn chủ yếu của Kỳ, đã quen biết phó tổng thống từ khi Kỳ còn là một đứa trẻ. Vỹ công khai tuyên bố Nhiểu tham nhũng cỡ bự và hăm từ chức nếu không loại ra ông ta. Báo chí miền Nam nhanh chóng gắn trách nhiệm cho kỳ thị bắc-nam. Thiệu ra lệnh điều tra, nhưng khi vụ thẩm tra không đem lại chứng cứ nào, ông giữ lại Nhiểu.

Đây là lần cãi vã công khai cuối cùng về thiên kiến vùng miền. Lò lửa xôi xục của kỳ thị vùng miền và hiềm khích tôn giáo đã hành hạ miền Nam cuối cùng đã nguội lạnh. Những tranh luận gay gắt về bản sắc tôn giáo và xã hội miền Nam đã đưa đến một sự điều chỉnh chính trị và văn hóa bất đắc dĩ.

Nhà khoa học chính trị Allan Goodman xem các mô thức bầu cử quốc hội năm 1967 là khởi đầu của  sự “suy thoái về tính hiệu quả của chính trị mang tính vùng miền và tôn giáo.” Dân chúng ít quan tâm đến chính trị bản sắc và thay vào đó “không ngừng đòi hỏi rằng bất kỳ tổ chức nào cũng phải cung ứng những lợi ích thiết thực cho nhân dân.” Khổ thay, trong hai năm, những rạn nứt do nỗi bất bình về kinh tế và xã hội sẽ thay thế những tranh chấp tôn giáo và sắc tộc vốn đã từng sâu xé tình đoàn kết miền Nam.

Nay Thắng đi rồi, vào đầu tháng 8, Thiệu cuối cùng chấp nhận đơn từ chức Tư lệnh Quân đoàn III của Khang. Mặc dù Khang vẫn ở lại chỉ huy Sư đoàn Thủy quân Lục chiến vừa mới thành lập, những ngày huy hoàng của ông đã qua rồi. Thiệu thay thế ông bằng Trung tướng Đỗ Cao Trí, một vị tướng lưu vong khác. Sinh tháng 11 1920 gần Saigon, Trí là một trong những chỉ huy dã chiến giỏi nhất QĐVNCH. Ông chỉ huy Quân đoàn I trong kỳ đảo chính Diệm nhưng bị Khánh hất cẳng ra khỏi quân đội vào tháng 9 1964 và phải ra nước ngoài. Trong thời gian ông sống lưu vong, Thiệu đã âm thầm chu cấp tiền bạc để sinh sống. Vào tháng 5 1966, Thiệu biên chế Trí trở lại quân đội, và vào giữa năm 1967, Thiệu gửi ông đến Nam Hàn làm đại sứ. Trí nắm quyền chỉ huy vào ngày 5/8/1968. Tuy là một chỉ huy tác chiến xuất sắc, Trí cũng hổ lốn tật xấu. Ông nổi tiếng đỏm đáng và bay bướm với phụ nữ không kém Kỳ, nhưng ông cũng tai tiếng nhiều vì tham nhũng. Bất chấp, lòng trung thành của ông với Thiệu và khả năng quẩn sự của ông khắc phục được nhược điểm tham nhũng.

Từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 8, Thiệu đã thành công bứt phá vòng kiềm tỏa của các tướng lĩnh và gạt Kỳ sang một bên. Giờ thì ông đối mặt với một bài kiểm tra cam go khác:  tái thiết và mở rộng nhà nước.

XÂY DỰNG TÌNH ĐOÀN KẾT

Bunker tiếp tục cố vấn Thiệu khắc phục tính bè phái trong phe Quốc gia và hòa nhập hai mặt trận chính trị vừa mới thành lập sau Tết. Thiệu tìm được cơ hội của mình vào đầu tháng 5. Không lâu sau khi Hương công bố nội các của mình, Thượng nghị sĩ Trần Văn Đôn cho phố biến một bức thư ngỏ gửi Thiệu kêu gọi ông mở rộng chính quyền của mình. Vào ngày 27/5, Thiệu mời Đôn đến dinh. Đôn cho biết Thiệu bảo với mình rằng “giờ đúng là lúc để đoàn kết mọi phe nhóm quốc gia . .  . Hòa đàm ở Paris cho thấy rõ ràng miền Nam phải thể hiện một mức độ đoàn kết chính trị lớn hơn.” Rồi Thiệu nhờ Đôn cầm đầu nổ lực đó, và ông nhanh chóng chấp nhận. Thiệu ra lệnh Lực lượng Dân chủ Tự do của ông hợp nhất với Mặt trận Cứu quốc của Đôn. Trong khi Đôn còn chưa tin tưởng Thiệu lắm, ông vẫn đồng ý “xây dựng một mặt trận hậu thuẫn chính quyền bởi vì đây là điều miền Nam đang cần.”

Sau một tháng trời Đôn miệt mài tổ chức, vào ngày 29/6, Thiệu mở cuộc họp với hai trăm đại biểu tôn giáo và chính trị. Ông thúc giục họ “tạo ra các đồng minh chính trị vững mạnh, cho dù chống đối với chính quyền” và phát biểu rằng ông không coi đảng chống đối là kẻ thù vì “hoạt động chính trị là một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng một nền dân chủ thực sự.” Rồi Thiệu tổ chức một phiên Hỏi Đáp, điều mà trước đây Diệm chưa từng nghĩ đến.

Bốn ngày sau, Đôn tổ chức buổi ra mắt của nhóm mới, có tên Mặt trận các Mặt trận cho gọn. Sứ quán sau đó gọi nó dưới tên Liên Minh. Vũ Văn Mẫu, một Phật tử thuần thành đã từng làm ngoại trưởng dưới thời Diệm, tham gia nhóm, cho ta ấn tượng nhưng không phải là thực chất là nhóm được sự hậu thuẫn của Ấn Quang. Một nhóm hỗn hợp CVT/Hòa Hảo cũng nhập vào Liên Minh.  Những nhóm khác, như Đại Việt Cách mạng và Mặt trận Đại Đoàn Kết Công giáo, lại quyết định thành lập khối riêng của mình trong Thượng viện, một nhóm cánh hữu thậm chí cứng rắn chống thỏa thuận hòa bình với Cộng sản hơn cả Thiệu.

Trong khi Thiệu nhìn nhận tình trạng non yểu của nỗ lực, ông hy vọng Đôn “có năng lực lãnh đạo và ý thức chính trị” sẽ rèn đúc “liên minh còn lỏng lẻo” hiện thời này thành một khối trường tồn hơn. Thiệu muốn Đôn cầm đầu để ông có thể lùi về phía sau, hiểu rằng “một tổ chức hậu thuẫn ông hoặc chính quyền ông sẽ thất bại – dân chúng hoài nghi sâu sắc về các đảng phái vị kỹ hoặc cầm quyền.” Thiệu hy vọng Liên Minh sẽ “hậu thuẫn chính quyền nhưng không hậu thuẫn cá nhân mình.” Điều này, theo Thiệu, từng là “lỗi lầm của Diệm, người đã thành lập Cần Lao như một đảng chính trị vị kỹ,” và mình sẽ không đi theo bước chân ông ta. Để củng cố lời kêu gọi người Quốc gia thành lập chính đảng, Thiệu gửi một dự luật về việc thành lập đảng trong Hạ viện.

Như với các nỗ lực tập họp những người Quốc gia khó chịu khác, nó thất bại. Trong vài tuần, các bất đồng giữa các lãnh tụ đảng già cổ lỗ gây lúng túng cho việc hợp tác. Nhiều người lén lút kêu cứu với sứ quán Mỹ xin tiền tài trợ thành lập mặt trận của riêng mình. Vì người Mỹ đã âm thầm tài trợ cho Liên Minh, mọi người khẩn cầu đều nhận chung một câu trả lời: “sự chia rẽ trong nội bộ người Quốc gia là một trò xa xỉ mà người Mỹ chưa sẵn sàng để bảo trợ.” Lập luận đó như đàn khải tai trâu, và lời nguyền truyền thống của chính trị, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội Việt Nam, vẫn không bị phá giải.

Mặc dù Đôn đã hết lòng xây dựng Liên Minh, việc ông không ưa Thiệu cũng sớm lộ ra. Điều gì đã khiến Đôn thình lình đổi ý? Đó có thể là hậu quả của chiến dịch rỉ tai chống Thiệu do Phó Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Văn Định tiến hành. Một chính trị gia người miền nam theo Công giáo, Định đã phục vụ với chức phó chủ tịch cho Phan Khắc Sửu trong Quốc hội Lập hiến. Y là một đặc vụ xâm nhập lâu năm của Cộng sản. Y đã được Thiệu mời đến dự buổi họp ngày 29/6 và được bổ nhiệm vào Ủy ban Điều hành của Liên Minh.

Được lệnh “trung lập hóa” mặt trận mới, y quyết định “tập trung nỗ lực vào Đôn.” Định tin rằng nếu “tôi bấm đúng nút, nỗi bất mãn và căm giận Thiệu sẽ bùng phát thành hành động có lợi cho phe ta.” Định tổ chức một số buổi họp với Đôn và tuyên bố rằng bằng cách đốt lên nỗi thất vọng chua chát âm ĩ trước đây của các tướng lĩnh, y thuyết phục được Đôn buông bỏ mọi nỗ lực hỗ trợ Thiệu xây dựng mặt trận. Và việc đó có hiệu quả, và vào ngày 16/6, Đôn đi Paris như một thành viên của phái đoàn Thượng viện để “quan sát” cuộc hòa đàm. Ông chỉ trở về vào giữa tháng 9. Vào cuối tháng 10, Đôn công khai chỉ trích kế sách thỏa thuận hòa bình của Thiệu là thiếu mềm dẽo. Đó là bước đầu mưu tính của Đôn nhằm thuyết phục ai chịu lắng nghe rằng Thiệu cần phải được thay thế, tốt hơn là bởi ông ta.

MỞ RỘNG NHÀ NƯỚC, VÀ BẮT ĐẦU VIỆT NAM HÓA

Những người Quốc gia còn vật lộn với câu hỏi về cách sắp xếp cai trị tối ưu trong thời nội chiến: một người lãnh đạo chuyên quyền có khả năng đưa ra những quyết định nhanh chóng hay một người lãnh đạo chỉ hành động dựa vào lý tưởng dân chủ. Thiệu muốn sử dụng nền tảng hiến pháp để dựng lên một cấu trúc cho sự trưởng thành và khuếch trương của miền Nam, nhưng bằng cách huấn luyện, uốn nắn và phản ứng nhanh chóng với một kẻ địch không khoan nhượng, ông hy vọng được một ít cho cả hai, và ông hành động để đạt được điều đó.

Sau khi mất phiếu bầu nhằm ban cho mình quyền cai trị bằng sắc lệnh để giải quyết những hậu quả của vụ tổng công kích Tết, ông nhờ ông chủ công ty dược OPV, Nguyễn Cao Thăng, làm đường dây liên lạc giữa tổng thống và quốc hội. Vai trò của Thăng thật đơn giản. Nếu thuyết phục không được, Thăng phải dùng đến phương thức cũ xưa, tức hối lộ. Vào cuối tháng 6, Thăng ghi nhận rằng Thượng viện thể hiện một số trở ngại, nhưng Hạ viện là “một vấn đề khác” vì ở đó có khối chống đối lớn. Thăng đang tổ chức một khối đa số thân chính quyền ở Hạ viện, nhưng đây là “một phi vụ tốn tiền. Tuy có nhiều dân biểu có khuynh hướng nghiêng về tổng thống, họ không đồng ý tham gia khối phò-Thiệu có tổ chức nếu bù lại họ không nhận được chút gì đó lót tay.”

Một trong những đối thủ chính ở Hạ viện, Lý Quí Chung, khẳng định rằng Thăng đã thao túng thành công phần đông dân biểu. Dù vậy Thăng không phải là người chỉ biết móc hầu bao. Chung nhìn nhận rằng Thăng “khá thành công trong nhiệm vụ của mình không chỉ vì ông có nhiều tiền để chi mà còn là người mềm dẻo và tinh tế trong cách thi hành nhiệm vụ của mình. Các buổi họp và hành động lốp-bi  của ông ta đều đều được tiến hành với sự khéo léo của một người biết rõ phải lốp bi cách nào nơi hậu trường chính trị.” Vậy mà dù Thăng có tài sản kết sù để mua chuộc, Chung tự hào xác nhận “tiếng nói của dân biểu chống đối trên sàn Quốc hội lúc nào cũng là nguồn áp lực liên tục cho chính quyền Thiệu. Những ai chống đối chính quyền vẫn còn có thể sử dụng diễn đàn này để tố cáo tham nhũng, các vi phạm dân chủ và công lý, và thậm chí phản đối chiến tranh.”

Trong khi Thăng lo giải quyết với quốc hội, Thiệu sẽ tập trung vào việc giành lại nông thôn. Những tổn thất to lớn của Cộng quân cho CQMN một cơ hội khuếch trương sự hiện diện của mình nơi làng ấp. Không lâu sau Tết, Komer và Bunker đã thúc ép Thiệu triển khai các nỗ lực bình định hoá và đẩy các đội PTNT và QĐVNCH trở lại thôn ấp, nhưng Thiệu phản đối, muốn ưu tiên phòng vệ thành phố. Tuy nhiên, vào mùa hè 1968, ông cân nhắc lại. Ông phân tích rằng vì Cộng sản không thể thắng cuộc chiến bằng quân sự, Bộ Chính trị sẽ sớm chuyển sang đấu tranh chính trị qua ngõ hoà đàm. Kịch bản xấu nhất sẽ là nếu Hà Nội thình lình yêu cầu ngừng bắn, tuyên bố phân nửa đất nước nằm dưới quyền kiểm soát của họ, và đòi liên hiệp trong khi vẫn giữ quân đội ở lại miền nam, chính xác điều họ làm vào năm 1972. Thiệu tin rằng phe phản chiến Hoa Kỳ sẽ xem đề xuất đó là không thể cưỡng lại được và do đó sẽ dắt tay Johnson. Ông thông báo với nội các vào ngày 12/9 rằng “Mục tiêu của CQMN trong năm tới là phải củng cố quyền kiểm soát” hơn 75 phần trăm dân số.

Trong khi nhiều người Quốc gia đòi hỏi một thắng lợi quân sự, Thiệu biết rằng một giải quyết ngoại giao rồi sau đó một cuộc bầu cử là phương thức chắc chắn nhất để kết thúc chiến tranh. Chính sách của ông thật đơn giản. QĐNDVN và mọi người Cộng sản quá khích đều phải rời khỏi miền Nam, sẽ không có liên hiệp, cũng không cho phép MTGP tham gia với tư cách một thực thể Cộng sản. Hiến pháp ngăn cấm mọi hình thức tham gia có tính trung lập hoặc thuộc Cộng sản vào đời sống chính trị miền Nam, ông cũng không cầm quyền lâu được nếu đưa ra đề xuất như thế. Ông quyết liệt tin rằng Hà Nội sẽ xem bầu cử như cuộc chiến không súng, và họ sẽ ra sức thao túng cuộc bầu cử bằng cách đưa các cán bộ dân vận vào thôn ấp. Ông cần các cán bộ được đào tạo tại chỗ để phản tuyên truyền họ.

Để chuẩn bị, ông xúc tiến ba chương trình, mỗi phần của một nỗ lực rộng lớn để mở rộng chính quyền xuống tận nông thôn, đánh bại bọn nổi dậy, và chuẩn bị cho cuộc chạy đua bầu cử tương lai. Thiệu muốn động viên dân chúng tham gia vào vài nhóm gần như là chính quyền, xây dựng một phong trào quần chúng mà ông hy vọng biến hình thành chính đảng, và nhổ tận gốc rễ các cán bộ Cộng sản nằm vùng.

Thiệu nhìn thấy cơ may thành tựu cả ba mục tiêu này bằng một tổ chức duy nhất. Mặc dù Diệm đã từng tạo ra chương trình tự vệ dân sự không được trả lương, nhưng nó đã bị giải tán sau cú đảo chính. Nó được tái lập với sắc lệnh về làng xã của Kỳ vào tháng 12 1966, quy định vũ trang cho dân cư trong ấp để giải phóng lực lượng địa phương quân/nghĩa quân khỏi các nhiệm vụ tầm thường như gác đêm, nhưng không có hoạt động nào được phát động. Năm 1967, Komer cũng đã thúc giục cải tiến năng lực chiến đấu của địa phương quân/nghĩa quân. Ông tin rằng “an ninh địa phương là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với bình định hoá” và rằng các lực lượng tại chỗ đó “sẽ là phương cách nhanh hơn và dễ dàng hơn để mở rộng công tác bình định hoá.” Quan điểm của ông cũng chỉ được vận dụng một phần.

Cuộc tổng công kích Tết điều chỉnh sự trì trệ đó. Động thái đầu tiên của CQMN cho việc phòng vệ địa phương là huấn luyện các công chức Saigon những kỹ năng quân sự cơ bản và cung cấp vũ khí để bảo vệ các cao ốc. Chính quyền thành phố nhanh chóng tổ chức hơn 35,000 người thành những đội phòng vệ nhỏ. Vậy mà vũ trang cho công dân không chỉ là sáng kiến của chính quyền. Khi tin tức về vụ thảm sát tại Huế loan truyền, nhiều tổ chức tôn giáo và dân sự, như VNQDĐ ở Quân đoàn I và khu Công giáo gần Saigon lập tức yêu cầu được cấp vũ khí để tự bảo vệ mình. Sức đẩy từ bên dưới cho Thiệu tin tưởng tiến lên. Tại cuộc họp báo ngày 2/4 thảo luận về việc Johnson ngừng dội bom, Thiệu công bố một chương trình phòng vệ dân sự mới áp dụng trên toàn quốc nhằm cung cấp sự bảo vệ sơ bộ cho làng ấp. Kỳ đã lốp bi để được điều hành chương trình phòng vệ dân sự này, và vì Bunker đã thúc Thiệu hãy giao cho Kỳ quản trị một dự án lớn, Thiệu nhờ ông ta giám sát nó. Mục tiêu là để ngăn các cuộc xâm nhập nhỏ của Cộng quân vào thôn ấp và giao việc an ninh lãnh thổ cho ĐPQ/NQ, khiến QĐVNCH có thể rảnh tay thay thế binh sĩ Mỹ trong vai trò tấn công cơ động. Hiện thời ĐPQ/NQ phải phòng vệ thôn làng, QĐ thì xử lý an ninh lãnh thổ, còn các lực lượng Mỹ thì đem chiến tranh đến với kẻ thù. Việc điều chỉnh này là một trong những chuyển dịch chính sách chủ chốt của Thiệu và sẽ tạo cơ sở cho chương trình sẽ được biết dưới tên Việt Nam hóa chiến tranh.

Vào cuối tháng 7, Thiệu cụ thể hơn, phát biểu rằng vào giữa năm 1969, “một sư đoàn lính Mỹ có thể rút về nước nếu chiến tình tiến triển như hiện thời.”

Vào ngày ⅖, Thiệu ký sắc lệnh thành lập “Các Ủy ban Nhân Dân Tự Vệ” nhằm tổ chức lực lượng dân quân bán thời gian mới. Vào giữa tháng 5, Kỳ phác họa các mục tiêu của chương trình: “động viên toàn bộ nhân dân tham gia vào cuộc chiến và giao hậu phương một lực lượng bảo vệ làng mạc và ngoại vi thành phố. Mọi công dân sẽ là một thành viên của lực lượng tự vệ, và mọi người sẽ được giao cho một nhiệm vụ thích hợp,” kể cả phụ nữ, trẻ em, và người già.

Dù đã yêu cầu được giao việc, theo một phong cách điển hình, Kỳ từ chức một tháng sau. Vào ngày 12/6, ông gửi một bức thư đến Thiệu trình bày cùng lý do như khi ông rời chức vụ đứng đầu Uỷ ban Phục hồi Trung ương: chương trình tự vệ mới nên được đặt dưới quyền thủ tướng.

Bunker nổi giận. Ông đã thực sự năn nỉ Thiệu giao cho Kỳ “một vai trò hợp hiến có tính xây dựng”, nhưng việc từ chức lần thứ hai của Kỳ “dường như là một minh họa khác cho sự thất bại trong việc đi theo suốt nhiệm vụ cho dù được giao phó.” Nhiều người thuộc phe cánh Kỳ đồng ý. Trung tướng Lê Nguyên Khang cho rằng trong khi Thiệu thì “rề rà, thủ đoạn và đa nghi các đồng sự, Kỳ … tuy mạnh mẽ nhưng lại bốc đồng và có tật xấu là bày việc ra rồi bỏ dở giữa chừng. Ông không làm cho xong, khiến gây ra thối chí.” Sự phản ứng của người dân quá lớn đến nỗi Kỳ phải lên truyền hình thanh minh, cho rằng mình không phải từ chức vì bất mãn. Là phó tổng thống, ông nói, ông không có quyền lực cần thiết để đào tạo và tổ chức các lực lượng tự vệ mới. Không ai tin ông, và tiếng tăm ông bị lu mờ. Việc phủi tay này, cùng với việc giải tán nội các Lộc, việc tổn thất bạn bè và thất bại của Hội đồng Quân sự, đẩy ngài Kỳ hoạt bát lâm vào nỗi đắng cay. Ông rời Saigon để bù khú và chơi mạt chược với bạn bè, chỉ xuất hiện cho có vị trong sảnh chính quyền. Ông sẽ không dấn thân trở lại cho đến giữa tháng 9.

Luật tổng động viên được thông qua vào tháng 6 phê chuẩn việc thành lập Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ (LLNDTV). Theo đó mọi công dân có đủ điều kiện phải gia nhập quân đội. Một ban lãnh đạo LLNDTV được thành lập trong Bộ Nội vụ để điều hành các ủy ban LLNDTV từ cấp độ quốc gia đến thôn ấp. Cấu trúc LLNDTV gồm hai bộ phận: Tác chiến và Yểm trợ. Đội tác chiến cơ bản là đơn vị 11 người sẽ tuần tra gần thôn ấp. Các thành viên trong đội bầu ra đội trưởng. Các đơn vị yểm trợ được phân loại như bô lão, phụ nữ và có nhiệm vụ sơ cứu và các nhiệm vụ khác. Nhiều lãnh đạo quân sự và chính trị không đồng ý với quan điểm này, Hương cực lực chống đối nó, sợ rằng các phe phái ngoặc nhóm tôn giáo khác có thể quay súng chống lại chính quyền. William Colby, người phó mới của Komer, thuyết phục ông ta suy nghĩ khác đi, nhưng ông ta không phải là người hồ nghi duy nhất. Ghi chép thời hậu chiến, Trung tướng Ngô Quang Trưởng nhìn nhận “tranh luận nổ ra về vấn đề việc trang bị vũ khí cho dân chúng vùng nông thôn liệu có phải là hành động khôn ngoan. Có thể thực sự tin cậy họ đến mức trao vũ khi cho họ không,” hay họ sẽ nộp chứng cho Cộng quân? Trưởng ghi nhận  sau cuộc tổng công kích Tết, cho dù đơn vị ông chịu tổn thất nặng nề và cần sự hỗ trợ, khi các nhóm VNQDĐ yêu cầu giao vũ khí cho họ tiếp sức chiến đấu, ông cũng phải từ khước một cách lễ phép. Ông nhìn nhận mình sai lầm khi sau này chứng kiến dân chúng “đáp ứng với chương trình và tham gia việc phòng vệ cộng đồng của mình với nhiệt tình chân thực và có hiệu quả.”

Dù gặp sự chống đối mạnh mẽ trong nội bộ, cá nhân Thiệu vẫn thúc đẩy quan điểm LLNDTV. Vào ngày 11/8 tại Saigon, ông khai mạc Tháng Nhân Dân Tự Vệ. Trong một bài phát biểu ngắn ngủi, Thiệu vạch rõ rằng chương trình không chỉ là phòng vệ các cuộc tấn công của Cộng sản. Nó còn “đoàn kết nhân dân với quân đội trong một lý tưởng chung … và giúp bác bỏ những chỉ trích của nước ngoài rằng nhân dân miền Nam không muốn hy sinh một cách vô ích.”‘ Cũng quan trọng không kém, Thiệu xác nhận, các cán bộ  LLNDTV sẽ “hỗ trợ các dự án phúc lợi xã hội. Một dân tộc không biết cách tự tổ chức để thăng tiến cuộc sống của mình,” Thiệu tuyên bố, “không thể nói là lập quốc.”

LLNDTV phát triển nhanh chóng. Vao cuối tháng 9, xấp xỉ 500,000 người đã gia nhập. Dù có bất cập trong huấn luyện và trang bị vũ khí, vào tháng 4 1969, thống kê CQMN cho biết số người tham gia lên đến 1,215,030. Trong số này, 742,000 đã được huấn luyện quân sự cơ bản, và 205,000 vũ khí đã được cung cấp. Những tổn thất cho thấy mức độ rõ ràng là chương trình đang có tác dụng. Từ Tết 1968 đến cuối tháng 3 1969, có 586 thành viên trong LLNDTV bị giết khi đang làm nhiệm vụ, với 864 người bị thương và 344 mất tích. Khoảng 536 vũ khí đã bị mất. Họ tuyên bố đã giết được 774 tên địch, bắt sống 231 tên khác, cùng 315 vũ khí. Họ đã đổ máu, nhưng họ đã đứng lên.

Trong khi thống kê miền Nam luôn gieo hơi hướng ngờ vực, việc chương trình đã mở rộng cánh tay Saigon đến được với dân chúng là không thể chối cãi được. Cũng phải nhìn nhận đóng góp an ninh của LLNDTV là khiêm tốn, nhưng hậu quả của nó ở mức độ đia phương thật lớn lao. Trước đây, một đơn vị MTGP nhỏ nhưng có vũ trang có thể đột nhập vào làng ban đêm, thu thuế, bắt thanh niên vào lính, rải truyền đơn, và xử tử các viên chức chính quyền. LLNDTV được thiết kế để cung cấp cho dân làng một phương thức tự bảo vệ mình chống lại các hành động phá hoại này. Việc cấp phát vũ khí mới cho QĐVNCH, chủ yếu súng trường M-16, cho phép họ giao lại vũ khí cũ cho LLNDTV. Không đủ súng để mỗi người đều nhận được súng, vì thế họ phải sử dụng xoay vòng. LLNDTV, kết hợp với các lĩnh vực “xây dựng nhà nước” của chương trình PTNT và đưa cảnh sát xuống làng ấp, làm tăng cường quyền hành của Saigon đến vùng nông thôn. Thậm chí khẩn thiết hơn là tín hiệu tình cảm. Vũ trang cho công dân của mình là một cử chỉ tuyệt vời nói lên Saigon tin tưởng vào lòng trung thành của nhân dân mình. Việc người dân không sử dụng vũ khí này chống lại CQMN hoặc nộp cho Cộng quân có lẽ là minh hoạ rõ ràng nhất về lòng trung thành của nhân dân đặt ở chỗ nào. Trong khi cải cách ruộng đất được nhìn nhận là thành tựu chính trị lớn nhất của Thiệu, sáng lập LLNDTV không nghi ngờ gì nữa là thành tựu lớn thứ hai của ông. Trong khi phát động LLNDTV, ông cũng giải quyết nhu cầu triệt hạ các cán bộ chính trị Cộng sản ở nông thôn. Thủ tướng Lộc đã ký một sắc lệnh vào ngày 20/12/1967, thành lập các ủy ban địa phương để chia sẻ tin tình báo và hoạt động, nhưng kế hoạch chức năng chỉ hoàn thành vào giữa mùa hè 1968. Vào ngày 1/7/1968, Thiệu ký một sắc lệnh mới xáp nhập những hoạt động tình báo và cảnh sát thành một tổng thể điều phối ở mức độ tỉnh và quận. Vào cuối năm 1968, mọi tỉnh và quận đều có một ủy ban Phượng Hoàng hoạt động.

Phe tả phản chiến ở Hoa Kỳ chẳng bao lâu tuyên bố rằng chương trình Phượng Hoàng thúc đẩy các hoạt động vi phạm nhân quyền, trong đó có tra khảo, giam giữ trái luật, và ám sát bừa bãi. Măc dù thường là sai, nhiều lạm dụng đúng là có xảy ra, góp thêm hình ảnh tổng quát của một CQMN áp bức. Phượng Hoàng trong năm 1968 cũng không đạt được mục tiêu của mình, nhưng đúng là nó làm sứt mẻ hàng ngũ Cộng sản. Mặc dù gần 16,000 tên lật đổ bị giết, bị bắt, hoặc theo về với CQMN trong năm 1968, một cuộc khảo sát của MACV tiến hành vào tháng 3 1969 kết luận rằng chỉ xấp xỉ 13 phần trăm những người đó thuộc cấp quận hoặc cao hơn và khoảng 82,000 cán bộ địch vẫn ở lại. Dù xuất phát chậm, Phượng Hoàng sẽ khiến cuộc sống ngày càng khó khăn cho các cán bộ chính trị Cộng sản.

Cái chân thứ ba trong chiến lược đánh thắng ở vùng nông thôn là một sáng kiến của người Mỹ. Đi theo chính sách trước đây ở miền Nam, ngài Thiệu đa nghi lên kế hoạch trong năm 1969 sẽ tiếp tục xây dựng các ấp an ninh, trong khi Hoa Kỳ tìm cách bung ra lấn vào những vùng tranh chấp. Cả hai đồng minh đều xem Tết 1969 như là khung thời gian mà Hà Nội có thể yêu cầu ngừng bắn và đòi liên hiệp. Để đón trước điều đó, Komer và Colby đề xuất một chiến dịch sẽ kéo dài trong ba tháng, tháng 11 1968 đến tháng 1 1969, và mở rộng sự có mặt của CQMN vào 1,000 ấp được xem là không an ninh hoặc do Cộng sản kiểm soát dựa vào Hệ thống Đánh giá Ấp. Trong điều được biết dưới tên Chiến dịch Bình Định Tăng tốc (CDBĐTT), Saigon sẽ chuyển các làng đang tranh chấp thành làng tương đối an ninh trong thời gian ba tháng. CDBĐTT không chỉ là sự chiếm đất được tuyên dương. Đó là một cuộc chạy nước rút ba tháng nhằm mở rộng lãnh thổ, cải thiện chính quyền địa phương, và đặt Saigon trong một vị thế mạnh để hòa đàm và chuẩn bị bầu cử tương lai.

Sau khi nghiên cứu tình hình, Thiệu tán thành kế hoạch. Khởi động chiến dịch vào ngày 1/11, các đơn vị Hoa Kỳ và miền Nam nhanh chóng bước vào nhiều ấp mất an ninh mà không gặp nhiều chống đối.

Không may, kết quả không được như ý trong vài vùng do hoạt động thiếu hiệu quả của CQMN, trong khi tình trạng lúng túng ngự trị trong lực lượng quân đội vì họ không biết nên tiến hành CDBĐTT chính xác thế nào trong mối liên kết với bộ PTNT. Để đáp ứng, Thiệu đưa ra các biện pháp tích cực nhằm điều chỉnh sự thi hành. Tháng 11 ông thành lập Hội đồng Bình định và Phát triển Trung ương để giám sát các hoạt động của CQMN, và ông thực hiện nhiều chuyến thanh lý đến miền quê để cổ vũ các viên chức địa phương cải tiến hoạt động. Như một học giả ghi nhận, “Các nỗ lực của Thiệu . . . minh chứng cho mối quan tâm mạnh mẽ của ông trong công tác bình định hoá và mong muốn các viên chức địa phương nỗ lực nhiều hơn nữa nhằm củng cố sự hiện diện của chính quyền ở nông thôn.”

Không còn có thể hoạt động mà không bị trừng phạt, các đơn vị Cộng quân địa phương sẽ sớm phải chiến đấu để có được đồ tiếp tế hoặc trợ giúp từ dân địa phương. Sử liệu QĐNDVN, mô tả tình hình trong vùng đồng bằng Cửu Long vào năm 1969, nhìn nhận rằng họ bị vây hãm.

Giờ rất khó khăn khi cung cấp cho  đơn vị chúng ta các bộ đội thay thế, vũ khí, và hậu cần và trang bị kỹ thuật. .  . Các đặc vụ nằm vùng, lực lượng tự vệ bí mật, và các tổ chức quần chúng cách mạng trong nhiều làng và ấp đã gánh chịu tổn thất nặng nề trong năm 1968, và những tổn thất này không được thay thế. Vì lý do đó, phong trào đấu tranh chống bình định trong đồng bằng Cửu Long không chỉ không thể  lớn mạnh, mà các đặc vụ và tổ chức cách mạng chúng ta tiếp tục chịu tổn thất, các đơn vị vũ trang hao mòn, và trong nhiều địa điểm vùng giải phóng bị thu hẹp dần. Đây là vấn đề thông thường trong nhiều vùng trên khắp miền Nam.

Ba chương trình lớn này – LLNDTV, CDBĐTT, và Phượng Hoàng – đánh dấu sự mở rộng của nhà nước miền Nam vào tận các vùng trước đây còn tranh chấp ở nông thôn. Vươn xa quyền kiểm soát của Saigon đến đa số người dân khiến Thiệu có khả năng thắng cuộc bầu cử tương lai và đánh bại phe nổi dậy. Tuy nhiên, Thiệu không phải là nhà giả kim chính sách. Ông đã không bổng nhiên mà chế ra được loại thuốc hoàn hảo gồm các chương trình sẽ đánh thắng được cuộc chiến thôn làng. Nó cũng sẽ cần đến một quyết sách chủ yếu của người Cộng sản trong tháng 7 1969 là không giao tranh quân sự trước khi ông có thể giành giật các vùng nông thôn từ tay địch. Nhưng bây giờ, miền Nam kết thúc năm 1968 trên một nốt  cao về an ninh, với gần 75 phần trăm dân số sống dưới quyền kiểm soát của họ.

GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Như trong một xã hội có tính đa nguyên, chính trị đối nội thường đòi hỏi nhiều thời gian hành pháp hơn các vấn đề đối ngoại. Trong khi Thiệu đang thêm sức mạnh cho công tác bình định hoá, ông cũng phải giải quyết một loạt các vấn đề nội bộ cấp thiết. Chúng đi từ việc bài trừ tham nhũng của Hương, sự bất đồng chính kiến, toà án, và tranh chấp của Phật tử. Không may, kinh tế nhận sự chuyển dịch ngắn hạn, một lỗi lầm sẽ ám ảnh Thiệu vài năm liền. Nguyễn Hữu Hanh đã từ chức giám đốc Ngân hàng Quốc gia vào tháng 8 1968 tung một cú đấm vào những nỗ lực của CQMN nhằm kiềm chế lạm phát. Mặc dù thoạt đầu Hương thi triển nhiều động thái công khai chống tham nhũng, ông bổ nhiệm Mai Thọ Truyền cầm đầu Ban Thanh tra, một văn phòng chống tham nhũng mới được quy định bởi hiến pháp có mục đích thu thập chứng cứ về tội hối lộ. Không may, gốc rễ của nạn tham nhũng đã ăn sâu và rất khó phát hiện. Tham nhũng thậm chí ra đòn ngay sát bên ông. Vào cuối tháng 8 Hương sa thải em trai ông, phụ tá đặc biệt của ông, vì dính líu đến một đường dây ăn cắp xe hơi. 

Bất chấp, một vài nỗ lực chống tham nhũng cũng đã được thực hiện. Thiệu trước đây đã tiêu diệt một kênh tham nhũng trong quân đội – tiền cống nạp từ quận trưởng đến tỉnh trưởng đến tư lệnh vùng – bằng cách đuổi khoảng phân nửa chỉ huy đang tại nhiệm và hủy bỏ quyền bổ nhiệm người mới của tư lệnh quân đoàn. Rồi ông áp dụng một chương trình huấn luyện cho các viên chức tỉnh lỵ và quận lỵ  có mục đích vừa nâng cao hiệu năng hành chính vừa xiển dương động lực chống tham nhũng. Tổng trưởng Nội vụ Khiêm thay thế hai đàn em của Kỳ nổi tiếng tham nhũng, giám đốc quan thuế và quản lý cảng Saigon. Quản lý cảng đã từng là nguồn tài trợ bất hợp pháp chính của Kỳ. Cho dù có những thành quả này, nạn tham nhũng vẫn còn lan tràn khắp xứ như một bệnh dịch.  Trong khi nạn tham nhũng làm xấu đi tồi tệ hình ảnh của miền Nam, tai tiếng là một nhà nước áp bức vẫn còn hủy hoại không kém. Hà Nội đã thành công trong việc tô vẽ Saigon là một nền độc tài quân phiệt tàn bạo trong khi chính họ cũng là một nhà nước công an trị kềm kẹp khốc liệt. Mặc dù Saigon cho phép các nhà báo Tây phương tự do điều tra mọi khuyết điểm, CQMN thường coi đó là kẻ thù tệ hại nhất. Nó cho rằng bất đồng chính kiến “làm suy yếu tinh thần chống cộng của chiến sĩ và nhân dân. Không có truyền thống phê phán báo chí hoặc đặc thù bánh sáp đi bánh qui lại của nền dân chủ, các viên chức cao cấp trong chính quyền không quen bị khiển trách và thường đối xử hằn học với báo chí, luôn luôn sử dụng những hình thức tự vệ. Thậm chí sau khi cả thế giới đều lên án bức ảnh Loan bắn tên tù binh vào đầu, Saigon vẫn mắt lấp tại ngơ một cách đáng sửng sốt. Giới ưu tú thành phố thường không hiểu được người ngoài nhìn vào hành động của họ ra sao. Mang tính hủy diệt không kém, họ nhìn thấy các mánh khóe vận động xảo trá của Cộng sản khắp mọi nơi. Tuy họ thường đúng, CQMN không thể chứng minh các lời buộc tội của mình để xoay hướng công luận thế giới chống lại họ. Phe phản chiến to tiếng sủa rằng các động lực của Saigon không thể biện minh là biện pháp đề phòng thời chiến mà là sự áp bức hữu khuynh đối với phe cải cách tiến bộ. Đó là một sự phán xét che mờ quan điểm của miền Nam thậm chí cho đến ngày nay. Mặc dù việc Saigon quản lý thất bại các quan hệ công luận quốc tế không chỉ là lý do duy nhất cho tình trạng khan hiếm mối quan hệ, và trong khi Diệm và Thiệu có những lý do rất Việt Nam cho các hành động của mình, nó không miễn trừ trách nhiệm cho sự thiếu khả năng cân nhắc hành động tránh gây hậu quả. Họ phải trả giá đắt cho điều đó.

Chẳng hạn, vào cuối tháng 2 1968, cảnh sát Saigon bắt giữ Thích Trí Quang, Trương Đinh Dzu và Âu Trường Thanh, tuyên bố rằng người Cộng sản có thể bắt cóc họ. Nguyên do thực sự là để ngăn ngừa họ công khai đòi hòa đàm. Sau 7 tuần “quản thúc để bảo vệ”, Dzu và Thanh được thả ra vào giữa tháng 4 sau khi họ dàn dựng một cuộc biểu tình tuyệt thực hai tuần. Quang vẫn bị trùm chăn cho đến 30/6. CQMN không hề buộc tội hoặc thậm chí thẩm vấn họ, và Dzu nhìn nhận sau khi được thả là “họ đối xử chúng tôi rất tử tế.”

Dù bị ở tù, cả hai đều không thay đổi lập trường cho rằng MTGP nên được cho phép tham gia công khai trong một cuộc tuyển cử. Hai ngày sau khi được phóng thích, Dzu mở cuộc họp báo tại đó một lần nữa ông bệnh vực việc đối thoại với MTGP. Chính quyền tóm cổ ông trở lại vào tháng 5 vì lý do “vi phạm an ninh quốc gia.” Rồi Phan Quang Đán , người đang công du tại Mỹ viếng thăm các khuôn viên đại học để xiển dương chính nghĩa miền Nam và phản bác các tuyên truyền phản chiến, bị báo chí Mỹ trích dẫn sai cho là ông đang đề xướng đối thoại hòa bình trực tiếp với MTGP. Khi báo chí Việt in lại những câu chuyện này, phe quá khích trong quốc hội đòi Hương cách chức ông ta. Hương, sợ khả năng bị bỏ phiếu bất tín nhiệm và nội các sụp đổ, liền loại bỏ Đán vào tháng 15/6. Khi Đán trở về Saigon không lâu sau đó, ông không bị bắt giữ, nhưng Dzu được mang ra trước toà án quân sự vào ngày 24/7 và bị kết án 5 năm tù. Bunker giải thích với Washington rằng việc xử Dzu là “một phần trong một nỗ lực rộng lớn hơn để chuyển tải hình ảnh của một CQMN  với lập trường cứng rắn đối với  MTGP và chính phủ liên hiệp.” Các nhà lãnh đạo CQMN, ông nói, “hiển nhiên cảm thấy rằng họ phải đi theo một lập trường như thế để xoa dịu. . . các đối thủ của chính quyền” đang cáo buộc họ quá mềm yếu đối với Cộng sản. Hơn nữa, việc đó có mục đích giữ các trí thức thiên tả “vào hàng” trong khi duy trì “một vị thế mặc cả cứng rắn” với Hà Nội. Ngoại trưởng Dean Rusk không mảy may lay chuyển. Ông phàn nàn với Bunker về phản ứng gay gắt của báo chí Mỹ về vụ xử án Dzu. Bunker ngay lập tức đến gặp Thiệu. Thiệu đổ lỗi cho mối lo sợ bị người Mỹ bán đứng và nhiều tin đồn đang lan truyền trong phe Công giáo miền bắc rằng ông và Hương sẽ đồng ý với giải pháp liên hiệp. “Nếu miền Nam chỉ đơn giản đứng bên lề một cách thụ động” trong khi dân chúng cổ xúy liên hiệp, Thiệu góp ý,”như thế là vô chính phủ.” Tuy nhiên, Thiệu trấn an vị đại sứ là ông sẽ ban cho Dzu một cử chỉ tránh mất thể diện. Nếu Dzu chịu xin khoan hồng, ông sẽ chấp nhận. Nhưng Dzu từ chối, phát biểu không úp mở rằng mình vô tội. Ông sẽ trở thành một nhân vật tiếng tăm nhiều năm liền. Khi Âu Trường Thanh xin visa để du lịch nước ngoài, Hương “nghĩ cách tốt nhất là để y ra đi … Nếu y có phát biểu gì điên rồ hoặc gặp rắc rối ở đây y sẽ bị đưa ra xét xử và chúng ta có thể có một vụ án Dzu khác phải xử lý.”

Kiểm duyệt báo chí và toà án cũng thường được coi là minh họa sự áp bức của CQMN. Sứ quán Mỹ cực lực phản đối, cho rằng đối với một quốc gia đang chiến tranh, miền Nam vẫn có nhiều tự do báo chí. Các nhật báo, theo xác nhận của sứ quán, “thường đăng những bài xã luận chỉ trích bâng quơ CQMN về hàng loạt đề mục.” Trong khi sứ quán nói đúng về báo chí, nó không có cơ sở vững chắc về toà án. Thiệu đã ra sức áp dụng hệ thống luật pháp thời chiến đồng thời xiển dương nền pháp trị. Kể từ vụ tổng công kích Tết, ông đã vật lộn với suy nghĩ làm cách nào tu chính sắc lệnh mà ông đã ký ngày 24/6/1965. Tổng thống Diệm đã đặt tư pháp là một bộ phận của hành pháp để ông có thể kiểm soát hệ thống pháp luật. Thiệu muốn dỡ bỏ sự kiểm soát đó, nhưng ông cũng muốn giữ lại khả năng truy tố bắt kỳ ai vì phạm “an ninh quốc gia”, một điều luật mơ hồ nhằm duy trì một sợi dây cương cho những người dám chủ trương một lối giải quyết chính trị với Cộng sản.

Động thái đầu tiên đến vào ngày 30/10/1967, khi chính quyền ủy quyền cho một Toà án Quân sự Dã chiến Lưu động tại Saigon để xét xử những người ở vùng Saigon bị kết tội vì phạm an ninh quốc gia. Giống như Khánh hồi tháng 8 1964, mọi vụ án về an ninh quốc gia sẽ được chuyển từ tòa dân sự sang Toà án Quân sự Lưu động mới này. Dzu bị xét xử trong tòa án đó. Cho dù bị chống đối trong vụ án Dzu, vào ngày 5/11/1968, Thiệu âm thầm cho tu chính sắc lệnh 1965 cho phép cảnh sát lục soát mọi nhà cửa bất kỳ lúc nào không cần lý do, và ông ngăn cấm đình công, tẩy chay, và “biểu tình dưới mọi hình thức.” Hơn nữa, “những phần tử được coi là nguy hiểm cho an ninh quốc gia sẽ bị quản thúc tại nơi cư trú hoặc cưỡng chế tái định cư đến những nơi ở mới.” Cũng ngăn cấm “việc cất giữ và phân phát mọi ấn phẩm, tài liệu, hoặc truyền đơn xét thấy có phương hại đến an ninh quốc gia.” Cuối cùng, “Mọi vi phạm an ninh quốc gia sẽ bị xét xử tại tòa án quân sự dã chiến theo thủ tục khẩn cấp.”  Sắc lệnh về cơ bản đã ban cho ông quyền hành hợp pháp để sờ gáy bất kỳ tên bất đồng chính kiến nào.

Ngoài những vấn đề an ninh quốc gia, tuy nhiên, ông giảm bớt sự can thiệp của chính quyền vào toà án. Việc ban hành hiến pháp và thành lập Quốc hội giờ đây ngăn ngừa bất kỳ người lãnh đạo nào tóm lấy quyền lực tuyệt đối, và việc thành lập Tối cao Pháp viện, toà án độc lập đầu tiên trong lịch sử miền Nam, là mảnh ghép cuối cùng để hoàn tất nền pháp trị. Hiến pháp đã thay đổi một cách căn cơ hệ thống toà án của nền cộng hòa với sự thành lập Tối cao Pháp viện có nhiệm vụ kiểm soát một nền tư pháp thống nhất. Quốc hội chọn một nhóm luật sư để bầu ra 9 thẩm phán cho Tối cao Pháp viện (TCPV). Vào ngày 22/10/1968, các thẩm phán làm lễ tuyên thệ. Giống ở Hoa Kỳ, TCPV Việt Nam có nhiệm vụ giải thích tính hợp hiến của các điều luật chính quyền và, nếu cần, dẹp bỏ chúng. TCPV bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên vào ngày 1/11. Quyết định đầu tiên của TCPV là xác định gửi một phái đoàn CQMN gồm cả hai viện hay chỉ Thượng viện sang dự hòa đàm Paris. Họ biểu quyết chọn một phái đoàn hỗn hợp.

Vác vấn đề tôn giáo cũng còn tiếp diễn, nhưng còn xa mới ngang với  các vụ bùng phát của những năm trước. Việc ngôi sao Trí Quang đang lu mờ thể hiện rõ trong tình trạng không có ai chống đối việc quản thúc ông hoặc đón rước ông được thả ra. Khi Quang vắng mặt, người phó của ông, Thích Thiện Minh, đã nghiễm nhiên trở thành người cầm đầu phe Phật tử đấu tranh. Sau khi Quang được thả, hai người bạn thân thiết bắt đầu kèn cựa nhau quyền kiểm soát. Minh tổ chức một hội nghị tại Chùa Ấn Quang từ 18/8 đến 21/8 để bầu ban lãnh đạo mới của Viện Hoá Đạo. Phe ôn hòa Quốc Tự từ chối tham dự vì Tâm Châu bận đi nhiều nước ngoài để mở rộng quan hệ với các tổ chức Phật giáo trên thế giới, một mưu tính khôn khéo để đánh vào sườn Ấn Quang.

Mặc dù Tâm Châu đã tuyên bố đang treo hiến chương Giáo hội Phật giáo Thống Nhất, CQMN đã không thay đổi điều luật. Hội nghị Ấn Quang đòi xét lại hiến chương vốn đã ưu ái phong cho phe ôn hòa Quốc Tự là giáo hội được công nhận chính thức.

Sau đó, 40 dân biểu Hạ viện gửi đến Thiệu một thỉnh nguyện yêu cầu hủy bỏ hiến chương. Thiệu lập tức trả lời rằng điều chỉnh sắc lệnh nên được quốc hội xử lý nhưng ông không phản đối việc thay đổi nó. Phe ôn hòa Quốc Tự dự tính mở hội nghị của mình vào giữa tháng 11. Hơn 1,000 đại biểu tham dự, trong đó có vài nhân vật chính quyền như Mai Thọ Truyền, nhưng mối bất hòa của họ với Ấn Quang vẫn còn sâu sắc. Thiện Minh phản ứng với hội nghị Quốc Tự bằng cách lên tiếng họ sẽ tiếp tục tranh đấu để hiến chương bị thu hồi và “chừng nào chính quyền còn ủng hộ Tâm Châu, Phật tử khó lòng đóng góp một cách xây dựng cho đời sống quốc gia.” Mặc dù phe Phật tử tranh đấu không còn nắm quyền chỉ huy quyền lực đường phố như những năm trước, vấn đề cũ rích về vai trò của giáo hội trong xã hội miền Nam tiếp tục chưa được giải quyết dứt khoát.

Vào đầu tháng 8 Hạ viện cũng thỉnh nguyện Thiệu chấm dứt kiếp sống lưu vong của các lãnh đạo Quốc gia, đặc biệt Dương Văn Minh.

Sau khi cân nhắc, Thiệu đồng ý cho phép Mình trở về, và ông phái Khiêm đến Bangkok để xin ông xem xét việc tham gia chính quyền với vai trò cố vấn. Cử chỉ của Thiệu không phải thuận túy là tính quảng đại; ông muốn lợi dụng uy tín của Minh với phe Phật tử và người miền nam nhằm mở rộng chính quyền của mình. Tất nhiên, có một giá cho sự trở về của Minh: ông không được cho các phe phái chính trị nào (có nghĩa là phe Phật tử đấu tranh) lợi dụng, hoặc “sử dụng uy tín cá nhân cho các mục tiêu chính trị.”

Sau khi đồng ý với các điều kiện của Thiệu, Minh trở về vào ngày 5/10. Cho dù Thiệu công khai mời ông tham gia chính quyền, Minh vẫn giữ khoảng cách với tổng thống trong gần 10 ngày. Cuối cùng gặp ông, Minh thoái thác tham gia chính quyền của Thiệu, chẳng khác nào đấm thẳng vào mặt Thiệu. Như Trần Văn Đôn, Minh không thể buông bỏ quá khứ. Giờ thì Minh Cồ chỉ còn là một di vật, một biểu tượng của sự bất khả khắc phục bệnh chia rẽ mãn tính của tầng lớp chính trị miền Nam.

Đối với Thiệu, sau khi “bứt bỏ xiềng xích” và giành giật quyền lực khỏi tay phe quân sự, ông đã lao vào nỗ lực cam go nhất của Saigon: mở rộng quyền kiểm soát nhà nước trên khắp nông thôn. Trong khi đó, đám mây đen đầy đe đọa đang bay lơ lửng bên trên Saigon: hòa đàm Paris. Các thương thảo đang gặp bế tắc vì nhiều lý do, nhưng bất ngờ vào tháng 10, một sự đột phá xảy ra. Giờ vấn đề tranh chấp về việc ai sẽ nắm vai trò dẫn đầu trong cuộc thương lượng – Saigon hay Washington – yêu cầu phải giải quyết. Dường như hòa bình sẽ cho thấy là khó nắm bắt hơn cả chiến tranh.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s