Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 13)

 CHƯƠNG 13: “ĐÂY LÀ ĐẤT NƯỚC CỦA CHÚNG TÔI”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Đánh bại Tổng Công Kích Tết

 Mặc dù các đồng minh nghĩ họ đang đánh thắng cuộc chiến, Bộ Chính trị đánh giá đó là sự bế tắc. Để phá vỡ thế bê tắc, ông trùm đảng Cộng sản Lê Duẩn ở Hà Nội quyết định phát động một cuộc tổng tấn công bất ngờ vào các thành phố miền Nam trong dịp lễ Tết thiêng liêng. Ông tin rằng nó sẽ đốt lên cuộc tổng nổi dậy quần chúng như cuộc vùng lên của Phật tử vào năm 1966. Được sự yểm trợ của các đơn vị Cộng quân, nhân dân sẽ lật đổ chính quyền và nhổ tận gốc các định chế chính quyền miền Nam. Cuộc đặt cược của Lê Duẩn thất bại vì dân chúng miền Nam, mặc dù chỉ mới nhận được khuôn khổ của một chính quyền được dân cử, đã chiến đấu cho sự sống còn của nhà nước mới phôi thai của họ. Còn nữa, cuộc tổng công kích gây ra một cú sốc chiến lược biển đổi triệt để lộ trình của chiến tranh, vô tình khởi phát các đàm phán hoà bình, và sắp xếp lại trật tự các khung cảnh chính trị của cả Hoa Kỳ lẫn chính quyền miền Nam.

Lạ thay, trong khi cuộc Tổng Công Kích hủy diệt mong ước theo đuổi chiến tranh của Tổng thống Johnson, nó tạo tác dụng ngược lại lên miền Nam. Sau khi đồng minh đã đẩy lùi cuộc tấn công, và mặc dù không có truyền thống và niềm tin vào dân chủ, niềm tin của nhân dân miền Nam trỗi dậy. Tư thế mới có được này khiến Thiệu và Kỳ có những bước đi táo bạo mới để củng cố và bành trướng đất nước, một đất nước đang tiến lên một cách khổ nhọc  kể từ khi nó đứng dậy vào tháng 6 1965.

CÁC MỤC TIÊU VÀ KẾ HOẠCH CỦA CUỘC TỔNG CÔNG KÍCH

Tết từ xưa đến nay vẫn là ngày nghỉ lễ quan trọng nhất trong năm của người Việt. Chào mừng ngày đầu tiên của mùa xuân và Năm Mới Âm lịch, thường đến vào cuối tháng giêng hay đầu tháng 2, ở phương Tây không có ngày lễ tương tự như vậy. Có nguồn gốc Trung Hoa, nó kết hợp các lý tưởng của Giáng Sinh, Lễ Tạ Ơn, và Năm Mới gộp chung vào dịp lễ kéo dài ba ngày. Trước ngày lễ, các cửa hàng nhộn nhịp người mua sắm quà biếu, thực phẩm, và quần áo mới cho nhiều dịp họp mặt vui chơi bên gia đình và bà con, thăm viếng bạn bè, và đi lễ chùa. Về tâm linh, gia đình đang cúng kiến và tưởng nhớ tổ tiên, nền tảng của tín ngưỡng người Việt. Tết cũng được coi là một ngày bắt đầu mới, tiêu trừ những xui xẻo của năm cũ. Nợ nần được thanh toán, lỗi lầm được tha thứ, và nhà cửa được vệ sinh tô điểm cật lực. Mê tín cũng góp phần vào truyền thống này. Nhiều gia đình tìm cách thu hút tài lộc cho năm mới như thuê múa lân và đánh chập chã để xua đuổi tà ma. Mỗi năm hai phe giao chiến thường tuyên bố ngừng bắn nhiều ngày, nhưng lần này, Thiệu chỉ giới hạn trong 36 giờ sau khi tin tình báo cho biết Cộng quân có thể mở những đợt tấn công. Vào ngày 29/1, đề phòng các cuộc công kích lớn của Cộng sản vào Quân đoàn I, ông hủy bỏ lệnh ngừng bắn cho vùng quân sự đó. Còn nữa, gần phân nửa QLVNCH được nghỉ phép khi Cộng quân giáng đòn vào ngày 31/1.

Lực tác động đứng đằng sau cuộc tổng công kích là Lê Duẩn. Tìm cách phá vỡ thế bế tắc quân sự hiện thời và nhằm đạt được một thắng lợi quyết định, ông đưa ra một chiến dịch chiến lược trọng đại: một cú đấm bất ngờ vào các thành phố miền Nam và các trung tâm quyền lực đặc biệt của chính quyền miền Nam. Sau khi chịu một tổn thất thương vong nặng nề trong năm 1967, tại sao liều lĩnh tấn công vào nơi phòng thủ hùng mạnh nhất của đồng minh? Các sử liệu Cộng sản hậu chiến thú nhận rằng các lực lượng của họ không thể đánh bại các đơn vị Hoa Kỳ. Đơn giản vì người Mỹ quá mạnh. Lúng túng, Lê Duẩn tìm kiếm một cách tiếp cận mới trong năm 1968. Trước đây, mọi trận đánh đều xảy ra ở nông thôn, nhưng dưới sự thúc đẩy của ông, Tư lệnh Tối cao của QĐNDVN giờ chuyển “hướng tấn công chiến lược chủ yếu từ rừng núi đến vùng nông thôn, và nhất là về phía Saigon, Huế, và Đà Nẵng.” Lê Duẩn tin tưởng rằng chỉ đánh vào tận hang ổ của kẻ thù mới có thể đạt được thắng lợi quyết định. Sau khi duyệt xét lại những cơn co giật gần đây về xã hội, tôn giáo, và chính trị của miền Nam, ông kết luận rằng đánh chiếm các thành phố sẽ cho phép “quần chúng bị áp bức” nổi dậy chống lại chính quyền. Sự kết hợp giữa đánh chiếm thành phố bằng quân sự và nổi dậy của quần chúng sẽ lật đổ chính quyền và lập ra một chính quyền liên hiệp với MTGP. Chế độ mới sẽ yêu cầu Hoa Kỳ rút quân về nước. Một khi người Mỹ đã bỏ đi, chế độ mới sẽ thống nhất dưới lá cờ của Hà Nội.

Bộ Chính trị đã bắt đầu thảo luận về kế hoạch xâm nhập này ngay từ tháng 4 1967. Đến tháng 7, họ họp nhau để tranh luận đề xuất của Lê Duẩn. Tuy nhiên Bộ Chính trị gác lại việc xem xét sau khi cả Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp cực lực phản đối chiến lược, cho rằng đối đầu trực diện với hoả lực Mỹ chẳng khác nào tự tử. Dù vậy, cuối cùng Lê Duẩn cũng thuyết phục được các ủy viên còn lại chấp nhận quan điểm của mình. Sau đó, Hồ và Giáp rời xứ lấy lý do chữa bệnh, và vào giữa tháng giêng 1968, Ban Chấp hành Trung ương tán thành kế hoạch tối mật, được biết dưới tên Nghị quyết 14. Cuộc tấn công sẽ bắt đầu giữa ngày mùng 1 và 2 Tết. Về mặt ngoại giao, Hà Nội sẽ đong đưa các đề nghị hòa bình để ngụy trang cho việc chuẩn bị chiến tranh.

KHÁI QUÁT KẾT QUẢ

Đã có nhiều sách mô tả về cuộc chiến khốc liệt bùng nổ trên khắp đất nước, vì thế không cần thiết phải kể ra đây. Chính quy mô của cuộc tổng công kích đã làm các đồng minh sững sờ, và khả năng che đậy và phối hợp cuộc tổng công kích của Cộng quân khiến giới tình báo bối rối. Gần như mọi thủ phủ tỉnh lỵ đều bị đánh, cùng với một phần tư trung tâm quận lỵ.

Cuộc tổng công kích đánh vào Saigon bắt đầu ngay sau 3 giờ sáng, ngày 31/1. Tuy nhiên, việc đề phòng an ninh nghiêm nhặt đã ngăn trở các đơn vị tấn công. Sợ bị bại lộ, người Cộng sản giữ bí mật chỉ cho các chỉ huy đơn vị địa phương biết trước hai ngày trước khi cuộc tổng công kích bắt đầu, nên họ không có nhiều thời gian chuẩn bị. Chẳng hạn, một tiểu đoàn lực lượng địa phương được lệnh tiêu diệt bô chỉ huy quân sự miền Nam. Theo Tướng Cao Văn Viên, địch xâm nhập phức hợp Tổng Tham mưu Liên quân nhưng “chiếm lầm Đại đội Tổng Hành dinh gần đó, đọc lầm là Bộ Tổng Tham mưu Liên quân.” Viên thật vô cùng may mắn. Tại thời điểm đó, như ông giải thích, “không có gì giữa tôi và địch.” Vì đơn vị Cộng quân đã nhận lệnh “phải giữ Bộ Chỉ huy QLVNCH với mọi giá,” họ đợi quân tiếp viện thay vì mở rộng phạm vi chiếm đóng. Viên nhanh chóng ra lệnh cho một đại đội Dù gần đó phòng thủ vị trí của mình, và quân địch bị đánh tan. Cộng quân gần như suýt bắt sống được tư lệnh QLVNCH, nhưng giá phải trả cực kỳ cao. Theo sử liệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam, khi tiểu đoàn “tràn vào Bộ Tổng Tham mưu Liên quân trở về căn cứ quân số chỉ còn 28 người.”

May thay, quân đồng minh đã nhận được những chỉ dấu cho biết một trận đánh lớn được lên kế hoạch trong ngày Tết nên đã chuẩn bị trước. Như đã đề cập, Thiệu đã hủy bỏ lệnh ngừng bắn cho Quân đoàn I trong khi Cao Văn Viên ở lại bộ Tổng Tham mưu Liên quân suốt đêm giám sát tình hình trên toàn đất nước. Ở Saigon, trùm cảnh sát Loan tin rằng Mặt Trận dự tính công kích thành phố, vì thế ông hủy bỏ nghỉ phép cho người mình và vẫn ở lại tổng nha cảnh sát. Tương tự, Tướng Westmoreland, theo lời khuyên của các chỉ huy chiến trường, đã rút một số đơn vị Mỹ về gần thủ đô hơn. Sự thận trọng của họ ắt hẳn đã cứu được Saigon. Trong vài ngày sau, trừ ở thành phố Huế và một vài khu vực Saigon, các lực lượng Cộng quân đã mở cuộc tấn công đầu tiên đều bị tiêu diệt và bị đánh đuổi ra ngoài thành phố. Các đơn vị MTGP trong đợt tấn công đầu tiên vào Quân đoàn III và IV là các tiểu đoàn địa phương gồm chủ yếu lực lượng miền nam hơn là bộ đội chính quy từ miền Bắc vào. Những lực lượng địa phương này chịu tổn thất nặng nề trong năm 1967, nhưng hàng ngũ của họ gần đây đã được bổ sung với bộ đội miền Bắc hoặc du kích địa phương bán phần. Bị lộ diện và phải hành quân trên đường phố xa lạ, họ bị hoả lực đồng minh cắt ra từng mảnh. Toàn bộ quân số Việt Cộng ở miền Nam tung vào cuộc tổng công kích và mức độ tổn thất của địch, tuy nhiên, vẫn còn là điều suy đoán. Vào thời điểm đó, một cuộc cãi vã mang tính phân tích được biết dưới tên cuộc tranh cãi về Cấp độ Trận đánh nổ ra dữ dội giữa MACV và CIA. Cuộc tranh cãi tập trung vào cả quân số đầy đủ của địch lẫn chính xác ai được đếm và phân loại như thế nào. MACV muốn sử dụng các thủ tục tính toán nghiêm nhặt hơn để ra con số thấp hơn. Một con số cao hơn sẽ tạo ấn tượng là chiến lược quân sự đồng minh đang thất bại. Tuy nhiên, CIA lập luận rằng tất cả nhân sự tham gia đều phải được đếm, cho dù lực lượng bán phần, khiến gia tăng tổng số và gây ra sự bất đồng.

Đại tá Hoàng Ngọc Lung, J-2 (Tình báo) của BTTMLQ, đua ra đánh giá của QLVNCH. “Vào cuối năm 1967,” ông viết, “toàn bộ lực lượng địch ở miền Nam lên đến khoảng 323,000 … Trong tổng số này, 130,000 là binh sĩ tác chiến; chính cán và du kích là 160,000 người.” Số còn lại là nhân viên hành chính hoặc hậu cần. MACV, trái lại, liệt kê quân số địch là 115,000 lực lượng tác chiến vào ngày trước tổng công kích, một con số mà CIA không đồng ý. CIA duyệt xét cho rằng “con số thực sự chắc chắn vượt qua 160,000.” Các ước tính lực lượng địch của đồng minh đều sai bét. Sử liệu Quân đội Nhân dân xác nhận rằng vào đầu năm 1968 tại miền Nam họ có 278,000 bộ đội chủ lực lẫn lực lượng địa phương. Một sử liệu QĐNDVN chính thức khác cũng xác nhận như thế. Kể lại một báo cáo nội bộ, văn bản ghi chi tiết: “220,000 bộ đội chủ lực và 57,000 lực lượng tại chỗ (không kể dân quân, du kích, hoặc canh phòng)” Liệu con số này chỉ tính lực lượng tác chiến, hay kể luôn các đơn vị hậu cần, ta không chắc chắn, cũng như con số có tham gia vào tổng công kích. Tình báo Mỹ ước tính rằng 85,000 binh sĩ địch tham gia vào cuộc tấn công, nhưng đó chỉ là sự ước đoán vì không xác định rõ chính xác phải đếm ai. Các tuyên bố của đồng minh về mức thương vong của địch tất nhiên cũng sai lầm. Đại tá Lung xác nhận Cộng quân có 87,534 chết và 27,178 bỏ về phe miền Nam trong năm 1968 nhưng không dám nói liều có bao nhiêu bị giết trong cuộc tổng công kích Tết. Các chỉ huy Mỹ cho rằng có khoảng 40,000 địch bị giết trong cuộc tổng công kích, là lý do chính để MACV tuyên bố đây là thắng lợi vang dội. Tuy nhiên, một báo cáo nội bộ từ Phòng Hành quân Tác chiến của QĐNDVN xác nhận rằng “tổn thất của chúng ta trong đợt đầu tiên (tư 30/1 đến 30/4) là 12,818 hy sinh và 22,316 bị thương.” Một tài liệu thứ hai từ Bộ Quốc phòng đề ngày 14/2/1969 liệt kê tổng cộng 113,295 người chết và bị thương, và mất tích trong năm 1968, không kể 10,899 đào ngũ. Trong số này, 44,824 bị giết khi thi hành nhiệm vụ, và 61,267 khác bị thương. Theo số liệu này, 34 phần trăm số thương vong này, tức 15,249 chết và 20,831 bị thương, xảy ra trong cuộc tổng công kích Tết. Không có giải thích cho sự khập khiễng giữa hai tài liệu, nhưng số tổng thương vong trong cả hai nguồn gần sát nhau. Nếu thủ tục đếm của QĐNDVN là chính xác, miền Bắc chịu hơn 35,000 thương vong trong ba tháng đầu này.

Dù vậy, Hà Nội nhanh chóng khắc phục những tồn thất này. Họ gửi 141,000 người vào chiến trường miền Nam trong năm 1968. Và chính đây là tình trạng lúng túng: nếu Hà Nội có thể xâm nhập nhiều người trong năm 1968 hơn đồng minh có thể ước tính từ chiến trường, thế thì cuộc chiến vẫn đang ở thế bế tắc. Ngay cả chính quyền miền Nam hùng mạnh nhất cũng không thể sống còn với vài trăm ngàn bộ đội miền Bắc nằm ngay trên lãnh thổ của mình, có thể tập trung và tấn kích tùy ý. Đó là lý do nền tảng mà Saigon muốn họ rút đi còn Hà Nội thì không chịu lui binh.

Trận đánh Tết có ý nghĩa nhất là việc Cộng quân chiếm được Huế. Đánh nhau với bộ đội chính quy của QĐNDVN, các binh sĩ Thuỷ quân Lục chiến Mỹ và VNCH chiến đấu gần một tháng trời mới chiếm lại được thành phố. Yếu tố chủ chốt trong việc giữ vững được một phần của Huế trong những ngày đầu là tài chỉ huy đầy cảm hứng của Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, người đã lãnh đạo các đơn vị Dù trong việc dập tắt cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1966. Sau đó, ông được thăng chức và được trao quyền chỉ huy Sư đoàn 1 đang mất tinh thần, và được ông  tái xây dựng có thể cho là trở thành sư đoàn chính quy tốt nhất trong quân lực. Như Viên, Trưởng cũng quyết định ở lại bộ chỉ huy sư đoàn vào đêm đầu tiên. Binh lính duy nhất ông có ở Huế là bộ tham mưu và đại đội Hắc Báo tình nhuệ lừng danh của sư đoàn. Khi bộ chỉ huy sư đoàn của ông bị một tiểu đoàn bộ đội tấn công, ông lập một tuyến phòng thủ đặc biệt gồm các thư ký và lính gác. Tại một thời điểm, lính của Trưởng phải đánh cận chiến chỉ cách chỗ ông đứng không tới 20 mét. Binh lính ông giữ vững trận địa cho đến khi lực lượng Hăc Báo đến cố thủ bộ chỉ huy.

Nhiều đặc vụ Cộng sản nằm vùng và các cảm tình viên Cộng sản, trong số đó có nhiều sinh viên đã tham gia cuộc nổi dậy Phật giáo 1966, lộ diện và cướp chính quyền thành phố. Ngay lập tức họ bắt đầu cuộc thanh trừng không khoan nhượng với các công chức chính quyền, binh sĩ, và những ai có vẻ chống cộng. Khi đồng minh chiếm lại Huế, họ phát hiện hàng ngàn đân địa phương đã bị bắn, đập đến chết, hoặc chôn sống. Hành vi đồ tể vô nhân đối với những người họ gọi là “kẻ thù giai cấp” giờ được biết với tên Trận Thảm Sát ở Huế. Trận thảm sát chà đạp đạo lý miền Nam không kém việc xâm phạm ngày Tết thiêng liêng của người Cộng sản. Việc phát hiện tiếp tục các ngôi mộ tập thể vào mùa thu 1969, trong đó có vụ 500 người đã bị giải đi ra ngoài thành phố và sau đó bị tàn sát bằng vũ khí tự động dọc theo một khe vực, thi thể của họ để đấy đến thối rữa, dấy lên nỗi căm hờn của người miền Nam.

Số người bị hành hình ở Huế vẫn còn là một đề tài bàn luận. Giống như vụ tàn sát người Do Thái, một số tác giả phản chiến cho vụ tàn sát là nạn nhân của phi cơ Mỹ oanh tạc. Phần đông tác giả Mỹ nêu số người chết là 2,800 người, một con số được loan báo lúc đầu nhưng ắt hẳn chưa được cập nhật khi các ngôi mộ tập thể khác sau đó được phát hiện. Một nguồn tin quan trọng ít ai tham khảo là một sĩ quan cảnh sát miền Nam giữ chức  trưởng Ngành Đặc Biệt (tình báo) tỉnh Thừa Thiên (nơi Huế tọa lạc) trong thời gian tổng công kích. Ông cầm đầu một cuộc điều tra sau trận tấn công và tuyên bố rằng con số bị giết cao hơn nhiều. Ông xác nhận có 5,327 người bị Việt cộng sát hại tại nhà, trên đường phố, và nhiều thi thể nạn nhân sau đó được tìm thấy dưới mộ tập thể trong các quận chung quanh Huế. Số người mất tích vĩnh viễn, không để lại dấu vết, là 1,200 …

Sau Tết, đáp ứng với hướng dẫn của tôi, các cơ quan cảnh sát quận và phường hợp tác chặt chẽ với chính quyền quận và phường để giúp đỡ dân chúng và thân nhân các nạn nhân tìm kiếm thông tin về những người bị Việt Cộng bắt mang đi. Mỗi lần tìm được một mộ tập thể dù lớn hay nhỏ, mọi chi tiết đều được ghi chép và gửi về Trung tâm Điều hành thuộc Ty Cảnh Sát Tỉnh. Ở đó chúng tôi lập ra một bộ phận để giám sát và cập nhật thông tin mỗi ngày để báo cáo Nha Cảnh sát  Vùng và Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia ở Saigon.

Trong lúc đó ở Saigon, ông trùm Cảnh sát Loan, ăn nói ngang tàng, ừng ực bia lon, một biểu tượng của một chính quyền áp bức, đóng một vai trò chủ chốt trong việc đánh bại đợt tấn công thứ nhất của đặc công Cộng sản vào các trụ sở chính quyền ở Saigon. Loan có đủ các tật, nhưng không ai thắc mắc về tính táo tợn của ông. Ông dũng cảm dẫn đầu người của mình trong mọi trận đánh. Không may, dũng khi của ông bị phớt lờ sau khi phóng viên ảnh Eddie Adams chụp được ảnh ông bắn vào đầu một tù binh Cộng sản. Bức ảnh ngay lập tức trở thành biểu tượng của cuộc chiến và đốt lên ngọn lửa căm phẫn trên toàn thế giới. Mặc dù trong những năm sau này Adams có bào chữa cho Loan, nhưng bức ảnh đã xuất hiện trên trang nhất của gần như mọi tờ báo Mỹ và giúp thay đổi công luận Mỹ thành phe chống đối chiến tranh. Trong khi không thể chối đây là tội phạm chiến tranh, miền Nam tuyên bố người mà Loan giết – Nguyễn Văn Lem, bí danh Bảy Lốp – đã bị bắt ngay sau khi y đã sát hại một chỉ huy cảnh sát của Loan, cùng vợ và bốn đứa con của họ. Trong quan điểm của người miền Nam, Loan chỉ ban phát công lý đường phố cho một tên khủng bố. Loan bảo với Thiệu là ông bắn Lem trong một “cơn nóng giận, vì biết bao nhiêu cái chết y và đồng bọn đã gây ra tại Saigon”. Đến ngày hôm nay, nhiều người miền Nam còn hăng hái bào chữa cho hành vi của Loan là phù hợp với đạo lý quả báo và bày tỏ nỗi bức xúc việc bức ảnh đã gây ra tai tiếng cho Saigon trên toàn thế giới, đặc biệt khi so sánh với hàng ngàn nạn nhân bị các lực lượng Cộng sản giết chết tại Huế.

Dù có lời chỉ trích của báo chí, QLVNCH và cảnh sát đã đứng lên và chiến đấu, hứng chịu thương vong gấp hai lần phía Mỹ. Một sử gia hàng đầu Hoa Kỳ về cuộc tổng công kích Tết khắng định rằng “không kể sự kiện là hầu hết đơn vị đều kém quân số trầm trọng vì đang nghĩ phép Tết, nhưng các lực lượng vũ trang miền Nam đã chiến đấu thật tuyệt vời.” Binh sĩ VNCH thể hiện một tinh thần tiến công ít ai nghĩ là họ có thể có nhanh chóng chiếm lại các địa điểm mà lực lượng Cộng sản đã đánh chiếm, và họ đã thi triển quá tuyệt cho dù trang bị kém hơn. Bộ đôi Cộng sản gần đây đã được trang bị súng máy RPD của Liên Xô và súng phóng hỏa tiễn B-40 cùng với súng trường AK-47. Phần đông các đơn vị miền Nam còn sử dụng súng M-1 và súng máy BAR từ thời thế chiến, mặc dù các đơn vị thiện chiến gần đây được trang bị súng M-16. Trong khi hoả lực đồng minh khống chế trận địa, ở mức độ dưới, bộ đội Cộng sản có ưu thế hơn binh lính miền Nam. Tết buộc người Mỹ hiện đại hóa QLVNCH. Để cân bằng vũ khí, vào cuối tháng 5 1968, gần 130,000 khẩu M-16 được cũng cấp cho QĐVNCH và cảnh sát, và nhiều hơn nữa tiếp sau đó. Cấu trúc cấp sư đoàn QĐVNCH được cải tiến để tăng thêm tính cơ động và hoả lực. Những phúc lợi nhân sự như trại gia binh và quân nhu cũng được cải thiện.

Tuy nhiên, như mọi quân đội, trình độ QĐVNCH không đều. Nhiều đơn vị thụ động hoặc cứ dựa vào hỏa lực để diệt địch, pháo kích bừa bãi khiến nhiều nhà cửa và công trình bị hủy hoại. Hành quân đêm thì miễn cưỡng, đợi đến chiều tối là các lực lượng rút về vị trí phòng thủ. Tệ hơn, yếu kém triền miên của QĐVNCH – kỷ luật quân đội thấp – làm bùng cháy sự bất mãn của dân chúng khi binh lính thường cướp bóc công khai các ngôi nhà bỏ hoang trong các thành phố. Viên đáp ứng bằng cách ra  quân lệnh binh sĩ nào bị bắt gặp cướp bóc sẽ bị đưa ra toà án binh, và nếu có tội, sẽ bị hành hình.

Thảm họa thực sự của miền Nam là khó khăn khủng khiếp về kinh tế. Doanh nhân rụt rè hoạt động vì sợ có thêm các cuộc tấn công khác nữa, và nhập khẩu, lực tác động chính đem lại tiền thuế cho chính quyền, bị ảnh hưởng nặng nề. Các đơn vị Cộng quân cấm lưu thông trở lại Quốc lộ 4 huyết mạch hướng về đồng bằng Cửu Long, khu vực sản xuất hai phần ba số lúa gạo của miền Nam. Đường bị đặt mìn và cầu bị phá hoại làm tăng chi phí vận tải và giảm sản lượng đến Saigon, khiến giá lương thực tăng vọt và làm phá sản các cải thiện gần đây về doanh thu nông thôn. Để bù đắp tình trạng khan hiếm gạo, vào ngày 11/3, Hoa Kỳ cam kết cung ứng 100,000 tấn gạo theo chương trình PL 480. Để giúp dân đô thị và nuôi ăn quân đội, chính quyền bán số gạo nhập khẩu này với giá thấp hơn giá gạo nội địa. Việc bù lỗ giá gạo giúp người tiêu thụ đô thị nhưng gây thiệt hại thu nhập cho nông dân trồng lúa.

Lạm phát chẳng bao lâu góp thêm vào tai họa kinh tế. Xét chi phí tái thiết và các chi tiêu khổng lồ khác của chính quyền miền Nam, tình trạng thâm hụt ngân sách bùng nổ. Tiền thuế sụt giảm buộc Ngân hàng Quốc gia phải in thêm tiền để trang trải chi phí, và kết quả là, Thiệu đối mặt với hai chọn lựa đều khó nuốt: cắt giảm chi tiêu hoặc tăng thuế. Vào cuối tháng 3, ông cuối cùng đồng ý tăng giá dầu, nhờ đó thu thêm thu nhập đang cần. Nhưng thậm chí với việc trợ giá gạo, chỉ số giá sinh hoạt của người dân đô thị cũng leo cao không siết. Chăm sóc cho hàng ngàn dân tị nạn mới cũng làm gia tăng sức ép lên tủ tiền của chính quyền. Vào cuối năm 1967, Saigon còn có 810,000 dân tị nạn trong danh sách. Trong khi việc điều phối tị nạn quốc gia đã cải thiện đáng kể, những nỗ lực cấp huyện và tỉnh vẫn còn đầy dẫy nạn tham nhũng và kém hiệu quả. Thượng nghị sĩ Edward Kennedy tổ chức các buổi điều trần vào năm 1968 nhấn mạnh đến các hạn chế này, và vào đầu tháng giêng 1968, ông đến thăm miền Nam để thanh tra các trại tị nạn. Sau khi đi qua vài địa điểm, ông gặp Tổng trưởng Bộ Tị nạn Nguyễn Phúc Quế. Kennedy nhìn nhận các nỗ lực của chính quyền tốt nhiều hơn ông nghĩ, nhưng khi về Mỹ vào cuối tháng giêng, Thượng nghị sĩ lại nói ngược lại. Gây sốc cho Saigon, ông đọc một bài diễn văn lên án hay gắt điều kiện người tị nạn và hoạt động của chính quyền. Dù bị Kennedy lên án, khi cuộc tổng công kích thình lình tạo thêm hơn nửa triệu người bỏ nhà cửa, tổ chức CORDS của Mỹ ghi nhận bộ của Quế đã “đáp ứng trong vòng vài giờ sau cuộc tấn công đầu tiên, cung cấp nơi trú ẩn và đồ dùng thiết yếu … kể cả sữa, vitamin, quần áo, và chăn mền.”

Số người tị nạn tính riêng ở Saigon là 172,000 người trong tổng dân cư vài triệu. Tại thủ đô, chính quyền nhanh chóng biến hàng chục ngôi trường mới xây dựng gần đây thành trung tâm cứu trợ tạm thời, khiến việc học tập tiểu học phải đình trệ một vài tháng. Các viên chức chính quyền không có nhiều lựa chọn; số tài sản bị tiêu hủy thật to lớn. Hoả lực đồng minh quen phun lửa vào kẻ địch cũng đã thiêu hủy ước khoảng 72,000 căn nhà trên khắp đất nước. Mặc dù Chợ Lớn, khu Hoa kiều ở Saigon, chịu thiệt hại nặng nề, các thành phố khác còn tệ hại hơn. Một phần ba thành phố Mỹ Tho bị đổ nát còn Huế thì bị san bằng.   

Dù nông thôn tương đối không bị cuộc tổng công kích đụng đến, một số tiểu đoàn QĐVNCH và địa phương quân/nghĩa quân được phái đến để bảo vệ thành phố và quận huyện, bỏ lại những vùng nông thôn không ai bảo vệ. Bunker và Komer buộc Thiệu ngay lập tức phải vãn hồi sự hiện diện quân sự của mình tại thôn làng. Thiệu đồng ý nhưng Bộ Tham mưu Liên quân lại cho rằng Cộng sản đang dự trù một cuộc công kích khác vào Saigon. Đại tá Lung viết rằng địch sẽ “đang cố bao vây và cô lập thủ đô và kẻ thù sẽ sử dụng tối đa hoả lực để pháo kích chúng ta trong  thời gian sắp tới.” Việc Thiệu chưa chịu điều quân trở lại nông thôn gây ra một vấn đề gây tranh cãi giữa ông và người Mỹ.

Về mặt xã hội, dân chúng đã choáng váng và sợ hãi trước cuộc tổng công kích bất ngờ, nhưng họ nhanh chóng tập họp. Việc gọi quân dịch trong tháng 2 tăng gấp 3 lần tháng 2 năm trước. Các tổ dân chúng tham gia dọn dẹp đường phố, và nói chung, niềm tin của dân chúng vào chính mình và chính quyền đã gia tăng sau khi đã đứng vững trước trận tấn công dữ dội nhất của kẻ thù. Cũng quan trọng không kém, việc người Cộng sản tuyên truyền nhân dân đứng về phía họ đã cho thấy là láo khoét. Dân chúng miền Nam đã cự tuyệt lời kêu gọi tổng nổi dậy của họ và ngược lại thường giúp lực lượng chính quyền chỉ chỗ ẩn nấp của địch. Dù vậy, câu hỏi chính là liệu phản ứng của người dân đơn giản chỉ là bản năng tự bảo tồn, căm giận sự lươn lẹo của Cộng sản vi phạm lệnh ngừng bắn trong dịp Tết, hoặc thực sự đứng về phía Saigon? Câu trả lời không nghi ngờ gì nữa bao gồm cả ba yếu tố, nhưng bên dưới sự kêu ca của người Mỹ về tình trạng chậm tiến, tham nhũng, và không hiệu quả, hai năm rưỡi nỗ lực bình định hoá và phổ thông đầu phiếu đã âm thầm đặt được một nền móng chính trị.

Trong lúc này, các nhà lãnh đạo Saigon cảm thấy sự tồn tại của mình được minh chứng. Kỳ tuyên bố rằng “Cuộc tổng công kích Tết là thắng lợi lớn nhất của đất nước tôi, về quân sự lẫn chính trị.” Hiện thực hơn, Phan Quang Đán cho rằng “miền Nam, với tất cả sự yếu kém của mình, từ cuộc tổng công kích đang nổi lên như một nhà nước có thể tồn tại với cơ bản một quân đội, cảnh sát trung thành, và dân chúng đứng vững chắc về phía tự do.” Bên dưới những phán xét ca ngợi này, tuy nhiên, lại ồn ào lời ta thán xưa cũ của nhóm tướng lĩnh. Kỳ và các chỉ huy cao cấp như Trung tướng Lê Nguyên Khang vẫn một mực cho rằng chỉ có một lãnh đạo kiên định, cứng rắn không bị ngành lập pháp độc lập cản trở mới có thể bảo đảm sự tồn vong của đất nước. Khang bảo một sĩ quan Mỹ rằng “Việt Nam không thể kham nổi các định chế dân chủ vào lúc này, và người Mỹ đã mắc một sai lầm lớn khi cưỡng bách các điều này đối với Việt Nam … Điều cấp thiết hiện nay là một sự lãnh đạo cứng rắn, mà chỉ có phe quân sự mới tạo ra được, kỷ cương, và một chế độ chuyên chế tốt đẹp.”

Về phần Lê Duẩn, như trong năm 1965, ông đã đứng về phía chết chóc một lần nữa và thất bại. Không có gì ngạc nhiên, trong khi sự tính toán sai lầm của ông về tâm trạng và thái độ chính trị của nhân dân miền Nam đã mang đến thảm bại, một bài viết thời hậu chiến của Cộng sản xét lại cuộc tổng công kích Tết đã chuyển sự quy kết lỗi lầm từ ông sang cho việc báo cáo sai của cấp dưới. Cuộc tổng công kích đã thất bại vì Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đánh giá quá thấp năng lực của quân đội và chính quyền miền Nam 

. . .Lý do chúng ta không đánh giá đúng tình hình là vì, một phần do các cấp cao chủ quan trong phân tích của họ về cả tình hình địch và ta, và do sự kiện là các báo cáo … của cấp dưới gửi lên cấp trên là không đầy đủ và thiếu chính xác … Các thực tế phát hiện rằng các báo cáo từ bên dưới  … luôn phóng đại những thắng lợi và không báo cáo những sai lầm và các khuyết điểm. Những báo cáo này có sức tác động đáng kể. Chúng khiến cho cấp trên đưa ra các đánh giá sai lầm về tình hình, những quyết sách không phù hợp với tình thế.

Bộ Chính trị nhắm lấy trận tổng công kích Tết để tiêu diệt chính quyền miền Nam, nhưng thay vào đó nó tạo ra hậu quả không ngờ tới là hủy diệt ý chí của chính quyền Mỹ muốn “ở lại trên lộ trình.” Sau gần ba năm Hoa Kỳ tham chiến dữ dội, quy mô khủng khiếp và bất ngờ của trận tổng công kích làm lung lay lòng tin của hành pháp và khiến phe đấu tranh phản chiến thêm táo bạo. Chủ nghĩa bi quan hiện giờ đang thâm nhập tầng lớp cao cấp của ngành hành pháp. Trước đây lỡ chào hàng là mình đang trên đà thắng lợi, và sau khi tiêu tốn hàng tỉ đô-la, chu cấp hàng ngàn thương vong, và dưới các sức ép to lớn ở trong nước, chính quyền Johnson cần một thắng lợi về quan hệ quần chúng để đẩy lùi bài hợp xướng phản chiến đang cao giọng. Họ muốn Thiệu cung cấp cho họ thắng lợi. Các viên chức Mỹ cao cấp, nhất là Bunker, nhấn mạnh rằng để duy trì lòng tin của nhân dân Mỹ, Thiệu cần nhanh chóng vượt qua tính uể oải và cho thấy sự phục hồi mau lẹ sau cuộc tổng công kích. Dù vậy, Thiệu tiếp tục tiến lên nhát gừng, vừa do cá tính quá ư thận trọng vừa do quá rụt rè trước các tỉnh hình chính trị nội bộ quá nhạy cảm. Bunker ra sức trình bày với Washington một bức tranh cân bằng. Bunker lưu ý rằng vì “tính khí của Thiệu, ông không cho thấy một hình ảnh một nhà lãnh đạo có sức thu hút, năng động mà chúng ta có thể nghĩ là lý tưởng.” Nhưng, ông nói thêm, “ông ta càng ngày càng ra những quyết định nhanh chóng và an toàn, thúc đẩy các tổng trưởng hành động mau lẹ, và nói chung, đã truyền đạt ít nhiều tính cấp bách và đáng tin cậy cho bộ máy hành chính của miền Nam.”

Đúng là Mỹ không còn kiên nhẫn với Thiệu. Vào tháng 3, cuộc thăm dò dư luận cho biết công luận Mỹ đang đánh mất lòng tin vào chính sách của Johnson đối với Việt Nam. Đối đầu với số thăm dò đang trượt dốc, biểu tình phản chiến rầm rộ, và chống đối của Quốc hội tăng cao, tổng thống Mỹ kết luận rằng thời điểm đã đến để bắt đầu nói chuyện điều đình. Cách duy nhất để làm điều đó là nhượng bộ yêu sách của Hà Nội, ít ra là từng phần. Liệu ông có thể tìm được một đối tác có thiện chí ở Hà Nội hay không vẫn còn bỏ ngỏ. Một số quan sát bên ngoài phán đoán rằng Lê Duẩn sử dụng giải pháp chiến tranh chỉ là công cụ trong chiến lược chính trị để đạt được sự thống nhất, nhưng vị bí thư thứ nhất thẳng thừng xem việc chinh phục quân sự là công cụ chính đưa đến thắng lợi. Trong khi thương lượng hòa bình, ông cũng tiếp tục chiến tranh. Thậm chí sau khi đã thiệt hại 36,000 thương vong trong cuộc công kích thứ nhất, Lê Duẩn cũng không thôi tấn công vào thành phố.

MIỀN NAM PHẢN ỨNG RA SAO

Mặc dù có các cảnh báo tình báo khác hẳn nhau được đồng minh thu thập, Thiệu đã rời Saigon vào chiều ngày 29/1 để ăn tết với gia đình vợ ở Mỹ Tho, thủ phủ Tỉnh Định Tường. Như người Mỹ, người miền Nam cũng chuẩn bị đón những trận tấn công, nhưng không phải một trận tấn công nông thôn phối hợp. Chính quyền miền Nam đã là nạn nhân của cùng nạn trói tay chân hành chính mà các xứ khác đã từng trải: thất bại trong việc chia sẻ thông tin của các cục tình báo. Cuối cùng Thiệu sẽ chỉnh đốn việc này bằng cách công nhận khuyến cáo của Mỹ trong việc cải tổ toàn bộ Phòng Tỉnh báo Trung ương của ông.

Vào ngày 31/1, bộ đội MTGP đánh chiếm một bộ phận của Mỹ Tho. Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, tỉnh trưởng Long An trước đây và giờ là sư đoàn trưởng Sư đoàn 7, đã bố trí các đơn vị trong thành phố để bảo vệ tổng thống. Nhà gia đình bà Thiệu ở ngay trung tâm thành phố và không hề hấn gì, nhưng với thành phố bị bao vây và hứng chịu sự công kích nặng nề, Thiệu mắc cạn. Sau khi đến thành phố, ông đã cho trực thăng trở lại Saigon, và đỗ trên nóc Dinh Độc Lập như thường lệ.

Trong khi đó, Kỳ đã ở lại Saigon ăn Tết. Phó tổng thống ở lại nhà mình tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất khi cuộc tấn công xảy ra. Mặc dù một đội đặc công đã bao vây đài phát thanh Saigon, Kỳ điện cho Loan đến chiếm lại. Vào lúc 7 giờ sáng, Loan đã chiếm lại đài, và Kỳ phát đi lời kêu gọi nhân dân kháng cự cuộc công kích. Trong hồi ký của mình, Kỳ chỉ trích Thiệu cho rằng mình không thể liên lạc được với ông nhiều ngày, nhưng điều này không đúng. Thiệu đã truyền đi thông điệp vào ngày 31/1 ra lệnh thiết quân luật và giới nghiêm 24 giờ một ngày, và chỉ thị đóng cửa các quán ba và khu vui chơi giải trí.

Đương đầu với một tình huống thù địch hoang mang, phi công của Thiệu đánh liều lái trực thăng tổng thống từ Saigon bay về Mỹ Tho vào sáng sớm ngày ½ và rước tổng thống cùng với gia đình ông. Thiệu ra lệnh cho phi công bay thấp và nhanh, theo con sông đi về phía đông ra bờ biển để tránh hoả lực của địch và sau đó theo hướng bắc hướng về Saigon  và Bộ Tổng Tham mưu Liên quân. Thiệu sợ Kỳ âm mưu ám sát ông, vì Kỳ đã ra lệnh cho hai phi cơ bay trên cao hộ tống ông.

Đến Bộ Tổng Tham mưu Liên quân sáng hôm đó, Thiệu họp nội các để khẳng định lại quyết định đã ban hành hôm trước. Hai ngày sau, Thiệu và các người đứng đầu cao cấp đến gặp Bunker, Westmoreland, và Komer. Dưới sự thúc ép của Bunker, họ đồng ý thành lập lực lượng hợp tác  Mỹ/Việt để trợ giúp hàng ngàn dân tị nạn mới. Thiệu bổ nhiệm Kỳ cầm đầu dự án này. Vào ngày 5/2, Kỳ thông báo rằng mục tiêu của ủy ban là “vãn hồi an ninh, quy định việc cung cấp lương thực, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, và giúp dân chúng tổ chức một lực lượng tự vệ vũ trang.”

Thiệu cũng lên kế hoạch để kết hợp với bên lập pháp trong các nỗ lực của mình vì ông “nhìn nhận rằng điều quan trọng là tránh cho họ có cảm giác là ông tái lập một chế độ quân sự.” Thiệu mời các lãnh đạo quốc hội tham gia buổi họp nội các và “yêu cầu họ, thể theo hiến pháp, triệu tập một phiên họp đặc biệt hai bên.” Vào ngày 9/2, Thiệu nói trước quốc hội. Ông yêu cầu họ tán thành luật động viên từng phần mà họ đã bác vào tháng 10, và ông yêu cầu được cấp quyền ra sắc lệnh trong vòng một năm để giải quyết những hậu quả kinh tế của vụ tổng công kích. Trong khi kể lại những thương vong nặng nề mà binh sĩ và dân thường gánh chịu, ông không cầm lòng được phải ứa nước mắt. Chính quyền tính số tổn thất dân thường là hơn 14,000 người bị giết và 24,000 bị thương. Trong nỗ lực được coi là tiền thân của Lực lượng Nhân dân Tự vệ mang dấu ấn của ông, ông ra lệnh tất cả công chức ở Saigon trải qua khóa huấn luyện quân sự cơ bản, được cấp phát một ít vũ khí và được lệnh phòng vệ các tòa cao ốc.

Khi tình hình an ninh được cải thiện, Kỳ nhanh chóng quay sang hỗ trợ hàng ngàn dân tị nạn ở Saigon. Ông tập họp 2,500 nhân viên PTNT từ Vũng Tàu để phân phát lương thực và dựng nơi trú ẩn tạm thời. Rồi vào giữa tháng 2, Kỳ đề nghị lực lượng hợp tác nên đặt dưới quyền của Thủ tướng Lộc vì điều quan trọng là có các bộ khác nhau tham gia. Lý do phía sau là Kỳ bực bội vì một số người phe Thiệu đang phao tin đồn là Kỳ đang lợi dụng ủy ban cứu trợ khẩn cấp để chiếm quyền lực. Mặc dù Thiệu trấn an ông là mình không tin vào điều đó, Kỳ vẫn từ chức  chủ tịch ủy ban trong một bài phát biểu được truyền hình trước khi báo tin cho tổng thống, khiến ông này rất phật ý.

Ít ai bên ngoài hiểu được rằng phần nhiều sự xích mích giữa họ là do đám bên dưới đâm thọc gây ra. Dù tính cách có khác biệt, nhưng họ cũng có những điểm tương đồng. Cả hai thường có những quan điểm tương hợp về các vấn đề quân sự và chính trị đang đối diện quốc gia. Cả hai đều ương ngạnh, thông minh, táo tợn, và quyết tâm bảo vệ đất nước. Vậy mà các bộ hạ liên tục thì thầm những lời chia rẽ gây ra ngờ vực và làm trầm trọng thêm sự rạn nứt giữa họ.

Khi Kỳ đi rồi, Thiệu nắm quyền ủy ban cứu trợ. Ông đến thăm Huế vài ngày sau khi thành phố được chiếm lại lần nữa vào ngày 9/3. Vào đầu tháng 3 ông phát động Quỹ Phục hồi  Quốc gia để quyên tiền giúp hỗ trợ công cuộc tái thiết. Trong vòng vài ngày, chỉ riêng trong Saigon và Tỉnh Gia Định thu được hơn 70 triệu đồng để giúp xây dựng nhà cửa. Những lời chỉ trích trước đây đối với Vĩnh Lộc và Nguyễn Văn Mạnh cho thấy là đúng đắn, vì cả hai tư lệnh quân đoàn đều thể hiện sự yếu kém. Vào ngày ⅓, Thiệu câch chức họ. Ông chỉ định Thiếu tướng Lữ Mộng Lan thay thế Vĩnh Lộc trong Quân đoàn II, và bổ nhiệm Nguyễn Đức Thắng chỉ huy Quân đoàn IV. Tiếp sau cuộc tổng công kích Tết, ông cũng giảm quyền lực của các tư lệnh quân đoàn và tái tổ chức bộ máy hành chính. Để bài trừ tham nhũng, Thiệu quyết định giao tổng trưởng nội vụ quyền bổ nhiệm các tỉnh trưởng thay vì các tự lệnh quân đoàn như trước đây vì việc mua bán chức là đường dây chính của nạn hối lộ.

Vào ngày 9/2, Thiệu đã yêu cầu quốc hội trao quyền lực  khẩn cấp. Sau khi tranh luận về yêu cầu của Thiệu, vào ngày ⅓, Hạ viện chống với số phiếu áp đảo. Các dân biểu không chịu buông ra những gì vừa được cho nắm lấy. Khối lớn nhất, vẫn còn rằng buộc nhiều với Kỳ, không nhận được chỉ thị nào của ông. Thiệu đổ lỗi cho Loan, và suy ra là cho vị phó tổng thống đã không phối hợp với họ. Ông xem sự thiếu hợp tác của họ như một mưu toan nhằm làm “yếu đi quyền lực và uy tín tổng thống của mình và là một nỗ lực có tính toán nhằm gây lúng túng cho ông.” Thiệu đã học được bài học của mình. Ông nhờ người tài trợ mình, Nguyễn Cao Thăng, làm đường dây móc nối với quốc hội.

Thiệu cũng quá mệt mỏi khi phải xoa dịu Kỳ, nhất là sau khi ông ta đã đột ngột từ chức  quyền cấm đầu lực lượng hợp tác mà không báo trước cho ông. Thiệu bực tức bảo với Bunker rằng “ông đã cố xử tốt và thân thiện với Kỳ, lưu ý rằng mình đã chấp nhận Lộc làm thủ tướng và giữ lại Loan vì Kỳ khăng khăng muốn vậy, và Thiệu muốn hợp tác nhưng các hành động của Loan như muốn tìm cách tạo ra ‘hai chính quyền’ khiến điều này rất khó khăn.” Kỳ tất nhiên nhận định tình hình theo cách khác. Ông đổ lỗi cho Thiệu, tuyên bố rằng ông ta thường không đúng hẹn. Kỳ bảo với mọi người mình sẵn sàng nghe theo lệnh Thiệu, nhưng ngài tổng thống phải gạt qua một bên những hiềm nghi và giao cho mình trách nhiệm đối với các phận sự nào đó.

Đối mặt với mớ bòng bong không thể giải tỏa này, người Mỹ không thể làm gì khác hơn là khẩn khoản hai bên hợp tác cùng nhau đồng thời chỉ ra mối thiệt hại lớn lao mà cuộc đấu đá của họ gây ra cho hai đất nước.

KHỦNG HOẢNG NỘI BỘ ĐẦU TIỀN

Vào đầu tháng 3, Kỳ bảo một vị khách Mỹ rằng sự bất mãn của các sĩ quan cao cấp về “sự lãnh đạo thiếu quyết tâm của Thiệu trong tình hình cấp bách hiện thời có thể dẫn đến việc tống khứ Thiệu.” Kỳ nói rằng trong khi không có các kế hoạch cụ thể để lật đổ Thiệu vì ông biết rằng phản ứng của người Mỹ đối với một vụ đảo chính sẽ rất tệ.” Bất chấp, Kỳ tin rằng “chính quyền không thể kham được các cuộc tranh luận xa xỉ … về các vấn đề cấp bách trong khi Việt Cộng đang dựng trại ngoài ngoại vi Saigon.”

Kỳ chỉ đến vấn đề động viên như một minh hoạ cho tính lề mề của Thiệu. Kỳ đã mạnh dạn đề xuất ngay lập tức động viên 120,000 quân. Khi Thiệu tỏ ra quan ngại về khả năng huấn luyện và trang bị một đạo quân lớn như thế cùng một lúc, Kỳ quật lại, phát biểu rằng “Có thể trông cậy vào thiện chí của người Mỹ muốn trang bị tân binh vì họ mong đợi kế hoạch này để đáp trả những lời chỉ trích trong nước.” Kỳ nhạo báng, nói rằng tuy Thiệu đồng ý, “ba ngày sau ông vẫn còn chưa chịu hành động.” Thiệu biết rằng họ cần mở rộng quân đội, nhưng ông muốn “sự đồng ý chính thức của Hoa Kỳ” trang bị cho đội quân này trước khi chính quyền ban hành nó. Sau khi cuối cùng được sự chấp thuận của Hoa Kỳ, và mệt mỏi phải đợi chờ quốc hội hành động, vào ngày 31/3, Thiệu thông báo kế hoạch của mình về một “cuộc tổng động viên” nhân lực miền Nam để khuếch trương thanh thế QĐVNCH. Tất cả nam thanh niên tuổi từ 17 đến 45 phải nhập ngũ. Quốc hội cuối cùng thông qua dự luật vào ngày 15/6.

Có lẽ cảm nhận được thế đứng yếu ớt của nền dân chủ tại miền Nam, người Mỹ hối thúc giới lãnh đạo Quốc gia đa sắc phát triển các chính đảng vững mạnh, xem các định chế này như những thành trì chống Cộng. Ấn tượng trước thành tựu của  Park Chung-hee ở Nam Hàn, Thiệu đang xem xét thành lập đảng cầm quyền nhưng đã “rất do dự xây dựng một đảng chính trị gắn liền với cá nhân mình vì sợ đi theo vết chân của Diệm.” Tuy nhiên, nhờ Bunker thúc ép, ông mới đồng ý. Ông chỉ đạo một cố vấn chính quyền triển khai một liên minh các chính đảng nhưng không phải là tổ chức chính quyền chính thức.

Các nỗ lực tổ chức tiến hành nhiều tháng trời, và một hội nghị được dự trù vào tháng 3 sẽ tập họp các tôn giáo, chính đảng, và phe phái.

Đồng thời, Thượng Nghị sĩ Trần Văn Đôn đang kiên trì mở rộng khối Thượng viện của mình thành một tổ chức chống cộng có nền tảng rộng rãi. Sau cuộc tổng công kích Tết, Kỳ đã cổ vũ  Đôn sử dụng tổ chức mới ra đời này để tập hợp nhân dân. Mặc dù Đôn không ưa Thiệu, ông cũng gặp tổng thống để báo cho biết về những nỗ lực của mình. Tuy Thiệu hậu thuẫn Đôn nhưng ông bảo các nỗ lực trước đây nhằm tạo một liên minh rộng rãi các người Quốc gia đã thất bại. Bất chấp, vào ngày 18/2, Đôn ra mắt  Mặt trận Cứu quốc mới. Nhiều nhân vật chính trị hàng đầu tham dự, trong đó có Trần Văn Hương và Hà Thúc Ký. Trong bài diễn văn mở đầu, Đôn tuyên bố rằng tình hình nghiêm trọng hiện nay đòi hỏi “sự đoàn kết và hành động cương quyết để cứu lấy đất nước. Không ai có thể cứu chúng ta nếu chúng ta không biết cách tự cứu mình.” Tuy Mặt trận không phải là một “công cụ của chính quyền,” nó sẽ hợp tác với Thiệu khi cần.

Vào ngày 10/3, Đôn tổ chức một buổi họp gồm 2,000 người gồm nhiều phe phái tôn giáo, sắc tộc, vùng miền và chính trị khác nhau. Dù Thiệu đề nghị tiếp tục ủng hộ Đôn, vị tổng thống đa nghi hỏi riêng trung tướng Khang liệu Mỹ có bí mật tổ chức nhóm của Đôn hay không. Ông ta cật vấn liệu Mặt trận mới của Đôn có thể nào có “mục tiêu tối hậu là nhằm tạo ra một chính quyền liên hiệp với MTGP hay không.” Sự dấn thân của Đôn làm sống lại bóng ma của vụ đảo chính tháng giêng 1964. Quá khứ luôn luôn lơ lửng ở hậu cánh, không nhìn thấy được nhưng hiện diện một cách méo mó. Vì ông không chắc, Thiệu đơn giản “chỉ ủng hộ bằng mồm trước yêu cầu được hậu thuẫn của Đôn trong khi ra sức tạo thế cân bằng với nó bằng những nỗ lực chính trị của riêng mình. Vào cuối tháng 3, mặt trận riêng của Thiệu, có tên Lực lượng Tự do Dân chủ, tổ chức buổi ra mắt. Không có chính trị gia có tầm cỡ nào đến tham dự, và Đôn nói rằng, khi ông đề nghị hai nhóm hợp nhất, bệnh hoang tưởng của Thiệu nổi dậy. Ông lên án Đôn tìm cách muốn làm thủ tướng, nhưng Đôn kịch liệt bác bỏ. Đôn cho rằng Thiệu “đố kỵ các hoạt động chính trị có thể tạo hậu thuẫn cho Kỳ ngay cả khi đất nước đang lâm nguy.”

Tình trạng chia rẽ của các mặt trận càng làm nản lòng người Mỹ muốn có một miền Nam đoàn kết sau cuộc tổng công kích Tết. Trùm CORDS Robert Komer, trở lại sau chuyến đi về Washington, gặp Thiệu vào 18/3 để trực tiếp bày tỏ tâm trạng tối tăm của Washington. Komer đề cập nhiều đến nỗi bất mãn sâu sắc của báo chí và công luận  Mỹ, cũng như một phân khúc lớn trong quốc hội … rằng chính quyền miền Nam đang quá chậm chạp trong việc lấy lại nông thôn, phản công địch, và tái thiết thành phố. . . Ông nhấn mạnh rằng sự bất hòa giữa Thiệu Kỳ xuất hiện trở lại liên tục tạo ra ấn tượng sai lầm về việc điều hành chia rẽ và yếu kém. … Việc sinh sôi nhiều mặt trận càng minh chứng cho việc người miền Nam không có khả năng đoàn kết nhau … Tư thế của nước Mỹ sẽ phụ thuộc một cách quyết định vào những gì chính quyền miền Nam sẽ làm được trong vài tháng sắp tới để thuyết phục được hành pháp, quốc hội, và công chúng rằng Việt Nam xứng đáng được người Mỹ tiếp tục hậu thuẫn.

Thiệu hứa sẽ cải thiện, đáp lại lời chỉ trích thẳng thừng của Komer, ông chỉ biết lảng sang đề tài khác. Bùi Diễm trở lại Saigon cũng mang về cùng một thông điệp u ám: tinh thần của hành pháp Mỹ nhằm biện hộ cho cuộc chiến đã sụp đổ. Trước khi rời Washington D.C, ông đã gặp Tổng thống Johnson và một đám nghị sĩ và viên chức hành pháp cao cấp. Ông thấy rằng quan điểm chung của họ về triển vọng miền Nam là tiêu cực. Ông thông báo với Thiệu và Kỳ rằng “chúng ta giờ đang phải nhìn thẳng vào việc Mỹ sẽ rời bỏ Việt Nam.” Đại sứ khẩn khoản với Thiệu và Kỳ cần hợp tác và nói rằng miền Nam cần phải “chứng tỏ cho nhân dân Mỹ thấy rằng mình đang nỗ lực hết sức mình để tự bảo vệ chúng ta.” Sau buổi họp, ông đưa ra một phát hiện gây ngạc nhiên. Không như Washington, “từ vụ tổng công kích Saigon đã vươn lên  như được tiếp thêm sinh lực và tính lạc quan.” Tinh thần lên cao. “Mỉa mai thay,” ông viết, sự lột xác của Saigon “đã xảy đến chính xác ngay lúc Washington bắt đầu thối chí.”

Điều mà người Mỹ mong đợi một cách tuyệt vọng, một miền Nam có động lực, đã cuối cùng bắt đầu ló dạng, nhưng nó không còn là vấn đề nữa. Johnson cần chứng tỏ ông “đang làm gì đó.” Vào đầu tháng 3, xếp CIA khu vực Saigon trước đây William Colby trở lại Saigon. Ông sẽ trở thành người phó mới của Komer và cuối cùng sẽ thay thế ông ta đứng đầu CORDS. Vào ngày 22/3, sau gần bốn năm, chỉ huy MACV Westmoreland được người phó của mình, Tướng Creighton Abrams, thay thế. Cũng vào đầu tháng 3, Clark Clifford thay thế Robert McNamara làm bộ trưởng quốc phòng, một quyết định mà Johnson đã thông báo vào giữa tháng giêng. Việc làm đầu tiên của Cifford là duyệt lại chính sách Việt Nam của Johnson. Chẳng bao lâu ông đề xuất tiến hành đàm phán để đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến. Vào ngày 31/3, Tổng thống Johnson, tin chắc mình cần thay đổi chiều hướng, nói với người Mỹ một trong những bài diễn văn chính trị ấn tượng nhất của thế kỷ 20.

“ĐÂY LÀ ĐẤT NƯỚC CỦA CHÚNG TÔI”

Mặc dù các chính sách hòa bình của miền Nam vẫn không thay đổi, Thiệu đã chỉnh sửa lại. Dù Saigon dị ứng với đàm phán, vào tháng 11 1967 ông đã gửi một bức thư cho Hồ Chí Minh đề nghị thương thảo trực tiếp. Tuy nhiên, các đồng minh châu Á chính yếu của Thiệu, Tưởng Giới Thạch của Đài Loan và Park Chung-hee của Nam Hàn, cực lực phản đối bất kỳ vụ mở lời nào với Hà Nội. Thái độ cứng rắn của họ đối với việc đối thoại hòa bình cùa Việt Nam phản ánh kinh nghiệm chống cộng của họ và nỗi lo sợ khi quá lệ thuộc vào sự hậu thuẫn của người Mỹ. Cả hai nước đều cảnh báo trước tiên với người Mỹ về một nền hòa bình quá hấp tấp với Hà Nội trong chuyến viếng thăm của Phó Tổng thống Hubert Humphrey vào tháng 1 1966. Park đã chế giễu những nỗ lực hòa bình của Mỹ tại hội nghị Manilla vào tháng 10 1966. Nguyễn Xuân Phong, tổng trưởng Bộ lao động trước đây của Kỳ và lúc đó là chánh văn phòng của Kỳ, dẫn đầu phái đoàn Việt Nam soạn thảo thông cáo chung. Phong ghi nhận rằng người Hàn, dưới “những chỉ thị nghiêm nhặt” của Park, xin được tham gia các cuộc đối thoại hòa bình tương lai. Khi người Mỹ từ chối, phái đoàn Hàn Quốc cảnh báo với Phong rằng, dựa vào kinh nghiệm chiến tranh của họ, “nếu có khi nào xảy ra đối thoại hòa bình,” người Mỹ sẽ thỏa thuận trực tiếp với Hà Nội và “Saigon sẽ không có nhiều điều để nói vào vấn đề trừ ra chấp nhận và tuân theo.” Được làm cho tỉnh táo đúng lúc, Phong nhắc nhở Thiệu, và Thiệu không nói gì. Khi hay biết về các nỗ lực của Thiệu muốn mở các cuộc tiếp xúc với Hà Nội, vào cuối tháng 12 1967, Park gửi một phái đoàn qua để cản ngăn ông. Ông cũng bất đồng với lời khuyên của Johnson là Saigon “phải gặp không chính thức với Việt Cộng như một điểm khởi đầu tới việc giải quyết cuộc xung đột Việt Nam.” Nhà lãnh đạo Đại Hàn ưa chuộng một thắng lợi quân sự rõ ràng và “chống đối mạnh mẽ bất kỳ thỏa thuận nào vào lúc này.” Trong khi Park hiểu rõ các lý do chính trị trong nước buộc Johnson phải đưa ra một đề xuất hòa bình, ông sợ rằng bất kỳ nhân nhượng nào của Mỹ đối với Hà Nội có thể làm miền Nam yếu đi. Ý kiến của Park căn cứ vào lịch sử của đất nước ông. Vị tổng thống đầu tiên của Nam Hàn, Syngman Rhee, đã từ lâu tuyên bố rằng “Sự đói khát hòa bình của người Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên đã phản bội ông và đất nước của ông.” Park cảnh báo với Thiệu là, theo quan điểm ông, Rhee đã bị “người Mỹ xiết cổ bắt phải đồng ý’ mở ra đối thoại hưu chiến trong năm 1951 và rằng ông lại bị “xiết cổ một lần nữa bắt phải chấp nhận đình chiến tại Bàn Môn Điếm vào năm 1953.” Thiệu ghi nhớ. Chẳng bao lâu ông nói công khai rằng “Việt Nam và đồng minh phải tránh sai lầm ở Bàn Môn Điếm.”

Sau cuộc bầu cử tổng thống 1967, nhiều người Quốc gia tiếng tăm bổng đâm ra cảnh giác trước lời tuyên bố của Johnson ám chỉ rằng Saigon nên tố chức bàn bạc với MTGP để chấm dứt chiến tranh.

Bất kể người Mỹ có lặp đi lặp lại lời tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ không ép buộc Saigon vào một chính phủ liên hiệp, Thiệu, với thính giả trong nước, chỉ trích những nỗ lực hòa bình của Mỹ. Trong một diễn văn đọc ngày 15/1/1968, Thiệu trách cứ gay gắt Washington đầu hàng trước “âm mưu Cộng sản chỉ đối thoại với chính quyền Mỹ, mà không đếm xỉa tới chính quyền miền Nam.” Ông nhắc thẳng cho Washington nhớ rằng “đây là đất nước của chúng tôi.” Saigon, ông nhấn mạnh, “phải có vai trò trung tâm trong bất kỳ diễn tiến nào liên quan đến Việt Nam … Tôi rất tiếc phải nói rằng trong quá khứ đồng minh của chúng ta đôi khi đã không tránh khỏi đã tự đặt mình vào trung tâm của những nỗ lực hòa bình.”

Nhiều người nghĩ Thiệu là lực tác động trong lập trường chống cộng không thỏa hiệp, nhưng chính sách của ông được hậu thuẫn bởi tầng lớp người Quốc gia, trong đó có phe quân sự, cánh báo chí, và cả lưỡng viện. Tính thiếu mềm dẻo của ông xuất phát từ cả sự thấu suốt đầu óc người Cộng sản lẫn một ước muốn lành mạnh tự bảo vệ mình tránh khỏi một cú đảo chính hoặc chỉ trích gay gắt của cánh hữu. Vậy mà trong khi nội bộ chính quyền Johnson đã trải qua nhiều lần xét duyệt sâu xa các giải pháp hòa bình, Bunker e rằng Saigon thì không. Đoán trước chính xác tương lai, Bunker dự liệu rằng

CQMN rất khó giải quyết vấn đề chuẩn bị cho đối thoại. Mỗi động thái chúng tôi làm về hướng điều tiết với người Cộng sản thường dấy lên nỗi hoảng sợ cuống cuồng bị Mỹ sẽ bỏ rơi. Bunker đề nghị tập trung vào các lãnh vực đặc biệt của thỏa thuận, bàn bạc trước một cách sâu sắc với cấp lãnh đạo chóp bu … và cố gắng mang chúng đi theo một cách tốt nhất có thể mà không làm sút giảm ý chí chiến đấu của họ … Đây sẽ là một trải nghiệm đau đớn đòi hỏi kiên nhẫn và thông cảm, nhưng mục tiêu tìm ra một giải pháp chính trị cho Việt Nam có thể chấp nhận được với ý kiến của nhiều giai tầng người Quốc gia là điều sinh tử đối với chúng ta.

Vào cuối tháng 3, khi Johnson đang xem xét những động thái hòa bình mới, Bunker nhắc nhở ông rằng để Thiệu đồng ý với những thương thảo hòa bình do Mỹ cầm đầu là điều khó khăn. Trong khi Thiệu “đã chứng tỏ rất đáp ứng với mong muốn và nhu cầu của chúng ta . . . Khi làm như vậy, ông ta đã tự làm mình dễ bị tổn thương trước các lời buộc tội là bị người Mỹ sai khiến. . . Do đó Thiệu thấy mình ở trong một tình huống rất mong manh nếu ông ta đưa ra lời ưng thuận với các đề nghị của chúng ta trừ khi có sự đồng thuận của Kỳ.” Mặc dù kế hoạch của Bunker là an toàn, Johnson không thèm để ý đến.

BÀI DIỄN VĂN GÂY SÔC CHÂU Á

Vào ngày 31/3, tổng thống nói với quốc gia về vấn đề liên quan đến chính sách Việt Nam của mình. Bài nói chuyện là kết quả cuối cùng sau hàng tuần liền tranh luận trong nội bộ hành pháp. Ông đưa ra đề xuất ngưng tất cả cuộc dội bom Hà Nội  từ vĩ tuyến 20 trở lên nếu Hà Nội đồng ý đối thoại hòa bình. Rồi Johnson bỏ một quả bom. Ông tuyên bố rằng ông sẽ không ra tái tranh cử. Vào ngày ¾, Hà Nội chấp nhận đề nghị của ông, và sau nhiều cuộc trao đổi gay gắt về địa điểm, họ cuối cùng đồng ý gặp gỡ Hoa Kỳ vào đầu tháng 5 tại Paris. Bài diễn văn của Johnson gây sốc cho các đồng minh Á châu của mình. Đài Loan khăng khăng rằng thắng lợi quân sự là cách duy nhất để giải quyết vấn đề Việt Nam. . . Tưởng nói rằng ông sợ việc ngừng oanh tạc có thể tiêu diệt niềm tin của người miền Nam.” Người dân Nam Hàn, kinh hoảng trước sự đáp trả yếu kém của người Mỹ trong việc Bắc Hàn bắt giữ tàu USS Pueblo vào cuối tháng 1 1968 và cuộc tấn kích của đặc công Bắc Hàn vào tư dinh của Park, cũng bày tỏ lo sợ một thỏa thuận hòa bình có thể báo hiệu “một cuộc rút lui khỏi châu Á và một sự xuống thang cho những cam kết của Mỹ hỗ trợ phòng thủ Nam Hàn.” Park hò hét “các đối thoại sẽ chỉ đưa đến sự rút quân của Mỹ và sự thôn tính miền Nam của Cộng sản.” Sau đó ông hậu thuẫn Thiệu khi tuyên bố mình đồng ý với việc Saigon phản bác chính quyền liên hiệp.

Giới lãnh đạo Saigon cũng sợ bài diễn văn của Johnson sẽ tác động đến tinh thần của người miền Nam. Kỳ nhấn mạnh rằng những gì mà CQMN sẽ làm trong 10 ngày sắp tới là tối quan trọng, và rằng 

 điều quan trọng là chính quyền chứng tỏ cho nhân dân thấy rằng việc này là đỉnh cao của tình huống  và phải sát cánh với người Mỹ. Nếu nhân dân có cảm tưởng là người Mỹ làm việc ấy một mình, phần đông sẽ nghĩ rằng một hiệp định Geneva 1954 khác sắp đến gần. Người Cộng sản sẽ lợi dụng mọi tình thế để gieo rắc hoang mang và bất mãn trong dân chúng. Hà Nội sẽ ra sức lập luận rằng cuộc chiến đã qua, rằng Hoa Kỳ và CQMN đã thua, và rằng VC sẽ sớm đoạt chiếm đất nước. Nếu thứ tình cảm đó lan rộng, CQMN thực sự là không thể hoạt động.

Cuống cuồng trấn an công luận miền Nam, Thiệu mở cuộc họp báo ngày 2/4. Ông bảo với các nhà báo rằng mình chấp nhận chính sách của Johnson nhưng nhắc nhở rằng đây là lần cuối cùng ông đồng ý việc ngưng dội bom. Ông cũng mưu mẹo đánh vào công luận Mỹ khi tuyên bố rằng với lệnh tổng động viên ban hành gần đây nhằm tăng cường sức chiến đấu của miền Nam, ông hy vọng binh lính Mỹ có thể bắt đầu rút quân vào cuối năm 1968.

Xét các báo cáo từ Komer và Bùi Diễm, chiến lược tức thời của Thiệu là duy trì sự hậu thuẫn của Mỹ trong khi xoa dịu những lời chỉ trích phản chiến của người Mỹ. Ông biết rằng Saigon cần trưng ra “các thành tựu cụ thể” vì đó “có thể là điều duy nhất ảnh hưởng đến công luận và chính sách Mỹ.” Việc yêu cầu động viên của ông nhằm mục đích chứng minh “với thế giới rằng miền Nam quyết tâm chiến đấu một mình nếu cần thiết.” Hơn một năm trước khi vị tổng thống mới đắc cử Richard Nixon sẽ tuyên bố “Việt Nam hóa chiến tranh” với kèn và trống, Thiệu đã đề cập đến khái niệm đó.

Ngay lập tức sau khi Hà Nội chấp nhận lời đề nghị của Johnson, Bunker đến thăm tổng thống để xoa dịu mối quan ngại của Thiệu về các kế hoạch của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vị tổng thống miền Nam ra đòn trước. Thiệu giải thích cặn kẽ với vị đại sứ Mỹ rằng ý định của Hà Nội thương thảo là để không bị dội bom trong khi “vẫn tiếp tục đường lối chiến đấu và xâm nhập và yểm trợ phía Nam.” Chiến thuật này, ông lưu ý, “không thể chấp nhận được” đối với Saigon. Thiệu nhấn mạnh rằng cả hai chính quyền “phải hết sức thận trọng trong lời phát biểu của mình. Nếu nhân dân ông biết được người Mỹ đang qua mặt họ, sẽ xảy ra rắc rối nghiêm trọng cho xứ sở và cá nhân ông.”

Bunker hiểu rõ và nhấn mạnh với những người làm chính sách của Washington rằng “điều cực kỳ quan trọng là chúng ta không chỉ cung cấp cho họ thông tin mà còn cần tham vấn họ, để họ có ý thức mình cũng được tham dự … Không được có vẻ như là hành động đơn phương hoặc phát ngôn đơn phương.” Kim chỉ nam của Bunker về sự giải thích kiên nhẫn chính sách Mỹ, trong hơn năm năm tới, sẽ thiết yếu gìn giữ cho mối quan hệ Việt Mỹ không bị gãy đổ trên một số vấn đề, từ chính sách kinh tế, việc cảnh sát đàn áp đến đối thoại hòa bình. Tuy nhiên, chiến lược của ông  trước tiên phải trải qua một cuộc thử nghiệm nghiêm túc.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s