Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 12)

CHƯƠNG 12: “KỂ TỪ KHI TÔI NHẬM CHỨC, TÔI THUỘC VỀ CÁC BẠN”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Sự Ra Đời của Đệ Nhị Cộng Hòa

 Cuộc bầu cử tháng 9 1967 đánh dấu một mốc lịch sử đối với miền Nam vì nó hoàn tất việc chuyển nhượng từ một chế độ quân sự sang dân chủ. Thông thường, sự chuyển đổi nào cũng gặp những thách thức từ các nhóm quyền lực khác nhau có thể làm đổ vỡ toàn bộ tiến trình. Vậy mà mặc dù có sự chống đối cá nhân đang tăng lên, Thiệu và Kỳ một lần nữa dẫn dắt đất nước mình vượt qua những cơn đau chuyển dạ. Tuy nhiên, sự ra mắt của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, không cho phép họ yên nghỉ. Cá tính của Thiệu, thận trọng và chi li hơn là táo bạo, dẫn đến sự hậm hực của người Mỹ lẫn nhóm quân sự của mình. Thiệu muốn từ từ chuẩn bị, trong khi người Mỹ thúc ép ông nhanh chân. Mặc dù nhiều người muốn ông áp đặt một sự lãnh đạo mạnh mẽ, Hội đồng Quân sự theo dõi nhất cử nhất động của ông. Không ai sung sướng cả.

CHIẾN DỊCH TRANH CỨ

Chiến dịch tranh cử tổng thống bắt đầu vào ngày ⅜. Các cuộc bầu cử tổng thống và thượng viện sẽ được tổ chức vào ngày 3/9, bầu cử Hạ viện vào ngày 22/10. Luật bầu cử quy định các hạn chế thông thường. Các ứng cử viên phải là ngườiViệt Nam và sống ở Việt Nam ít nhất 10 năm vừa qua. Không người Cộng sản, người chủ trương trung lập, trốn quân dịch, hoặc tội phạm nào có thể ứng cử. Quốc hội sẽ xem xét và chấp thuận từng đơn một. Sau khi danh sách ứng cử viên đã được xác định, chiến dịch sẽ bắt đầu vào ngày ⅜. Sau cuộc bầu cử, quốc hội sẽ họp báo ngày 2/10 và hợp thức hóa kết quả.

Thiệu và Kỳ khẳng định chương trình của họ là “Hòa bình, Dân chủ, và Công binh Xã hội.” Sửu và Hương cũng công bố lập trường của mình, là diệt trừ tham nhũng và cải thiện nền hành pháp vô hiệu quả. Dù quốc hội đã loại đơn ứng cử của Âu Trường Thanh, hòa bình nhanh chóng trở thành mục tiêu tâm điểm của chiến dịch. Mỗi ứng cử viên riêng rẽ đều nhấn mạnh tiến hành đàm phán chỉ xảy ra giữa Saigon và Hà Nội, một nhát đâm mạnh vào bất kỳ sắp xếp nào Washington có thể bày bố. Họ cũng yêu cầu các lực lượng Cộng sản hãy rút lui về Bắc. Tuy nhiên, trong khi ba người đều muốn nói chuyện với Hà Nội, không ai muốn thương lượng với MTGP vì điều đó có thể ám chỉ là cuộc xung đột là một cuộc nội chiến hơn là một cuộc xâm lăng từ miền Bắc.

Như là một phần của tuyên ngôn chiến dịch, kế hoạch hoà bình ban đầu của Thiệu phản ánh vị thế cam go của ông, nhưng  chiến dịch buộc ông phải sửa đổi cương lĩnh hòa bình của mình. Vào đầu tháng 8, ông đưa ra đề nghị nói chuyện trực tiếp với Bắc Việt. Vào cuối tháng 8, ông đi một bước xa hơn là chiêu dụ bằng khả năng một cuộc ngừng dội bom, một chiến thuật mà trước đây ông chống đối, nhưng chỉ với điều kiện Hà Nội chấp nhận thương thảo. Ông thậm chí điều chỉnh vị thế của mình đối với các cuộc đối thoại với MTGP khi đồng ý nói chuyện với bất kỳ ai trong Mặt trận nhưng chỉ để bàn luận về hòa giải. Ông sẽ không nói với họ  như những đại diện của một thực thể chính trị riêng biệt.

Các liên danh, dù vậy, có các chiến thuật khác nhau để đạt được các đàm phán hòa bình. Sửu, chẳng hạn, muốn khởi động lại hội nghị Geneva. Thiệu không đồng ý, lập luận rằng giờ có đến hai Việt Nam với các chính quyền riêng biệt có chủ quyền. Đối với Thiệu, việc Hà Nội đồng ý đàm phán trực tiếp với miền Nam là phép thử tính trung thực của Hà Nội. Đồng ý nói trực tiếp sẽ hợp thức hóa tính hợp pháp của chính quyền miền Nam vì bác bỏ lời tuyên truyền của Bộ Chính trị cho rằng người Quốc gia chỉ là “bù nhìn” của Mỹ và rằng chỉ có Mặt trận mới đại diện nhân dân miền Nam. Dù thế nào, Thiệu không nghĩ Hà Nội đáp ứng với lời mời đàm phán trực tiếp. Ông tin rằng Hà Nội chỉ chịu thương thuyết sau khi đã kết luận rằng mình không thể thắng về mặt quân sự hoặc thao túng các cuộc bầu cử của Hoa Kỳ. Bằng không, việc yêu cầu thương thảo là vô ích. Kết quả tệ hơn duy nhất trong tâm trí Thiệu sẽ là việc người Mỹ nhảy vào làm chủ.

Chiến dịch tranh cử khởi đầu với sự ra mắt tất cả các ứng cử viên được lên lịch trước tại Huế. Tuy nhiên, thời tiết khắc nghiệt làm đối hướng chiếc phi cơ chở các đối thủ dân sự đáp xuống một phi trường khác gần đó. Hương, Sửu, và các người khác bị kẹt ở đó và lỡ buổi khai mạc với Thiệu và Kỳ, vì họ đi phi cơ riêng. Các ứng cử viên dận sự lên tiếng phản đối, cho rằng đây là một tính toán của chính quyền gây rắc rối cho họ, và họ hăm dọa rút lui khỏi cuộc tranh cử. Cơn phẫn nộ gây chú ý cho truyền thông Mỹ và nước ngoài, và báo chí Mỹ bắt đầu bêu riếu cuộc bầu cử sắp đến là trò gian lận.

Mặc dù chính quyền miền Nam đã bãi bỏ kiểm duyệt báo chí vào ngày 21/7 và đã cung cấp phương tiện vận chuyển miễn phí, tiền bạc, và thời gian phát sóng trên truyền thanh và truyền hình cho mọi ứng cử viên, các nhà báo Mỹ lặp lại một cách mù quáng các lời chỉ trích thậm tệ của các ứng cử viên. Việc khiển trách của báo chí đến lượt làm phát động trận chỉ trích của quốc hội Hoa Kỳ. Vào ngày 10/8, 57 thành viên của Hạ viện ký một tuyên bố quát tháo Saigon vì những hành động được cho là lộng hành trong chiến dịch tranh cử. Khiến tình hình tồi tệ hơn, ngài Kỳ chuyên nói hớ đe doạ đảo chính nếu một ứng cử dân sự mà ông cho là quá mềm yếu trước Cộng sản thắng cử. Thiệu phải lên tiếng phản đối  bất kỳ sự can thiệp quân sự nào vào chính quyền trong tương lai. Ông tuyên bố rằng “nếu một tổng thống dân sự được bầu chọn đúng đắn, nếu chúng ta thực sự có một cuộc bầu cử công bình. . . quân đội không có quyền đảo chính.”

Thư tố cáo của quốc hội cũng buộc Bùi Diễm phải làm điều gì đó để kiểm soát thiệt hại. Ngay sau bức thư quốc hội, ông nhận một cuộc phỏng vấn với nhà báo kỳ cựu Carl Rowan. Ông tuyên bố rằng Kỳ đã “bị trích dẫn sai” và chính quyền sẽ không lừa dối. Bày tỏ sự thất vọng là “người Mỹ không nắm được đầy đủ câu chuyện về những gì người miền Nam đang làm trong cuộc chiến,” ông xin công luận Mỹ hãy duy trì “quyết tâm sắt đâ”. Ông dự đoán rằng Hà Nội sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến sau cuộc bầu cử tháng 9, và lúc đó có thể đánh giá lại. Rồi ông kết luận với một phát biểu như tiên tri: “Tôi cảm nhận năm 1968 có thể là một năm sinh tử đối với tất cả chúng ta.”

Kiếm tài trợ cho chiến dịch tranh cử là điều khó khăn cho mọi ứng cử viên. Mặc dù các ông trùm doanh nghiệp người Hoa đã cho Thiệu và Kỳ những khoản tiền lớn, các mạnh thường quân phong độ khác cũng chọn người mình đặt cược với những khoản tiền lớn nhỏ khác nhau tùy theo tiềm năng đắc cử. Nguyễn Cao Thăng, người đứng đầu giàu sụ của công ty dược OPV, tặng cho liên danh Sửu-Đán 6 triệu đồng, một số tiền kếch sù cho cặp đôi chưa được tài trợ. Phạm Văn Liễu chứng kiến tấm ngân phiếu trao tay Sửu và tuyên bố rằng “Thắng cũng đã tài trợ cho liên danh Thiệu-Kỳ và Hương-Truyền. Số tiền ông đóng góp cho mỗi liên danh thay đổi tùy theo xác suất mà ông cho là họ có thể thắng cử.”

Khi ngày bầu cử đến gần, nhiều quan sát viên kết luận rằng Thiệu-Kỳ sẽ thắng, nhưng với 10 địch thủ dân sự, phần đông đều tin rằng phe quân sự chỉ thắng với tỉ lệ không tới 40 phần trăm tổng số cử tri. Vào cuối tháng 8, Phan Khắc Sửu tiến lên vị trí thứ hai. Ông được được sự ủng hộ ở các tỉnh phía bắc miền Nam trong nhóm Phật tử đấu tranh nhờ tuyên bố rằng Trung tướng Nguyễn Chánh Thi đang sống lưu vong hậu thuẫn mình. Hương rớt xuống vị trí thứ ba, cho dù Tướng Minh và bà góa phụ của chủ tịch Quốc hội bị ám sát Trần Văn Văn đều tuyên bố ủng hộ ông.

Ứng cử viên ít hy vọng nhất là một luật sư giàu có tên Trương Đình Dzu, sinh ngày 10/11/1917, tại Bình Định. Một người theo đạo Phật, Dzu tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội vào năm 1941 và chuyển đến sống tại Saigon từ năm 1947, tại đó ông đại diện cho nhiều công ty lớn của Pháp. Ông cưới con gái một trong những nhà nhập khẩu giàu nhất miền Nam, và họ có với nhau hai con. Con trai ông, David Trương, sẽ chuyển đến Mỹ và trở thành một tiếng nói phản chiến Việt Nam hàng đầu từ nơi chốn bình yên của Hoa Kỳ. Anh và một viên chức chính quyền Mỹ sẽ bị truy tố vào năm 1978 vì tội giao tài liệu đã phân loại cho Hà Nội. Đối tác trong nghề luật của Dzu là anh của Bà Nhu. Dzu thân cận với gia đình nhà Ngô, nhưng như nhiều người Việt tiếng tăm, cuối cùng ông cũng xa lánh họ. Người đứng liên danh với ông là Trần Văn Chiêu, một người nam đã chiến đấu chống Pháp nhưng trở về Saigon vào năm 1947 sau khi binh lính Cộng sản đập các đơn vị Cao Đài của ông tơi bời. Sau đó Chiêu mua lại một cửa hàng buôn bán đồ phụ tùng xe hơi, mà ông phát triển thành một trong những xí nghiệp lớn nhất Saigon. Vào đầu năm 1966, Chiêu được bầu làm tổng thư ký Mặt trận Đoàn kết Quốc gia, một tổ chức ô dù cũ gồm những phe phái chính trị nhỏ và tôn giáo khác nhau đã hậu thuẫn Diệm cho đến khi Nhu đốn ngã họ. Dzu cũng tham gia tố chức này, tại đó ông được giới thiệu với Tân Đại Việt của Nguyễn Ngọc Huy, đang âm thầm vươn những chiếc vòi của nó lên khắp miền Nam.

Ít ai xem Dzu là một ứng viên có triển vọng. Phần đông nhà bình luận cho rằng cùng lắm là ông đứng thứ 5. Ông có tai tiếng vì bị một số án treo, bao gồm một vụ truy tố sử dụng ngân phiếu bất hợp lệ vào năm 1963, mà ông cho là do Nhu gài để bôi xấu mình. Hai nhân viên Mỹ mà ông biện hộ tố cáo ông đòi 10,000 đô để hối lộ quan tòa. Dzu cũng đang bị điều tra vì những vụ chuyển tiền ra nước ngoài, nhưng tòa tạm đình điều tra khi ông nộp đơn ứng cử. Nhận ra lỗi lầm của Âu Trường Thanh, Dzu khôn khéo đợi cho đến khi đơn ứng cử của ông đã được hợp thức hóa ông mới công bố cương lĩnh của mình. Ngay khi chiến dịch bắt đầu, ông kêu gọi ngừng bắn ngay lập tức và mở ra những thương thảo hòa bình với cả Hà Nội lẫn Mặt trận. Để củng cố chương trình hòa bình, biểu tượng tranh cử của ông là chim bồ câu trắng, biểu tượng của hoà bình đối với giới truyền thông quốc tế, nhưng phần đông người Việt Nam chưa hiểu ý nghĩa đó.

Cùng với việc chu cấp phương tiện lưu thông và thời lượng truyền thông miễn phí cho mỗi ứng cử viên, chính quyền đã sắp xếp những biện pháp bầu cử rộng khắp. Việc phòng ngừa an ninh bố trí khắp nơi, và các viên chức làng xã được tập huấn về thủ tục bầu cử. Hàng triệu lá phiếu được in ấn. Mỗi lá phiếu đều chứa ảnh các ứng cử viên và biểu tượng của họ. Phiếu bầu được chở đi dưới sự bảo vệ nghiêm nhặt đến hơn 8,800 địa điểm bỏ phiếu trên khắp đất nước. Những thủ tục được ấn định để ngăn ngừa gian lận phiếu. Để đi bầu, mỗi cử tri hợp pháp phải trình thẻ cử tri và thẻ căn cước cho nhân viên phòng phiếu. Thẻ cử tri sau đó được cắt góc để tránh đi bầu một lần nữa. Số góc cắt đi giữ lại để đối chiếu với số lá phiếu nhằm bảo đảm không có bầu hai lần. Phòng phiếu được ủy ban địa phương giám sát cùng với giám sát viên của các ứng cử viên. Tổng thống Johnson tập hợp 22 quan sát viên Hoa Kỳ và phái họ đến Việt Nam để giảm sát cuộc bầu cử. Nhiều quan khách ngoại quốc cũng chăm chú theo dõi xem có điều gì bất thường xảy ra. Việc kiểm phiếu được tiến hành bởi ủy ban bầu cử địa phương với sự hỗ trợ của các giám sát viên bầu cử. Một biên bản xác nhận kết quả kiểm phiếu được cả hai nhóm ký tên, rồi điện thoại về cho Saigon, và tại đó kết quả được thông báo không chính thức. Phiếu bầu và biên bản sau đó được chuyển về Saigon tại đó quốc hội sẽ duyệt lại kết quả và xem xét xem có điều gì bất thường. Một khi đã hoàn tất, quốc hội sẽ hợp thức hóa kết quả.

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Vào ngày đi bầu, Cộng quân một lần nữa ra sức phá hoại bầu cử, chủ yếu tấn công vào địa điểm bỏ phiếu. Vài trăm dân thường bị giết hoặc bị thương. Thủ đoạn hù dọa của họ thất bại khi số cử tri đi bầu tổng thống và thượng viện nhiều hơn nửa triệu người so với bầu cử quốc hội một năm trước. Một phần thành tựu nhờ tình hình an ninh được cải thiện ở nông thôn, và một phần do có thêm người tị nạn về dưới sự bảo bọc của chính quyền.  Có đến 83 phần trăm trên tổng số cử tri đi bỏ phiếu, với 57 phần trăm số phiếu hợp lệ. Thiệu và Kỳ được 1.6 triệu phiếu, hoặc gần 53 phần trăm, trong khi Dzu thật bất ngờ đứng thứ hai với 810,000 phiếu, chiếm 17 phần trăm. Sửu đứng thứ ba với 11 phần trăm, trong khi Hương về thứ tư với 10 phần trăm. Đối với miền Nam, đó là một thắng lợi vang dội khi đất nước đang có chiến tranh.

Thành tích của Dzu làm sửng sốt mọi người. Cao Đài, chẳng hạn, dồn phiếu cho ông thay vì cho Sửu, có lẽ vì người chung liên danh với ông đã phục vụ trong lực lượng dân quân cũ của Cao Đài. Dzu áp đảo ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, và Hậu Nghĩa, những tỉnh chịu ảnh hưởng của Cao Đài và MTGP. Ông cũng thắng ở Quảng Ngãi, được cho là cái nôi của VNQDĐ. Sửu thắng ở Thừa Thiên, cùng với Huế và Đà Nẵng, chủ yếu nhờ sự ủng hộ của Ấn Quang. Thiệu và Kỳ dẫn đầu ở Cao nguyên, ở đồng bằng Cửu Long và các tỉnh duyên hải trung phần. Một số người lên án các vị tướng đã buộc đồng bào Thượng bầu cho mình vì sử dụng xe quân đội chở họ đến phòng phiếu, nhưng đó chỉ là phương tiện duy nhất để người thượng vùng cao đến được địa điểm bỏ phiếu. Hơn nữa, chính quyền không có ép buộc dân vùng cao bầu cho Thiệu và Kỳ. Những nỗ lực của họ trong việc thông qua Quy chế Đặc biệt và bài diễn văn đọc trong lễ ký dưới cơn mưa tầm tã ở thành phố Ban Mê Thuộc vào ngày 29/8 trước hàng ngàn người Thượng đã in vào đầu óc họ những người mà họ ủng hộ. Hương thắng ở Saigon nhưng rất tệ ở Quân đoàn I và II. Thật ngạc nhiên, ông cũng kém tại vùng châu thổ nơi sinh quán mình, ở đó ông chỉ xếp thứ ba sau Thiệu và Dzu.

Nhiều lý thuyết gia ra sức phân tích nguyên nhân kỳ tích của Dzu. Hầu hết đều in đậm những thiên kiến của mình khi xét thành công của ông. Nhiều người Việt có chức vị cao cho rằng kỳ tích của Dzu là nhờ vào nguồn tài chính của người Pháp bất chính, phong trào phản chiến Mỹ, hay người giơ đầu chịu báng được ưa chuộng, CIA. Khi Bunker hỏi Thiệu lý giải thế nào của về kết quả ngoạn mục của Dzu, Thiệu cho rằng rằng “nhờ các lý do theo đúng nguyên tắc” là “việc cử tri không có lập trường thường bầu chống lại người đang giữ chức vụ, sự đề cao hòa bình vị hòa bình, và nguồn hậu thuẫn tài chính dồi dào y có.” Thiệu viện dẫn đến “các báo cáo cho rằng tiền của Dzu” đến từ nguồn Pháp và Mỹ, “đặc biệt CIA và ‘phần tử bồ câu’ ở Mỹ.” Bunker cực lực bác bỏ việc CIA đóng góp tiền cho Dzu, nhưng nhiều người miền Nam không mấy tin. Trần Văn Đôn viết trong hồi ký của mình rằng “người Mỹ chiêu mộ nhân sự trong chương trình bình định hoá Phượng Hoàng của họ để tìm cách hốt phiếu cho gã luật sư Saigon không tiếng tăm Trương Đình Dzu,” nhưng điều đó hoàn toàn sai lầm. Trong khi người Việt xem vị trí thứ 2 của Dzu như là kết quả của những bàn tay ngoại bang lén lút nhúng vào, thì truyền thông Mỹ theo hướng ngược lại và in ra những câu chuyện nói rằng số phiếu của Dzu chủ yếu là do sự hậu thuẫn giấu mặt của Mặt trận. Sau đó phong trào phản chiến Mỹ lý giải thành tích của Dzu nói lên “nguyện vọng hòa bình” của phần đông dân miền Nam.

Không có suy đoán nào là đúng. Trong khi cả Dzu lẫn Chiêu đều tin rằng họ đã nhận được một lượng nhỏ ủng hộ nào đó từ MTGP, nhưng không ai nghĩ nó đóng góp có ý nghĩa gì cho tổng số phiếu của họ. “Nguyện vọng hoà bình” cũng là một ảo tưởng. Cho dù dân chúng hẳn đã  mệt mỏi vì chiến tranh, học giả Allan Goodman xem xét cuộc bầu cử 1967 và kết luận rằng “độ lớn của một ‘nguyện vọng’ như thế là rất hạn hẹp vì 82 phần trăm số phiếu bầu dành cho các ứng cử viên chỉ đi theo hòa bình như một khẩu hiệu tranh cử chiếu lệ và bày tỏ mối quan ngại sâu sắc rằng một nền hòa bình tuyên bố quá vội vàng hoặc do người Mỹ gây áp lực cho chính quyền phải theo sẽ dẫn đến việc người Cộng sản chiếm lấy đất nước.”

Thay vào đó, thành công của Dzu là kết quả của việc sử dụng lần đầu tiên trong lịch sử các chiến thuật tranh cử hiện đại ở Việt Nam. Một nhà hùng biện tuyệt vời, ông là fan của Dale Carnegie (tác giả nổi tiếng về loại sách học làm người: ND) và từng là giám đốc của Rotary Club khu vực Đông Nam Á trong năm 1961. Ông sử dụng hiệu quả phát thanh và nhất là truyền hình đang bắt đầu phát triển. Không như các ứng cử viên khác, ông tiến hành nhiều cuộc tập họp vận động tranh cử khác nhau để tự giới thiệu mình với dân chúng nông thôn. Ông kiên trì tuyên bố lập trường của mình là kết hợp đòi hòa bình với chỉ trích kịch liệt Thiệu và Kỳ, khiến ông có thể hốt được phiếu của thành phần chống đối chế độ. Chiến dịch tranh cử của ông được tài trợ, phần lớn từ Chiêu, người chung liên danh giàu có của mình.

Ý nghĩa hơn nữa, Dzu tuyên bố rằng ông đã bí mật lập tổ chức vận động tranh cử từ năm 1963, có thể có phần đúng.  Như trong cuộc đảo chính của Nguyễn Khánh, thêm một lần nữa Đại Việt đã lén lút tránh sự dòm ngó của mọi người và âm thầm gây ảnh hưởng đến sự kiện. Tân Đại Việt của Nguyễn Ngọc Huy đã thâm nhập sâu vào bộ máy  hành chính địa phương qua các cuộc bầu cử làng ấp. Họ đã quyết định hậu thuẫn Dzu, và họ hoá ra là nhân tố chủ chốt lấy phiếu cho Dzu. Huy bảo với sứ quán Mỹ là “Tân Đại Việt hậu thuẫn Dzu trong cuộc bầu cử và chắc chắn là yếu tố quan trọng nhất trong bộ máy tranh cử của Dzu.” Huy phát biểu rằng mặc dù Sửu và Hương “đã liên lạc với chúng tôi xin được hậu thuẫn… không ai bàn bạc với chúng tôi về cương lĩnh của mình và chương trình của chính quyền trong trường hợp đắc cử. Ứng viên duy nhất có chương trình hành động chính xác của chính quyền là Dzu.” Tân Đại Việt muốn ủng hộ một người sinh quán miền nam, nhưng vì Hương và Sửu là người đô thị có chức vị cao được Pháp đào tạo đã từ lâu xa rời các giai cấp nông dân và công nhân, TĐV quay sang Dzu vì thuận tiện, chứ không vì sự hòa hợp chính trị.

Mặc dù Huy hớn hở vì Tân Đại Việt lại được dịp nổi lên. Bunker bác bỏ lời tuyên bố của Huy vì không có người nào của ông được bầu vào Thượng viện và chỉ có 12 người vào Hạ viện. Đó là một trong ít lỗi mà Bunker sẽ phạm khi phân tích chính tình miền Nam. Cuộc bầu cử 1967 đánh dấu sự trở lại tiếng tăm của Tân Đại Việt, một chương trình họ đã ấp ủ hai năm. Sau khi hai phe chính Đại Việt đã chia tay vào năm 1964, “Tân Đại Việt đã mở rộng tổ chức đảng và vào năm 1967, nó có mặt trong khắp các tỉnh.” Huy chế giễu những ai cho rằng MTGP đã bầu cho Dzu. Khi họ chỉ vào tỉnh Hậu Nghĩa, nơi Cộng sản kiểm soát hầu hết và cũng là nơi Dzu dẫn đầu số phiếu. Ông vặn lại họ bằng cách lưu ý họ rằng Hậu Nghĩa là “tỉnh sinh quán của Nguyễn Tôn Hoàn, và Tân Đại Việt kiểm soát hầu hết các hội đồng làng ở đó.”

Thượng viện được tổ chức cùng ngày với cuộc bầu cử tổng thống. Giống như cuộc bầu cử quốc hội trước đây, bầu Thượng viện là qua một khối gồm 10 ứng cử viên, một thử nghiệm gần đây nhằm rèn đúc các chính đảng. Chỉ có sáu khối dẫn đầu thắng cử. Với 48 khối cạnh tranh, phần đông đều không có manh mối ai đang tranh cử. Nhóm dễ nhận ra nhất được cựu tướng lĩnh Trần Văn Đôn tổ chức, bắt tay với Đặng Văn Sung và nghiệp đoàn lao động của Trần Quốc Bửu. Đôn nhận được 980,000 phiếu, số phiếu nhiều nhất trong xứ.

Cuộc bầu cử Thượng viện cũng có kết quả gây ngạc nhiên. Phe Công giáo khá thắng lợi trong cuộc bầu cử Thượng viện thắng được bốn khối, nhưng mỗi khối có một số thành viên Phật giáo, nên tổng cộng họ được 30 trong số 60 ghế. Người cầm đầu phe Cộng giáo là một luật sư tên Nguyễn Văn Huyền đứng thứ hai với 630,000 phiếu. Được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của những người cùng đạo, Huyền được bầu làm chủ tịch thượng viện. Một khối Công giáo thắng cử khác do Trần Văn Lắm cầm đầu, một luật sư người nam dễ tính cuối cùng sẽ trở thành ngoại trưởng của Thiệu. Cựu tướng lĩnh và sủng thần của Diệm Huỳnh Văn Cao – mà danh sách 10 người của ông gồm 4 Phật tử, 1 Cao Đài, 1 Hòa Hảo – đứng thứ 4. Mặt trận Đại Đoàn kết cũ của Cha Quỳnh, giờ được một lãnh đạo mới, đứng thứ 5.

.Xếp cuối cùng, chỉ hơn khối Hoà Hảo vài trăm phiếu, là khối Đại Việt Cách của Hà Thúc Kỳ. Nhiều gương mặt chính trị sáng chói đã thành lập khối, bao gồm một khối do Trần Văn Đổ và Trần Văn Tuyên dẫn đầu. Họ thất bại dù được VNQDĐ hậu thuẫn. Ngạc nhiên thay, không có khối nào được Thiệu và Kỳ ửng hộ thắng cử.

Cuộc bầu cử Hạ viện diễn tiến thành công vào ngày 22/10. Các ứng cử viên thắng cử thuộc các tầng lớp khác nhau của miền Nam nhưng phần lớn là cư dân đô thị. Một vài Phật tử đấu tranh thắng cử, như cựu Tỉnh trưởng Kiến Hòa Trần Ngọc Châu. Một ngôi sao chính trị đang lên là Lý Quý Chung, đã là dân biểu của quốc hội cũ. Trong khi số người đi bầu ít hơn so với lần trước, nhưng số cử tri cũng khá ấn tượng.

Cuộc bầu cử 1967 cho thấy hai khuynh hướng chính. Thứ nhất, sự chia rẽ từ lâu quấy rối xã hội miền Nam đang dần dần mất ảnh hưởng. Không có nhóm vùng miền, tôn giáo, và sắc tộc thuần túy nào ứng cử chung một khối hay một liên danh, mọi người đều chia sẽ phiếu trong số các ứng cử viên tổng thống khác nhau. Khác với Tân Đại Việt đang nổi lên lại, các chính đảng cũ cho thấy mình đang rơi rụng. Chủ nghĩa vùng miền tiếp tục đóng một vai trò có ý nghĩa, nhưng tính chia rẽ sâu sắc của nó đang tan biến. Về mặt xã hội, khái niệm về quyền kiểm soát chính trị từ trên xuống – quan lại, quân sự, hoặc tầng lớp khác – bị hủy bỏ hoàn toàn. Các chỉ trích thường nghiêm khắc giữa các ứng cử viên với nhau đã phá vỡ vầng hào quang của giai cấp cai trị trước đây không thể đụng chạm đến được, trả lại cho quá khứ hình ảnh của vị thống đốc quan lại đức hạnh. Người nông dân, vốn trước đây đứng ngoài chính trị, giờ ít nhất mơ hồ hiểu được rằng quyền lãnh đạo chính trị có công của họ.

Thứ hai, cuộc bầu cử phơi bày đầy đủ sự bất khả của một bản sắc nhóm muốn đạt được sự đồng thuận của quốc gia. Những phe phái như Phật tử đấu tranh hoặc Công giáo quá khích  đã tàn rụi thành những phe nhóm đối kháng đơn- vấn đề mà ảnh hưởng của nó đã biến mất. Các ứng cử viên như Hương cũng không thể chỉ biết dựa vào tiếng tăm của mình mà chiếm được đa số. Để chiếm một điều gì đó gần như đa số hay thu hút được quần chúng rộng rãi, các ứng cử viên tương lai cần phải vượt lên các nhãn hiệu tôn giáo hoặc vùng miền. Chìa khóa cho các thắng lợi tranh cử tương lai sẽ là bắt tay nhau trong một liên minh từ những nhóm lợi ích khác nhau. Vì vậy, cuộc bầu cử đã giết chết sự nghiệp của các nhân vật chính trị đã thành danh từ lâu như Phan Khắc Sửu. Tuy ông vẫn còn chút ánh hưởng với Thiệu như một nhà lão thành đáng kính, ông giờ chỉ đại diện cho một dòng dõi đang hấp hối, một quan lại theo nho học được đào tạo để cai trị. Cuộc bầu cử là tiếng hoan hô cuối cùng cho Sửu. Vào ngày 24/5/1970, ông qua đời vì căn bệnh ung thư. Tổng thống Thiệu thưởng ông Đệ Nhất Bảo Quốc Huân chương, vinh dự lớn nhất của một công dân ở miền Nam.

Còn nữa, mặc dù có những khuynh hướng mới xuất hiện này, đường hướng dân chủ miền Nam vẫn còn phôi thai. Đa phần những cử tri lạnh nhạt về lãnh vực chính trị và còn mất lòng tin vào người có quyền hành như xưa nay. Tệ hơn, trong thời gian chiến dịch vận động 1 tháng, các ứng cử viên dân sự lúc nào cũng ra rả bới móc nạn tham nhũng và tệ quan liêu nhưng ít ai đưa ra những chương trình thực tiễn nhằm chữa trị các căn bênh này. Trong khi tranh luận công khai được tự do nhất hơn bất kỳ giai đoạn lịch sử nào ở Việt Nam, nó lại không đưa ra được một đối thoại có ý nghĩa về những vấn đề sống còn mà đất nước đang đối diện. Chỉ có hoà bình là được bàn luận tương đối có chiều sâu, nhưng chính xác bằng cách nào có thể dẫn dụ Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán với Saigon vẫn còn tiếp tục mù mờ.

HOÀN TẤT BẦU CỬ

Dù có một nhóm những quan sát viên nổi tiếng cũng như các phóng viên từ khắp nơi trên thế giới kết luận rằng cuộc bầu cử diễn ra công bình và trong sạch, các ứng viên lập tức  khiếu nại về những bất thường và gian lận. Trong số người lớn tiếng nhất là Dzu. Ông tuyên bố rằng chính quyền đã cướp đi thắng lợi của ông trong một số địa phương bằng cách in những phiếu bầu có mang biểu tượng ông nhưng lại in hình Sửu và Đán. Dzu và những ứng cử viên khác gửi kháng cáo đến Hội đồng Bầu cử Trung ương, một cơ quan độc lập quy định bởi luật bầu cử tổng thống. Nhiệm vụ của Hội đồng là thẩm tra các khiếu nại và báo cáo kết quả đến Uỷ ban Bầu cử Đặc biệt của quốc hội. Hội đồng duyệt xét hơn 30 khiếu nại đặc biệt, nhưng họ báo cáo đến ủy ban của Quốc hội vào ngày 21/9 rằng không thể hợp thực hóa bất kỳ khiếu nại nào. Uỷ ban Bầu cử xem xét lại báo cáo của hội đồng cũng như tổng số phiếu bầu. Dù có sự phân tích của hội đồng, vào ngày 30/9, Ủy ban Bầu cử bỏ phiếu 16-2 đề nghị Quốc hội vô hiệu hóa kết quả bầu cử. Việc bầu biểu quyết của Uỷ ban Đặc biệt không phải về sự gian dối trong bầu cử mà là một trò chơi quyền lực của một số dân biểu trong quốc hội. Người xúi giục chính là lãnh tụ Hoà Hảo Lê Phước Sang, một người hậu thuẫn thân cận của Kỳ và là một tiếng nói hàng đầu trong quốc hội. Khối Hòa Hảo của Sang thất cử vì chỉ kém khối ứng cử Thượng viện về cuối cùng vài trăm phiếu. Bực bội, Sang và một vài người khác đã nhắm đến Kỳ và yêu cầu vô hiệu hóa kết quả bầu cử, nhờ đó sẽ buộc bầu cử lại và cho phép Kỳ ra tranh cử một mình. Kỳ ngay lập tức dập tắt đề nghị đó. Không thuyết phục được Kỳ, Sang quay đến Thiệu. Cái giá cho sự nhìn nhận của Sang là một chức tổng trưởng và mỗi thành viên trong khối của Sang nhận được 300,000 đồng. Thiệu từ khước, và cùng Kỳ bắt đầu thuyết phục các đại biểu chấp thuận kết quả bầu cử. Kỳ bảo Bunker rằng “có nhiều cách để gây sức ép, và họ sẽ sử dụng chúng kể cả dùng tiền, mà không may đó lại là phần cốt yếu nhất.”

Việc mưu tính trong bầu cử của Sang không phải không có ai hay biết. Vào ngày 28/9, ngay trước kỳ bỏ phiếu hợp thức hóa của ủy ban, Trung tướng Lê Nguyên Khang theo như được biết “kéo Kỳ qua một bên và bảo riêng với ông ta rằng ông không biết liệu Kỳ có cho phép vụ khủng hoảng hợp thức hóa phát triển vì lợi ích chính trị của riêng mình hay không, nhưng nếu có thì … ông ta sẽ đánh mất sự hậu thuẫn của lực lượng vũ trang. Kỳ giận dữ bác bỏ việc mình tạo ra khủng hoảng vì lợi ích chính trị của riêng mình. Khang mới nói rằng mình tin tưởng Kỳ nhưng phe quân sự sẽ không tha thứ một hành động như thế.” Thật đáng ca ngợi, Kỳ kềm chế hành động chơi khăm chính trị để giữ cho cuộc bầu cử được trong sạch.

Quốc hội thảo luận về báo cáo của ủy ban, và mặc dù có sức ép của Thiệu và Kỳ, kết quả vẫn chưa dứt khoát. Những cáo buộc gian lận bầu cử của Dzu cũng làm bùng phát cuộc biểu tình của hàng trăm sinh viên, chỉ làm ách tắc giao thông không hơn không kém. Tuy nhiên, vào ngày 30/9, căng thẳng leo thang sau khi họ xông vào tòa nhà quốc hội và đập vỡ một số đồ đạc. Cảnh sát tóm được 40 sinh viên, thẩm tra lý lịch, và nhanh chóng đưa 17 tên trốn quân dịch vào trại lính. Vào ngày 1/10, Chuẩn tướng Loan cho cảnh sát bao quanh trụ sở Quốc hội để ngăn cản không cho sinh viên biểu tình xông vào trụ sở.

Không may, hành động này được xem là rắp tâm hù dọa quốc hội, nhất là ngài Loan kè kè khẩu súng lục xuất hiện ở hành lang tiếp khách, tay lắc lư lon bia và gác chân lên hàng rào. Kỳ đã phái Loan ứng trực trong nhà quốc hội để bảo đảm phe Sang không hành động gây rối, nhưng các giới truyền thông, không hay biết về các toan tính xấu xa của Sang, viết rằng sự hiện diện vênh váo của Loan là sự răn đe trắng trợn của phe quân sự nhằm cưỡng bách quốc hội hợp pháp hóa cuộc bầu cử gian lận. Dù không phải vậy, nhưng tiếng tăm côn đồ của Loan không giúp lý giải cách nào khác được. Cuối cùng, sau vài ngày tranh luận và dắm dúi tiền cửa hậu, quốc hội bầu 58 chống 32 hợp pháp hóa cuộc bầu cử. Miền Nam đã có chính quyền dân cử đại diện, chủ yếu bởi vì hai nhà lãnh đạo một lần nữa lèo lái đất nước tiến đến nền dân chủ.

Sau bầu cử, toà án tiếp tục xử vụ án chống Dzu đã hoãn lại vì bầu cử. Toà xét Dzu có tội chuyển tiền bất hợp pháp bằng cách sở hữu tài khoản không được ủy quyền tại ngân hàng Bank of America ở San Francisco và kết án ông 6 đến 9 tháng tù. Mặc dù Dzu được tại ngoại vi chống án, ông có vẻ như sẽ tiến thẳng vào tù. Nhiều người lên án Thiệu đã bức hại “ứng cử viên đòi hoà bình”.

Cơn thịnh nộ hậu bầu cử nhận được một cú nổi dậy khi các Phật tử Ấn Quang quyết định tiếp tay cho trận xung đột. Thích Trí Quang, vẫn còn căm tức về vụ hiến chương của Giáo hội Phật giáo Thống nhất bị xét lại mà Thiệu đã ký, kêu gọi gần 1,000 tăng ni đến Dinh Độc Lập vào cuối tháng 9 để đòi chính quyền hủy bỏ hiến chương mới. Khi họ dựng lên một chỗ biểu tình ngồi suốt đêm trong một công viên bên kia đường, Thiệu ra lệnh cho cảnh sát giăng dây quanh khu vực nhưng để yên các tăng ni. Sau đó Thiệu phái sứ giả đến nói chuyện với Tâm Châu lẫn Trí Quang và yêu cầu họ tự giải quyết vấn đề với nhau. Trí Quang cự tuyệt và gọi Châu là “tên phản bội.”

Thiệu khéo léo bảo với báo chí đây là vấn đề tôn giáo, không phải chính trị, nhưng ông muốn bàn bạc với họ. Ông cũng tinh tế vận động cửa sau, chủ yếu gây sức ép với quốc hội chấp thuận cho các ứng cử viên phe Ấn Quang tham gia Hạ viện mà trước đây quốc hội đã bác đơn ứng cử vào Thượng viện của họ. Bị dân chúng phớt lờ, trong hai tuần, số người chống đối giảm xuống không tới 100. Sự kềm chế của Thiệu đã dập tắt nỗ lực của Trí Quang nhằm biến một cuộc biểu tình nhỏ thành một cuộc biểu tình rầm rộ chống chính quyền. Thay vào đó, ông hứa rằng nếu Trí Quang từ bỏ chống đối, Thiệu sẽ xét lại hiến chương. Vào ngày 10/10, nhà sư nóng nảy rời bỏ chỗ ngồi biểu tình và trở về Chùa Ấn Quang. Không lâu sau đó, Tâm Châu phát đi một tuyên bố hiến chương sẽ treo lại cho đến khi một hiến chương mới có thể được ban hành. Thiệu đã khéo léo duy trì một tình thế nóng bỏng không cho leo thang và đã chứng minh rằng một Trí Quang từng lừng lẫy giờ chỉ là một lực lượng đang tàn rụi. Ông sẽ không bao giờ xuất hiện một lần nữa trên đường phố.

THIỆU HÀNH ĐỘNG THẬN TRỌNG

Dù nhiều vấn đề nghiêm trọng đang đối mặt với đất nước, Thiệu quyết định hoãn việc thông báo những chương trình của mình cho đến sau khi quốc hội hợp pháp hóa cuộc bầu cử. Xét thời gian đinh hoàn hai tháng giữa cuộc bầu cử và lễ nhậm chức vào ngày 31/10, việc chưa có chính sách mới tạo ra ấn tượng rằng chính quyền đang trôi giạt. Giống như phản ứng đối với sự khởi đầu rề rà của Dương Văn Minh trước đây vào tháng 11 1963, người Mỹ và nhiều người Việt có đầu óc chính trị bắt đầu bới móc về tiến độ rùa bò của Thiệu, một nhận thức dựa vào cá tính của ông và đối chiếu với tính năng nổ của Kỳ.

Thiệu từ từ hành động vì hai lý do chủ yếu. Thứ nhất, ông vẫn còn căng thẳng vì những ràng buộc Hội đồng Quân sự áp đặt lên mình. Thứ hai, ông đang ra sức thành lập nội các. Sự lựa chọn quan trọng nhất là chọn thủ tướng, một vị trí chịu trách nhiệm cầm cân các hoạt động hành chính thường nhật của chính quyền. Theo giao ước bí mật cho phép Thiệu ra tranh cử, Kỳ sẽ chọn thủ tướng. Kỳ đã hứa giao việc ấy cho Nguyễn Văn Lộc. Lộc sinh ngày 24/8/1922, trong một gia đình giàu có ở Tỉnh Vĩnh Long vùng châu thổ. Từ năm 1945 đến 1947 ông phục vụ cho Việt Minh, tại đó ông làm chủ biên cho hai tờ báo. Ông trở lại Saigon vào năm 1947, xuất bản vài cuốn sách, rồi sang Pháp học luật. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1954, ông trở về Saigon và lặng lẽ hành nghề luật. Một người Cao Đài, ông ít có mối dây chính trị nào khác hơn là thân cận với Kỳ.

Trong khi Kỳ chọn Lộc, quyết định lại phức tạp hơn, phản ánh những vấn đề nhiêu khê về cá nhân và nghề nghiệp trong số những chính trị gia hàng đầu. Ở Saigon, các lựa chọn nhân sự thường gặp những đụng chạm dài dòng trước khi đạt được đồng thuận, khiến việc ra quyết định rất thư thả ung dung, một đặc điểm của chính trị miền Nam. Mặc dù Kỳ đã đề nghị Lộc, sau cuộc bầu cử ông ở trong một vị trí ít đối kháng hơn nên muốn Thiệu ra quyết định. Tuy vậy Thiệu vẫn muốn xoa dịu Kỳ. Theo ông, do tự ái và uy tín cá nhân, Kỳ đã tỏ ý rất muốn Thiệu  bổ nhiệm Lộc làm thủ tướng và tỏ ý nếu ông ta không làm vừa lòng sau ba đến sáu tháng thì tất nhiên Thiệu có thể thay thế ông ta. Thiệu nói rằng các tướng lĩnh cũng muốn ông hãy cân nhắc cảm nghĩ của Kỳ trong vấn đề này. Thiệu biết rằng Kỳ cay cú vì bị đẩy xuống vị trí thứ 2 nên nhượng bộ ông ta về vấn đề bổ nhiệm Lộc có thể làm ông ta nguôi ngoai. Thiệu cũng nói giữ mối quan hệ thân tình với Kỳ là điều trọng yếu. Tuy Thiệu nghĩ Lộc là người tốt,  ông không tin ông ta là một lựa chọn tốt. Nhiều đình hoãn trong việc chính thức bổ nhiệm Lộc xuất phát từ việc Thiệu đi tìm một người thay thế mà Kỳ chấp nhận. Trước tiên Thiệu đã mời Trần Văn Hương, hy vọng mang một nhân vật dân sự vào chính quyền có thể cân bằng phe quân sự, nhưng Hương thoái thác, viện lý do sức khỏe. Nhưng lý do thực sự là vì Hương không ưa Kỳ và đàn em của Kỳ, nhất là Loan. Những phát ngôn thiếu kềm chế trong thời gian tranh cử đã làm tổn thương vị giáo già kiêu hãnh, nhưng quan trọng hơn, ông cho rằng đám người dưới quyền Kỳ phần lớn đều thối nát. Sau Hương, Thiệu xét đến Nguyễn Lưu Viên, chú của Nguyễn Khánh, một người miền nam đáng kính, và Trần Văn Đổ. Không ai được Kỳ đồng ý. Ông còn giận vụ Nguyễn Lưu Viên lật lọng trong cuộc khủng hoảng nội các tháng 10 1966, và vị phó tổng thống mới còn bực bội việc Đổ hậu thuẫn Thiệu hơn mình. Lúng túng, vào ngày 30/9, Thiệu báo tin cho Bunker mình đã chọn Lộc.

Những tin báo về việc Thiệu đã chọn Lộc gây ra các bàn tán gièm pha trong đám tùy từng của Thiệu. Nỗi bất mãn bất ngờ khiến ông xem xét lại lựa chọn của mình, khiến cho sự việc càng hoãn lại lâu hơn.

Rủi thay, Thiệu càng trù trừ khi chọn thủ tướng, thì vị thủ tướng càng gút lại nội các của mình lâu hơn, gây trở ngại cho việc hoạch định các chương trình mới của chính quyền. Hơn nữa, Thiệu muốn dứt điểm với quá khứ gần đây và bổ nhiệm những thành viên nội các “trên cơ sở trong sạch và năng lực hơn là có liên minh tôn giáo và chính trị.” Thiệu và Kỳ tin rằng bổ nhiệm các tổng trưởng thỏa cân bằng vùng miền, tôn giáo, và đảng phái đã thất bại bởi vì người được bố nhiệm chỉ làm việc “cho quyền lợi của tổ chức mình hơn là vì đất nước.” Nhưng tìm kiếm con người có thiện chí làm việc “vì lợi ích của đất nước trước hết” tốn rất nhiều thời gian.

Vào giữa tháng 10, anh của Thiệu Nguyễn Văn Kiểu, người có vai trò móc nối cho Thiệu với các nhóm lợi ích miền Nam, ghi nhận rằng việc chọn thủ tướng mới vẫn còn làm đau đầu tổng thống mới. Vì tin đã rỉ ra ngoài cho Lộc là người đang dẫn đầu, “đủ mọi hạng người đều khuyên Thiệu đừng bổ nhiệm Lộc, hầu hết đều do nguồn tin được biết nhiều là bà xã Lộc thối nát.” Các hoạt động bất hợp pháp của bà đã thu hút sự cảnh giác từ Trần Văn Hương và “thậm chí Trí Quang, và Thiệu đang hoãn lại quyết định lựa chọn của mình.” Dù vậy, vào cuối tháng 10, Thiệu cuối cùng cũng bổ nhiệm Lộc làm thủ tướng.

Trong thời gian chờ đợi kéo dài đó, Kỳ rất bực bội, nóng lòng muốn thực hiện chương trình của chính quyền. Ngay sau bầu cử, Kỳ phàn nàn với Bunker là Thiệu quá rề rà. Khi bị đại sứ hỏi ông về vai trò tương lai của mình trong chính quyền, Kỳ đáp rằng mình chưa bàn với Thiệu và rằng “Thiệu phải quyết định những vấn đề này” nhưng “sáu tháng đầu tiên có tính quyết định và nếu không đạt được tiến bộ, thể nào cũng có rắc rối… Kỳ phàn nàn mình không thể bắt Thiệu triển khai những vấn đề cấp thiết … Kỳ cho biết một số lãnh đạo thối chí và ông đề cập đến Tướng Thắng đang có cảm giác mình không được Thiệu hậu thuẫn. Kỳ bảo mình đã bỏ ra trọn ngày hôm qua để thuyết phục Thắng không nên từ nhiệm. Một tháng sau, nỗi bức xúc của Kỳ đã tăng lên. Vào ngày 19/10, Kỳ “biểu lộ một cảm xúc mạnh mẽ vì sự chậm quyết định của Thiệu và bắt đầu hành động.” Kỳ muốn ngày lập tức phát động những chương trình cách tân vì “dân chúng đang đói khát các dấu hiệu của một điều gì đó khác biệt và tốt đẹp hơn đem đến hy vọng cho tương lai” . Kỳ cũng tìm cách xoa dịu các mối ngờ vực của Thiệu về mình bằng cách bảo với ông ta là mình “không nhất thiết phải có người của mình làm thủ tướng nhưng chỉ muốn người nào đó có thể gánh vác trọng trách một cách năng nổ.”

Là một tổng thống được bầu ra, Thiệu đối mặt với một thế giới mới đầy thách thức. Không còn nắm quyền lực tuyệt đối, ông đang học cách vận dụng quyền hành đã giảm thiểu bên trong bộ khung của một hiến pháp ràng buộc, một cấu trúc bắt buộc ông, như mọi lãnh tụ dân chủ khác, phải thoả thuận và hoà giải. Ông sẽ đối mặt với một quốc hội ương ngạnh và chẳng bao lâu một Tối cao Pháp viện được trang bị hợp pháp để kiềm chế những hành động của ông. Việc kiềm chế quyền lực ông là điều mới mẻ đối với ông và đối với miền Nam. Hơn nữa, ông còn đối đầu với những cơn lốc chính trị hung hãn. Tình trạng tranh chấp ngấm ngầm giữa ông và Kỳ cũng trói tay cho các tiến bộ chính quyền, trong khi các tư lệnh quân đoàn và Hội đồng Quân sự còn chưa muốn buông bỏ đặc quyền của mình. Người Mỹ đang thúc ép Thiệu trên nhiều mặt trận, từ việc mở rộng chính quyền đến việc đẩy nhanh tốc độ bình định hoá và cải tiến quân đội. Để sống còn, ông phải tìm ra cách khiến mọi thứ đều hoạt động, một mệnh lệnh cao cả cho bất kỳ nhà lãnh đạo nào. Còn nữa, Kỳ đúng khi cho rằng thời gian đang trôi qua. Cuộc thử nghiệm của nền dân chủ còn non trẻ của miền Nam sắp sửa bắt đầu.

SỰ TRỖI DẬY CỦA ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA

Nền Đê Nhị Cộng Hòa chính thức ra đời vào ngày 31/10/1967. Sau lễ nhậm chức, trước các quan khách cao cấp của hơn một tá quốc gia và các ống kính truyền hình nhìn trừng trừng, Thiệu nói về các kế hoạch của mình và niềm hy vọng cho quốc gia. Ông đưa ra lời đề nghị thương thuyết hòa bình trực tiếp với miền Bắc, và ông cảm tạ các nước đồng minh đã hỗ trợ cho đất nước bị sâu xé vì chiến tranh của ông. Rồi ông thẳng thắn nói với dân chúng rằng, để đánh thắng cuộc chiến, họ sẽ phải thực hành sống kham khổ và gánh vác trách nhiệm nặng nề hơn. Ông mong họ hỗ trợ mình trong việc xây dựng đất nước, và ông bảo đảm với họ rằng mình sẽ “bảo vệ tổ quốc, tuân thủ hiến pháp, phục vụ lợi ích của quốc gia và nhân dân và sẽ làm hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ” của một vị tổng thống. Nhắc lại vụ đảo chính 1963, ông nhận thức được rằng kể từ “cuộc cách mạng Diệm … đất nước đã trải qua vô vàn khó khăn, ” nhưng ông hứa ông sẽ xây dựng nền dân chủ, vãn hồi hòa bình, và cải thiện xã hội. Kết luận, ông cam kết cống hiến hết sức mình cho đất nước mà ông yêu quý: “Từ giây phút tôi tuyên thệ nhậm chức, tôi đã thuộc về các bạn.”

Nội các của Lộc chỉ có 3 sĩ quan quân đội, số thấp nhất kể từ Diệm. Sứ quán Mỹ muốn có nhiều lãnh tụ phe chống đối hơn nhằm mở rộng nền tảng của chính quyền, nhưng mặc dù Thiệu giang rộng vòng tay, tất cả đều từ chối. Vài tổng trưởng đương nhiệm vẫn ở lại, trong đó có Ngoại trưởng Trần Văn Đổ. Dù Thiệu không thích Loan, ông vẫn giữ lại Loan làm tổng giám đốc cảnh sát để làm vừa lòng Kỳ. Vào ngày 17/11, Lộc thông báo các chương trình của chính quyền. Bài diễn văn của ông công kích đủ cơn bệnh của xã hội và chính quyền, nhưng ông đưa ra ít giải pháp đặc sắc nhằm giải quyết hàng đống vấn đề mà đất nước đang đối mặt. Dù bài diễn văn của Lộc nói toàn chuyện đúng, nhưng các thính giả ngoại quốc và Việt Nam hoài nghi sẽ phán xét Saigon bằng những hành động thực tiễn hơn là những lời hoa mỹ. Hệ thống chính trị Hoa Kỳ trông đợi 100 ngày đầu tiên của một vị tổng thống mới đương nhiệm sẽ là thời kỳ phát động các chính sách mới, một sự chuyển đổi hứng thú từ trật tự cũ. Nhiều người mong đợi Thiệu bắt chước như thế, nhưng bước đi nặng nề của Thiệu tiếp tục là do một sự phối hợp ngạt thở của sự thiếu kinh nghiệm của Lộc, quốc hội mới, và bất mãn trong Hội đồng Quân sự. Hoàn toàn không quen với vai trò chính quyền lớn lao như thế, vị tân thủ tướng mò mẫm tiến về phia trước. Cơ quan lập pháp cũng bắt đầu từ số không. Nó phải chọn người lãnh đạo, soạn ra những dự luật quản trị, và thành lập các ủy ban khác nhau trong khi thăm dò nhau để thành lập các khối chính trị thân chính quyền hoặc chống Thiệu. Tiến trình này sẽ mất vài tháng và không còn thời gian cho cơ quan lập pháp giải quyết những đề mục quan trọng như biểu quyết chi ngân sách cho năm 1968.

Các tướng lĩnh cũng cho Thiệu tạm nghỉ. Mặc dù họ đã tự ra khỏi việc điều hành hàng ngày của đất nước, Hội đồng Quân sự vẫn còn tập trung vào việc duyệt xét và tán thành các chính sách của Thiệu. Chẳng hạn, hội đồng và Thiệu có những quan điểm khác nhau về thương thuyết hòa bình. Việc đưa ra lời kêu gọi đàm phán hòa bình với Hồ Chí Minh, cùng với số phiếu “hòa bình” choáng váng của Dzu, đã làm lung lay phe cứng rắn. Ý kiến của họ không hề thay đổi: nếu Hà Nội muốn hòa bình, bất kỳ tên Cộng sản nào cũng có thể ra Bắc sống, để miền Nam cho người Quốc gia. Cuộc tranh chấp nội bộ cũng đã phát triển trong số các tướng lĩnh cao cấp. Dù có những nỗ lực của Kỳ thuyết phục Tổng trưởng PTNT Thắng ở lại, nhưng Thắng muốn ra ngoài. Sự bất đồng giữa Thắng và Thiệu vẫn còn nóng, và khi ông đòi tổng thống đuổi cổ Vĩnh Lộc và Nguyễn Văn Mạnh vì thối nát và thiếu năng lực, thì Thiệu từ chối. Cả hai tư lệnh quân đoàn đã từng hậu thuẫn Thiệu vào cuối tháng 6, và ông không dự định loại ra một ít người ủng hộ mình trong Hội đồng Quân sự.

Kết quả là vào ngày 2/10, Thắng được giao cầm đầu lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân. Một sự tái tổ chức QĐVNCH được đề nghị cũng làm hội đồng lung lay. Thiệu muốn thủ tướng sẽ bổ nhiệm các tỉnh trưởng thay cho các tư lệnh quân đoàn. Họ tranh đấu chống lại sự thay đổi vì nó trực tiếp đe dọa đến cơ sở quyền lực của mình. Cho dù không ai hăm he đảo chính, sự bất mãn của phe quân sự buộc Thiệu phải bước đi tế nhị.

Người Mỹ cũng ép buộc Thiệu hành động. Bunker đổ tràn đầy cho Thiệu những đề xuất khác nhau về cách thức chỉnh sửa những khó khăn của đất nước. Biết được Tổng thống Johnson đang chịu một sức ép khổng lồ, Bunker khẩn khoản Thiệu hãy hành động nhanh hơn, cố gắng thúc đẩy ông bằng cách nói rằng mình “cảm thấy một không khí phấn khởi hy vọng trong dân chúng.” Bunker kể một phát biểu gần đây của Phan Quang Đán rằng “đây là thời khắc cho sự lãnh đạo táo bạo” và rằng “ít có người Quốc gia thực sự nào chống đối ông.” Thiệu đáp lại rằng ông dự định phác họa những hành động của chính quyền trong một bài diễn văn đọc trước quốc hội vào đầu tháng giêng. Đúng hay sai, Thiệu cũng đang mày mò đường lối của mình trong một thế giới mới, và bản chất thận trọng, luôn theo sách vở của mình đã ngăn cản ông vượt ra khỏi lệ thường.

Nỗ lực binh định hoá của chính quyền là một ví dụ chủ yếu. Trước khi ông rời Bộ PTNT, Thắng soạn kế hoạch bình định năm 1968 và ký lùi ngày đến 1/9 để quốc hội mới không thể điều chỉnh nó. Trong khi nhìn nhận rằng một lần nữa PTNT lại khởi đầu chậm chạp, ông còn hy vọng sẽ hoàn tất mọi mục tiêu của năm 1967.  Quan niệm hội đồng ấp-PTNT phối hợp đã có một số tiến bộ vững chắc, nhưng nhiều điểm yếu vẫn còn tồn tại. Một số viên chức địa phương vẫn còn sử dụng đội PTNT sai mục đích, các đơn vị QLVNCH đã không luôn luôn bảo đảm đủ an ninh và nạn tham ô vẫn lan tràn như bệnh dịch. Kế hoạch cho năm 1968 không khác nhiều so với năm 1967: cải thiện các ấp an ninh trong khi dần dần mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền đến những ấp chưa an ninh. Trong khi các đội PTNT đang có tiến bộ, thì cũng không ít đội yếu kém và thiếu hăng hái, chủ yếu vì công việc kham khổ và thương vong cao. Trong năm 1967, 720 đội viên bị sát hại và 1,312 người khác bị thương. Trong khi La Mã không bốc cháy khi Thiệu chơi đàn (trích giai thoại bạo chúa Nero vẫn điềm nhiên chơi đàn khi La Mã đang bị hoả hoãn hoành hành: ND), Johnson, đang chống chọi với những cuộc biểu tình phản chiến rầm rộ mà đỉnh cao là cuộc tuần hành 100,000 người đến Ngũ Giác Đài vào ngày 21/10/1967, cần hành động gấp rút. Một trong những cố vấn chủ chốt của Johnson diễn tả câu hỏi hóc búa của Hoa Kỳ như sau: Liệu con rùa tiến bộ của Việt Nam có đến mức trước con thỏ bất mãn ở trong nước hay không?” Vào giữa tháng giêng 1968, chủ soái bình định hoá Robert Komer phát biểu rằng chính quyền miền Nam “đơn giản là đang ngưng hoạt động tại thời điểm này. Các bộ khác nhau đã không phát động những chương trình mới  mà Thiệu đã đề cập trong diễn văn nhậm chức.” Komer còn nóng như lửa đốt hơn nữa, khi Thiệu giờ quyết định đợi sau kỳ lễ Tết năm mới sẽ bắt đầu khởi động. Nhưng dưới sức ép của Mỹ, Thiệu cuối cùng giải thích với một sĩ quan Mỹ cao cấp những lý do chính cho bước tiến chậm chạp của mình. Ông vạch ra mối xung đột với ba nhóm quyền lực chính: quốc hội, các tướng lĩnh cao cấp, và người Mỹ. Nguy hiểm nhất là các tướng lĩnh. Sợ họ sẽ phản thùng, “cách tiếp cận của ông tất nhiên là phải tiến … rất chậm và do đó dần dần làm giảm quyền lực của phe quân sự … Và điều này góp lại tạo thành sự vắng mặt của hành động tiến lên. Komer xem điều này là không thể tha thứ được, xét khối lượng đầu tư của Hoa Kỳ bằng máu, đô-la, và công sức.”

Khi Bunker vẫn còn gây sức ép cho vị tổng thống mới, Thiệu bực tức cuối cùng phải giải thích quan điểm của mình cho vị đại sứ Mỹ. “Người Mỹ, ông nói, “phải hiểu rằng công việc quản trị của mình dựa trên luật lệ.” Trước đây ông chỉ ký vào một sắc luật là xong, nhung bây giờ phải tham khảo Quốc hội. ” Ngày của quyền cai trị lãnh chúa đã qua rồi. Ông nhận thức được rằng, là tổng thống đầu tiên của đất nước mình, ông mang một trọng trách mất nhiều thời gian là thiết lập ‘luật lệ’. Ông cảm thấy rằng không phải là vô lý khi chính quyền cần ít thời gian để tự tổ chức, thiết lập các mối quan hệ, và phát triển một chương trình.” Bunker lưu ý rằng Thiệu “rõ ràng hiểu rõ, nhưng không hoàn toàn chấp nhận, mong muốn của Mỹ hiện thời là phải đẩy nhanh tốc độ cải cách.

Thiệu nói đúng về tình trạng làm việc trong môi trường chính trị  mới. Vào ngày 24/10, khi ông ký sắc lệnh động viên từng phần để mở rộng QLVNCH mà Bunker đã thúc ép ông ký, cơ quan lập pháp mới ngay lập tức kết án nó là vi hiến vì nó được chấp thuận trước khi các dân biểu chưa được tuyên thệ nhậm chức để có thể duyệt xét nó. Sắc lệnh nới rộng tuổi đi quân dịch từ 20 giảm còn 18. Hạ viện triệu tập Tổng trưởng Quốc phòng mới nhậm chức Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ, viên sĩ quan mà Đôn đã mang về từ chốn lưu vong vào cuối năm 1963 và là một người tin cẩn của Kỳ, để trình bày về sắc luật mới. Vỹ xuất hiện vào ngày 18/12, đánh dấu lần đầu tiên một viên chức chính quyền xuất hiện để trả lời trước cơ quan lập pháp. Dù được Vỹ trình bày, Hạ viện, vốn nhạy cảm với sức ép lập hiến, bác sắc luật cho đến khi nó tu chính đạo luật.

Về kinh tế, Nguyễn Hữu Hanh tượng đối thành công trong việc quản lý thị trường, nhưng như dự đoán, lạm phát trong năm 1967 đã cho thấy là không thể trị được. Giá lương thực đã tăng vọt 30 phần trăm nữa. May thay, nạn thất nghiệp vẫn còn thấp, và giá gạo cao hơn giúp nông dân  bắt đầu làm ruộng có lời. Nhờ đó ở vùng đồng bằng Cửu Long các nông dân nghèo cũng có thể mua sắm máy bơm nhỏ để dẫn nước vào ruộng, trong khi đó một trăm máy cày Nhật nhập khẩu để cày ruộng lúa bán hết gần như ngay lập tức. Các hải quân Mỹ và Việt đã bắt đầu càn quét khắp đường thủy ở vùng châu thổ bị ngăn cấm, nhưng qua lại trên Quốc lộ 4, con đường lưu thông huyết mạch từ miền tây lên Saigon, vẫn còn mất an ninh. Trong khi các cuộc hành quân đã xóa bỏ được nạn đắp ụ của Cộng quân, xe tải chở gạo và lương thực khác về thủ đô vẫn còn bị ách tắc vì mìn và bắn tỉa.

Chương trình gia tăng nhập khẩu đã thành công trong việc hấp thụ lượng tiền mặt dư thừa, nhưng chỉ một mình đòn bẩy này không đủ làm êm lạm phát. Tệ hơn, vào cuối năm 1967, “kinh tế miền Nam ngày càng lệ thuộc vào viện trợ nước ngoài.” Xuất khẩu đã giảm sâu, và “giá trị hàng nhập khẩu đã leo lên mức cao nhất kể từ năm 1955”. Chương trình ổn định kinh tế năm 1966 đã giúp kiềm chế được lạm phát, nhưng ngược lại “không thể làm sản xuất gia tăng một cách hiệu quả.” Những chiều hướng này không bền vững. Chính quyền miền Nam đang in thêm giấy bạc để cân đối ngân sách, đến lượt lại làm trầm trọng thêm lạm phát. Washington nhiều lần thúc ép chính quyền tăng thuế, nhưng Thiệu muốn tránh né sợ lại gây ra nỗi bất mãn to lớn nữa như vụ hạ giá đồng bạc năm 1966. Bunker đề xuất tăng lương cho công chức để giúp kiểm chế nạn tham nhũng và tăng thuế vào sản phẩm dầu để làm giảm thâm hụt ngân sách đang lớn dần. Thiệu cũng thoái thác, cho rằng như vậy ông sẽ  khó được dân chúng ủng hộ vì trong khi đòi hỏi nhân dân thắt lưng buộc bụng lại tăng lương cho công chức của mình .

Về mặt xã hội, có lẽ nhờ bầu cử đã cho người Việt một ý thức mới về nhà nước, nên báo chí trong nước bắt đầu lên tiếng những tình cảm chống Mỹ. Việc dỡ bỏ kiểm duyệt cho phép những bài chính luận mặc sức công kích người Mỹ đã đem đến bao nhiêu tệ nạn xã hội, như tình trạng mãi dâm lan tràn. Một bài viết lên án Washington chỉ muốn có “những tay sai để dễ can thiệp vào vấn đề nội tình Việt Nam hơn.” Mặc dù bất mãn về sự khống chế của Mỹ, nhưng các bài báo ít có khuynh hướng chống Mỹ hơn là lên gân khẳng định chủ quyền và bản sắc Việt Nam. Các bài báo Mỹ thì mạt sát giới quân sự miền Nam đang nhóm lửa ăn mừng. Vào ngày 11/9/1967, nhà báo Peter Arnett cho in một bài viết dài mô tả quân đội miền Nam “gần như vô hiệu quả và thiếu tính thần chiến đấu và càng ngày càng có khuynh hướng để mặc người Mỹ chiến đấu một mình.” Sự phê phán gay gắt của Arnett, được hậu thuẫn bởi thống kê và báo cáo tích hợp sâu sắc, vạch trần nhiều khuyết điểm của QLVNCH. Tuy ông có nói lại ý kiến của Westmoreland cho rằng QLVNCH giờ tốt hơn nhiều so với một năm trước, nhưng bài viết ông xác quyết rằng binh sĩ Mỹ đang hứng chịu đầu sóng ngọn gió cho dù đó là chủ trương gìao việc bình định cho phần lớn QĐVNCH. Arnett cũng không nắm bắt được ý định của Cộng quân là tránh né đánh nhau với VNCH mà chỉ muốn “gây thương vong cho binh lính Mỹ nhiều như có thể,” hy vọng sẽ làm người Mỹ thối chí và buộc họ đàm phán hòa bình “theo những điều kiện rõ ràng có lợi cho phe Cộng sản.”

Một tháng sau, phòng viên Merton Perry của tờ Newsweek viết một bài báo còn bốc cháy hơn nữa, lần này có tựa đề “Sư tử của Họ, Thỏ của Chúng Ta”. Gọi QĐVNCH là những tên hèn nhát lập tức gây nên các phản ứng có thể dự đoán được. Sau khi các nhật báo miền Nam trích đăng, tạp chí liền bị cấm lưu hành ở miền Nam, chính quyền đe dọa trục xuất tác giả, và nhiều bài chính luận giận dữ xuất hiện. Nhưng thay vì biện bác các cáo buộc của bài viết, các chủ biên chỉ kết tội người Mỹ tìm cách kiểm soát các vấn đề nội bộ của miền Nam và tiến tới thỏa thuận hòa bình mà không tham khảo Saigon. Họ nhấn mạnh rằng cứ tiếp tục đề xuất hòa bình sẽ kéo dài thêm chiến tranh vì khuyến khích Hà Nội tiếp tục bám theo cuộc chiến. Báo chí Việt cũng in lại các bài báo Mỹ về các cuộc biểu tình phản chiến đang lan rộng trên nước Mỹ, cho thấy các cảm tình viên thân Cộng đang vẫy cờ MTGP, càng làm bùng cháy hơn nỗi sợ hãi bị Mỹ bán đứng. 

Trong khi vạch lá tìm sâu đối với QĐVNCH là điều dễ dàng, ít phóng viên Mỹ đi đến tận các đơn vị miền Nam hoặc nói theo ngôn ngữ của họ. Họ chủ yếu dựa vào các nguồn tin Mỹ, vốn bực tức dễ hiểu đối với điều họ cho là  sự thụ động, thối nát, và không chịu săn đuổi kẻ thù của Việt Nam. Westmoreland, dù vậy, nổi giận về điều ông cho là báo cáo thiên kiến. Vào ngày 31/1/1968, ông phát đi một báo cáo sơ lược nhiều tính huống trong đó QĐVNCH gần đây đã hoặc đánh bại một lực lượng tấn công quy mô hoặc đã phát động một hành quân công kích gây kẻ thù thương vong lớn. Ông lưu ý rằng trong năm 1968, “sự tăng trưởng vững chắc và sự hiện đại hóa của QLVNCH khiến mọi đơn vị có thể tăng cường nhiệt độ các cuộc hành quân xung kích.” Kỳ lạ thay, cả hai bên điều đúng; QLVNCH đã tiến xa kể từ những ngày đen tối trong năm 1965, nhưng nó còn một chặn đường dài phải đi. Cuộc Tổng Công Kích Tết, tuy nhiên, sẽ cho thấy những kẻ gièm pha là sai lầm.

Khi miền Nam bắt đầu nghĩ lễ Tết truyền thống vào cuối tháng giêng 1968, đất nước mạnh hơn bất kỳ thời điểm nào trơng lịch sử của họ. Phần đông những viên chức cao cấp đều tin tưởng rằng mình đang trên đà thắng trận, nhưng họ cũng cho rằng năm tới sẽ là năm quyết định. Mặc dù họ không có ảo tưởng là Bộ Chính trị sẽ đáp ứng tích cực cho đề xuất hòa bình, miền Nam hy vọng vị thế quân sự của đồng minh được tăng cường có thể cuối cùng thuyết phục Hà Nội ngồi vào bàn hội nghị.

Câu trả lời của người Cộng sản đến sớm vào buổi sáng ngày 31/1/1968. Trong khi người miền Nam đang say ngủ trong ngày đầu thiêng liêng của Tết, các đơn vị Cộng quân phát động một cuộc công kích lớn nhất trong cuộc chiến bằng cách tấn công gần như mọi thành phố trong xứ. Hòa bình dường như xa vời hơn bao giờ.


One thought on “Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 12)

  1. Tác giả tung hô chiến thắng Thiệu một cách thái quá bằng cách đưa con số 16 triệu chiếm tỷ lệ 53% một cách cao bất thường số với thực tế chỉ 34,8%. Tui vẫn không hiểu tại sao tác giả làm như thế ?

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s