Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 11)

CHƯƠNG 11: “HIẾN PHÁP NÀY Đà ĐƯỢC CHÍNH THỨC NHÌN NHẬN

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

 Đối Đầu với Uỷ ban Lãnh đạo

Cam kết của Hoa Kỳ đối với miền Nam dựa trên việc Saigon phải sửa đổi thành một nền dân chủ. Dưới sức ép từ Mỹ và những lời kêu gọi nội bộ như của phe Phật tử thành lập một chính quyền được bầu ra, hợp hiến có đầy đủ tính hợp pháp đối với nhân dân mình và trên thế giới, Uỷ ban Lãnh đạo đồng ý tăng tốc tiến trình dân chủ hóa. Vậy mà  một trong những  thành tựu quan yếu nhất nhưng ít người biết tới của Saigon, chính quyền miền Nam tạo nên bước nhảy khó khăn từ một hội đồng quân sự cầm quyền đến một nền cộng hòa hợp hiến tương đối trơn tru chỉ bởi vì Kỳ và Thiệu thuyết phục Uỷ ban Lãnh đạo nhượng bộ. Nếu Kỳ và Thiệu thất bại, ắt tương lai chính trị miền Nam sẽ rất đen tối, nhưng thành công của họ phải trả giá. Ít có phe nhóm cầm quyền nào tự nguyện buông bỏ quyền lực, và UBLĐ cũng không khác. Kỳ và Thiệu buộc lòng phải chấp nhận cuộc mặc cả kiểu Faust (nhân vật chính trong vở kịch thơ cùng tên của đại thi hào Đức Goethe, trong đó Faust mặc cả với Quỷ dữ: ND) để sống còn, nhưng một cuộc mặc cả ám ảnh Thiệu suốt một năm ròng.

Trong khi mọi cặp mắt đều đổ dồn về cuộc lột xác sinh tử này, một thay đổi khác cũng quan trọng không kém đang xảy ra mà ít người nhận ra: sự bành trướng trở lại  mới gần đây của nhà nước miền Nam ở nông thôn. Sau khi xây dựng một tổ chức để giành lại vùng quê, Kỳ và Thiệu quyết định tổ chức bầu cử ở làng ấp để phục hồi quyền hành địa phương. Lèo lái đất nước hướng đến chính quyền đại diện cũng thúc giục những người Quốc gia dao động mãn tính bắt đầu ngồi lại làm việc với nhau. Quyết định có tính học thuyết này nhằm phân tán quyền lực chính quyền, trên đỉnh của những nỗ lực PTNT bắt đầu từ năm 1966, sẽ cho thấy là cực kỳ quan trọng.

CHỌN MỘT ỨNG CỬ VIÊN

Giờ phe quân sự đã đồng ý trả lại quyền lực, ai sẽ ứng cử tổng thống trở thành một đề tài nóng bỏng. Bắt đầu vào tháng 7 1966, các nhà báo bắt đầu săn đón Kỳ về các dự tính của ông. Một vài lần trong mùa hè đó, Kỳ bảo với các phóng viên rằng mình sẽ không ra tranh cử, thường bày tỏ nguyện vọng muốn bay trở lại. Thay vào đó, ông cất nhắc Thiệu làm ứng cử viên, thậm chí có lần tuyên bố rằng “Tôi không thấy ai xứng đáng hơn Tướng Thiệu.” Khi được hỏi tại sao Kỳ luôn ủng hộ mình, Thiệu đáp, “vì ông ta quý tôi.” Hiển nhiên, dù sau này hai người chia tay nhau, trong thời gian này họ vẫn còn là đồng minh. Thậm chí vào cuối tháng 11 1966, Thiệu bảo với Westmoreland rằng mình đã nghe những  tin đồn về “sự hiềm khích” giữa Kỳ và ông nhưng chúng “không có cơ sở.” Thiệu xác nhận rằng Kỳ “cần mình cố vấn” vì nếu “Kỳ xử sự theo cách của mình thì vụ khủng hoảng Đà Nẵng sẽ là một thảm họa. Ông đã kềm chế Kỳ cho đến khi nền tảng đã sẵn sàng.” Kỳ đồng ý, cho rằng Thiệu “thực sự khôn khéo” và Thiệu đã suy nghĩ rất nhiều về những gì đất nước cần.” Kỳ nhìn nhận Thiệu “sẽ là một tổng thống tốt.” Tuy nhiên, Kỳ cũng thận trọng. Dù ông công khai đề cao Thiệu, nhưng khi nói riêng với Tiến sĩ Henry Kissenger đến viếng thăm, ông cho rằng trong một cuộc bầu cử, cho dù phe quân đội sẽ đoàn kết chung quanh Thiệu, nhưng ông không được lòng nhiều người.

Thậm chí, người Công giáo cũng không ưa ông,” Kỳ kêu lên. Ông xác nhận rằng hầu hết ứng cử viên “có thể đánh bại Thiệu,” kể cả ông già Phan Khắc Sửu. Việc một người không thuộc quân đội có thể thắng cử khiến Kỳ lo lắng, nhưng cũng đáng liều “nếu dân chúng cần phải có một chính quyền được kính trọng và hậu thuẫn, và nhờ đó có thể đánh thắng cuộc chiến.” Trong khi Kỳ khao khát trở về với buồng lái, thì việc một nhân vật dân sự có thể thắng cử nhưng lại không chủ trương chiến tranh với sự kiên quyết thích đáng gậm nhấm lòng ông, gieo mầm cho việc ông đổi ý sau này.

Nền chính trị tổng thống chế chẳng bao lâu bắt đầu theo đuôi giới quân sự như bóng với hình. Với việc QLVNCH chuyển sang sứ mệnh bảo vệ thôn làng, vào cuối năm 1966 Thiệu bắt đầu đến thăm các đơn vị và nhấn mạnh tầm quan trọng sống còn của việc hỗ trợ công tác bình định. Tuy nhiên, việc kinh lý của Thiệu làm nổi lên ức đoán là ông thực sự đang tham gia hoạt động tranh cử cho cuộc đua chạy chức tổng thống sắp tới, buộc Kỳ phải xét lại việc ứng cử của mình. Vào cuối năm 1966, Kỳ bắt đầu nghĩ đến việc tranh cử, nhưng xét việc mình đã đề bạt Thiệu trước đây, ông cần phải biết rõ ý định của Thiệu. Họ họp riêng với nhau vào đầu tháng giêng 1967. Thiệu báo cho Kỳ là ông chưa quyết định, và ông đề nghị họ hoãn quyết định cho đến khi hiến pháp được ban hành. Kỳ đồng ý và trả lời rằng mình sẽ nhường cho Thiệu nếu Thiệu ra ứng cử. Không ai muốn đứng chung liên danh, vì họ nghĩ họ cần liên danh với một người dân sự để cân bằng. Thiệu bảo với Lodge vào đầu tháng 2 1967 rằng một liên danh toàn quân sự “sẽ khiến toàn bộ nỗ lực cho hiến pháp trông như một màn kịch được dàn dựng.” Hoa Kỳ cũng mong muốn một đồng minh dân sự-quân sự, tốt nhất là một tổng thống dân sự tiếng tăm và Kỳ hoặc Thiệu là thủ tướng.

Mặc dù nhiều người cho rằng Thiệu đang thăm dò triển vọng tranh cử, trong lúc đang bàn luận về tình hình vào đầu tháng 2 1967, Thiệu đề cập đến việc mình thích nắm quyền chỉ huy quân đội miền Nam hơn là tranh cử tổng thống. Ông có ý kiến rằng nếu một người dân được bầu ra, phải cần một sự đoàn kết thực sự trong giới quân sự để hậu thuẫn trung thành với chính quyền hợp hiến mới, tránh không xảy ra một cú đảo chính sáu tháng sau đó, cũng như tạo được sự ổn định quốc gia nếu Hà Nội thương thảo hòa bình.” Trong khi Kỳ nhất trí rằng Thiệu là một sự lựa chọn tốt để cầm đầu QLVNCH, nhưng như thế, ông nói đùa, là Thiệu xuống chức. Kỳ chế nhạo là Thiệu “rất khôn khéo và toan tính cẩn thận để thành tổng thống trong khi vẫn dành sẵn chức tư lệnh làm đường thối lui.

Cả hai đều tinh tế cố tìm hiểu xem Hoa Kỳ chuộng ai làm tổng thống hơn. Thiệu thì tìm cách xác định lập trường của người Mỹ trong việc ứng cử của mình, còn Kỳ chê Thiệu không được lòng người là nói xéo khuyên Mỹ đừng hậu thuẫn ông. Kỳ tuyên bố rằng các chỉ huy hàng đầu lặng lẽ cổ vũ minh ứng cử, nhưng UBLĐ không tiện chọn lựa chính thức. Họ muốn Kỳ và Thiệu tự quyết định ai sẽ nhân danh quân đội. Những sĩ quan chức thấp, quen với hệ thống thứ bậc quân giai, không muốn bầu cho người cấp thấp hơn. Vì Thiệu có cấp bậc cao hơn Kỳ, lại lớn tuổi hơn và chức vụ cao hơn, các tướng lĩnh cho rằng Thiệu có quyền từ chối trước tiên. Kỳ chỉ có một lựa chọn duy nhất là thuyết phục gián tiếp để Thiệu không ra ứng cử. Tuy nhiên, cả hai đã hoãn lại quyết định chính thức, và vào cuối tháng 2 1967, khi quốc hội sắp hoàn tất việc soạn thảo bản nháp hiến pháp, các tướng lĩnh trở nên sốt ruột. Trò chơi âm mưu đã bắt đầu.

THAY ĐỔI NGƯỜI BẢO VỆ

Sau hội nghị Manilla, Thiệu và Kỳ quyết tâm xây dựng trên những thành quả của năm trước. Cả hai đều tin tưởng 1967 sẽ là một giai đoạn quyết định. Gạt qua một bên các tham vọng của mình, họ nhận ra rằng phải cần đến các chiến lược mới và nhân sự mới, và công việc đầu tiên là khánh thành một trụ sở chính quyền mới. Lễ khánh thành Dinh Độc Lập vừa mới hoàn thành được tổ chức vào ngày 31/10/1966. Đối với hai nhà lãnh đạo, dinh thự mới tượng trưng cho sự phục hồi của Saigon và niềm tin lớn mạnh là điều xấu nhất đã qua rồi.

Thay đổi nhân sự cũng được yêu cầu. Bùi Diễm, cố vấn thân cận của Kỳ và là một trong ít nhân vật dân sự trong chính quyền, đã được đề bạt làm phó ngoại trưởng vào tháng 7 1966, một động thái làm gia tăng sự dè bỉu của người nam. Tin rằng mình đã trở thành một cột thu lôi cho những hiềm khích vùng miền, Bùi Diễm đề cập đến việc từ chức với Kỳ sau hội nghị Manilla. Không lâu sau đó, Kỳ báo tin cho ông rằng “các anh em trong quân đội cho rằng anh sẽ hữu ích hơn nếu làm đại sứ.” Bùi Diễm đồng ý, và vào đầu tháng 12 1966, Kỳ giao ông chức vụ đại sứ mới tại Mỹ, tại đó ông phục vụ cho đến tháng 6 1972.

Sinh ngày 1/10/1923 gần Hà Nội, Bùi Diễm là người Việt hiếm có nhất. Một người tốt nghiệp đại học, đi nhiều, và có quan điểm xã hội phóng khoáng, ông xuất thân từ một gia đình quan lại. Ông theo học trường trung học do ba ông làm chủ, tại đó ông có một bạn học là Trần Văn Tuyên, cựu bộ trưởng của Quát và lãnh tụ VNQDĐ đáng kính. Giáo viên dạy sử của ông là Võ Nguyên Giáp, hiện giờ là tư lệnh Quân đội Nhân dân. Cậu ông, Trần Trọng Kim, là thủ tướng đầu tiên của Bảo Đại, và Bùi Diễm và Cựu Hoàng trở thành bạn thân. Theo thời gian, ông quen biết và làm việc cho nhiều người Quốc gia hàng đầu. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông ghi tên vào Đại học Hà Nội, tại đó ông kiếm được một chứng chỉ toán. Cực lực chống thực dân, khi cuộc chiến chống Pháp bùng nổ, ông có thời gian ngắn theo Việt Minh, nhưng rồi chẳng bao lâu chua chát vỡ mộng và bỏ về Phát Diệm, một căn cứ Công giáo ở miền Bắc. Trong cơn cuồng nhiệt của nền chính trị Việt Nam ông chọn dân chủ, vì thấy chủ nghĩa Mác “quá lạnh lẽo và thiếu thuyết phục.” Bạn ông Đặng Văn Sung rũ ông vào Đại Việt. Ông nhận mình là phi công sản hơn là chống cộng vì một lý do rõ ràng. “Về phương diện triết lý,” ông nói, “miền Nam cần nhiều hơn là chủ nghĩa chống cộng. Điều đó không đủ để động viên quần chúng. Chúng ta cần điều gì đó có tính xây dựng nhiều hơn, và đó là cải cách xã hội.” Ông luôn đan xen các khái niệm như “hỗ trợ người nghèo” trong các bài diễn văn của Kỳ. Mặc dù “Kỳ không phải là một người nhiều sáng kiến”, Bùi Diễm nhớ lại, “nhưng ông phóng khoáng và phản ứng thẳng thắn với những đề nghị của tôi.”

Vào ngày 19/1/1967, ông trình ủy nhiệm thư lên Tổng thống Johnson. Trong lời mở đầu của mình, ông lặp lại các đánh giá của Thiệu và Kỳ là họ đang trên đà thắng lợi. “Con đường phía trước chúng tôi còn dài và nhiều khó khăn,” ông tuyên bố, “nhưng chúng tôi đã bỏ lại sau lưng những ngày tuyệt vọng.” Là đại diện của một chính quyền gây tranh cãi, ông đến Washington với quyết tâm cải thiện những nhận thức của Hoa Kỳ về miền Nam và mở rộng giao tiếp với quốc hội. Là một người làm báo trước đây (ông còn sở hữu tờ Saigon Post), ông sắp xếp mỗi ngày ăn trưa với một thông tín viên khác nhau, kiên trì tìm cách, như ông kể với tác giả, “khiến họ hiểu rõ hơn về cuộc chiến.”

Chẳng bao lâu ông tạo được các mối quan hệ tuyệt vời với vài thượng nghị sĩ lão thành, đặc biệt Lãnh đạo phe Thiểu số Thượng viện Everett Dirksen (R-Ill.). Ông quyết định không gặp các thượng nghị sĩ phản chiến như McGovern, Fulbright. Ông không ngần ngại “đương đầu với các ý kiến của họ,” nhưng “thay vì những lập luận giàu thông tin tôi chỉ nghe toàn ngôn từ dễ dãi của những kẻ mị dân đúc kết tình hình chỉ còn là vấn đề trợ giúp những vị tướng tham ô.” Mặc dù tránh né những con chim bồ câu trong quốc hội này, ông giật mình khi khám phá ra mức độ của tình hình bất ổn do phe phản chiến tạo ra ở Mỹ. Ông trở lại Saigon vào đầu tháng 3 1967 và báo cho Kỳ rằng nếu chính quyền miền Nam không ổn định được tình hình, phòng trào đòi hòa bình sẽ buộc Johnson bỏ rơi cuộc chiến. Kỳ hiểu, nhưng Bùi Diễm sẽ liên tiếp báo tin cho các lãnh đạo Saigon về phong trào phản chiến của Mỹ đang manh nha và sức tác động tiềm năng của nó đối với miền Nam. 

Đã hứa diệt trừ tham nhũng, Kỳ nghe theo lời khuyên của Thiệu phải đặt nền móng trước khi loại trừ Trung tướng bất hảo đầy tai tiếng Nguyên Hữu Có, vị tướng sinh quán miền nam cuối cùng của UBLĐ. Vào giữa tháng giêng 1967, Kỳ phái Có đi công cán các nước châu Ấ. Ngay khi Có lên đường, Kỳ họp khẩn cấp UBLĐ và yêu cầu cách chức Tổng trưởng Bộ Quốc phòng của Có. Mọi người đều nhất trí bằng lá phiếu. Có được bảo tin bằng điện tín về việc mình bị cách chức vào chiều ngày 22/1 và được lệnh bay về Hongkong. Khi đến nơi, một đại diện chính quyền miền Nam trao cho ông một bức thư từ Thiệu bảo ông hay dừng chân ở đó. Nếu ông trở về Saigon, ông sẽ bị bắt và xử tội tham nhũng. Trung tướng Cao Văn Viên thay thế Có làm tổng trưởng Quốc phòng và được đề bạt đến chức tướng bốn sao, biến ông thành tướng lĩnh có cấp bậc cao nhất đang tại chức. Như việc cách chức Quang, người miền nam không nổi giận. Vào đầu tháng 3, Có bị đuổi khỏi quân đội. Ông không trở về Saigon cho đến tháng giêng 1970.

Trong một động thái khác, vào ngày 18/3, Kỳ bổ nhiệm Nguyễn Hữu Hanh làm tổng trưởng Kinh tế mới. Hanh, một nhà quản trị có năng lực và người đã đề xuất việc hạ giá đồng bạc năm trước, hiện giờ đang đứng đầu Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Ông biến Hanh thành một “siêu tổng trưởng” hơn bốn tổng trưởng khác (Thương mại, Tài chính, Kỹ nghệ, và Giao thông). Kỳ, vốn không mấy quan tâm đến vấn đề tài chính trừ khi bị thúc bách, giao Hanh quyền tuyệt đối xử lý các khó khăn kinh tế triền miên của miền Nam, nhất là vấn đề lạm pháp dường như không thể dự đoán được. Theo bước Saigon, người Mỹ cũng thay đổi nhân sự. Đại sứ Lodge từ chức vào ngày 19/2/1967, vì lý do cá nhân và nghề nghiệp. Johnson chọn một nhà cựu ngoại giao, Ellsworth Bunker, thay thế ông. Bunker đến vào ngày 25/4/1967, bắt đầu một nhiệm kỳ 6 năm. Westmoreland có một người phó mới, Tướng Creighton Abrams, lo về việc cải tổ QLVNCH. Cuối cùng, Robert Komer, phụ tá của Johnson về bình định hoá, được cử đến miền Nam để cầm đầu một tổ chức bình định hoá mới dưới sự chỉ huy của Westmoreland.

Các động thái của Kỳ – cử Diễm đến Washington, lưu đày Có và thay thế ông ta bằng Viên, và cắt đặt Hanh làm vị sa hoàng kinh tế – sẽ  trả lãi cho miền Nam. Nhưng hiện giờ, một lần nữa Kỳ phải chống chèo giữa con nước chính trị dậy sóng gió.

HOÀN TẤT HIẾN PHÁP

Kể từ tháng 11 1966, quốc hội bận rộn thiết kế một hiến pháp mới tạo ra một cấu trúc chính quyền nhằm bảo đảm sự ổn định và tạo ra sức mạnh hành pháp trong điều kiện thời chiến. Mặc dù nổi lên  những vấn đề nhạy cảm giữa UBLĐ và các người soạn thảo, phần đông quốc hội đều tiến hành công việc mà không gặp nhiều can thiệp của phe quân sự. Tuy nhiên, hai vấn đề gây xứt mẻ mối quan hệ ngay từ đầu, quyền phủ quyết của phe quân sự và sự tồn tại tiếp tục hậu hiến pháp của quốc hội, vẫn còn gây tranh cãi. Các dân biểu cho rằng, là những viên chức được bầu ra, họ có quyền được mọi người công nhận để soạn thảo hiến pháp mà không bị phe quân sự nhúng tay vào. Xét việc khước từ hủy bỏ quyền phủ quyết của UBLĐ theo Điều khoản 20 vào tháng 12 1966, thay vào đấy quốc hội yêu cầu chỉ cần đa số phiếu bình thường là có thể làm vô hiệu hóa sự phủ quyết thay vì hai phần ba như phe quân sự yêu cầu. Vào giữa tháng giêng 1967, Thiệu bảo với quốc hội rằng UBLĐ đã một lần nữa từ chối, nhưng ông bảo đảm với họ là phe quân sự sẽ không áp đặt sự chỉ trích trừ khi bị khiêu khích.

Trong khi Kỳ và Thiệu tránh cho UBLĐ không can thiệp vào sự tính toán của quốc hội, họ cũng tìm cách khéo léo dẫn dụ các dân biểu duyệt xét lại một số điều khoản trong dự thảo. Tuy nhiên, các phương thức thuyết phục của họ nói lên một cách hùng hồn về cá tính của họ, và rộng ra, về phương thức trị vì của họ. Dân biểu Đặng Văn Sung cho biết mỗi người tổ chức riêng biệt các buổi ăn chiều với các dân biểu, nhưng Thiệu “sử dụng các cơ hội như thế một cách cứng nhắc mang tính chính thức. Ông đọc những bài phát biểu nặng tính hình thức và không có các tiếp xúc cá nhân với khách mời của mình.” Kỳ, ngược lại, “không đọc bài phát biểu, hoàn toàn tự nhiên, đối thoại thoải mái, thân tình với khách mời của mình, gây ấn tượng mạnh mẽ.” Theo Sung, Kỳ đã tạo nhiều  thiện chí với quốc hội, một hậu thuẫn mà sẽ sớm chứng tỏ có tính quyết định.

Một kiến trúc sư chủ chốt của hiến pháp mới là lãnh tụ Đại Việt Nguyễn Ngọc Huy. Xét vốn luật hiến pháp của Huy, ông tạo “một số ảnh hưởng trong việc soạn thảo” hiến pháp mới. Sung và Phan Quang Đán sau đó xử lý phần lớn việc thảo luận trong nội bộ quốc hội. Một trong những vấn đề quan trọng nhất là tách biệt quyền lực giữa lập pháp và hành pháp. Cả dân biểu lẫn UBLĐ đều nhất trí rằng sự kiểm soát và cân bằng là cần thiết để ngăn ngừa sự khống chế hoàn toàn của tổng thống, nhưng câu hỏi chủ chốt là, bao nhiêu thì vừa? Một số dân biểu, còn mang thẹo vết của tính chuyên quyền của Diệm, muốn ban cho quốc hội thật nhiều gân cốt chính trị. Những dân biểu khác như Huy, Sung, và Đán thích một tổng thống chế mạnh mẽ. Với một xã hội miền Nam còn phân mảnh và nằm dưới sự đe đọa của Cộng sản, họ ưng một lãnh tụ hành pháp cứng rắn để có thể dễ dàng chỉ đạo đất nước, vì thế họ môi giới một thỏa hiệp với những dân biểu chủ trương một lập pháp khống chế. Trong khi mọi ảnh hưởng đều gắn kết vào chức vị tổng thống, Đán và Sung thiết kế vai trò của thủ tướng nhằm cổ vũ “sự phân chia quyền lực để các hồn ma kỷ nguyên Diệm được an nghỉ và để làm nhẹ gánh nặng của tổng thống.” Họ chèn một cái phanh vào quyền tổng thống bằng cách giao quốc hội quyền kiểm soát trong các lãnh vực như ngân sách và luật quân dịch, và họ có thể cách chức thủ tướng với hai phần ba số phiếu. Nhờ những đồng thuận này, quốc hội nhanh chóng đạt được sự nhất trí trên các vấn đề khác, một minh chứng cho ý thức rằng việc soạn ra hiến pháp tạo  được tính hợp pháp chính trị của miền Nam là trung tâm của việc đánh bại Cộng sản.

Hạn chót nộp dự thảo hiến pháp là 27/3, nhưng ủy ban đã hoàn tất phần vụ của mình vào ngày 10/3. Rõ ràng phớt lờ UBLĐ, quốc hội bổ sung một điều khoản vào hiến pháp ban cho quốc hội đầy đủ quyền lập pháp cho đến khi một quốc hội mới được bầu ra thay thế. Những chính gia dân sự có đầu óc cộng hòa đã trực tiếp đe doạ việc UBLĐ bám giữ quyền lực. Thiệu phản ứng cứng rắn. Ông là một người chủ trương theo đúng nguyên tắc, và sắc lệnh ông đã ban bố  nói rõ điều đó. Ông gửi một bức thư nghiêm khắc đến quốc hội yêu cầu họ bãi bỏ điều khoản nếu không sẽ đối mặt với hành động phủ quyết. Tệ hơn, ông cảnh báo rằng cho dù nếu họ thành công trong việc vô hiệu hóa quyền phủ quyết, Thiệu sợ các tướng lĩnh có thể có những hành động đáng tiếc nhằm ngăn cản phe dân sự nắm quyền.

.Để đánh tan bế tắc, Kỳ tổ chức một số buổi họp đến tận khuya với các dân biểu lão thành, và sử dụng mối quan hệ tốt đẹp đã có được, đi đến thỏa thuận. Một công thức được chấp nhận vào ngày 16/3 theo đó quốc hội sẽ ở lại nhưng quyền hành chỉ giới hạn ở việc soạn thảo luật bầu cử tổng thống và quốc hội. UBLĐ sẽ tiếp tục nắm các chức năng hành pháp bình thường và sẽ trao quyền cho tổng thống sau lễ nhậm chức.

Thiệu và Kỳ gặp nhau vào sáng ngày 18/3 để bàn luận về thỏa hiệp của Kỳ. Ông thuyết phục Thiệu chấp nhận kết quả trả giá, và dự thảo xét duyệt được trình lên toàn thể quốc hội sau đó trong ngày. Khi tên các đại biểu được gọi, kết quả bỏ phiếu công nhận hiến pháp là nhất trí. Đúng 7:32 phút tối ngày 18/3/1967, Phan Khắc Sửu, phát ngôn nhân quốc hội được bầu ra, đứng lên và long trọng tuyên bố, “Tôi tuyên bố rằng … hiến pháp này được công nhận một cách  chính thức và hợp pháp.” Miền Nam đang vững chắc bước trên con đường đến nền dân chủ. Nhưng tưởng vậy mà không phải vậy. Ngày hôm sau Kỳ họp UBLĐ để lấy sự đồng thuận, nhưng bất ngờ ông đối mặt với một bất đồng. Một vài tướng lĩnh phản kháng cả sự nhượng bộ và nỗ lực đơn lẻ của Kỳ trong việc nhào nặn nó. Tư lệnh Quân đoàn III Trung tướng Lê Nguyên Khang cầm đầu phe chống đối. Ông tuyên bố rằng Kỳ đã mở lại cánh cửa dẫn đến hỗn loạn sau hai năm tranh đấu khó khăn mới giành được. Kỳ, tuy nhiên, từ chối nhượng bộ, và yêu cầu họ công nhận thỏa hiệp của ông để ông có thể trình cho Tổng thống Johnson một hiến pháp đã được phê chuẩn tại hội nghị Guam vừa được công bố. Kỳ phát biểu đó là điều thiết yếu chứng minh cho người Mỹ thấy rằng Saigon đã đạt được sự ổn định chính trị. Thiệu cũng thúc giục UBLĐ chấp nhận quyết định của Kỳ. Đối mặt với lời yêu cầu của hai nhà lãnh đạo, họ ậm ừ đồng ý. Kỳ chối trong hồi ký của mình là sự tiếp cận sói đơn độc của mình với quốc hội đã tạo ra sự hiềm khích trong nội bộ UBLĐ, nhưng đó là một xác nhận khôi hài. Khang quyết tâm bảo vệ lợi ích của phe quân sự, và ông không chịu bỏ cuộc. Không muốn làm bực bội các ông chủ Mỹ, Khang sẽ đợi cho đến khi Kỳ trở về.

.

GẶP GỠ ĐẢO GUAM

Thiệu và Kỳ bay đến Guam ngày hôm sau để gặp Tổng thống Johnson. Bài diễn văn mở đầu của họ nêu bật sự tiến bộ mà miền Nam đã đạt được kể từ hội nghị Honolulu tháng 2 1966. Thiệu trình bày về việc  bằng cách nào quân đội đã xoay chuyển cục diện có lợi cho họ, tổ chức bầu cử quốc hội, hiến pháp đã được soạn thảo và việc bầu cử đến tận thôn làng sẽ tiếp diễn ngay sau. Vào mùa thu 1967, Thiệu tuyên bố, miền Nam sẽ bắt tay với các nền dân chủ trên thế giới. Trước khi Kỳ nói, ông trao cho Johnson một bản sao hiến pháp mới. Trên mọi thứ, Bùi Diễm nhớ lại, “đó là một giây phút đáng tự hào cho họ và cho chính quyền miền Nam.” Johnson nhấn mạnh với các nhà lãnh đạo Việt Nam rằng việc đoàn kết chính trị là việc hệ trọng. Mỹ không thể chấp nhận Saigon có thêm hỗn loạn. Kỳ và Thiệu hứa sẽ không có những hành động nào làm rạn nứt sự đoàn kết trong quân đội.

Ở Guam, trong khi chủ đề làm thế nào miền Nam từ một chế độ chuyên chế chuyển tiếp dần dần đến nền dân chủ hoạt động chiếm vị trí cao trong lịch trình, thì cuộc chiến vẫn là tiêu điểm chính. Tin tưởng cuộc chiến đang lắng xuống, Kỳ phát biểu rằng việc bình định hoá là mối quan tâm chủ yếu của chính quyền. Ông nhìn nhận chương trình Phát triển Nông thôn tiến độ vẫn còn quá chậm, mặc dù có tiến bộ. Nền tảng đã được xây dựng trong năm 1967 là củng cố và cải thiện ấp an ninh. Đối với người Mỹ, điều đó không chấp nhận được; người Mỹ muốn Saigon nhanh chóng mở rộng vào vùng lãnh thổ mất an ninh. Kỳ lên kế hoạch cho từng bước chập chững, trong khi người Mỹ thì hối thúc nhanh hơn nữa. Tình cảm chống chiến tranh đang dâng cao cùng với số thương vong của bình lính Mỹ và chi phí chiến tranh của Hoa Kỳ đã đốt lên các cuộc chống đối từ khuôn viên đại học cho đến đường phố. Cuộc xung đột không chỉ làm trầm trọng thêm hố chia cách văn hóa đang lớn rộng trong xã hội Mỹ. Các thành phần ưu tú trong quốc hội, học viện, và văn hóa đang cật vấn những nền tảng trước đây chưa được xâm phạm tới của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ. Dưới các sức căng này,  sự hậu thuẫn của công luận Mỹ dành cho cuộc chiến đang dao động. Câu hỏi rốt ráo là liệu nó có thể gảy đổ trước khi chính quyền miền Nam có thể xây dựng xong một đất nước vững vàng có thể đánh thắng cuộc chiến, hoặc ít nhất có thể chống cự hiểm họa Cộng sản mà không cần sự hậu thuẫn đại quy mô của người Mỹ. Hà Nội không tin là nó sẽ như vậy.

Đối với Johnson, người đã đấu tranh cho tiến bộ xã hội Mỹ qua chương trình Xã hội Vĩ đại, cải cách xã hội Việt Nam là một đáp ứng bản năng đối với thách thức chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Sau hội nghị Manilla vào tháng 10 1966, ông đã bắt đầu làm ấm lại quan điểm kết hợp mọi cơ quan bình định hoá của Mỹ – quân đội, bộ ngoại giao, CIA, và USAID – thành một tổ chức dưới sự chỉ huy của một thường dân báo cáo trực tiếp với Tướng Westmoreland. Ý tưởng này là sáng kiến của Robert Komer, người đã khuyến cáo Johnson là chỉ có quân đội mới có đủ nhân sự và tài nguyên thực hiện những chương trình bình định đầy tham vọng mà Hoa Kỳ hình dung. Các cơ quan dân sự không ưa phối hợp trong một cuộc hôn phối bắt buộc dưới quyền lãnh đạo của quân đội, nhưng Johnson, bồn chồn muốn mau kết quả, đã chấp nhận đề xuất của Komer. Nó sẽ dẫn đến sự ra đời của một thành tố chủ chốt trong sứ mệnh Hoa Kỳ tại Việt Nam, văn phòng Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách mạng (CORDS). Vào ngày 9/5, Johnson bổ nhiệm Komer đứng đầu cơ quan CORDS ngang cấp bậc đại sứ báo cáo trực tiếp với Westmoreland.

Mặc dù Kỳ muốn cải thiện các ấp có an ninh trước, ông biết mình phải xây dựng một chính quyền hiệu quả ở mức độ địa phương để chiếm lại nông thôn khỏi tay MTGP. Vì vậy, vào ngày 24/12/1966, ông ký hai sắc lệnh khởi động tiến trình cần thiết xây dựng một nhà nước dân chủ ở nông thôn. Những hành động có tính quyết định nhưng ít được biết đến này phục hồi quyền lực cho đơn vị truyền thống, làng quê. Dù dưới thời các vua chúa làng xã không hề có đầy đủ quyền tự trị, nhưng trong hàng thế kỷ họ đã bầu ra người lãnh đạo riêng cho mình và thực thi các luật lệ địa phương. Mỗi người Việt đều biết thành ngữ cổ xưa “Phép vua thua lệ làng”. Tuy nhiên, Diệm đã bãi bỏ việc bầu cử hội đồng làng và đã bổ nhiệm trưởng làng. Điều này đã gây ra sự bất mãn, và trong khi Khánh đã thiết lập lại việc bầu cử ở làng xã vào tháng 5 1964, những nỗ lực xa hơn để tiếp thêm sinh lực cho việc điều hành làng xã đã chựng lại cho đến khi Kỳ tái lập làng xã như đơn vị chính quyền cơ bản. Sắc lệnh chính là sắc lệnh 198, quy định việc phổ thông đầu phiếu cho hai hội đồng làng. Một Hội đồng Dân Làng sẽ cử ra một bộ phận hòa giải các vụ tranh chấp địa phương, trong khi một Hội đồng Quản hạt sẽ phối hợp với các nhóm công tác PTNT khác nhau. Săc lệnh thúc giục các chính quyền địa phương khuyến khích giới nông dân tham gia các nhóm dân sự địa phương như Hội Phụ nữ hoặc Hội Nông dân. Việc tham gia các tổ chức mới này không cưỡng bách lao động như thời Diệm. Chúng được thiết kế để thúc đẩy dân làng tham gia với các đội PTNT nhằm phát triển bản sắc cùng với chính quyền. Thắng đề cao quan điểm này bằng cách nhấn mạnh rằng “nhân dân phải đóng vai trò tích cực trong khi các cán bộ PTNT đảm đương công tác chiến dịch còn chính quyền thì chỉ hậu thuẫn phương tiện.” Sau khi đổ tiền vào công tác bình định vào năm 1966 để xây dựng trường và đường xá mới, chính quyền giờ nhắm đến việc tăng cường kết dính nông dân với Saigon bằng cách phục hồi một số quyền tự trị địa phương truyền thống. Vào cuối tháng 2 1967, Thắng vạch ra xa hơn nữa hai mục tiêu phát triển chính cho năm 1967: xây dựng nền dân chủ địa phương và gia tăng nỗ lực PTNT trong những ấp an ninh. Xây dựng dân chủ trước tiên tổ chức bầu cử địa phương chọn ra các viên chức làng ấp và sau đó huấn luyện họ tổ chức phổ thông đầu phiếu sau đó cùng năm để bầu ra tổng thống. Đã đạt được nền móng vào năm 1966, chính quyền sẽ củng cố nó vào năm 1967 và rồi dần dần mở rộng vào lãnh thổ đang tranh chấp.

Vào ngày 2/3/1967, Thắng ký một loạt ghi nhớ tóm tắt chương trình mới. Như Sắc lệnh 198, quan điểm chính là phi tập trung hoá. Tất cả hoạt động cải tiến công trình sẽ được quyết định bởi dân chúng dưới sự hướng dẫn của bạn quản lý ấp và được sự hỗ trợ của các cán bộ kỹ thuật tỉnh. Về cơ bản, mọi dự án xây dựng về giáo dục, đường xá, thủy lợi, y tế, và canh nông sẽ được các giới chức thẩm quyền địa phương chọn lựa kết hợp với các đội PTNT. Ý tưởng nền tảng là nếu nhân dân chọn lựa các dự án và chính quyền tài trợ cho họ và giúp họ xây dựng, nhân dân sẽ trở về phe chính quyền, hoặc dự án sẽ lôi kéo nông dân ra khỏi những vùng kém an ninh đến với các địa điểm này.

Sau khi Thiệu đi một vòng nông thôn để khắc phục việc các binh sĩ không ưa các trách vụ hậu thuẫn bộ phận PTNT, vào cuối tháng 4 1967, một phần ba số tiểu đoàn đã được điều động thường trực về công tác bình định hoá. Không nghi ngờ gì nữa QLVNCH cần tung lực lượng yểm trợ an ninh cho các đội PTNT, vì hai khóa đầu tiên đã chịu tiêu hao 20 phần trăm trong năm 1966. Thống kê cho biết có “593 cán bộ PTNT bị sát hại, 86 bị đuổi việc, 696 xin nghỉ việc, và 603 đào ngũ.” Các lực lượng Cộng sản tiếp tục nhắm vào các cán bộ, và từ tháng giêng đến cuối tháng 4 1967, tổn thất PTNT lên đến 557 người chết, bị thương, và mất tích.

THỜI KHẮC QUYẾT ĐỊNH

Sau khi trở về từ Guam, Kỳ giờ phải trình hiến pháp cho Hội đồng Quân lực Mở rộng để được phê chuẩn cuối cùng. Sợ vì quốc hội đã hăm dọa nằm quyền quân sự trong chính quyền, vào sáng ngày 27/3, HĐQL họp và bỏ phiếu phản đối việc công nhận hiến pháp. Không có gì ngạc nhiên, điểm mấu chốt là chuyển quốc hội hiện thời thành cơ quan lập pháp trước khi có bầu cử quốc hội mới thường trực. Theo Thiệu, sau khi nghỉ trưa dùng cơm cộng thêm “một chút âm nhạc và rượu” sau một “hồi lập luận sôi nổi và cam go với Thiệu và Kỳ, ” HĐQL nghe theo lời hai vị lãnh đạo rằng “xét các nhận định quốc gia và quốc tế nên bỏ qua khiếm khuyết đó.” Kỳ có công rất lớn trong việc thành công hoàn tất hiến pháp miền Nam. Ông đã lèo lái một cách tinh tế qua những chống đối nội bộ bởi các tướng lĩnh ngoan cố đồng thời thuyết phục Thiệu ủng hộ mình, vốn ban đầu cũng không chấp nhận thỏa hiệp. Xét bắt cứ mặt nào, thì đó là một thành tựu chính trị ấn tượng. Vào ngày ¼, Thiệu chính thức ban hành hiến pháp trong một buổi lễ đầy xúc động được nhiều nhân vật tiếng tăm tham dự. Hai người một lần nữa sát cánh bên nhau và chiến thắng.

Quốc hội mới kêu gọi các cơ quan chính quyền tách biệt, bao gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lập pháp có hai bộ phận: Hạ viện, với 137 dân biểu có nhiệm kỳ 4 năm, và Thượng viện có 60 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm. Mỗi ba năm bầu lại phân nửa Thượng viện, mỗi 4 năm bầu lại nguyên Hạ viện. Tổng thống có quyền lực đáng kể, nhưng các dự luật, ngân sách, các đại sứ, v… v… phải trình cho quốc hội biểu quyết tán thành. Trong khi quốc hội đã bác bỏ chế độ liên bang, nghĩa là quyền lực Saigon không có hạn chế và không chia sẻ với các tỉnh, hiến pháp đúng là gìn giữ thể chế cộng hòa. Nó bảo đảm các quyền công dân, quyền ngôn luận, và cho phép các lực lượng chống đối điều hành các hoạt động chính trị mà không có sự can thiệp của chính quyền. Một Tối cao Pháp viện được thành lập mới gồm những thẩm phán được các Hội Luật sư Việt Nam cử ra. Tuy nhiên, không giống với Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ,  các thẩm phán không có tính thường trực mà được bầu lại mỗi 6 năm. Huy tin rằng “thất bại lớn nhất” của hiến pháp là không bảo đảm “tính độc lập của các thẩm phán.” Còn nữa, mặc dù bị chỉ trích, miền Nam đã thành tựu được một chặn đường.

Với hiện pháp đã hoàn tất, Phát ngôn viên quốc hội và lãnh tụ Cao Đài lão thành Phan Khắc Sửu lập tức báo tin dự tính mình sẽ tranh chức tổng thống. Ông chọn Phan Quang Đán làm phó tổng thống của mình. Đán, một người miền bắc và theo đạo Phật, bảo đảm sự quân bình tôn giáo và vùng miền. Sửu được bầu lại làm phát ngôn viên quốc hội vào ngày 14/4 với số phiếu cách biệt, cho ông thuận lợi sớm sủa trong cuộc đua. Trần Văn Hương cũng tỏ ý sẽ ra tranh cử, nhưng không tuyên bố chính thức, một chiến thuật để tạo ra không gian xoay sở vì cả Thiệu và Kỳ cũng đang đưa ra những gợi ý sẽ theo chân họ. Những nhân vật khác, bao gồm Hà Thúc Ký của Đai Việt Cách mạng, cũng tuyên bố tham gia.

Câu hỏi chính trị tò mò nhiều nhất vẫn là ai là liên danh của phe quân đội. Ứng viên quân đội có nhiều thuận lợi để thắng cứ, có được các thuẫn lợi thông thường của người đang tại chức cộng thêm những thuận lợi to lớn về tổ chức và tài trợ. Trong khi mỗi ứng viên dân sự có đầy đủ sức mạnh, nhưng không ai có sức thu hút quốc gia. Chỉ có Sửu và Hương là mối đe doạ, nhưng vì họ sẽ chia phiếu người miền nam, nên tự nhiên ứng cử viên quân đội trở thành người dẫn đầu. Dù vậy UBLĐ vẫn chưa muốn phá vỡ thế bế tắc của Thiệu-Kỳ, và vì cả hai đều hứa với Johnson ở Guam là không ai làm đứt gãy mới gắn kết quân sự, mỗi người đều tránh né đối đầu trực tiếp. Vào cuối tháng 3, Kỳ giải thích với Lodge rằng “hội đồng quân lực sẽ không chọn ra ứng cử viên. Tình huống thật đơn giản. Nếu Thiệu quyết định tranh cử, tôi sẽ hậu thuẫn ông. Ông ấy cao cấp hơn, nên ông ấy có cơ hội trước tiên.”

Nhưng vì Thiệu còn chần chừ, vào ngày 31/3 vài tướng lĩnh dồn Thiệu và Kỳ vào trong góc tại một buổi tiệc nhỏ, khởi đầu ba tháng vận động cho đến khi quyết định tối hậu được tuyên bố vào ngày 30/6. Ngài Thiệu quá ư thận trọng báo cho họ biết ông vẫn chưa quyết định, nhưng ông sẽ “tình nguyện”nếu họ yêu cầu. Lời đề xuất “ái quốc nhún nhường” của Thiệu thể hiện sự ước muốn không nói ra là được kêu gọi chứ không công khai tuyên bố những tham vọng chính trị của mình. Các tướng lĩnh cổ vũ ông hãy bàn bạc với Kỳ xem ai là ứng cử viên triển vọng hơn, một gợi ý thầm lặng cho rằng Thiệu không được vừa lòng nhiều người. Các đề xuất của họ là ám chỉ gián tiếp với Thiệu là họ hậu thuẫn Kỳ, và tất nhiên nó phản pháo. Theo Bùi Diễm, Thiệu lý giải sai lầm là lời khuyên của họ là “hậu thuẫn cho việc mình ứng cử”, nhưng nó “quá tinh tế và quá Việt Nam tính nên dẫn đến sự hiểu lầm cơ bản.” Thiệu chần chừ vì ông muốn được các đồng sự chọn mình và được người Mỹ ủng hộ. Tuy nhiên, UBLĐ muốn một sự dứt khoát, và khi Thiệu được vội vã đưa đến bệnh viện vào ngày 10/4 để mổ ruột thừa, họ liền hành động. Tướng Viên ra lệnh cho Nguyễn Đức Thắng đến thăm ông tại bệnh viện và yêu cầu ông tránh sang một bên. Thắng gặp Thiệu vào ngày 18/4 và bảo với ông rằng đa số tướng lĩnh đều tin rằng Kỳ có cơ hội thắng cứ hơn và khuyên Thiệu nên chỉ huy quân đội. Kỳ kế lại rằng Thiệu nổi cơn thịnh nộ vì ông tưởng các tướng lĩnh ủng hộ ông vào buổi họp ngày 31/3. Ông quát tháo Thắng rằng ông ta nói dối. Đến lượt Thắng cũng nổi cáu, và hai người “gần như ẩu đả với nhau”. Bùi Diễm mô tả rằng Thiệu “cảm thấy mình bị lừa gạt”, nhưng các tướng lĩnh đã không bảo “Thiệu là họ sẽ hậu thuẫn ông. Họ chỉ tỏ thái độ lịch sự… Họ cũng không lừa dối; họ chỉ nghĩ rằng Kỳ có cơ may nhiều hơn.” Tuy nhiên, Thiệu không tin vào sự phản đối của họ , và Bùi Diễm nói rằng Thiệu giờ đây “rất cay cú và cảm thấy bị cô lập và không ai hậu thuẫn” và rằng “uy tín cá nhân mình không cho mình lối thoát nào khác ngoài việc vẫn ra tranh cử.” Kỳ lạ thay, trong một lần nói chuyện với người bạn cũ, Ed Landsdale, Thắng kịch liệt bác bỏ việc ông đã nói chuyện với Thiệu. Đó là một lời chối hiển nhiên vì không muốn người Mỹ biết những tranh luận nội bộ, và đó không phải là lần cuối cùng mà người miền Nam giấu giếm người Mỹ những tính toán của mình.

Tướng Viên, giờ rất bực bội, quyết định đã chờ đợi quá đủ rồi. Vào ngày 8/5, ông tuyên bố rằng vì quân đội không phải là một chính đảng nên không thể cử một liên danh ra tranh cử, và mỗi binh sĩ có thể bầu theo ý nguyện. Động thái tài tình của Viên tránh cho các tướng lĩnh khỏi phải lựa chọn công khai. Về phần Kỳ, quyết định đó là một của trời cho. Bằng cách từ khước việc bầu chọn chính thức để lựa ra một ứng cử viên, Viên giải thoát cho Kỳ khỏi phải giữ lời hứa trước đây với Thiệu. Vì vậy, vào ngày 9/5, Kỳ gặp Thiệu và bảo với ông về ý định ra tranh cử của mình, và nhờ ông tán thành. Thiệu nói việc mình tán thành là không cần thiết, vì như chỉ dẫn của Viên, mỗi người gIờ đây có quyền tự do chọn lựa. Tin rằng mình được Thiệu ngầm tán thành, vào ngày 12/5, Kỳ chính thức tuyên bố ra tranh cử. Thiệu vẫn tiếp tục chần chừ, cho rằng mình “không chắc về một hậu thuẫn tiềm năng của mình và tin là người Mỹ sẽ chỉ nhận Kỳ làm tổng thống.” Mặc dù Thiệu cảm nhận mình không có cơ may chiến thắng, một chuyến viếng thăm hậu thuẫn của Westmoreland vào ngày 7/5, sau đó là sự thúc giục của Ngoại trưởng Trần Văn Đổ, cộng thêm niềm tin là ông còn được sự ủng hộ đáng kể của quân đội thuyết phục ông đổi ý. Vào ngày 20/5, Thiệu bảo với bao chí ông dự tính ra tranh cử, nhưng sẽ thông báo chính thức sau vài tuần nữa. Mặc dù ông nhấn mạnh rằng việc ông ra tranh cử sẽ không phương hại đến tình đoàn kết quân đội, ngài đại sứ Bunker lo lắng đến gặp ông để bàn luận về điểm đó. Thiệu báo với Bunker rằng ông “có thể trấn an với Johnson rằng mình là người yêu nước thực sự và sẽ không bao giờ làm bất cứ điều gì phương hại đến tình đoàn kết quân đội hoặc đất nước.” Ông nói, “Nhân dân không muốn một ông Diệm khác. Họ muốn một tổng thống và một quốc hội được bầu cử tự do và họ muốn Quân lực đứng ngoài chính trị và yểm trợ chính quyền.”

Với việc Thiệu ra tranh cử, vào ngày 25/5, các người khác cũng tuyên bố ra tranh cử. Trần Văn Hương trước rồi Hà Thúc Ký và Phan Khắc Sửu là những đối thủ dân sự chính. Mặc dù có mối quan hệ không mấy tốt đẹp với Phật giáo, Hương chọn một học giả Phật giáo nổi tiếng, Mai Thọ Truyền, đứng liên danh với mình. Mặc dù Truyền đã hợp tác với Trí Quang và Tâm Châu trong cuộc tranh đấu chống Diệm, nhưng sau đó ông đã chia tay với họ vì không đồng ý với hoạt động chính trị sau đó của họ.

Việc Thiệu tuyên bố ra ứng cử khiến Kỳ chới với. Tưởng Thiệu đã đồng ý với việc ra tranh cử của mình, Kỳ đã có những hoạt động mở màn với một số lớn cử tri, và ông đã có các tiến bộ đáng kể trong việc tổ chức chiến dịch tranh cử. Việc lần lựa của Thiệu cũng bật đèn xanh cho người tin cẩn của Kỳ, Chuẩn tướng Loan, khởi động cùng với các tỉnh trưởng và cảnh sát trưởng một tiến trình gần giống như một mưu toan gian lận phiếu. Sợ gây mất đoàn kết trong quân đội, Kỳ nhờ Diễm can thiệp với Thiệu và yêu cầu ông rút lui. Vào ngày 25/5, Bùi Diễm đến thăm Thiệu “trong phòng làm việc vắng vẻ của ông.” Dù Diễm cố gắng, Thiệu vẫn một mực không đổi ý. Dù chỉ nhận được phiếu bầu của bà xã và mình, ông cũng ra tranh cử. Các động lực của Thiệu chắc chắn là phối hợp của tham vọng, cổ vũ từ Westmoreland và Đổ, và lòng kiêu hãnh. Khi Bùi Diễm báo tin cho Kỳ về các dự tính của Thiệu, Kỳ lưu ý rằng “vì chúng ta kiểm soát tình hình, chúng ta sẽ tiếp tục tiến lên mà không cần ông ta.” Kỳ đã khép cánh cửa nhân nhượng với Thiệu. Đến giờ phút đó  ông không thể bỏ cuộc đua mà không bị mất mặt. Đó đó, khi Thiệu loan báo chính thức vào ngày 14/6, mối quan hệ thân thiết trước đây của hai người đã nhanh chóng xấu đi, đặc biệt về các phương thức khủng khiếp mà Loan đã vận dụnlg để gian lận bầu cử. Thiệu nổi nóng khi có báo cáo về việc Loan đã dặn dò mỗi cảnh sát trưởng ở tỉnh phải kiếm đủ 20,000 lá phiếu cho Kỳ.

Thiệu bắt đầu trả lời các phỏng vấn của báo chí yêu cầu chính quyền phải tổ chức bầu cử công bình, một phát súng trực tiếp vào các tính toán thiếu đạo đức của Loan. Ông cũng lặp lại rằng ông chống sự can thiệp quân sự vào chính trị. Liệu Thiệu có tin tưởng điều đó hoặc nếu lập trường của ông vẫn luôn thay đổi, thì đây là điều khác xa với khi ông cho rằng quân sự là lựa chọn tốt nhất để cai trị miền Nam. Ông hứa nếu được bầu, ông sẽ chọn một nhân vật dân sự làm phó tổng thống và thủ tướng cho mình. Ông thông báo ba điểm trong cương lĩnh: hòa bình, dân chủ, và công bình xã hội. Những từ đó ngay lập tức trở thành khẩu hiệu tranh cử của ông, vì để “tập kết nhân dân, mang nhân dân đến hợp tác với chúng ta, và phục hồi lòng tin, công lý xã hội phải được xúc tiến.”

Trong khi Thiệu liên tục kêu gọi bầu cử tự do, thật khó để khẳng định động lực dân chủ của ông là kết quả của sự trưởng thành cá nhân, sự giả vờ có tính toán, hoặc chỉ là lời hứa suông qua đường trong lúc tranh cử để kiếm phiếu. Có lẽ Thiệu ý thức được tình hai mặt trong con người Kỳ về vấn đề bầu cử trong sạch và nhìn ở nó như một cái nêm trong chiến dịch tranh cử. Nếu như thế, thì bản năng ông là đúng. Nhiều năm sau này khi nghĩ lại, Kỳ cho rằng, xét sự thất thủ sau đó của miền Nam, “giờ đây tôi tin rằng việc bầu cử là một sai lầm.” Ông phân tích rằng nếu ông đã duy trì quyền lãnh đạo, “nhiều lỗi lầm nghiêm trọng, trong đó có cả lỗi lầm của tôi, có thể đã tránh được.” Trong một lời bình phẩm hùng hồn hơn, trong khi Kỳ “một lòng với tiến trình dân chủ, tôi vẫn cảm thấy điều quan trọng là một ứng viên quân sự thắng trong cuộc bầu cử tổng thống” bởi vì “quân đội phải tiếp tục có vai trò chủ yếu trong chính quyền.” Thú nhận gây sốc của Kỳ giải thích những hành động của các thuộc hạ ông nhằm làm lệch kết quả bầu cử, nhưng làm sao ông tự nhiên quên khuấy cái tổn thất to lớn mà một cuộc bầu cử gian lận sẽ gây ra cho công luận Mỹ và Việt? Hoặc như các lãnh đạo miền Nam khác, có phải ông bỗng thình lình đói khát quyền lực? Nếu quyền lực tha hóa và hủy hoại, tất nhiên nó cũng truyền nhiễm. Tuy nhiên, Bunker sẽ không cho phép Kỳ gian lận phiếu. Dưới áp lực nặng nề của người Mỹ và nhạy cảm trước những phàn nàn của cả Thiệu và các thành viên quốc hội về việc bóp méo bầu cử, Kỳ rút lui. Ông cam kết một cuộc bầu cử trong sạch, họp tất cả  tỉnh trưởng để củng cố cam kết của mình, và uốn nắn Loan. Vào ngày 27/6, ông loại Loan ra khỏi nhóm vận động tranh cử của mình.

Tuy nhiên ao tù chính trị Saigon bổng thình lình bị khuấy đục, khi Dương Văn Minh yêu cầu được trở lại từ chốn lưu vong ở Thái Lan. Sợ việc Minh trở lại có thể rút bớt phiếu bầu của minh, Kỳ cấm Mình trở về. Nổi giận, Minh tuyên bố mình cũng ra tranh cử tổng thống và giao cho người đứng cùng liên danh với mình, một luật sư tên Trần Ngọc Liểng, nộp hồ sơ tranh cử. Liểng là một trong vị bộ trưởng người miền nam đã nộp đơn từ chức vào tháng 11 1966 cùng với Triều. Tuy nhiên Minh không biết Liểng là một tay Cộng sản nằm vùng sau này sẽ thành lập một vài nhóm theo trung lập chủ trương liên hiệp với MTGP.

Tại một buổi họp của hảng Thông tấn Pháp AFC vào ngày 29/6, Kỳ một lần nữa từ chối cho phép Minh trở về, lấy lý do “an ninh quốc gia”. Thiệu phản đối quyết định của Kỳ và đòi UBLĐ phải bầu biểu quyết cho yêu cầu của Minh. Bực bội vì cách xử sự của Thiệu, Nguyễn Đức Thắng “phát động một cuộc tấn công vào Thiệu vì tính khó đoán và hay do dự. Rồi ngay sau đó ông xin lổi, và ngài Thiệu tình cảm dịu xuống, “nói Thắng là tướng lĩnh đầu tiên xin lỗi ông … sau tất cả những điều khủng khiếp đã được nói sau lưng ông.”

Cuộc trao đổi chua chát này buộc các tướng lĩnh cuối cùng ngồi lại đối diện với thế bế tắc Thiệu-Kỳ. Suốt hai ngày sau, UBLĐ đã tìm ra giải pháp. Các chi tiết chính xác làm thế nào Thiệu đạt được thành tựu chính trị trong vụ lội ngược dòng chưa hề được tiết lộ, và vẫn còn là một trong những điều bí ẩn lớn của chính tình miền Nam. Kỳ có in ra các ghi chép của mình, cho đến nay vẫn là phiên bản phổ biến, nhưng một bức tranh đầy đủ hơn vẫn còn bị che phủ, thậm chí đối với nhiều người Việt có chức vụ cao. Điều đó có nguyên do. Dựa trên cuộc phỏng vấn với hai thành viên UBLĐ, cộng thêm các chi tiết khẳng định từ vài cố vấn thân cận nhất của Thiệu, một câu chuyện đáng ngạc nhiên về thỏa thuận cửa sau dần hé lộ. Các ghi chép của người Mỹ thường nhất trí là vào ngày họp đầu tiên (29/6) với Hội đồng Quân lực mở rộng hiện diện, cả Kỳ và Thiệu đều cho biết mình sẽ ra tranh cử, nhưng không muốn đứng chung liên danh. Hội đồng không thể tìm được giải pháp sau những tranh luận mặc dù nóng nảy nhưng đôi khi vẫn khá tình cảm về ưu khuyết điểm của từng người. Tuyệt vọng vì muốn giải quyết nhanh mối xung đột có thể đe doạ tình đoàn kết quân sự, chiều hôm đó, Tướng Viên kéo 4 tư lệnh và vài vị tướng chóp bu đến văn phòng ông để tìm giải pháp. Trong số những người này, ba  trong số 4 tư lệnh quân đoàn (Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, Trung tướng Vĩnh Lộc, và Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh) muốn Thiệu, trong khi Trung tướng Lê Nguyên Khang (Quân đoàn III) và 5 tướng khác muốn Kỳ. Sau nhiều giờ tranh luận dữ dội, họ phải ở lại muộn đến chiều tối ngày 29/6 với ưu thế rõ ràng là Thiệu chỉ huy quân đội còn Kỳ chạy chức tổng thống.

Điều gì diễn ra sau đó vẫn còn bị che giấu đến tận bây giờ. Nó liên can đến một nỗ lực liên kết giữa những người hậu thuẫn chính của Thiệu, Vĩnh Lộc và Hoàng Xuân Lãm, để giành giật vé ứng cử khỏi tay Kỳ. Các động lực của họ là sự phối hợp giữa lợi ích riêng và mối khắng khít cũ. Lộc và Thiệu đã là bồ bịch nhau (kể từ sự cố xảy ra trên cầu suýt làm hỏng cuộc đảo chính Diệm). Lãm thích Thiệu, tin rằng ông liêm chính hơn và sẽ là người lãnh đạo tốt. Lãm cũng muốn một sĩ quan lục quân nắm quyền, hơn nữa cũng vì Thiệu đã giúp mình tìm được một ngôi sao thứ ba vào giữa tháng 6. Một nhân tố quan trọng khác là “sợ rằng Tướng lưu vong Dương Văn Minh sẽ có cơ may thắng cử hơn nếu Thiệu và Kỳ ứng cử riêng.” Nhận thức này về Minh được khẳng định bởi người phụ tá thân cận nhất của Thiệu là Nguyễn Văn Ngân, người sau chiến tranh cho rằng “nguyên do mà Thiệu và Kỳ bắt tay nhau và đứng chung liên danh là . . . bởi vì nếu không chúng tôi sẽ thua cuộc Minh.” Vì nhiều tướng lĩnh cao cấp hiện thời đã hỗ trợ Khánh lật đổ Minh vào tháng 1 1964, nên họ sợ Minh trở lại nắm quyền.

Tiếp tục tranh luận trong văn phòng Viên vào sáng ngày 30/6, Lộc và Lãm ném một quả tạc đạn. Lộc tuyên bố rằng mình không thể đồng ý để Kỳ đứng đầu liên danh vì Kỳ sẽ dễ dàng bị người Mỹ lên án do có em gái buôn lậu ma túy. Lộc tuyên bố rằng bà ta sử dụng phi đoàn Không lực Việt Nam trước đây của Kỳ để chở hàng cấm từ Lào về Việt Nam. Tại Vientiane, Lào, he-rô-in được giấu trong các lon Coca-Cola. Khi phi cơ bay qua Đà Lạt, thành phố nghỉ mát thuộc Quân đoàn III của Lộc, ma túy sẽ được thả dù xuống đất, tại đó lực lượng địa phương sẽ thu hồi chúng. Miền Nam không thể cho phép Hoa Kỳ có tiềm năng kiểm soát Kỳ. Cách giải quyết là cho Thiệu đứng đầu và cho Kỳ làm phó.

Kỳ nổi cáu, xin được trở về Không lực và để Thiệu ra ứng cử. Với việc Kỳ từ chối ứng cử phó tổng thống, Lãm ném cầu vai ba sao của mình lên bàn và hăm từ chức nếu Kỳ không liên danh với Thiệu. Ông và Vĩnh Lộc sau đó đứng dậy và bỏ ra phòng họp. Thấy tình cảnh như vậy, Lê Nguyên Khang, bạn học cũ của Kỳ, rút khỏi phe Kỳ. Khang đã âm thầm vỡ mộng với Kỳ. Cơn giận bắt đầu, như thường xảy ra trong chính trị, với một sự khinh thường biểu lộ ra. Vào đầu tháng 2 1967, khi Viên và Nguyễn Văn Mạnh đã nhận thêm một sao, Khang đã không được thăng cấp lên trung tướng tại nhiệm (ông đã được thăng cấp lên trung tướng tạm thời vào tháng 11 1966, một cấp bậc chỉ có ở Việt Nam) cho dù ông chỉ huy nhiều binh sĩ hơn bất kỳ ai khác. Khủng hoảng hiến pháp vào tháng 3 càng làm bùng cháy hơn sự căm phẫn của ông với Kỳ. Ông đã là tướng lĩnh lớn tiếng nhất lên án thỏa hiệp cho phép quốc hội tiếp tục sau khi hiến pháp đã được công nhận. Khi Lãm và Lộc bỏ ra ngoài, Khang cũng hăm dọa từ chức trừ khi Kỳ và Thiệu bắt tay nhau.

Đến điểm này, Tướng Viên phá vỡ bế tắc. Theo ghi chép sau chiến tranh viết cho con gái mình, Viên lưu ý rằng ông đã yêu cầu Kỳ và Thiệu bước ra ngoài để UBLĐ có thể thẳng thắng bàn bạc tình hình. Kỳ khẳng định trong hồi ký của mình là hai người ra ngoài ngồi. Sau đó Viên đưa ra một thỏa hiệp. Họ đồng ý cả hai sẽ đứng chung liên danh tranh cử và nếu có người nào từ khước quyết định của Hội đồng, họ phải bị trục xuất khỏi Hội đồng Lãnh đạo. Sau khi tất cả đều nhất trí, Kỳ và Thiệu được mời vào phòng. Tôi thông báo quyết định cho họ biết, bảo họ, ‘Các thành viên Hội đồng Lãnh đạo đã quyết định rằng hai anh phải đứng chung một liên danh. Thiệu sẽ là ứng cử viên tổng thống, Kỳ phó tổng thống. Để bù đắp cho nhượng bộ này, người mà Kỳ chọn làm ứng cử viên Phó Tổng thống của mình (Nguyễn Văn Lộc) sẽ được bổ nhiệm làm thủ tướng. Nếu hai anh ai từ chối quyết định của Hội đồng Lãnh đạo, người ấy sẽ bị trục xuất khỏi Hội đồng Lãnh đạo.’ Đối mặt với lập trường cứng rắn, quyết liệt của mọi thành viên trong Hội đồng Lãnh đạo, Thiệu và Kỳ đành phải nghe theo quyết định.

Sau đó Lãm đề nghị cách giải quyết tránh sự mất mặt. Họ đồng ý kể cho mọi người là Kỳ đã đồng ý cho Thiệu đừng đầu vì Thiệu có quân hàm cao hơn và đã là quốc trưởng. Trong văn hóa Việt Nam, gia thế và cấp bậc quan trọng hơn nhiều so với người Mỹ.

Có những chi tiết hỗ trợ cho phiên bản về các sự kiện xảy ra trong gian phòng mù mịt khói thuốc lá này. Trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo ba năm sau đó để bác bỏ những cáo buộc Kỳ đã đưa ra chống lại mình, Thiệu “gán cho sự hiệp đồng liên danh của họ là ‘cuộc hôn nhân cưỡng bách’ và nói ra các sự kiện nhằm bác bỏ việc Kỳ cho rằng  mình đã ‘nhường’ chức tổng thống cho Thiệu.” Chỉ huy lực lượng Biệt động quân, Đại tá Trần Văn Hai, người đã tham dự Hội đồng Quân lực nhưng không có mặt trong văn phòng Viên, khẳng định rằng “Kỳ đã quyết định rút lui… khi Khang, người mà Kỳ trông cây sự hậu thuẫn, cho biết là mình không tính sẽ ủng hộ Kỳ.” Hồ sơ về Lãm  trong sứ quán cho rằng “Lãm báo một nhân viên sứ quán rằng ông đóng vai trò chính trong việc thuyết phục Kỳ nhận vé thứ hai trong liên danh.” Hồi ký của Kỳ có ghi nhận vai trò của Lãm trong việc ông quyết định làm phó. Thật thú vị, Kỳ cũng đề cập đến vụ ma túy và cô em mình. Trong cuốn sách thứ nhất, ông khẳng định he-rô-in được tính luyện ở “Vientiane, từ đó nó được phi cơ chở về Saigon, thường trong lon Coca-Cola. Một số được máy bay quân sự Lào hay Việt ném xuống.” Đối với cô em, mà ông gọi là “con cừu đen trong gia đình,” Kỳ xác nhận cô ta đã đi sang Lào và họ không nói chuyện với nhau suốt 20 năm.  Dù vậy, Kỳ cũng nhìn nhận  “trong thời kỳ này ai cũng biết nhiều người Việt sinh sống ở Lào đều có liên can đến việc buôn lậu vàng hoặc ma túy” và bởi vì chức vụ của ông, “tin đồn lan rộng là cô ta và tôi buôn lậu chất cấm vào Việt Nam. Có thể cô ta có dính líu, nhưng lúc ấy tôi không biết gì về việc đó, và đến bây giờ tôi cũng không biết gì về việc đó.” Dù việc lên án Kỳ về buôn lậu ma túy là đúng hay sai, Viên và bốn tư lệnh quân đoàn cũng đã bắt buộc họ bắt tay nhau. Uỷ ban Lãnh đạo đã khống chế hai người, đặt ra một tiền lệ là tiếng nói của tập thể sẽ thống trị trong tương lai. Kỳ, tất nhiên, là nổi giận, và nhiều người hậu thuẫn ông cũng vô cùng bực tức. Ông phải tìm cách giải thích cho hành động của mình, vì vậy phiên bản hậu chiến của ông – cho rằng ông chấp nhận làm phó vì quyết định bốc đồng trong giây phút – khớp ngon lành với tính khí bộp chộp của ông như mọi người đều biết. Mặc dù Thiệu đã thỏa thuận Kỳ sẽ bổ nhiệm vị thủ tướng mới và nội các, tính mơ hồ của thỏa thuận khiến Kỳ phải tìm kiếm một điều gì đó cụ thể hơn. Vào ngày 6/7, Thiệu, Kỳ, và các tướng lĩnh khác tổ chức một cuộc họp để giải quyết sòng phẳng mọi chi tiết. Họ cùng ký một thỏa hiệp quy định rõ ràng Kỳ “phải tán thành bất kỳ quyết định chính quyền quan trọng nào… Thiệu thỏa mãn với thoả hiệp và biết rõ vai trò tổng thống hạn chế của mình.” Các sĩ quan cao cấp lập ra một nhóm bí mật gọi là Quân Uỷ Hội (Hội đồng Quân sự) mà Kỳ tuyên bố đã buộc được Thiệu “ký một biên bản bí mật nhằm giữ ông dưới sự kiểm soát của quân đội… Hội này chỉ chịu tự trách nhiệm, và không ràng buộc bởi hiến pháp.” Về cơ bản, các vai trò hiện thời, với Thiệu như là một nhân vật có tính nghi lễ còn Kỳ nắm quyền thực sự, sẽ không thay đổi, mặc kệ hiến pháp.

Các thành viên của Quân Uỷ Hội bí mật, theo phong cách quyền uy điển hình, tin rằng miền Nam tiếp tục cần sự chỉ đạo của họ bởi vì “giai đoạn phát triển xã hội và chính trị hiện thời của dân chúng và các lãnh tụ chính trị của họ không cho phép thiết lập một nền dân chủ đầy đủ vào lúc này.” Đất nước “phải được hỗ trợ …để triển khai các chương trình của chính quyền và chỉ đạo để bảo đảm các chương trình như thế được thai nghén và thi hành vì lợi ích của nhân dân và quốc gia.” Việc các tướng lĩnh khinh nhờn các ứng cử viên tổng thống dân sự, cộng với tư lợi đã ăn sâu, đã khiến họ mù quáng trước quan niệm rằng tính hợp pháp chính trị của Saigon cũng quan trọng như sức mạnh quân sự. Trần Văn Hương là ứng viên duy nhất mà họ tôn trọng. Hương đã chọn một lập trường không làm vừa lòng nhiều người vào cuối năm 1964 là chống phe Phật tử tranh đấu, rồi sau đó chống lại những mưu tính đâm sau lưng của Khánh. Dù vậy, quý trọng không bằng quy phục.

Một năm sau, Kỳ trưng cho một phụ tá xem bản hợp đồng. Gồm hai trang đánh máy, văn bản khẳng định rằng “các ứng cử viên tổng thống của nhóm đồng ý rằng mình sẽ không ra bất cứ quyết định chính trị quan trọng nào với tư cách một tổng thống mà không có sự tư vấn và chấp thuận của Hội đồng các Tướng lĩnh… Kỳ ký tên với tư cách chủ tịch và Thắng ký dưới tư cách Tổng Thư ký, trong khi Thiệu chỉ ký như một thành viên, chữ ký của ông đứng ở vị trí thứ tư. .. Kỳ bảo với phụ tá rằng chính Thắng là người soạn thảo ra văn bản đó.”

Uỷ ban Lãnh đạo đã bí mật thông đồng cắt xén hiến pháp, và cả Thiệu lẫn Kỳ đã đồng ý chuyện đó  vì sợ bị tống khứ ra khỏi nhóm. Cả hai đều tin rằng họ đã hành động vì lợi ích của miền Nam, và cả hai đều lầm.

ĐIỆU SLOW VỀ PHÍA ĐOÀN KẾT

Cho dù mưu toan chính trị cửa hậu, trên bề mặt miền Nam dường như đang tiến về phía trước. Về quân sự, kẻ thù đã gặt hái tổn thất nặng nề, và các cuộc đột kích gần đây của Quân đội Nhân Dân tại Quân đoàn I và II đã bị chặn đứng. Về kinh tế, vấn đề cấp kinh phí và chi tiêu đã được kiểm soát, lượng thực phẩm cung cấp cho thành phố đã tăng lên, và sự phồn thịnh đang xuất hiện trong các thành phố và ngày càng tăng lên trong một vài khu vực ở nông thôn. Mặc dù lạm phát vẫn chưa được khống chế, ít ra việc tăng giá cũng chậm xuống hơn những năm trước.

Ngoài những chỉ dấu tích cực này, các thay đổi khác sâu xa và không nhìn thấy được về mặt xã hội cũng đang xảy ra. Cơn oằn oại năm 1966 của Phật tử đã thuyết phục các khối sắc tộc và tôn giáo rằng đối kháng là vô hiệu quả đối với sự đàn áp của quân đội. Người Hoa, người Công giáo, Thượng, và người Phật tử ôn hòa vi vậy bắt đầu một vũ điệu chậm của sự điều tiết với chính quyền, chỉ còn phe Phật tử đấu tranh là còn gây rối. Việc chuyển tiếp đến chính quyền hợp hiến giúp làm bật lên những thay đổi, cùng với nhận thức được rằng tình hình an ninh đã ổn định. Trong khi các thiên kiến vùng miền và kỳ thị tôn giáo sẽ không bao giờ tiêu tán hoàn toàn, chủ nghĩa bộ tộc trắng trợn đã bắt đầu giảm bớt. Dù còn nhiều vấn nạn phức tạp dường như không thể giải quyết vẫn còn tồn tại – chủ yếu là căn bênh tham nhũng đặc hữu, chính quyền ở địa phương còn yếu kém, và hiểm họa chính trị và quân sự của  Cộng sản vẫn còn đáng ngại – tấm lá chắn quân đội Hoa Kỳ đã đạt được mục tiêu của mình. Mặc dù bị nhiều chỉ trích, miền Nam đã âm thầm đạt đến một sức mạnh chưa từng thấy kế từ những năm đầu thập niên 1960. Về hành chính, đó là một nhiệm vụ đầy thử thách, vì miền Nam có đến 44 tỉnh, hơn 2,500 làng, và hơn 11,000 ấp. Saigon điểm danh khoảng phân nửa số làng ấp là an ninh, mặc dù trong tháng 2 1967, người Mỹ đã có những nỗ lực đầu tiên xác minh lời tuyên bố đó bằng phương pháp thống kê với một cuộc khảo sát mới mang tên Hệ thống Đánh giá Ấp. Mặc dù độ chính xác của nó bị vu khống, hệ thống được thiết kế để phát hiện những xu hướng cấp tỉnh. Không may, nó nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn đo lường sự tiến bộ, có nghĩa là sức ép tại cấp độ địa phương muốn cho thấy sự cải thiện bắt chấp tình hình an ninh thực sự.

Cuộc bầu cử cấp làng đầu tiên được tổ chức vào ngày 2/4, và vào cuối tháng, gần một ngàn làng đã tổ chức bầu cử xong, với 77 phần trăm cử tri đăng ký đi bỏ phiếu. Tình hình an ninh, đặc biệt trong khu vực phía bắc Quân đoàn, chỉ có một phần ba trong tổng số làng tham gia.

Bầu cử ấp xảy ra từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 6, với gần 4,500 ấp tham gia. Hàng ngàn người được trúng cử vào các hội đồng mới, một sự hòa nhập đông đảo của nền dân chủ quần chúng trong một đất nước chưa từng kinh qua quyền tự trị địa phương nhiều năm rồi. Một giai đoạn bầu cử khác được dự tính vào tháng 7 trong những vùng mới đây được cho là an ninh. MTGP, dù sát hại 12 ứng cử viên, không phá hoại được cuộc bầu cử. Về lập pháp, quốc hội tiếp tục mối quan hệ cộng tác với Ủy ban Lãnh đạo, mặc dù vẫn còn ngờ vực nhau. Việc tranh cãi chủ yếu là ấn định ngày bầu cử Thượng viện. Quốc hội muốn tổ chức vào tháng 12, trong khi UBLĐ muốn tổ chức cùng ngày với bầu cử tổng thống. Khi quốc hội từ chối, các tướng phủ quyết yêu cầu đó, tạo ra hiềm khích không ít.

Vì Uỷ ban Bầu cử của quốc hội được giao nhiệm vụ hợp thức hóa những danh sách ứng cử Thượng viện và Tổng thống, một số dân biểu âm mưu trả thù. Khi tính hợp thức của liên danh Thiệu-Kỳ được xét vào ngày 3 tháng 7 bởi cựu Tổng trưởng Kinh tế và ứng cử viên tổng thống Âu Trường Thanh, các dân biểu trong Ủy ban Bầu cử nắm bắt được cơ hội. Vào ngày 17/7, ủy ban bác liên danh quân sự, phát biểu rằng hai vị lãnh đạo cần phải từ nhiệm để đảm bảo một cuộc bầu cử công bình. Đồng thời, họ chấp thuận tính hợp lệ của ứng cử viên Dương Văn Minh. Các tướng lĩnh sững sờ, và sau một số lời hăm dọa đen tối, quốc hội chùn xuống và hợp thức hóa liên danh Thiệu-Kỳ. UBLĐ cũng thuyết phục họ loại bỏ Thanh khỏi cuộc tranh cử bằng cách vực dậy những lời cáo buộc xưa cũ cho ông là một tên Cộng sản trong buồng kín vì lập trường của ông, ngừng bắn ngay lập tức và hòa bình với bất cứ giá nào, được xem là thân MTGP. Minh vẫn còn là một điểm kẹt khác. Vì Minh tất nhiên không phải là hiểm họa an ninh quốc gia, thay vào đó Uỷ ban Bầu cử loại người chung liên danh với Minh, Trần Ngọc Liểng trên cơ sở Liểng từng có quốc tịch Pháp. Người Mỹ không ngừng kêu gọi sự cần thiết của một cuộc bầu cử công bình. Viên giữ lời mình đã hứa là tránh quân đội can thiệp trắng trợn vào cuộc đầu phiếu. Vào ngày 1/7, bộ Tham mưu Liên quân ban hành chỉ thị ngăn cấm quân nhân hoạt động tranh cử cho một ứng cử viên hoặc tìm cách thuyết phục người khác trong đơn vị mình hậu thuẫn cho một liên danh nào đó. Ai vi phạm sẽ bị kỷ luật. Để yểm trợ cho lệnh đó, Thiếu tướng Thắng gửi một bức thư cho tất cả cán bộ PTNT cấm họ hoạt động ủng hộ bất kỳ liên danh nào, trong khi Kỳ cũng ngăn cấm công chức. Thêm vào đó, Kỳ dỡ bỏ mọi kiểm duyệt báo chí, hứa sẽ tạo điều kiện về phương tiện vận tải và truyền thông ngang bằng nhau cho các ứng cử viên khác, và mời Liên Hiệp Quốc gửi các nhân viên giám sát bầu cử để chứng thực tiến trình bầu cử. Để chứng tỏ mình nói là làm, một vài ngày trước cuộc bầu cử, Đại tá Phạm Văn Liễu, nguyên Tổng giám đốc nha cảnh sát và giờ là chỉ huy Trường Hạ Sỉ Quan Nha Trang, bị quản thúc tại gia sau khi ông điều động các sĩ quan rải truyền đơn tranh cử cho Phan Khắc Sửu. Đáng tiếc, động thái này phản pháo vì mọi người lý giải việc quản thúc như là cách làm im lặng phe chống đối. Kể từ tháng 5, Kỳ đã bắt đầu tiếp xúc với các nhóm cử tri khác nhau để tranh thủ sự hậu thuẫn của họ, và nhiều người hình như có thái độ cộng tác hơn trước đây. Mọi người trừ phe Phật tử đấu tranh. Mặc dù họ vẫn giữ im lặng trong những tháng đầu năm 1967, vào mùa xuân 1967, nhóm đấu tranh đã bắt đầu ngọ nguậy khi ngày bầu cử gần đến. Trong khi vẫn còn ở thế yếu, Ấn Quang lao vào hành động khi Thiệu ký Sắc lệnh 23/67 vào ngày 18/7/1967, hủy bỏ hiến chương trước đây của Hội Phật giáo Thống nhất và công nhận Chùa Quốc Tự của Châu là lãnh đạo giáo hội chính thức. Ấn Quang bùng nổ, và vị hòa thượng có giáo phẩm cao nhất Phật giáo, người đứng đầu giáo hội được bầu ra và là người hậu thuẫn Trí Quang gửi một bức thư cho Thiệu phẫn nộ lên án hiện chương mới.  Vào tháng 8, cả phe Án Quang và Quốc Tự tổ chức các buổi họp công kích nhau, nhưng phần đông tổ chức Phật giáo Việt Nam đều đứng về phe Châu. Họ chấp thuận hiến chương và bầu ra một lãnh đạo giáo hội mới, trên đó Tâm Châu bước xuống khỏi chức vụ Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Dù sao thì hai khối tiếp tục đấu đá nhau, và việc tranh chấp hiến chương kéo dài nhiều năm trời. Khi quốc hội loại ra một vài khối Thượng Nghị sĩ thuộc phe Phật giáo đấu tranh vì chủ trương trung lập hoặc vì hồ sơ không hợp lệ, phe đấu tranh một lần nữa hăm he tẩy chay cuộc bầu cử và một lần nữa không ai thèm để ý.

Các giáo phái khác cũng trải qua những biến đổi sâu sắc. Vào giữa tháng 5, Kỳ tạo được một kỳ tích là tranh thủ được sự hậu thuẫn của hai giáo phái châm chích nhau của Hoà Hảo. Còn Cao Đài, dù bị chia rẽ trước  việc ra ứng cử của Phan Khắc Sửu, cũng âm thầm đồng ý ủng hộ Kỳ để đổi lấy một vài ghế trong cơ quan lập pháp tương lai. Công giáo vẫn tích cực về chính trị nhưng như Phật giáo đang dần dần chia rẽ. Với sự cáo chung của tổ chức liên tôn của Cha Hoàng Quỳnh, người ngoài tôn giáo đã chiếm quyền điều khiển Lực Lượng Đại Đoàn Kết của Quỳnh. Quan trọng hơn, giáo hội đã điều chỉnh lập trường của mình về thương lượng hòa bình. Vào cuối tháng 9 1966, một phái đoàn Vatican đã đến thăm Saigon mang theo một bức thư tay của Giáo hoàng Paul VI. Thông điệp của giáo hoàng dẫn đến một cục diện đảo ngược đáng kinh ngạc cho Công giáo miền Nam. Vào ngày 7/10/1966, Hội đồng Giám mục Việt Nam chính thức yêu cầu thương lượng hòa bình. Hoàn toàn không được để ý đến vì giận dữ trước vụ khủng hoảng nội các của Kỳ và sự bùng lên trong nội bộ Phật giáo, đó là một sự biến đổi to lớn với lập trường cứng rắn trước đây của Cha Hoàng Quỳnh. Vào tháng 12 1966, giáo hoàng công khai kêu gọi thương lượng để chấm dứt chiến tranh. Trong khi người Công giáo vẫn giữ lập trường chống đối việc MTGP tham dự vào đời sống chính trị của miền Nam, họ thận trọng không tranh cãi với lời kêu gọi hòa bình của giáo hoàng.

Cũng lúc đó, Kỳ có động thái mang nhóm thiểu số về phe mình. Ông ký một sắc lệnh trả lại tài sản cộng đồng cho người Hoa mà Diệm đã tịch thu vào năm 1960 như một phần trong

nỗ lực đồng hóa của ông. Trong khi người Miên ở đồng bằng Cửu Long vẫn còn thụ động, thì người Thượng một lần nữa tìm ra một cách xử trí đặc biệt. Mặc dù hiến pháp mới đã quy định những đặc quyền cho nhóm thiểu số, Trung tướng Vĩnh Lộc và Paul Nur, ủy viên đặc biệt về vấn đề đồng bào Thượng, tiếp tục thúc đẩy, và vào cuối tháng 6, một hội nghị được tổ chức ở Pleiku với 200 đại biểu từ các bộ tộc khác nhau. Hội nghị Toàn Bộ tộc soạn thảo một Quy chế Đặc biệt, một biện pháp trao các quyền lợi đặc biệt cho người vùng cao, trong đó có quyền sở hữu đất đai và cải thiện trường học và toà án cho  người Thượng. Kỳ tham dự lễ bế mạc và đồng ý với những đề xuất, bao gồm việc nâng cấp Ủy ban Đặc biệt lên thành một bộ đầy đủ. Mặc dù FULRO chẳng bao lâu bác bỏ luật mới, nhưng nhóm nổi dậy yếu dần.

Vào ngày 29/8, Thiệu và Kỳ ký sắc lệnh Quy chế Đặc biệt tại một buổi lễ tổ chức tại Ban Mê Thuộc. Trong khi những thiên kiến chủng tộc ở Việt Nam sẽ không bao giờ tiêu tan, người Thượng đã đạt được vị thế công dân bình đẳng ở miền Nam.

Khi thời điểm bỏ phiếu đến gần, các viên chức bắt đầu đánh giá phẩm chất và tính cách của hai nhà lãnh đạo của miền Nam. Nhiều người có  ấn tượng như nhau nhưng đi đến các kết luận khác nhau. Trong khi phần đông nhân viên  Mỹ đều ủng hộ Kỳ, thì hai nhà lãnh đạo chính của Hoa Kỳ, Đại sứ Bunker và Tướng Westmoreland, hậu thuẫn Thiệu.

Bunker đã “ra về sau buổi họp đầu tiên với Kỳ mà không mấy ấn tượng với khả năng suy nghĩ kiến tạo của Kỳ không gì khác hơn là búng ra những khẩu hiệu.” Bunker cảm nhận “mạnh mẽ là Thiệu có nhiều khả năng hơn và có chiều sâu hơn Kỳ… Những năng lực trí tuệ của Thiệu cũng hơn hẳn Kỳ. Thiệu cũng thẳng thắn hơn, nói ra ngay khi ông không đồng ý.” Westmoreland cảm thấy Thiệu là “bậc thầy về canh giờ. Ông ta kiên nhẫn, thận trọng, muốn dành thời gian để che giấu các nước đi của minh trước ở phía sau hậu cảnh, một người xứ sự khéo léo với lãnh tụ các giáo phái và phe đảng.”

Bùi Diễm, tuy nhiên, đồng ý là tuy Thiệu “phản chiếu một hình ảnh chín chắn nghiêm túc, trái ngược hoàn toàn với tính tự đắc khó dự đoán của Kỳ,” ông ta lại “hay giữ kẽ và đa nghi và tính toán… Điều mà Bunker và Westmoreland cho là sự chín chắn, thì tôi thấy là sự do dự và thiếu quyết đoán… Thiệu rất cần cù … nhưng ông ta không phải là người của ý tưởng và tầm nhìn…Về bản chất, ông ta quá cẩn trọng, quá ý thức về mọi góc cạnh, bị cuốn vào những suy nghĩ của mình và hành xử lắt léo.” Kỳ, trái lại, “học tập nhanh và nhiệt tình với những ý tưởng mới mẻ. Và ông ta có một mức độ táo bạo nào đó… Ông có khả năng dám đánh liều mà không nghĩ nhiều về hậu quả nếu thất bại.” Cá tính của Thiệu đúng là hai mặt một cách kỳ lạ. Ở nơi công cộng, ông thể hiện một con người cứng nhắc, mà người ủng hộ ông gọi là dè dặt, còn đối thủ ông cho là kênh kiệu. Ông lắng nghe chăm chú, ghi chép và thường đồng thuận với khách nhưng hiếm khi làm theo. Khả năng lắng nghe nhưng vẫn dè dặt khiến ông có thể tránh sự xa cách hoặc liên kết ông với bất kỳ nhóm nào hay đường hướng nào cho đến khi ông đã xem xét nó tỉ mỉ. Dù gì đi nữa, thì giờ đã bắt đầu chiến dịch tranh cử và đầu phiếu để biến miền Nam thành một nền dân chủ mới nhất của thế giới.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s