Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 10)

CHƯƠNG 10: “LÚA GẠO CŨNG QUAN TRỌNG NHƯ SÚNG ĐẠN”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Xây Dựng Đất Nước

 Đã vượt qua sóng gió của những soi mói quốc tế, những tiếng hò hét “đả đảo Kỳ” và “Thiệu phải cuốn gói,” hành động gần như nổi loạn của một số đơn vị Quân đoàn I, và yêu cầu cấp bách của nội bộ phải hành động, các nhà lãnh đạo miền Nam giờ đây phải dấn thân vào nhiệm vụ tế nhị của việc hòa giải và tái thiết. Mặc dù Kỳ đã đi qua cuộc khủng hoảng Phật giáo trở nên lớn mạnh hơn về mặt chính trị, ông biết rằng cuộc cách mạng xã hội đã hứa hẹn đã không thể biến thành sự thật. Tệ hơn nữa, những cơn bão nội bộ chỉ tạm thời lắng dịu, và nửa năm cuối 1966 sẽ một lần nữa kiểm tra tài lãnh đạo của họ. Việc này bao gồm tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến, khởi động việc bình định hoá, khó khăn kinh tế tiếp diễn, và việc thách thức tài quản trị của Kỳ bởi một phong trào chính trị của người miền Nam đang nổi dậy do một số tổng trưởng nội các cầm đầu. Mặc dù các tít trên mặt báo, không phải tất cả đều u ám. Binh sĩ Mỹ đã đảo ngược tình hình nguy cấp trên chiến trường, và Tổng thống Lyndon Johnson đang bơm tiền vào đất nước để khởi động việc bình định hoá. Trong nửa cuối của năm 1966, tình hình an ninh ở nông thôn có nhiều tiến bộ nhờ viện trợ và binh sĩ Mỹ cùng với sự tập trung của chính quyền miền Nam vào nông thôn đã tạo nên nền móng cho sự tăng trưởng miền Nam trong năm 1967, một cơ sở khiến đất nước có thể đứng vững trước cuộc Tổng Công Kích Tết 1968.

GIỮ LỜI ĐÃ HỨA

Dù đã có những quan tâm về việc bình định hoá và kinh tế, Thiệu và Kỳ buộc phải tập trung vào tình hình chính trị. Giờ họ phải làm việc sát cánh với nhân vật được chọn để cầm đầu ủy ban soạn thảo luật bầu cử, Trần Văn Văn. Là một người chống Cộng kiệt liệt, Văn là người  nam có thành kiến nổi bật về kỳ thị vùng miền và muốn phe quân sự ở ngoài chính trị. Cả hai nét cá tính ấy lập tức gây ra cọ sát với Tư lệnh Không lực Kỳ sinh quán miền bắc.

Văn sinh ngày 2/1/1908 trong một gia đình điền chủ tiếng tăm tại Tỉnh An Giang thuộc đồng bằng Cửu Long. Ông tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp ở Paris. Là một người Quốc gia nhiệt thành, ông đã tham gia hoạt động chống Pháp, nhưng vào tháng 7 1949 ông tham gia nội các Bảo Đại, tại đó ông trở thành bạn thân với Phan Khắc Sửu. Sau cuộc bầu cử Ngô Đình Diệm vào năm 1955, Văn về phe do Sửu cầm đầu và trở thành một tiếng nói công kích Diệm. Vào tháng 4 1960, Văn ký tên vào Tuyên ngôn Caravelle, và để trả đũa, ruộng đất của gia đình ông bị tịch thu trong chương trình cải tạo ruộng đất của Diệm. Sau vụ đảo chính 1963, thành tích chống đối cùng nguồn gốc miền nam của ông khiến Minh Cồ chọn ông làm người đứng đầu Hội đồng Nhân sĩ. Nguyễn Khánh sau đó cử ông phục vụ dưới quyền Phan Khắc Sửu với chức tổng thư ký của Hội đồng Quốc gia Tối cao, nhưng Văn bị bắt giữ vào tháng 12 1964 trong vụ thanh lọc hội đồng. Ông bị giam giữ cho đến khi được Quát thả ra vào tháng 2 1965.

Bổ nhiệm Văn cầm đầu ủy ban soạn thảo luật bầu cử nhanh chóng làm nổ lên các điều đình gay gắt giữa ủy ban và UBLĐQG. Tìm cách loại phe quân sự khỏi chính trị, Văn yêu cầu nhóm quân sự trao quyền cho cơ quan lập pháp mới sau cuộc bầu cử quốc hội. UBLĐQG từ chối, sợ rằng các Phật tử tranh đấu sẽ đạt được đa số phiếu trong kỳ bầu cử sắp đến, nhưng họ đưa ra một hòa giải. Họ đề nghị đa số phiếu của quốc hội bầu ra có thể phê chuẩn bản nháp của hiến pháp mới. Sau đó UBLĐQG và quốc hội sẽ cùng nhau phê chuẩn hiến pháp, nhưng chỉ đa số  ⅔ đại biểu mới có thể bác bỏ phủ quyết của phe quân sự về bất kỳ điều khoản đặc biệt nào. Một khi hiến pháp đã được phê chuẩn, cuộc bầu cử chính quyền mới sẽ được tổ chức vào mùa thu 1967. Hai bên đồng ý, và Thiệu ký sắc lệnh vào ngày 19/6.

Không thể gây ảnh hưởng cho việc soạn thảo luật bầu cử, thay vào đó phe Trí Quang đòi Thiệu và Kỳ  từ chức trước khi bầu cử quốc hội, sợ rằng phe quân sự sẽ sửa đổi kết quả. Phật tử hăm dọa tẩy chai bầu cử nếu tối hậu thư của họ không được thỏa mãn. Bùi Diễm, người biết Trí Quang quá rõ, cho rằng nhà sư năng nổ nhìn thấy “tính toán và âm mưu sau mọi việc,” gọi ông ta là một “Ngô Đình Nhu theo đạo Phật”. Bộc lộ sự tranh chấp đang lên bên trong Giáo hội Phật giáo Thống nhất (GHPGTN), Thích Tâm Châu đề nghị một thỏa thuận khác. Vào ngày 3/7, ông đề nghị treo lại phản kháng và tham gia đầu phiếu nếu Kỳ đồng ý rút cảnh sát khỏi các chùa chiền, tu sửa các thiệt hại, và không kết tội những người bị bắt. Kỳ chấp nhận, và trong một cử chỉ thiện chí, ông thả vài trăm người biểu tình bị bắt.

Sự nhượng bộ của Châu có những hệ lụy to lớn: nó chia rẽ hàng ngũ Phật giáo. Một nhà hoạt động than thở rằng “Việc Châu đào ngũ sang Kỳ là một tổn thất lớn nhất cho GHPGTN.” Khi những người theo Quang trong Viện Hoá Đạo phê phán thỏa hiệp của Châu vào ngày 13/7 Châu giận dữ tuyên bố mình sẽ ra nước ngoài cho đến khi cuộc bầu cử kết thúc. Tuy nhiên, ông chịu từ chức chức viện trưởng. Để đáp ứng, mười ngày sau, phe đối kháng bổ nhiệm một người phe Quang làm quyền viện trưởng để thay thế Châu trong thời gian vắng mặt. Đã kiểm soát viện cho Quang sự khởi đầu cần thiết để ông tái xác định mình. Dù bị quản thúc tại gia và đang tuyệt thực, vào ngày 15/7 ông đồng ý bắt tay với liên minh mới thành lập gồm các phe phái tôn giáo chống chính quyền của Cha Quỳnh, giờ được gọi “Mặt trận Liên Tôn”. Cùng với Quang trong ban lãnh đạo, nhóm của Quỳnh phát đi thông báo cũng yêu cầu Kỳ từ chức, nếu không họ sẽ tẩy chay cuộc bầu cử. Trong một dấu hiệu rõ ràng về uy tín đang lụi tàn của Quỳnh, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, người cầm đầu Giáo hội Công giáo Việt Nam, lên án bản thỉnh nguyện của Quỳnh. Lời khiển trách của Bình phá vỡ những nỗ lực của Cha Quỳnh muốn gầy dựng một ủy ban liên tôn giáo, và tiếng tăm ông dần mờ nhạt.

Hai tôn giáo  chính của Việt Nam cũng chia rẽ như đất nước. Những người ôn hòa, dẫn đầu là Thích Tâm Châu và Tổng Giám mục Bình, thẳng thắn đấu với phe chống đối để giành quyền kiểm soát, một sự đụng độ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho mỗi giáo hội và sau đó là tình đoàn kết quốc gia. Loại bỏ quyền cai trị quân sự đã nuôi dưỡng một mục tiêu chung giữa hai giáo hội, nhưng không đủ để vượt qua những khác biệt cốt lõi. Những đấu đá nội bộ này nêu bật những khó khăn không thể tin được mà các nhà lãnh đạo miền Nam phải đương đầu trong việc tạo dựng một nhà nước mà phần đông dân chúng đều chia sẻ chung một tầm nhìn.

.Dưới sự chủ trì của Văn, luật bầu cử, dù phải phản ánh thực tế miền Nam, lại phóng khoáng đến ngạc nhiên. Điều kiện được đi bầu, chẳng hạn, rất thẳng thắn. Ba điều kiện để được làm cử tri: phải ít nhất 18 tuổi vào ngày 31/12/1965, có thẻ căn cước, và là “công dân tốt”, nghĩa là không có tiền án hoặc trốn quân dịch. Ứng cử viên phải hội đủ điều kiện nghiêm nhặt hơn. Họ phải ít nhất 25 tuổi, không có tiền án tiền sự, và phải sinh ra tại Việt Nam hoặc có quốc tịch Việt Nam ít nhất 5 năm, do đó cho phép người Hoa, mà Diệm đã bất buộc phải lấy quốc tịch Việt Nam, có quyền tham gia. Tuy nhiên, việc kiểm tra trắng đen chủ chốt là các ứng cử viên không thể từng hoạt động “trực tiếp hoặc gián tiếp cho Cộng sản hoặc theo đường lối trung lập.” Uỷ ban dựa vào trải nghiệm của riêng mình và vào những xứ Á châu khác như Nam Hàn, Mã Lai, và Phi Luật Tân, những nước đã đặt đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật.

Luật mới cũng quy định việc phân bổ  trực tiếp một số ghế cho các nhóm thiểu số khác nhau, trong đó có 8 ghế cho người Thượng. Kỳ ranh mãnh yêu cầu FULRO giới thiệu 4 ứng cử viên, tìm cách xoa dịu nhóm nổi loạn kể từ khi vụ thương thảo gặp bế tắc một lần nữa vì yêu sách đòi quyền tự trị nhiều hơn của FULRO. Với Quang và Quỳnh hâm dọa tẩy chay bầu cử, FULRO ra sức ép sẽ không tham gia bỏ phiếu nếu các yêu sách của mình không được thỏa mãn. Kỳ nhượng bộ, và vào ngày 12/8, ông đồng ý trên nguyên tắc sẽ ban cho người Thượng nhiều quyền pháp lý hơn.

Sau khi thời hạn nộp đơn ứng cử đã hết, một ban bầu cử họp lại để xét danh sách ứng cử vào cuối tháng 7. Trong số hàng trăm ứng cử viên nộp đơn, ban loại ra 42 người. Hội đồng bầu cử họp vào ngày 12/8 để giải quyết khiếu nại của các ứng cử viên. Khoảng phân nửa được bổ sung lại vào danh sách, nhưng số còn lại bị bác bỏ khiếu nại vì đã trốn quân dịch hoặc có cảm tình với Cộng sản. Cuối cùng tổng số 542 ứng cử viên tranh nhau 117 ghế.

Đài phát thanh Giải phóng của Cộng sản cũng bắt đầu phát ra lời kêu gọi nhân dân tẩy chay bầu cử và cảnh báo hậu quả đáng tiếc cho người đi bỏ phiếu. Khi Kỳ thông báo FULRO đã đồng ý tham gia bầu cử, MTGP lại cất cao giọng điệu của họ. Vào ngày 21/8, mặt trận hăm dọa sẽ giết bất kỳ ứng cử viên hoặc viên chức chính quyền nào hỗ trợ cho cuộc bầu cử. Vào ngày 25/8, Kỳ kêu gọi toàn quốc tham gia bầu cử, dỡ bỏ kiểm duyệt báo chí, và tài trợ cho các ứng cử viên có điều kiện hoạt động tranh cử. Sau đó Kỳ cử Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng vừa mới được thăng cấp, người cầm đầu chương trình Xây Dựng Nông Thôn, điều hành hoạt động bầu cử. Kỳ ra lệnh ông ngăn cấm nghiêm ngặt mọi hành động gian lận. Chính quyền, chủ trì một cách hiệu quả mà không ai nghĩ là họ có thể, phát động một chiến dịch rầm rộ “Rủ nhau đi bầu” và thi hành những biện pháp chi ly để bảo vệ phòng phiếu và quyền tự do chọn lựa của người dân.

Nhiều người Việt xem việc chống đối bầu cử của Trí Quang là trò cười, nhất là vì phe Phật tử gần như đã xúi giục một cuộc nội chiến khi đòi tổ chức tuyển cử. Vào ngày 11/9, họ bác bỏ một cách áp đảo lời kêu gọi tẩy chay của ông. Gần 81 phần trăm cử tri đi bầu. Như một lời chỉ trích mạnh mẽ đến Quang 86 phần trăm cử tri trong căn cứ địa vững chắc của phe chống đối tại thành phố Huế đi bầu, mặc dù nói cho công bằng, trong đó có 11 phần trăm lá phiếu không hợp lệ vì bị tẩy xóa. Lodge không tiếc lời ca tụng rằng tỉ lệ đi bầu cao của cử tri đã bác bỏ chiến thuật hù dọa của MTGP và phe quá khích Phật giáo. Ông nói đúng, và cuộc bầu cử là một thắng lợi vang dội của chính quyền miền Nam. Thành phần thắng cử phản ánh tính đa sắc của đất nước. Công giáo chiếm được 33 ghế, Hoà Hảo 15 ghế, và phần còn lại là Phật giáo. Người miền nam chiếm 44 ghế, còn người miền bắc 27 ghế. Các ứng cử viên Đại Việt và VNQDĐ cũng thắng cử, cũng như nhiều chính trị gia tiếng tăm như Phan Quang Đán, Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, và Đặng Văn Sung. Đa số đại biểu đều trẻ; phân nửa đều dưới 45 tuổi. Cuộc bầu cử là bước đầu thắng lợi trong hành trình của miền Nam tiến tới một chính quyền đại diện. Cộng sản và phe quá khích đã quá mất mặt, và cuộc bầu cử rõ ràng là một dấu hiệu cho thấy nhân dân mong mỏi một tiếng nói cho tương lai của mình. Hơn nữa, cho dù phe quân sự còn độc chiếm quyền lực, việc họ rời khỏi quyền lực trong tương lai dường như là điều chắc chắn. Nhưng việc tạo ra một hiến pháp để gìn giữ mô hình chính quyền thích hợp – đảng cầm quyền chuyên chế, hay dân chủ – vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi dữ dội trong số người Quốc gia. Đó là cuộc xung đột đi vào tận trái tim của vấn đề người miền Nam sẽ tính toán và xây dựng ra sao sự hợp pháp nội bộ. Người Quốc gia mong muốn độc  lập và tự do, nhưng những khát vọng cao cả này đòi hỏi thành tựu quan niệm về sự trị vì thu hút được quần chúng và khác biệt trần trụi với chủ nghĩa Cộng sản. Đạt được sự đồng thuận, dù vậy, vẫn còn là một ước mơ. Chỉ có một điểm họ có thể nhất trí: không thỏa hiệp với kẻ thù ngoan cố của mình.

“LÚA GẠO CŨNG QUAN TRỌNG NHƯ SÚNG ĐẠN”

Với binh sĩ Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam, người Mỹ tạo một sức ép nặng nề lên Saigon phải bắt đầu tiến trình cam go là giành lại nông thôn. Vào tháng 12 1965, Thiệu ký một loạt sắc lệnh ban bố những chính sách, hướng dẫn, và ngân sách cho chương trình Xây Dựng Nông Thôn mới của Kỳ. Sau khi trở về từ hội nghị Honolulu vào tháng 2, một buổi họp được tổ chức vào đầu tháng 3 1966 tại Saigon nhằm giải thích với các tỉnh trưởng cách thức các đội Phát triển Nông thôn (PTNT) vừa mới thành lập sẽ đi xuống tận thôn làng và cải thiện những dịch vụ của chính quyền.  Ba ngàn tình nguyên viên PTNT đầu tiên vừa bắt đầu khóa huấn luyện tại một trường ở Vũng Tàu dưới quyền Đại tá Trần Ngọc Châu, nguyên tỉnh trưởng Kiến Hòa. Để phối hợp với bên Hoa Kỳ, vào ngày 28/3/1966, Tổng thống Johnson bổ nhiệm Robert Komer làm phụ tá đặc biệt cho tổng thống về việc bình định hoá ở Việt Nam. Nhiệm vụ của Komer là báo cáo về các chương trình khác của Hoa Kỳ nhằm hậu thuẫn cho việc bình định hoá.

.Đối với người Mỹ, cơ sở học thuyết của việc bình định hoá là trước tiên phải bảo đảm an ninh cho dân chúng chống lại sự tha hóa của Cộng sản. Sau đó, họ sẽ thuyết phục dân chúng hậu thuẫn một cách tích cực chính nghĩa Quốc gia bằng cách phân phát hàng hóa và dịch vụ như giáo dục, chăm sóc y tế. Chính quyền địa phương được cải thiện sau đó sẽ kết thúc nhiệm vụ. Thiệu và Kỳ, sốt sắng muốn hiện đại hóa đất nước, nhất trí với tiến trình này. Tuy nhiên, ở miền Nam còn tồn tại một quan niệm đối kháng với việc bình định hóa, một quan niệm ôm lấy những giá trị truyền thống tập trung vào các trách vụ cổ xưa của người cai trị và người bị cai trị. Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hướng của Nho giáo, và việc thờ cúng tổ tiên, và một bản hợp xướng đang lớn giọng dần của những người Việt bảo thủ coi sự hiện diện của người Mỹ hạ thấp nền văn hóa của họ và tạo ra một xã hội tôn sùng vật chất, một xã hội xa vời với lý tưởng truyền thống. Bình định hoá, họ cho rằng, nên là vấn đề của chỉ riêng người Việt Nam, một vấn đề được tiến hành ở mức độ quần chúng.

Người ủng hộ hùng hồn nhất cho khuynh hướng này là Trần Ngọc Châu. Cha ông là một nhà nho nghiêm khắc, hun đúc con trai mình  bằng các phẩm chất này. Đối với Châu, sách lược bình định hoá tốt nhất không phải là ban phát hàng hóa vật chất mà là một cách tiếp cận dựa trên giá trị nêu bật “ý tưởng chinh phục người khác bằng sự thuyết phục hoặc làm gương mẫu.” Diệm, chẳng hạn, đã “đặt việc lãnh đạo của mình trên cơ sở Nho giáo là khi người có phẩm hạnh cao trị vì, đạo đức của họ sẽ phản ánh qua những hành động của chính quyền họ.”

Theo thế giới quan Khổng giáo, có bốn chức năng hoặc vai trò. Theo thứ tự quan trọng được cho là về phẩm hạnh đạo đức là sĩ, nông, công, và thương. Các sĩ quan được xem là khiếm khuyết về địa vị xã hội và dòng dõi, vốn là điều kiện lãnh đạo tối thiết trong xã hội Á châu. Châu tuyên bố rằng Kỳ là một minh họa hoàn hảo lý giải tại sao các nhà lãnh đạo miền Nam đã thất bại. Kỳ “thiếu một nền tảng vững chắc trong văn hóa Việt Nam và rèn luyện luân lý truyền thống và ít học vấn ngoài lãnh vực quân sự.” Theo quan điểm ông, các tướng lĩnh là những tay đầu sỏ chính trị thối nát khấu đầu trước người Mỹ, họ là những người đã “chấp nhận  lối sống ngoại bang quá lậm đến nỗi thiếu hiểu biết nhân dân mình.” Không có uy tín văn hóa và đạo đức gương mẫu, họ sẽ thất bại khi thuyết phục giới nông dân đồng nhất của cải của họ với chính nghĩa Quốc gia.”

Quan điểm màu hồng của Châu che lấp sự kiện rằng chỉ một số ít nhân vật ưu tú đã từng thực hành nghiêm nhặt nguyên tắc Nho giáo. Vì vậy, dựa việc bình định hoá vào điều kiện đạo đức là một thách thức đặc biệt khó khăn. Người Cộng sản cũng đã nỗ lực  theo một chương trình tương tự, yêu cầu các cán bộ  miền Nam phải đạo đức khuôn mẫu và làm gương. Về ý thức hệ, các cán bộ hiếm khi bàn luận chủ nghĩa Mác mà thay vào đấy chỉ làm nổi bật những lời ta thán tại địa phương và làm sâu sắc thêm tính bài ngoại tiềm tàng. Về kinh tế, lời kêu gọi chính của họ là cải cách ruộng đất, nhưng thành công đó nhanh chóng tiêu tan trước sự nổi giận của nông dân vì bị đánh thuế cao và bắt thành niên vào nghĩa vụ quân sự. Khi đã đạt được giới hạn của sự thuyết phục, cán bộ sẽ quay ra tổ chức quần chúng, đấu tố, và cuối cùng khủng bố để lung lạc nhân dân.

Châu cho rằng các tướng lĩnh võ biên như Nguyễn Đức Thắng đã sai lầm chấp nhận ước muốn nôn nóng của người Mỹ muốn nhanh chóng đạt kết quả. Theo Châu, Thắng “xem chương trình chỉ là bê tông, vật liệu…Quan điểm bình định hoá của họ thật đơn giản: gửi thêm vũ khí, chất hàng tiêu dùng bên trong và bao quanh làng ấp, thế là ‘được bình định hoá'”  Châu chỉ nhìn điều này dựa vào sự tin cậy trên dữ liệu và hàng hóa vật liệu mà thiếu suy xét đến điều thiết yếu hơn là việc thay đổi thái độ của con người. Đối với người Mỹ của thập niên 1960, say sưa với kỳ tích của công nghiệp hóa và học thuyết quản lý, cài thông số đạo đức vào phương trình bình định hoá là điều không thể hiểu được về mặt văn hóa. Khoa thống kê, vốn ban cho các nhân viên tài chính của chính quyền Hoa Kỳ một cái nhìn thấu suốt đo lường được, là một điều tai hại kể từ khi các khoản tài trợ và cung ứng nhân lực đi kèm với yêu cầu được kế toán để tính toán được mức độ tiến bộ. Mặc dù các con số trong kỷ nguyên Việt Nam thường được cho là bị bóp méo để cung cấp các chỉ dấu thành công, các người lên kế hoạch Mỹ không thể đo lường được tình hình hiện thời và soạn ra kế hoạch tiếp theo mà không có được thông tin chính xác. Sự chênh nhau không chỉ là sự khác biệt về tầm nhìn văn hóa mà còn là một tình huống hai bên có các chân lý đối chọi nhau. Xét thành công của Châu ở Tỉnh Kiến Hòa, những lập luận của ông có giá trị tới đâu? Không may, việc Châu bất mãn với thiết kế liên minh cho việc bình định hoá sớm khiến ông từ chức khỏi trại huấn luyện PTNT ở Vũng Tàu. Ra đi rồi, Châu không biết được Thắng đã thay đổi cách suy nghĩ của mình  Trong kế hoạch PTNT 1967, Thắng đã phát triển một quan điểm mới trung dung giữa việc đề cao đạo đức của Châu và nỗ lực thiên về vật chất của người Mỹ để cải thiện cuộc sống nông dân. Thắn nhấn mạnh rằng các cộng đồng địa phương nên hoạch định các dự án của mình rồi sau đó sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của PTNT trong việc cung cấp vật liệu đồng thời cổ vũ nông dân tham gia vào chính trị và trung thành với Saigon. Hơn nữa, Châu bỏ qua những thay đổi trong xã hội miền Nam khi nó bước vào thế giới hiện đại. Trong khi những thái độ bảo thủ thường băng giá trước những đổi thay, thì nhiều dân đô thị nhanh chóng rũ bỏ lối sống cũ và đón nhận lối sống mới. Việc tiếp xúc với văn hóa Tây phương và đón nhận hàng hóa thương mại ồ ạt tràn vào đang biến đổi quan điểm của người thành phố. Trước đây, thứ bậc xã hội được xác định bằng hành vi hợp đạo Nho, nhưng vị thứ  bây giờ càng ngày càng được tính bằng số lượng tài sản, chủ nghĩa vật chất chỉ còn bị khinh thị bởi những tàn tích của chủ nghĩa bảo thủ.

Dù vậy, nông thôn chấp nhận việc Tây phương hóa chậm chạp hơn. Lời kêu gọi đoàn kết quốc gia của chính quyền đụng phải truyền thống của nông dân trước tiên phải lo lắng cho gia đình dòng họ rồi sau đó mới trung thành với nền cộng hòa xa lắc.  Tôn chỉ ai lo phận nấy thể hiện hoàn hảo tâm thức của người nông dân, khiến cho việc chính quyền muốn thay đổi thái độ của dân làng để tham gia vào nghĩa vụ dân sự là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, cho dù các viên chức chính quyền có năng lực và giỏi thuyết phục cỡ nào.

Việc bình định giờ đây trở nên quan trọng như việc đánh giặc. Một phần tư tổng ngân sách của USAID cho năm 1966 được dành cho miền Nam. Đó là “số tiền lớn nhất được chi tiêu cho một quốc gia trong bất kỳ năm nào kể từ khi Hoa Kỳ bắt đầu chương trình viện trợ nước ngoài vào năm 1948.” Với tình hình an ninh dần dần được cải thiện, các cố vấn Mỹ thúc ép đối tác Việt Nam của mình lợi dụng để áp dụng những chương trình bình định mới hoặc tăng tốc những chương trình hiện có. Một vài chương trình điện khí hóa và giáo dục nông thôn đang gặt hái kết quả, trong khi những chương trình khác như cải cách ruộng đất và cải tiến phương pháp canh tác cần phải có tình hình an ninh tốt hơn mới có thể áp dụng đại trà được. Các tổ chức Hoa Kỳ hỗ trợ gồm có giới quân sự, CIA, và USAID nhưng chương trình họ không được phối hợp, một điều bất lợi sẽ thêm tồi tệ khi binh lính Mỹ in dấu chân lên khắp vùng thôn quê. Chính quyền miền Nam giải quyết vấn nạn phối hợp vào giữa tháng 7 1966 bằng cách hòa nhập mọi nhiệm vụ bình định dưới quyền của Thiếu tướng Thắng. Bộ PTNT của ông tiếp nhận các chức năng bình định hoá được thì hành bởi các bộ Nội vụ, Canh Nông, và Công trình Công cộng.

Trong khi chuyển giao mọi nhiệm vụ bình định dưới quyền Thắng khiến bộ máy hành chính vốn có tiếng ù lì trở nên trôi chảy, Kỳ lại có một lịch trình bí mật cho một động thái. Đó là một nước cờ thí mở màn nhằm sa thải người sinh quán miền nam nhưng có tiếng là tham nhũng, Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Hữu Có và Tư lệnh Quân đoàn IV Dặng Văn Quang, mà không gây ra mối bất mãn cho người miền nam. Kỳ đã thề sẽ loại trừ tham nhũng, và cả Có và Quang đều là các đích nhắm dễ dàng. Vì Thiệu và hai người đều là bạn lâu năm và đã cùng học nhiều trường với nhau, cả hai đều kêu gọi ông giúp đỡ. Thiệu từ chối nhưng ông nhắc nhở Kỳ rằng sau vụ khủng hoảng Phật giáo, đây là lúc không thích hợp để “bứt dây động rừng” và sa thải hai vị tướng.

Ông kín đáo khuyên Kỳ nên đợi đến sau cuộc bầu cử tháng 9 và kiên nhẫn xây  “một hàng rào quanh những người này, để khi Quang và Có bị loại ra sẽ không gây náo động. Nếu họ bị loại ra ngay lúc này,” Thiệu cảnh báo, “thì giải quyết được một vấn đề nhưng lại sinh ra hai vấn đề khác,” nghĩa là nó sẽ gây mối bất hòa cho người miền nam và có thể tạo ra sự chia rẽ trong nội bộ UBLĐQG. Dù có sức ép của người Mỹ phải quét sạch tham ô, hai nhà lãnh đạo cần phải hành động thận trọng, vì Saigon không cần một sự bùng nổ khác. Họ đang tung hứng yêu sách của ân nhân chống lại mối hiểm họa của sự chia rẽ nội bộ, một cuộc đấu tranh sẽ không bao giờ tiêu tán. Đó là một con đường vô cùng hẹp để đi trong thời bình nói gì đến thời chiến.

Dù các nhà lãnh đạo Saigon đều đặn và đôi khi chính xác bị lên án là xa rời nông thôn, điều đó không phải luôn đúng. Liên kết với người Mỹ, các kế hoạch đang được phát triển để cải thiện nông thôn một cách ấn tượng. Rõ ràng, để việc bình định hoá có kết quả, tình hình an ninh cần được cải thiện, vì các đơn vị Địa phương quân/Dân quân thiếu huấn luyện và trang bị kém, và họ thường rút về đồn khi đêm xuống, dân làng không có người bảo vệ. Ngoài việc tăng cường an ninh, trở ngại chính trong việc tiến hành bình định hoá ở mức độ làng ấp là thiếu thốn cán bộ tại chỗ có năng lực. Tuy nhiên, cho dù Saigon có thể đào tạo các cán bộ có năng lực, thì có ít người muốn  về công tác ở nông thôn vì sợ các đội ám sát và bắt cóc của Cộng sản. Theo báo cáo của chính quyền sáu tháng đầu năm 1966 có đến 420 viên chức địa phương bị bắt cóc hoặc sát hại. Cho dù có sự sút giảm đáng kể so với số 991 viên chức bị mất tích hoặc sát hại trong nửa đầu của năm 1965, CIA mô tả chiến dịch khủng bố nhằm “chứng minh cho dân chúng thấy rằng chính quyền không đủ sức mang lại an ninh cho những người đại diện họ và để hù dọa những ai lăm le muốn hợp tác với chính quyền.” Hơn nữa, không chỉ có những viên chức hành chính địa phương bị bao vây, các đơn vị Cộng quân cũng bắt đầu tấn công các trại tị nạn và các khu tái định cư nếu họ không chịu trở về dưới quyền kiểm soát của họ. Lấy một trong nhiều ví dụ, vào ngày 13/5, Cộng quân tấn công trại tị nạn An Thân ở Tỉnh Quảng Trị, sát hại 11 dân tị nạn, làm bị thương 13 người khác, và đốt rụi 249 nơi trú ẩn gia đình.

Với quân đội lo việc an ninh, các đội PTNT được giao nhiệm vụ hỗ trợ các viên chức địa phương tiến hành các chương trình của chính quyền. Khoá PTNT đầu tiên gồm khoảng 4,500 sinh viên tốt nghiệp vào ngày 21/5/1966, nhưng thành tích của các đội đầu tiên này khác nhau. Một số người tốt nghiệp thể hiện bản lĩnh xuất sắc trong khi số khác thì tầm thường. Cho dù có hội nghị tháng 3, các viên chức địa phương thường sử dụng sai mục đích các đội PTNT cho các nhiệm vụ an ninh hoặc lôi kéo họ vào vòng tham ô bằng cách chuyển các vật liệu xây dựng của viện trợ Hoa Kỳ ra bán lại ở thị trường chợ đen. Để chấn chỉnh tình trạng này, Thắng tổ chức các buổi sê-mi-na từ tháng 8-tháng 10 trong mỗi quân khu để nhắc nhở các tỉnh trưởng rằng đối với Saigon, “chương trình PTNT giờ đây còn quan trọng hơn việc hành quân và người Việt Nam phải tự mình lãnh trách vụ thi hành các chương trình này.” Thắng cũng có những hành động sửa sai bằng cách nhổ tận gốc những cán bộ PTNT tồi và chỉ thị cho các lãnh đạo tỉnh về vai trò thích đáng của đội. Ông cũng ra lệnh cho trường huấn luyện ở Vũng Tàu áp dụng những “bài học đã được học” cho khoá thứ hai, tốt nghiệp vào tháng 9. 

Một trong những chương trình PTNT quan trọng trong năm 1966 là chấn hưng giáo dục. Những chế độ miền Nam kế tiếp nhau đều nhận thức được rằng việc hiện đại hóa miền Nam phải cần đến hàng ngàn công nhân có học vấn. Trường học là một công cụ thiết yếu để xây dựng đất nước, và tỉ số mù chữ cao là trở ngại nghiêm trọng cho khả năng phát triển đất nước. Tuy nhiên, giáo dục hàng triệu nông dân vô học là một nhiệm vụ nặng nề. Theo một nghiên cứu của USAID, vào năm 1955, chỉ có 20 phần trăm học sinh có đủ điều kiện đến trường. Tỉ số này xuống đến 3 phần trăm vào trung học và ít hơn nữa vào cao đẳng. Hệ thống trường học của người  Pháp có mục tiêu hướng đến đào tạo nhóm phần tử ưu tú cai trị, không phải giáo dục đại chúng. Hơn nữa, các trường Pháp đều ở trong các thành phố, nên việc giáo dục chỉ hạn chế cho một nhúm người  hoặc có thể đạt được điểm số thật cao hoặc gia đình có đủ điều kiện cung ứng chi phí học tập.

Saigon lên kế hoạch mang đến nông thôn một nền giáo dục miễn phí ở mức độ thôn ấp, nhưng dù có những nỗ lực xuất sắc, số học sinh đi học chỉ cải thiện chút ít vì thiếu trường ốc, giáo viên, và ngân sách. Các quỹ của USAID giúp lấp đầy lỗ hổng. Chỉ tính riêng trong năm 1966, hơn 2,200 lớp học mới ở ấp được xây dựng sử dụng vật liệu Mỹ viện trợ dưới Chương trình Tự Hỗ trợ của Thắng. Cùng với đà gia tăng ngoạn mục trong số trường công, chính quyền cũng khuyến khích xây cất trường dạy nghề và trường tư để gầy dựng một dân tộc và lực lượng lao động có học vấn.

Tất nhiên, phải cần đến nhiều giáo viên hơn, và trong năm 1966, hơn 3,000 người được đào tạo để về công tác tại làng ấp. Trong số đó có nhiều phụ nữ, nêu bật sự thay đổi của vai trò nữ giới đang trỗi dậy, cũng làm bực mình các thành phần bảo thủ. Với phần đông nam thanh niên vào quán đội, phụ nữ nhanh chóng tham gia những lãnh vực nghề nghiệp mà trước đây chỉ dành cho nam giới. Trong khi truyền thông quần chúng thường mô tả những hậu quả xã hội xấu xa như nạn mãi dâm trong xã hội miền Nam do sự hiện diện đông đảo của người Mỹ, phụ nữ Việt đang gặt hái thành công trong thương trường và những ngành nghề khác. Đó là một trong vài biến đổi trong cộng đồng mà miền Nam đang trải qua do sức ép của chiến tranh và điều kiện sống và kinh tế đang thay đổi.

Vậy mà như mọi đất nước có chiến tranh đang trải qua sự đổi mới sâu sắc về xã hội, không có gì là trơn tru. Sĩ số học sinh tăng vọt buộc các trường ở Saigon phải dạy ba ca, nhưng ở nông thôn số học sinh đi học vẫn thưa thớt. Đánh nhau buộc phải đóng cửa trường, kết quả nhiều học sinh phải ở lại lớp. Lương giáo viên cực thấp, và còn bị Cộng sản hù dọa và tuyên truyền, dẫn đến sự thiếu hụt giáo viên được đào tạo. Còn nữa, trong khi việc cải thiện giáo dục không đều, nói chung nó vẫn là một thành tựu không được ca ngợi của Saigon.

Việc chăm sóc dân tị nạn vẫn còn là một chương trình sinh tử khác nhưng thường là tạm thời. Trong thời gian hai năm từ tháng 6 1964 đến tháng 6 1966, cuộc chiến đã tạo ra một triệu người tị nạn. Khoảng phân nửa phải tạm trú trong các lều tạm thời, trong nửa số còn lại hoặc trở về làng cũ hoặc được đi định cư nơi khác. Không may, thống kê chỉ phản ánh những người đã chính thức đăng ký xin hỗ trợ, còn lại hàng ngàn người không kể xiết  đã bỏ chạy về thành phố hoặc đã chuyển đến sống với người thân. Vào ngày 12/4/1966, giờ được tài trợ bởi Hoa Kỳ lẫn chính quyền, Ủy viên về Dân Tị nạn Bác sĩ Nguyễn Phúc Quế ra lệnh thành lập những trung tâm cứu trợ mới tại mỗi tỉnh. Biết rằng khó kiếm đủ người để công tác trong các văn phòng mới của mình, Bs Quế chính thức yêu cầu một thay đổi xã hội khác: ưu tiên nhận vào làm những cựu quân nhân và vợ các tử sĩ. Vào cuối hè, măc dù Quân đoàn I đang trải qua khó khăn trong việc trợ giúp người tị nạn do sự bùng dậy của Phật tử, cục tị nạn của Quế đã mở được 45 trung tâm tị nạn mới. Với số tiền dư dả của USAID, vào ngày ⅛, Bs Quế tăng chi trả mỗi ngày mỗi người từ 7 lên 10 đồng. Xét miền Trung khan hiếm đất đai, và thường không thể đưa gia đình về nhà cũ, chính quyền quyết định di dời dân tị nạn tình nguyện đến nơi ở mới xa hơn về phía nam. Nhóm di dời nội tỉnh đầu tiên như thế xảy ra vào ngày 17/5, khi Hải quan Mỹ chở 852 người tị nạn từ Tỉnh Phú Yên trên bờ biển đến Vịnh Cam Ranh, nơi có nhiều công trình xây dựng đang cần lao động.

.Cho dù những nỗ lực của Quế, vào cuối tháng 8, thêm 100,000 dân tị nạn khác đã lấp đầy danh sách của chính quyền. Hầu hết đều được cấp lều tạm trú, nhưng hệ thống vệ sinh  nghèo nàn trong trại mới đã quá tải. Bs Quế tìm cách mở rộng các dịch vụ y tế. Trong một thỏa thuận ký giữa Huế và Bộ Y Tế vào cuối tháng 10, những trang bị và nhân sự được bổ sung về các địa điểm. Tùy vào kích cỡ và địa điểm trại, những trạm khám bệnh mới được xây dựng với nhân viên y tế gồm một cô mụ vườn, một nhân viên y tế ấp, và một lao công. Với ý thức công binh xã hội, Quế ra lệnh ưu tiên thuê mướn nhân công dành cho “vợ góa và con côi của các chiến sĩ đã hy sinh cho đất nước.” Hơn nữa, vào giữa tháng 12, ông cũng bổ sung các giám thị nữ và nhân công nữ nhằm “mở rộng lãnh vực hoạt động Phúc lợi Xã hội để cải thiện cuộc sống trẻ em, thanh niên và phụ nữ tại các trại tị nạn.”

Cho năm 1967, Quế lên kế hoạch giảm thiểu đáng kể số người tị nạn bằng cách tái thiết các chương trình cấp tỉnh. Trong thư gửi đến các tỉnh trưởng vào cuối tháng 11 1966, Quế một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác chăm sóc người tị nạn: “Trong mối quan ngại đặc biệt của chính quyền là số người tị nạn Cộng sản đổ về ngày càng tăng… Một thắng lợi vinh quang của chính quyền trong cuộc chiến đấu này sẽ tạo nên một ảnh hưởng mạnh mẽ cho việc bình định hoá, cho phát triển kinh tế, và cho việc dân chủ hóa ở nông thôn.” Tiếc thay, dù có sự hỗ trợ  tài chính dồi dào từ Hoa Kỳ, nhưng vấn đề tị nạn thường ngốn hết tài nguyên quốc gia, và các ghi chép hỗn hợp của CQMN nhằm giám sát hàng trăm ngàn dân tị nạn trở thành cuộc thánh chiến cho những nhà lãnh đạo quốc hội như Thượng nghị sĩ Edward Kennedy (bang Mass.). Từ tháng 5 đến tháng 10 1967 Kennedy tổ chức một loạt buổi phúc trình quốc hội chỉ trích gay gắt công tác chăm sóc người tị nạn, một hình thức khiển trách miền Nam và cuộc chiến.

Ngoài việc cải thiện giáo dục và cứu trợ dân tị nạn, hai chương trình chủ yếu khác cho năm 1966 là điện khi hóa và cải thiện chăm sóc y tế. Các cuộc khảo sát do chính quyền và USAID tiến hành chỉ ra rằng nhu cầu dân quê mong muốn nhiều nhất là có điện về làng. Và để đáp ứng, Saigon ra tay hành động. Mạng điện về làng là một bước chủ chốt trong công tác cải thiện nền kinh tế nông thôn. Vào đầu tháng 3 1965, Thủ tướng Quát nhờ người Mỹ hoạch định một kế hoạch điện khí hóa nông thôn. Vào ngày 15/10/1965, chính quyền ký một thỏa thuận với USAID để khởi động dự án. Người Việt tạo ra một Liên hiệp Quốc gia Hợp Tác Xã Điện Lực để làm cầu nối giữa USAID và những hợp tác xã điện lực địa phương mới thành lập, hầu hết đều trong vùng châu thổ. Dù có nhiều trở ngại về vật tư, vào ngày 25/5/1966, Thắng ký một sắc lệnh cho 30 nhà máy phát điện sẽ khởi động Chương trình Điện khí hóa Nông thôn mới. Chẳng bao lâu Cộng sản chỉa mục tiêu phá hoại vào các đường dây tải điện.

Chăm sóc y tế cũng được chọn để nâng cấp. Miền Nam đã thừa hưởng một hệ thống y tế vô cùng thấp kém, nghĩa là, như hệ thống giáo dục, được thiết kế chủ yếu cho người Pháp và cư dân đô thị. Việc chăm sóc y tế ở nông thôn rất ngặt nghèo dẫn đến tử suất ở trẻ em rất cao. Các bệnh như sốt rét và lao phổi lan tràn. Hầu hết dân quê trông cậy vào thầy thuốc Đông y cổ truyền  sử dụng cây thuốc có tại chỗ, nhiều khi không hiệu nghiệm. Với nạn khan hiếm bác sĩ trầm trọng, phần đông được xung vào quân y, các đội thăm khám thuộc quân đội Hoa Kỳ và từ các quốc gia khác bắt đầu cung cấp chăm sóc y tế đến với dân quê. Trong nửa đầu của năm 1966, quân y Mỹ đã điều trị thuốc men cho hơn 2 triệu lượt người dân. Dần dần lòng tin vào lối chữa trị hiệu nghiệm của Tây y đã thấm nhuần vào giới nông dân.

Vào đầu tháng 6 1966, Thiếu tướng Thắng và Bộ Y Tế ký một thỏa thuận phát động Chương trình Phát triển Y Tế Nông thôn. Các nhân viên y tế địa phương được Mỹ huấn luyện các phương pháp sơ cứu căn bán và xây dựng các trạm y tế ở cấp làng và quận. Các bệnh viện tỉnh được mở rộng có thêm phòng giải phẫu. Một tiêu điểm là sức khỏe phụ nữ. Vào ngày 26/7, Thắng ra lệnh xây dựng 30 phòng hộ sinh mới tại 14 tỉnh. Bs Nguyễn Lê Hiếu, một bác sĩ người miền Nam công tác tại Bộ Y Tế vạch ra kế hoạch. “Các vấn đề đặc biệt về sức khỏe được nhắm đến,” ông lưu ý, “và những chương trình thích hợp được dựng lên để chiến đấu và kiểm soát chúng tức chống sốt rét (tiêm và phun thuốc), chống bệnh phong … Các đội lưu động được thành lập để đến từng làng giúp huấn luyện và chăm sóc sức khỏe.” Không may, người Cộng sản cũng nhắm đến việc chăm sóc sức khỏe. Theo Bs Hiểu, “Vài hoạt động y tế bị bộ máy tuyên truyền của kẻ thù dán cho nhãn hiệu có mục đích quân sự, chẳng hạn các nhân viên y tế phun thuốc DDT chống sốt rét và đánh dấu lên cửa nhà nào đã phun rồi được kẻ thù xuyên tạc là “sắp xếp và đánh dấu để thu thập thông tin quân sự.”

Những tiến bộ về giáo dục, tị nạn, điện khí hóa nông thôn, và chăm sóc y tế chỉ là một phần trong trách vụ rộng lớn ở nông thôn. Những nỗ lực PTNT có ý nghĩa khác bao gồm Công trình Công cộng, nhằm xây dựng và tu bổ gần 300 dặm đường xá, khoảng 150 cây cầu, vét hoặc đào mới gần 100 dặm kênh rạch. Một Chương trình Tự Túc ở ấp  hoàn thành hơn 2,300 dự án được dân chúng địa phương xây dựng. Phòng Cảnh sát được mở rộng, cũng như các chương trình chiêu hồi và chiến dịch Tâm Lý Chiến nhằm kêu gọi các nông dân cam kết trung thành với Saigon. Trên tất cả, cho dù bộ của ông chưa hoàn thành được các mục tiêu năm 1966 được đề  ra ở Honolulu trong việc tăng cường an ninh thôn ấp, Thắng tin rằng nền tảng đã được xây dựng trong năm 1966 cuối cùng sẽ cung cấp những cải thiện có ý nghĩa cho nông dân. Trở ngại lớn nhất của ông vẫn là cái yết hầu mà MTGP vẫn còn nắm giữ trên phần lớn lãnh thổ ở nông thôn, nhưng các lực lượng đồng minh vẫn chưa chiếm lại được.

Trong khi các chương trình bình định đang phát triển, tình hình kinh tế tiếp tục cản trở nghiêm trọng sức tăng trưởng của quốc gia.

CQMN đã làm theo vài đề xuất kinh tế của Hoa Kỳ nhưng đã không thể thành tựu, và điều kiện thương mại vẫn còn thê thảm. Chính quyền Hoa Kỳ bồn chồn lo lắng, và tại một buổi họp vào cuối tháng 5 1966, Robert Komer, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson về bình định hoá, công kích dữ dội tùy viên của Kỳ, Bùi Diễm. Komer đòi “phải có những biện pháp khẩn cấp để kềm hãm lạm phát,” nếu không hậu quả kinh tế có thể đe doạ đến tương lai của Việt Nam. Bùi Diễm đồng ý rằng chính quyền đã không đạt được chỉ tiêu và nhìn nhận rằng “tái thiết kinh tế cũng quan trọng như thắng lợi quân sự hoặc chính trị.” Ông thổ lộ rằng “Kỳ không quan tâm lắm đến những vấn đề này nhưng ông đồng ý hậu thuẫn bất kỳ biện pháp nào có cơ may thành công cho dù còn rủi rõ về mặt chính trị.”

Để giải quyết tình hình cấp bách, vào ngày 10/6, Thiệu ký sắc lệnh giao cho một mình  Kỳ quyền quyết định tùy ý về lập pháp kinh tế và tài chính trong ba tháng. Xét rằng lạm phát sẽ ăn vào đồng lương ít ỏi của nhân viên nhà nước và những người lao động có đồng lương cố định, với quyền lực mới trong tay, Kỳ lập tức tán thành tăng lương cho họ. Quan trọng hơn, sau một đề xuất của Nguyễn Hữu Hạnh, một cố vấn kinh tế của ông, Kỳ ký một sắc lệnh gây sốc, có rủi ro về mặt chính trị nhưng cần thiết: hạ giá đồng bạc. Quyết định tăng tỷ giá một đô-la ăn 118 đồng, tăng thuế nhập khẩu một lần nữa, hỗ trợ giá gạo, và bán vàng ra thị trường tự do để thu hút tiền đồng. Cú hạ giá khiến nhiều người điêu đứng vì làm giá cả tăng vọt trong một thời gian ngắn, nhưng vào giữa tháng 10, Chỉ số Giá Tiêu dùng của Saigon, gồm hơn 20 mặt hàng thiết yếu dùng để đo chi phí sinh hoạt, đã giảm xuống dưới mức tháng 6.

Rủi thay, sự giải cứu chỉ có tính tạm thời. Vào giữa tháng 11, gạo một lần nữa thiếu hụt ở thủ đô. Lũ lụt đã cản trở việc vận chuyển từ vùng châu thổ, với hai tỉnh thất thu đến 80 phần trăm sản lượng thu hoạch. Sứ quán Hoa Kỳ ước tính rằng việc chuyên chở gạo đến Saigon, mà dân số đã gia tăng, thấp hơn 40 phần trăm so với năm 1955, vốn đã thấp hơn năm 1964. Tình hình tồi tệ đã buộc Mỹ phải vận chuyển khoảng 300,000 tấn gạo để bù trừ thiếu hụt.

Cho dù có viện trợ  hào phóng của Hoa Kỳ, sự thất thu cộng với lượng tiêu thụ ở đô thị tăng đẩy giá nhu yếu phẩm tăng vọt. Giá gạo giờ cao hơn 30 phần trăm so với trước khi hạ giá tiền đồng hồi tháng 6. Việc tăng giá làm điêu đứng dân nghèo Saigon, vốn khẩu phần chủ yếu là gạo và nước mắm. Thậm chí giá một bao  100 kí loại gạo rẻ nhất có trộn 25 phần trăm tấm cũng tăng đáng kể. Giải quyết vấn đề lương thực là điều sinh tử. “Lúa gạo,” Komer nói, “cũng quan trọng như súng đạn,”

Đối với quá nhiều vấn đề kinh tế, từ việc quá tải cảng Saigon và thuế đánh vào tiền tiết kiệm ngoại tệ, những chỉnh đốn tài chính chỉ giải cứu tạm thời. Saigon chết đói thu nhập và không thể ngăn giảm tiền thặng dư mà chi tiêu thâm hụt đã sinh ra. Vậy mà chính quyền không thể thu đủ thuế để làm nhẹ bớt vấn đề. Cũng không có chương trình nhập khẩu hàng tiêu dùng nào được mở rộng có thể thu hút lượng tiền cung cấp quá phình to hoặc tạo ra đủ thuế nhập khẩu để làm giảm sự thâm hụt. Trốn thuế là một truyền thống lâu đời ở Việt Nam, và có ít cơ chế cưỡng bách thi hành các luật hiện có. Hỗ trợ giá gao, trong khi giữ cho giá gạo ở Saigon hợp lý, trái lại không khuyến khích điền chủ bán gạo cho nhà nước hoặc thương lái Hoa kiều có mặt khắp nơi. Điền chủ có thể được giá tốt hơn nếu tuồn gạo qua Cao Miên hoặc bán cho Cộng sản. Dù vậy cải cách thuế không có mặt hàng đầu trên lịch trình của Kỳ. Ông có những vấn đề cấp bách hơn.

NẠN PHE PHÁI TIẾP DIỄN

Bầu cử đã đi qua, nhà lãnh đạo lão thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào giữa tháng 9 kêu gọi Trí Quang ngừng tuyệt thực, nhưng ông từ chối lui xuống. Ông sợ giới quân sự âm mưu cài vào hiến pháp mới vai trò tiếp tục của lực lượng vũ trang trong đời sống chính trị của đất nước. Trong một bức thư dữ dội gửi đến báo chí, ông lên án Kỳ và Thiệu, tuyên bố rằng họ muốn thành lập “một chế độ giống như Nam Hàn – một chế độ Diệm mà không có Diệm.” Lần này,  ngài Quang có đầu óc nặng mùi âm mưu ít nhất có phần đúng. Nam Hàn đúng là cung cấp một kim chỉ nam để xây dựng miền Nam. Sau cuộc chiến 1950-53, người Hàn, như người miền Nam hiện giờ, vô cùng nghèo khổ, thiếu thốn những nhà lãnh đạo được đào tạo, và đối mặt với một kẻ thù không khoan nhượng. Vào tháng 5 1961, các tướng lĩnh Hàn nắm lấy quyền lực từ tay các nhà cai trị dân sự chao đảo. Như Thiệu và Kỳ, họ cũng tuyên bố mong ước bầu cử, và vài vị tướng cầm đầu cỡi bỏ quân phục và trở thành chính trị gia. Tướng Park Chung-hee thắng trong một cuộc bầu cử trong sạch tháng 12 1963. Ông sau đó bắt đầu một nỗ lực đại quy mô và thành công để hiện đại hóa Nam Hàn. Mặc dù cuối cùng Park trở thành một nhà độc tài quân phiệt và bị ám sát vào năm 1979, trong những năm đầu ông cai trị đất nước theo phong cách cứng rắn khắc nghiệt khiến kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, một phong cách cai trị mà các tướng lĩnh Saigon trân trọng nhưng ngần ngại sao chép nguyên xi.

Thiệu đã đến dự lễ nhậm chức của Park vào tháng 12 1963, và ông ta nhắc nhở Kỳ rằng miền Nam cần tìm kiếm mối quan hệ thân thiết với Nam Hàn. Thiệu bảo với một vị khách Mỹ rằng đảng của Park cơ bản là “đảng của quân đội”, mà ông ngưỡng mộ vì Thiệu muốn quân đội “tham gia chính thức và hợp hiến” vào chính quyền mới. Trong khi Thiệu đã đổi ý từ những năm trước và giờ đây nhấn mạnh rằng quân đội không tìm kiếm quyền lực, những năm dưới chế độ Diệm đã tiêm nhiễm trong ông niềm ao ước sâu xa là tránh để phe dân sự kiểm soát hoàn toàn quân đội. Quân đội, Thiệu tuyên bố, phải có khả năng ngăn ngừa bất kỳ vị tổng thống nào”trở thành một nhà độc tài’. Tuy nhiên, trong khi hệ thống Hàn quốc “có thể vận dụng theo nhiều cách,” Thiệu nhận ra rằng “tình hình Việt Nam thực sự khó hơn nhiều,” nghĩa là đất nước ông đang gặp chiến tranh còn Nam Hàn thì không. Từ đó, mặc lời buộc tội của Quang, dù Thiệu và Kỳ đều ngưỡng mộ những thành tựu kinh tế của Park, Nam Hàn không cung cấp một khuôn mẫu cai trị cho miền Nam.

Với quốc hội mới bắt đầu soạn thảo hiến pháp, Johnson yêu cầu gặp Thiệu và Kỳ tại Manilla vào cuối tháng 10 để duyệt xét tiến độ bình định hoá kể từ hội nghị Honolulu. Theo mô thức điển hình, hai cơn bão chính trị Saigon lập tức nổi lên. Trước đó trong mùa hè, Kỳ muốn lấy lòng giới ưu tú người nam – và nhờ đó làm đối trọng với mối hiềm khích hiện có mà người miền Trung dành cho ông – bằng cách đem thêm các chính trị gia người miền nam vào chính quyền. Vào giữa tháng 7, ông xáo trộn nội các và bổ nhiệm một người miền nam tiếng tăm, Nguyễn Lưu Viên, giữ chức phó thủ tướng. Trước đây Viên đã thoái thác lời mời tham gia nội các của Kỳ vì ông chống đối việc quân đội cầm quyền. Giờ đây tin tưởng Thiệu và Kỳ thành thật về việc tái lập chính quyền dân sự, vào ngày 13/7/1966, Viên chấp nhận lời mời của Kỳ và trở thành phó thủ tướng. Tuy nhiên, mối kỳ thị nam-bắc đã ung mũ không thể dịu đi chỉ bởi một vài bổ nhiệm nội các. Vào cuối tháng 9, tổng trưởng y tế, một người bắc và nạn thân của Kỳ, lên đường trên chuyến công tác  ra nước ngoài, để lại người phó, một người nam, điều hành. Người phó lập tức thay thế một số bác sĩ trong bộ sinh quán ở miền bắc bằng người nam. Khi trở về, vị tổng trưởng phàn nàn với trùm cảnh sát Chuẩn tướng Loan về hành động của người phó mình. Loan, chưa hề biết tế nhị là gì, bắt giữ phó tổng vào ngày 29/9 vì tội không có trong luật pháp là “xúi giục gây kỳ thị nam bắc”.

Tổng trưởng và người miền nam chính hiệu Võ Long Triều hay biết chuyện bắt giữ liền trách móc Kỳ, phun ra rằng những hành động tùy tiện của Loan đang “biến chúng ta thành một nhà nước cảnh sát trị” và “làm chính quyền mất hết uy tín và mất mặt trong mắt dư luận trong nước cũng như cộng đồng quốc tế.” Triều yêu cầu Kỳ đuổi Loan và lên án hành vi của ông ta. Kỳ, chịu ơn Loan vì đã giúp mình dẹp yên vụ Phật tử và ngại làm mất lòng nhóm Baby Turks trong quân đội, từ chối. Triều lập tức bắt đầu vận động những thành viên nội các người nam khác, bao gồm Nguyễn Lưu Viên và Tổng trưởng Kinh tế Âu Trường Thanh. Để xoa dịu tình hình, vào ngày 4/10, Kỳ buộc tổng trưởng y tế rời chính quyền. Tuy nhiên, hai ngày sau, một bài chính luận xuất hiện trên một tờ báo do một người bắc làm chủ gọi các tổng trưởng người nam là “một lũ hèn hạ đói khát quyền lực” và “bọn xấu chỉ đáng rửa ống nhổ cho chủ của chúng”

Căm tức, Triều thuyết phục Viên, Thanh, và bốn tổng trưởng khác từ chức để phản đối về hành vi của Loan và bài báo. Rối rít để tránh một cuộc khủng hoảng nội các, Kỳ “treo giò” tờ báo lăng mạ, cấm mọi tờ báo đăng những bài về vụ tranh cãi hoặc xúi giục kỳ thị nam-bắc, và bổ nhiệm một người miền nam làm tổng trưởng y tế. Kỳ hiểu rằng một sự bùng nổ công khai về hai vấn đề gây hiềm khích này – chia rẽ nam-bắc và tranh cãi dân sự-quân sự – có thể làm lu mờ không khí phấn khởi mà cuộc bầu cử tháng 9 đem lại hoặc làm nảy sinh những bất lợi trên báo chí nước ngoài trước thềm hội nghị Manilla. Hơn nữa, nó có thể tạo ra một điểm tập kết cho khối miền nam lớn hơn trong quốc hội, đến lượt họ có thể xen vào một câu từ trong hiến pháp (chẳng hạn giới hạn tuổi ứng cử viên tổng thống) sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến Kỳ.

Tất nhiên, không lâu sau những hành động của Kỳ, ngài Loan nóng tính và hay say sưa gọi điện hăm dọa cả Nguyễn Lưu Viên lẫn Triều, mở miệng vết thương mà Kỳ đang ra sức khâu lại. Tệ hon, hai tướng lĩnh người nam, Nguyễn Hữu Có và tư lệnh Quân đoàn IV Đặng Văn Quang, bắt đầu bí mật khuyên Triều nên cứng rắn với Kỳ. Hành động của họ không qua được mắt người dòm ngó. Kỳ và Thiệu cho họp UBLĐQG và khiển trách cả hai người vì tội gây bất hòa. Trần Văn Văn sau đó trở thành một cái gai người nam khác trong mắt Kỳ khi ông này lên án Kỳ tại quốc hội  dung túng hành động của Loan. Vụ rối beng nam-bắc phình to khiến người Mỹ tức tối. Ngoại trưởng Dean Rusk quan ngại sâu sắc về một trận bão chính trị khác trước thềm hội nghị Manilla. Rusk bảo với Lodge rằng tình hình “rất giống với những ngày tồi tệ” của Trí Quang, và ông ra lệnh Lodge “nỗ lực tối đa” để CQMN “tạo được ấn tượng quốc tế về tình đoàn kết ở Saigon,” kể cả, nếu cần thiết, nói chuyện tay đôi với Loan để y kềm chế “cung cách Gestapo” của mình.

Biết người Mỹ không hài lòng, Kỳ khẩn khoản với các tổng trưởng cứng đầu của mình đừng quậy chính quyền ngay trước cuộc họp với Johnson. Sau cuộc tấn công bằng lời năn nỉ cộng thêm lời kêu gọi đến lòng yêu nước và những bữa tiệc thịnh soạn, Kỳ thuyết phục được họ hoãn lại việc từ chức cho đến sau hội nghị thượng đỉnh. Ông bất ngờ nhận được sự giúp đỡ  khi cựu Thủ tướng Trần Văn Hương gửi một bức thư tay đến Viên và Triều khuyên họ đừng từ chức. Bức thư của Hương thuyết phục được Viên hủy bỏ quyết định của mình, nhưng Triều chỉ hoãn lại việc ra đi. Sau hội nghị, Kỳ lại gặp Triều và những người khác để mong họ đổi ý, nhưng không có kết quả. Bí mật nuôi tham vọng chính trị của riêng mình, Thanh đặc biệt không lay chuyển. Cuối cùng, trong số 7 người lúc đầu, Viên và hai người khác ở lại, còn Triều, Thanh, và hai người khác chọn ra đi.

Đồng thời với khủng hoảng nội các, việc tranh chấp trong giáo hội Phật giáo cuối cùng bùng phát. Khi bầu cử quốc hội đã qua, Tâm Châu đã trở lại Saigon vào ngày 15/9 và quyết tâm giành lại Viện Hóa Đạo từ đối thủ hiếu chiến của mình. Người đứng đầu giáo hội Phật giáo triệu tập một cuộc hội nghị để giải quyết sự tranh chấp giữa Trí Quang và Tâm Châu. Tìm cách có được quyền lực trước hội nghị, vào ngày 2/10, Tâm Châu chiếm lấy Chùa Quốc Tự và buộc hội đồng từ chức. Châu dự tính cử một hội đồng mới và loại khỏi những tay chân của Trí Quang. Xét những hành động của Tâm Châu, hội nghị, được tổ chức ngày 21-22 tháng 10, lập tức biến thành những trận đấu khẩu, trong đó phe hiếu chiến tố cáo Mỹ đã hối lộ Châu một triệu đô để về phe chính quyền. Đây là lời buộc tội vừa không đúng vừa mỉa mai, xét việc CIA đã chi tiền cho Quang vài năm rồi.

Hội nghị đổ vỡ, những người ủng hộ Quang trở về Chùa Ấn Quang và cử ra một hội đồng riêng của mình. Châu lên án hội đồng này và tuyên bố những kế hoạch thành lập một Giáo hội Phật giáo Thống nhất được cải tổ. Được sự hậu thuẫn kín đáo của Kỳ, vào cuối năm 1966, Châu đã thành lập được một liên minh gồm nhiều phe phái khác nhau thành  giáo hội Phật giáo Việt Nam, cô lập Quang trong Chùa Ấn Quang. Một nhà báo viết, “Bị cảnh sát theo dõi, bị sâu xé bởi phe phái và bị ô danh chính trị vì thất bại trong vụ tẩy chay bầu cử, Trí Quang và đệ tử dường như đã mất tất cả sức lực của mình.” Sự thống trị nền chính trị quốc gia của Quang đang mờ dần, nhưng nói nó đã cáo chung thì còn quá sớm.

Khủng hoảng nội các giờ đã tránh được, phe Phật tử đang tự hủy hoại nhau, và quốc hội mới đang tổ chức, Kỳ và Thiệu bay đến Manilla để gặp Johnson đánh giá kết quả việc bình định hoá. Thiếu tướng Thắng nhìn nhận rằng công tác bình định hoá chưa hoàn thành được những mục tiêu mà các đồng minh đã đề ra ở Honolulu, nhưng cũng đạt được những tiến bộ đáng kể. Người Mỹ đồng ý mở rộng chương trình bình định hoá trong năm 1967, nhưng họ muốn một thay đổi lớn lao: chuyển các cuộc hành quân của QLVNCH từ chiến lược “tìm và diệt” sang “quét và giữ”. Vì an ninh là bước đầu tiên, QLVNCH sẽ trở thành lá chắn để các đội PTNT có thể hoạt động ở phía sau.

.Vì ý tưởng này sát với ý tưởng mà Thiệu và Kỳ đã đề xuất với Westmoreland hồi tháng 7 1965, họ nhất trí trong thông cáo chung Manilla “sẽ huấn luyện và đóng góp một phần các lực lượng vũ trang để chia sẻ các hoạt động ‘quét và giữ” nhằm cung cấp một lá chấn cho một xã hội mới có thể được xây dựng ở phía sau.” QLVNCH sẽ còn có trách nhiệm cơ bản là truy quét các lực lượng thù địch trong những vùng đông dân cư, nhưng sẽ gìn giữ những phần lãnh thổ chiếm được cho đến khi các lực lượng ĐPQ và DQ có thể đảm đương nhiệm vụ đó. Trong khi phân chia khôn khéo các nhiệm vụ – binh sĩ Việt Nam lo xử lý làng xã còn lực lượng Mỹ đánh nhau với bộ đội chính quy của QĐND xa khu dân cư – có một điều đáng lo ngại: có những ghi chép u ám về cách đối xử người dân của QĐVNCH. Hơn nữa, quân đội rất miễn cưỡng khi được giao những nhiệm vụ mà họ coi là của cảnh sát hay của đơn vị dân quân. Quân đội chính quy sẽ thi hành nhiệm vụ mới này giỏi đến cỡ nào còn là câu hỏi mở.

Lý do cho việc chuyển đổi từ việc tiêu diệt kẻ thù đến bảo vệ dân chúng là vì các đồng minh tin rằng giờ họ đang đánh thắng cuộc chiến. Vào tháng 3 1965, Lê Duẩn đã ra lệnh các lực lượng Cộng sản đánh bại miền Nam trước khi binh lính Mỹ có thể bước vào và làm lệch cán cân. Quyết định đó nhằm tránh cuộc chiến quy mô lớn. Từ mùa xuân 1965 cho đến cuối hè 1966, có nhiều trận đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn xảy ra hơn bất cứ thời gian nào khác trong cuộc chiến, kể cả cuộc Tổng Công Kích Tết và Phục sinh, Sau khi bị thương vong nặng nề, vào mùa thu 1966 Cộng quân đã rút lui, và những trận đánh lớn đã giảm hẳn. Tài liệu Ngũ Giác Đài khẳng định rằng “giả định chủ yếu nằm bên dưới chủ trương mới về kiểm soát dân chúng, vào cuối năm 1966, là niềm tin đang lớn dần cho rằng cuộc chiến chủ lực quân đang dần dần kết thúc.

Không có một nhân tố đơn lẻ nào khác đóng một vai lớn như thế trong quyết định giao việc bình định hoá cho binh sĩ.

Thật ra, người Mỹ đã phán đoán sai lầm Hà Nội một cách tệ hại. Việc giảm các hoạt động công kích lớn là do việc tái cung ứng chậm chạp dọc theo Đường Mòn Hồ Chí Minh và việc thay thế số thương vong từ những trận đánh trước. Sau khi tái củng cố, Quân đội Nhân dân lên kế hoạch phát động hai đợt hành quân từ tháng 10 1966 đến tháng 4 1967. Hà Nội tin rằng chiến lược của Mỹ là đánh bại các lực lượng của họ để ép Bộ Chính trị đến bàn hội nghị, cũng chính xác là chiến lược của họ dành cho quân đồng minh. Dựa vào đánh giá này, Bô Chính trị quyết định ra tay trước. Kế hoạch của họ là giáng những tổn thất lớn, chặn đứng các cuộc tiến kích của Hoa Kỳ, và đạt được một thắng lợi quyết định trong khoảng thời gian hai năm 1967-1968.

Sau khi trở về từ Manilla, Kỳ đặt quyết tâm vào việc bài trừ tham nhũng. Trước tiên, vào ngày 18/11 ông bổ nhiệm  4 tổng trưởng mới, toàn là người nam, để thay thế những người đã từ nhiệm. Đó là sự nhượng bộ rõ ràng với lợi ích vùng miền của người nam, nhờ đó nó nhận được sự thông cảm cho động thái tiếp sau của ông: đuổi việc Thiếu tướng tham nhũng Đặng Văn Quang. Vào ngày 19/11, Kỳ loại tư lệnh Quân đoàn IV và thay y bằng Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh. Kế hoạch đầu tiên đặt nền móng của Thiệu đã đạt kết quả hoàn hảo. Thiệu chọn Mạnh thay Quang, vì ông ta đã làm việc cho Thiệu trong thập niên 1950 khi Thiệu là tham mưu trưởng cho Quân khu 2 cũ đóng ở Huế. Thiệu, trong một miếng ngụy biện, giải thích với Westmoreland rằng cho dù có tín đồn rùm beng là Quang và Có tham nhũng, “nhưng họ không có chứng cứ để buộc tội,” đúng là điều khôi hài, nhưng vì “tin đồn quá lan rộng đến nỗi họ không có cách nào khác” ngoài việc thay người. Tuy nhiên, Thiệu đánh giá Quang là một tham mưu giỏi, vì thế ông cử ông ta cầm đầu Bộ Kế hoạch và Phát triển mới.

Trong khi đó, quốc hội đã hoàn tất cơ cấu tổ chức. Dẫn đầu là Phan Quang Đán và Trần Văn Văn, họ lập tức tìm cách lật ngược thỏa ước bầu cử trước đây với Ủy ban Lãnh đạo. Họ đang củng cố vị thế để thách thức sự độc chiếm quyền lực của phe quân sự trong cuộc bầu cử tương lai, và họ đang bắt đầu tranh giành tiếng tăm với Thiệu và Kỳ. Vào ngày 9/11, quốc hội nhất trí tu chính Điều khoản 20, mệnh đề cho phép phe quân đội có quyền hủy bỏ bất kỳ điều khoản nào của hiến pháp. Văn công kích Điều khoản 20, tuyên bố rằng Uỷ ban Lãnh đạo “không bao gồm những viên chức được bầu nên họ không được phép áp đặt quyền lực lớn hơn để tạo hình hiến pháp.” Văn nộp yêu cầu sửa đổi Điều khoản 20 cho Thiệu vào ngày 18/11. Vài tuần sau, Uỷ ban Lãnh đạo gửi câu trả lời mạnh mẽ về Điều khoản 20: không.

Trong khi chuẩn bị một cuộc công kích mới, Hà Nội cũng tìm kiếm những phương thức khác để làm trầm trọng thêm rạn nứt nội bộ Saigon. Bộ Chính trị chọn đốt lên mối căng thẳng dân sự-quân sự và ra lệnh Đảng Uỷ Vùng Saigon-Gia Định và Bộ phận An ninh chỉ đạo lực lượng do thám vũ trang thành phố Saigon ám sát một trong ba mục tiêu: Thiệu, Kỳ và Văn. Vì Thiệu và Kỳ được bảo vệ kỹ, nên đội an ninh Saigon quyết định nhắm vào Văn. Sau khi điều tra việc đi lại của ông, một kế hoạch được hình thành. Vào sáng ngày 7/12, Văn bước vào ô tô riêng của mình và bắt đầu đi đến quốc hội. Khi ông đi chậm lại để quẹo cua, hai tên sát thủ Cộng sản chạy trên xe gắn máy bắn ba phát vào xe, giết chết ông. Đoàn hộ tống cảnh sát đuổi theo các tên sát nhân và bắt được một tên, tên còn lại trốn thoát. Đài Phát thanh Giải phóng ngay lập tức “phát đi một bài bình luận cho rằng đây là hậu quả của một vụ tranh chấp nội bộ trong đó các phe phái thù địch giết hại lẫn nhau. Các cán bộ và các tổ chức công khai của chúng ta hoạt động ở Saigon gây ảnh hưởng cả nhân dân miền Nam và báo chí nước ngoài để tạo ra ấn tượng rằng Văn bị ám sát vì ông dự tính sẽ tranh cử tổng thống trong cuộc bầu cử sắp đến.”

Trong thế giới mang tính âm mưu của nền chính trị miền Nam, lời buộc tội tìm được mảnh đất màu mỡ. Thiệu cực lực bác bỏ chính quyền có vai trò nào trong cái chết của Văn. Khi việc đó là không đủ, chính quyền đem sát thủ lên truyền hình, và y khai rằng việc sát hại là âm mưu của Cộng sản. Nhưng như thế cũng chưa đủ. Một dân biểu quốc hội, Lý Quí Chung, một người miền nam, đọc điếu văn tại lễ tang không nhìn nhận đây là thủ đoạn của Cộng sản. Để duy trì mối ngờ vực về cái chết của Văn, tại lễ tăng, một đặc vụ Cộng sản dúi vào tay người góa phụ một tờ giấy ghi rằng, “Bà phải nói với Thiệu rằng Việt Cộng không giết chồng bà. Nếu bà không vâng lời, bà sẽ chịu chung số phận với chồng mình.” Khiếp sợ, bà Văn xin Thiệu đừng tử hình tên sát thủ, nên Thiệu giảm án xuống thành tù chung thân tại Đảo Côn Sơn. Y được trả tự do ngày 1/5/1975.

Không lâu sau cái chết của Văn, lại xảy ra một âm mưu ám sát khác. Khi Bs Đán bước vào ô tô để lái đến quốc hội, một tiếng nổ xé toạc một lỗ trong ghế sát bên ông. Ngạc nhiên thay, ông chỉ bị thương nhẹ. Ai ra tay ám hại ông vẫn còn là điều bí ẩn. Các ấn phẩm khác nhau của An ninh Nhân dân Cộng sản thời hậu chiến mô tả chi tiết gần như mọi mưu toan hoặc các vụ ám sát thành công các nhân vật chính quyền miền Nam cao cấp. Người Cộng sản tự hào đã “giáng một đòn” vào “bè lũ tay sai bù nhìn” và không ngần ngại bình luận những hành động này. Vậy mà như quả lựu đạn ném vào Thích Thiện Minh cuối tháng 5 làm bị thương nhà sư, không có đề cập gì đến âm mưu sát hại Đán. Trong khi sự thiếu vắng tài liệu không miễn xá tội cho người Cộng sản, việc bàn luận ít ỏi về hai mưu toan này thật hùng hồn, chỉ đến thủ phạm là người Quốc gia. Đán đang đẩy mạnh quy định cải cách ruộng đất vào trong hiến pháp, một chương trình bị nhiều điền chủ miền nam kịch liệt chống đối.

Bất kể thế nào thì đó là mưu tính cuối cùng nhắm vào sinh mạng các dân biểu quốc hội. Dù có những xáo trộn về kinh tế và hỗn loạn chính trị, Kỳ và Thiệu vẫn theo đuổi việc tạo dựng cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân mình. Cuộc lột xác của miền Nam đã bắt đầu, và việc phối hợp các nỗ lực của Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm cải thiện mức sống của người Việt sẽ đạt được những thành tựu có ý nghĩa. Tuy nhiên,  liệu nó có đạt được những mục tiêu đề ra nhằm lôi kéo nông dân về phía Saigon vẫn còn là câu hỏi bỏ ngõ.

.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s