Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 9)

CHƯƠNG 9: “CHỈ CẦN MỘT  PHÁT SÚNG LÀ CƠN ĐIÊN LOẠN SẼ THEO SAU”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Năm Đầu Tiên Ròng Rã của Nguyễn Cao Kỳ

Trong thời kỳ hỗn loạn thất thường kể từ sau cái chết của Ngô Đình Diệm, người miền Nam đúc rèn một bản sắc quốc gia mới và có thể cho là có tính dung nạp hơn, nhưng thay vì đi đến đoàn kết, các rạn nứt trong xã hội dường như không thể vượt qua. Thiệu và Kỳ phải đối phó cùng lúc những khát vọng, đố kỵ, và nhiệt huyết ăn sâu của người nam, người trung, người bắc, Phật tử, giáo dân Công giáo, và người Hoà Hảo cùng với những chia rẽ sắc tộc và bất mãn chính trị. Thậm chí đối mặt với sự công kích của Cộng sản, những lời kêu gọi đoàn kết cũng loạng choạng vì người Quốc gia không có truyền thống hiệp đồng chính trị.

Cuộc chiến cũng làm trầm trọng thêm những vấn đề khác xé nát các toan tính của hai nhà lãnh đạo muốn tạo ra một chính quyền lâu bền và ổn định. Vấn đề kinh tế đã trở nên nặng oằn khi sự khan hiếm lương thực và lạm phát hoành hành trong các thành phố làm phát sinh những lời kêu ca ta thán. Những nỗ lực tiếp diễn của Hoa Kỳ nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cũng dấy lên cơn bão dông đối với người Quốc gia vốn hay ngờ vực. Trong năm đầu cầm quyền, Thiệu và Kỳ chịu đựng một cơn bão tố toàn diện về bất ổn chính trị, kinh tế, và xã hội. Vạc dầu độc hại này sôi lên cao điểm trong sự đối đầu đặc biệt cay đắng với Thích Trí Quang và phe Phật tử suýt làm cháy lên một cuộc nội chiến. Vậy mà dù những vấn đề dường như không thể khắc phục này, chính quyền Thiệu-Kỳ cũng sống sót, đánh dấu bước đầu ổn định và tăng trưởng của miền Nam.

VẪN CÒN TÌM KIỂM HÒA BÌNH

Đối với người Mỹ, việc phe quân sự mong muốn vãn hồi chế độ dân sự là tin tức phấn khởi, nhưng Lyndon Johnson cũng đang tìm kiếm một đề xuất sẽ thuyết phục được Hà Nội thương thảo hòa bình. Sau khi Westmoreland đã báo tin cho Washington rằng năm 1966 sẽ là năm chiến đấu ác liệt và kéo dài, và với Johnson đang chịu sức ép của tình cảm phản chiến trong nước và quốc tế đang dâng cao, tổng thống bắt đầu xét đến việc tạm ngừng dội bom để khuyến dụ Hà Nội chịu thương thảo. Chính quyền đã nhẹ nhõm khi có các dấu hiệu là Bộ Chính trị giờ đây có thể chịu ngồi vào bàn đàm phán. Kết quả là, vào ngày 24/12, Johnson thông báo ngưng ném bom Miền Bắc liên kết với một “cuộc tấn công hòa bình” trên toàn thế giới để thúc đẩy Bộ Chính trị đàm phán.

Đồng thời, Henry Cabot Lodge ở Saigon nhận được một lời đề nghị trực tiếp từ MTGP thông qua Tổng Giám mục Angelo Palmas, phái đoàn toà thánh Vatican đến Việt Nam và Cao Miên. Palmas đã báo tin cho Lodge vài lần rằng một nguồn tin cho ông hay là MTGP muốn một cuộc ngừng bắn. Vào ngày 6/1/1966, Lodge bất ngờ được triệu tập đến một buổi họp với nguồn tin của Palmas, Lê Văn Hoạch, người từ mùa hè 1964 đã ra sức dàn xếp một cuộc ngừng bắn. Hoạch tuyên bố rằng ông đã được “phái đến với tư cách sứ giả” bởi hai ông Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát, hai người chóp bu của MTGP. Ông nói rằng họ muốn “ngưng cuộc tàn sát … một quyết định độc lập với Hà Nội.” Họ đề nghị một cuộc ngừng bắn nhưng mánh lới cài vào yêu cầu người Mỹ phải không được công nhận chính quyền mới ở miền Nam, một toan tính xảo quyệt nhằm biết chắc người Mỹ muốn hạ bệ Kỳ và Thiệu. Lodge không đồng ý. Trong khi bày tỏ mong muốn thỏa thuận một cuộc ngừng bắn, Lodge xác nhận rằng không thể bàn chuyện hòa bình mà không có sự tham gia của CQMN. Mặc dù MTGP mở lời, vẫn còn khó khăn để phác họa một lộ trình đi đến hòa bình, và nỗ lực tắt lịm khi người phát ngôn MTGP, nhại lại lời tố cáo của Hà Nội, công khai chỉ trích yêu cầu thương thảo của Mỹ.

Hoạch đại diện cho một khuynh hướng đang trỗi dậy trong đám người Quốc gia. Một số ít người miền Nam đang xem xét việc liệu có nên thử thỏa thuận hòa bình với kẻ thù hơn là theo đuổi một thắng lợi quân sự. Trong khi quân đội, giáo dân Công giáo, và nhiều người khác còn cực lực chống đối thương lượng, sau cuộc đảo chính, Dương Văn Minh và Nguyễn Ngọc Thơ tin rằng một động thái giang tay bí mật có thể thuyết phục những phần tử MTGP phi Cộng sản đổi phe, tiếp theo là một thương thảo chính trị. Mặc dù họ không thể đi đến chốn, vì khi đó các Phật tử tranh đấu và một số người khác đã bước đầu công khai  yêu sách thương thảo hòa bình. Trong khi Thiệu và Kỳ vẫn mạnh mẽ chủ trương chống đàm phán, nhưng đã rõ là không thể bắt ông thần đèn trở vào đèn thần. Hơn nữa, mặc dù các tuyên bố lặp đi lặp lại của CQMN bác bỏ thương thuyết với Cộng sản trừ khi họ ngừng tấn công và rút quân, Johnson tiếp tục lén lút các hoạt động ngoại giao. Miền Nam đã chấp nhận sự mặc cả của quỷ dữ khi nó yêu cầu Mỹ giải cứu nó khỏi kẻ thù xâm lấn. Người bảo vệ từ bên ngoài đến với một cái giá: kẻ đối tác yếu thế không thể điều khiển hành động của bên có quyền lực khống chế, đặc biệt bởi vì lợi ích của nó luôn ăn đứt lợi ích của đồng minh. Đó là số phận của miền Nam.

Chẳng hạn, trong một cuộc thảo luận với Đại sứ vào giữa tháng 10 1965, Thiệu đưa ra ý kiến là ông tin kẻ thù chỉ đồng ý thương lượng “khi họ biết chắc là mình không thể đạt được thắng lợi quân sự với các đơn vị quân chủ lực… Mục đích của việc họ chấp nhận thương lượng sẽ là làm cho Mỹ  chấm dứt hoặc đình hoãn các hoạt động quân sự, và như thế rất khó, nếu không muốn nói là vô phương, cho chúng tôi tiếp tục hành quân.” Thiệu tin rằng đàm phán hòa bình với Cộng sản đơn giản chỉ là một chiến thuật khác để làm nản lòng Hoa Kỳ. Tệ hơn nữa, bất kỳ hiệp ước nào như Geneva cho phép Cộng sản tham gia vào bầu cử sẽ đe doạ đến ngay sự sống còn của nền cộng hòa.

Do đó, Saigon rất sốc khi vào ngày 10/1/1966 hành pháp Hoa Kỳ công khai nhìn nhận rằng Hà Nội đã nhận thư từ Washington đề nghị bàn chuyện hòa bình. Người miền Nam phản ứng gay gắt. Trần Văn Đỗ lập tức tuyên bố rằng bốn điểm cho hòa bình của CQMN, đã được công bố rõ ràng lần đầu tiên vào tháng 6 vừa qua, vẫn không thay đổi. Saigon chống đối việc thương thảo hòa bình lẫn việc ngừng bắn chính thức, cùng cho phép MTGP hiện diện tiếp tục bên trong biên giới của đất nước. Đổ xem MTGP là bù nhìn bị Hà Nội giật dây. Hoà bình, ông lặp lại, chỉ đến sau khi Cộng sản ngừng gây hấn và rời khỏi miền Nam.

Ngoại trưởng Dean Rusk, hiện giờ đang thăm châu Á, ngay lập tức được phái đến Saigon để sửa chữa hàng rào cản, nhưng buổi họp nổ ra nhiều tranh cãi. Thiệu trách móc Rusk về điều mà ông gọi là chính sách kẻ cả của Hoa Kỳ. Mặc dù Rusk tuyên bố rằng việc ngừng dội bom và lời kêu gọi thương thảo vô điều kiện của Johnson đã đặt Hà Nội vào thế phòng thủ ngoại giao, Thiệu phản bác rằng việc ngừng dội bom chỉ tạo cơ hội cho các lực lượng thù địch tái xây dựng. Tệ hơn nữa, thế tiến công hòa bình của Johnson đã đẩy chính quyền mình vào tình thế khó khăn đối với công luận về những động thái hòa bình hoặc đàm phán với người Cộng sản. Quân đội và công chúng có cảm giác là chính quyền đã không được thông tin đầy đủ về mọi biện pháp mà chính quyền Mỹ đã sử dụng trong cuộc tấn công hòa bình. Điều này đã làm khó cho chính quyền…. Bất kỳ khi nào có đề xuất việc hưu chiến hoặc thương thảo hoặc  quyết định ném bom, người Việt cần được hỏi ý kiến….để duy trì tinh thần binh sĩ, chính quyền sẽ không cho thấy mình đang ở một vị thế yếu ớt. Khi có ai nói về bốn điểm của Hà Nội và về MTGP, điều này có ảnh hưởng đến tinh thần, và chỉ hỗ trợ những ai muốn làm suy yếu chính quyền hoặc những ai muốn đưa ra một giải pháp dễ dàng hơn (có nghĩa là trung lập). Chính quyền không nghi ngờ gì về cam kết của người Mỹ, nhưng việc này có liên quan đến tác động tâm lý về những điều đang xảy ra. .. Chính quyền đang tìm cách phát huy quan điểm dân chủ và xúc tiến việc lập hiến trong tương lai. Nhưng cơ sở cho sự đoàn kết là một chính sách quốc gia mạnh mẽ.

Phát biểu này rõ ràng là một quan điểm thấu suốt vào chính sách tương lai của Thiệu. Đối với Thiệu, bảo đảm sự sống còn của miền Nam có nghĩa là không nhượng bộ Hà Nội tạo cơ hội cho những người Cộng sản phá hoại nó từ bên trong. Rút lui toàn bộ lực lượng Cộng sản là bước chủ chốt nhằm bảo đảm sự tồn tại của nền cộng hòa.

Chuyến thăm của Rusk trùng với ngày khai mạc 14/1/1966 Hội nghị Các Lực Lượng Vũ Trang Lần 2. Thiệu đọc diễn văn khai mạc. Ông thông tin cho các sĩ quan tham dự những ưu tiên của chính quyền trong năm mới là một cuộc công kích quân sự nhằm lấy lại vùng nông thôn và ổn định hoá kinh tế. Cũng quan trọng không kém là đẩy mạnh lại việc bình định hoá qua chương trình Xây Dựng Nông Thôn mới và phát huy chính trị nhằm dần dần thiết lập các định chế dân chủ từ thôn ấp cho đến một cơ cấu quốc gia vững mạnh. Năm mới sẽ chứng kiến “một thời kỳ xây dựng quốc gia”, nhưng Thiệu tuyên bố rằng “chiến tranh chỉ có thể chấm dứt bằng một thắng lợi hoàn toàn, cả về quân sự lẫn chính trị, và rằng hòa bình cho Việt Nam chỉ có thể là một nền hòa bình của một đất nước có đầy đủ độc lập về lãnh thổ và quyền tự chủ.”

Kỳ kết thúc hội nghị với một bài diễn văn về tình hình quốc gia trong đó ông nhắc lại ba mục tiêu chính cho năm 1966. Ông cũng thông báo rằng một Hội đồng Quốc gia sẽ được sớm bổ nhiệm để soạn ra một hiến pháp và sau đó sẽ đưa ra trưng cầu dân ý vào tháng 10 1966. Ông cam kết rằng hiến pháp mới sẽ được sử dụng làm cơ sở cho một chính quyền dân chủ và hứa hẹn một cuộc bầu cử quốc gia vào năm 1967. Tuy nhiên, Kỳ thẳng thừng kết án các thăm dò hoà bình của phía Mỹ. Ông phát biểu, “Không quốc gia nào khác có khả năng và có đủ điều kiện để quyết định cho vận mệnh của chúng ta… Chúng ta không thể nào tha thứ cho bất cứ sự can thiệp nào phương hại đến chủ quyền quốc gia của chúng ta. .. Không có cách nào khác hơn là đánh bại Cộng sản và quét sạch chúng ta khỏi căn cứ.” Cả hai người giờ đây cảnh báo với người Mỹ không kiến tạo hoà bình mà không xét đến nguyện vọng của CQMN.

Các sử gia tự hỏi liệu các đồng minh có cơ may nào đạt được hòa bình với Cộng sản trong những năm sớm sủa này. Với Lê Duẩn đang nắm quyền, câu trả lời là không. Vào tháng 12 1965, vị bí thư thứ nhất đã đọc một bài diễn văn hiếu chiến tại Hội nghị Trung ương 12 phác thảo chính sách thương thảo “vừa đánh vừa đàm” giờ đã nổi tiếng:

Chúng ta chủ trương đánh cho đến khi quân đội của bè lũ tay sai tan rã và cho đến khi chúng ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng của quân đội Mỹ sao cho ý chí xâm lược của bọn đế quốc Mỹ bị tan vỡ và chúng buộc phải chấp nhận điều kiện (hòa bình) của chúng ta! Điều này có nghĩa vấn đề đánh rồi đàm – đánh cho đến khi chúng ta thắng rồi đàm – hoặc đánh và đàm cùng một lúc, là một vấn đề liên quan đến mưu mẹo đúng đắn, và nó liên kết với các sách lược chính trị và quân sự đã được đề cập trên đây. . . Hiện giờ, bọn đế quốc Mỹ… đang sốt sắng muốn chúng ta ngồi xuống với chúng tại bàn hội nghị để chúng có thể bắt chúng ta đưa ra những  nhượng bộ. Về phía chúng ta, chúng ta tin rằng chúng ta chỉ có thể ngồi xuống bàn hội nghị sau khi đã đánh tan tác quân đội bè lũ bù nhìn và cho đến khi đập nát ý chí xâm lược của bọn đế quốc Mỹ. Điều này rất bí mật, và chúng ta chưa cho các đảng (Cộng sản) anh em biết về vị trí của chúng ta trên vấn đề này.

Như Thiệu và Kỳ, Lê Duẩn cũng không quan tâm đến hòa bình; ông ta chỉ muốn đánh thắng.

TIẾP TỤC XUNG ĐỘT NỘI BỘ

Kỳ đến với quyền lục với ý định tạo cuộc cách mạng xã hội nhằm thay đổi đời sống nhân dân, nhưng quá nhiều vấn đề không thể giải quyết được ngăn cản ông hoàn thành mục tiêu đó. Người tị nạn là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng, nhất là ở miền Trung. Nhân số đã gia tăng chóng mặt do có chạm trán ác liệt trong vùng đó trong mùa hè 1965. Các lều tị nạn tạm thời đã mọc lên như nấm, và điều kiện sinh hoạt rất là ngặt nghèo, vệ sinh thấp kém, không trường học, và chăm sóc y tế có giới hạn. Chính sách của chính quyền là đưa các hộ gia đinh đã chạy lánh nạn trở về làng cũ , nhưng việc này tỏ ra không thực tiễn vì giao tranh vẫn còn tiếp diễn. Thay vào đó chính quyền quyết định tái định cư nhiều dân tị nạn tại những vùng đất bị bỏ hoang gần đó. Các gia đình được phát tiền để xây lại nhà cửa và mua gạo trong 6 tháng. Trách vụ cho ban quản trị tị nạn được phân chia giữa Bộ Xã hội và chương trình bình định mới gọi là Xây dựng Nông thôn, mà vào cuối năm 1965 đã đảm nhiệm các nhiệm vụ tái định cư. Nhận ra rằng công tác hỗ trợ người tị nạn cần được quản lý độc lập, vào ngày 22/2, 1966, Kỳ rút các trách vụ về tị nạn ra khỏi hai cơ quan và lập ra một Ủy ban Đặc Biệt về người Tị nạn. Vào giữa tháng 4, Kỳ bổ nhiệm Bác sĩ Nguyễn Phúc Quế làm ủy viên và hậu thuẫn ông bằng một ngân sách 2.3 tỉ đồng VN. Quế cũng nhận được tiền quỹ dồi dào của USAID để giúp xây nhà mới, dựng lớp học, và cải thiện điều kiện vệ sinh. Quản lý hàng trăm ngàn dân tị nạn trở thành một cuộc đấu tranh tiếp diễn của CQMN, một cuộc đấu tranh có ít nhiều mức độ thành công.

Góp thêm vào các khó khăn của Kỳ là căng thẳng sắc tộc lại nổi dậy. Dù Kỳ có những nỗ lực vào tháng 9, 1965 để xoa dịu đồng bào Thượng, các cuộc thương lượng đã bế tắc khi các lãnh đạo FULRO tiếp tục đòi quyền bán tự trị cho dân tộc họ. Chính quyền từ khước, sợ rằng FULRO là con ngựa thành Troy cho người Cao Miên, Pháp, hoặc Cộng sản. Bất mãn, FULRO giáng trả lần thứ ba. Vào ngày 17/12, 1965, FULRO đột kích trung tâm thị xã, giết chết 35 sĩ quan và binh sĩ Kinh và làm bị thương nhiều dân thường. Trong lúc bình sĩ QĐVNCH nhanh chóng dẹp tắt cuộc nổi dậy, Saigon và Washington lại cần một cách tuyệt vọng đồng bào Thượng vì họ kỳ vọng ngăn cản đường xâm nhập của Cộng sản vào vùng Cao nguyên miền Trung thưa thớt dân cư. Kỳ một lần nữa hứa hẹn áp dụng các chính sách điền địa tốt hơn, và vào ngày 22/2/1966, ông thay thế Văn phòng Vụ Sắc Tộc của Phát bởi một bộ đặc biệt báo cáo trực tiếp với ông. Kỳ cử Paul Nur, một viên chức người Thượng được Pháp đào tạo, cầm đầu Ủy ban Đặc Biệt về Vấn để người Thượng. Nur phát động những chương trình nhằm cải thiện những tiện ích về sức khỏe và giao dục cho người vùng cao và từng bước nỗ lực thay thế các nhân viên người Kinh bằng người Thượng. Mặc dù vấn đề đòi tự trị và việc người Kinh chiếm đất vẫn chưa giải quyết được, những nỗ lực của Nur đã được đền đáp và tình hình tạm thời lắng dịu.

Xét mối căng thẳng triền miên giữa người Thượng và Saigon, điều kỳ lạ là người Cộng sản chưa hề thành công trong việc khai thác sự chia rẽ sắc tộc ở miền Nam. Mặc dù bỏ ra những nỗ lực cố ý nghĩa nhằm lôi kéo người Thượng, người Miên ở vùng Châu thổ, và người Hoa ở Saigon vào chính nghĩa của họ, Trung ương Cục miền Nam chỉ đạt được một số thành công hạn chế. Họ  thất bại vì ba lẽ. Thứ nhất, Cộng sản tuyên truyền chiến tranh nhằm thống nhất đất nước, còn người thiểu số có một lịch sử lâu dài chống lại chủ quyền Việt Nam. Thứ hai, Trung ương Cục miền Nam, mù quáng vì ý thức hệ, cũng thô lỗ như Saigon và xem FULRO như “một tổ chức chính trị phản động được bọn đế quốc dựng lên trong âm mưu gieo mầm chia rẽ trong nước và để tấn công và phá hoại cách mạng.” Thứ ba, nhiều người Kinh đối xử với nhóm thiểu số với vẻ khinh miệt không giấu giếm, kết quả là sự không tin cậy người Kinh ở cả hai phía. Do đó, người Miên và người Thượng gia nhập đông đảo nhóm CIDG (Lực lượng Dân sự Chiến đấu) do người Mỹ cầm đầu, hy vọng người Mỹ sẽ hậu thuẫn các nỗ lực của họ nhằm giữ gìn lãnh thổ họ không hoàn toàn bị Việt hóa.

Tính hình bất ổn ở đô thị cũng âm ỉ, nhưng không giống ở nông thôn, nó thường bùng phát bởi hỗn loạn chính trị hơn là bởi sắc tộc. Nhưng vào năm 1966 một vấn đề mới nảy sinh: sự hỗn loạn về kinh tế lên cao.

Nhà ở, thực phẩm, và các giá đình hoạt khác ở Saigon tăng vọt do sự có mặt tăng nhanh chóng của người Mỹ. Vào đầu năm 1966, nạn lạm phát giá gạo tăng 68 phần trăm trong vòng không đến một năm. Dân chúng điêu đứng vì giá sinh hoạt tăng nhanh, nhất là giới công chức có đồng lương cố định, dẫn đến nạn nhũng nhiễu để kiếm chác thêm.

Một số tác nhân tạo nên giá lương thực. Thứ nhất, các đơn vị Cộng sản thường phong tỏa đường xá dẫn đến thủ đô. Thứ hai, cuộc chiến đã lấy đi nhiều nông dân cày cấy. Việc trồng lúa đã giảm sút đáng kể đến nổi miền Nam từ một nước xuất khẩu gạo trở thành một nước nhập khẩu gạo trong vỏn vẹn một năm. Để bù đắp, vào tháng 3 1966 Washington và Saigon ký một hiệp đồng viện trợ mới, và Hoa Kỳ nhập vào 200,000 tấn gạo để giúp giảm căng thẳng tình trạng khan hiếm lương thực.

Điều mà phần đông người Việt tập trung vào là việc lên án (chính xác nhưng cũng một phần do động lục sắc tộc) việc thao túng giá cả do các con buôn sừng sỏ người Hoa ở Chợ Lớn, ngoại ô chính của Saigon. Các đại gia này kiếm soát việc buôn bán gạo, từ việc thu mua lúa rồi vận chuyển đến xay ra gạo. Đánh hơi thấy lợi nhuận, họ tích trữ gạo, hy vọng mua thấp rồi bán cao. Kỳ đã công khai răn đe trong một vài dịp sẽ xử bắn bọn trục lợi, và vào đầu tháng 3 1966 ông giữ lời. Hai nhà xuất khẩu người Hoa ở Saigon bị bắt và kết tội tích trữ, hoạt động chợ đen, và hối lộ các quan chức chính quyền. Một người, Tạ Vinh, bị kết tội tử hình và bị xử bắn công khai vào ngày 18/3/1966. Mặc dù cộng đồng người Hoa không phản đối việc xử bắn, cái chết của Tạ Vinh gây ra một hậu quả quan trọng: các nhà cầm đầu doanh nghiệp Hoa Kiều bắt đầu âm thầm móc nối với Thiệu, và họ sẽ hậu thuẫn tài chính cho ông trong cuộc bầu cử 1967. Vì Trung ương Cục miền Nam trước đây đã thành lập Bộ phận Hoa Vận nhằm gây ảnh hưởng đến những người Hoa thường có thái độ phi chính trị ở Saigon, họ tìm cách lợi dụng vụ xử bắn Tạ Vinh để lấy lòng cộng đồng Hoa kiều về phe mình. Họ chiêu nạp được một số người và giật dây được một số vụ đình công nhỏ trong số dân lao động người Hoa, nhưng nói chung họ lại thất bại vì sơ suất. Vào tháng 12 1965, Trung ương Cục miền Nam đã gửi thư cho chủ biên người Hoa của báo Chính Luận, nhật báo hàng đầu ở miền Nam, cảnh cáo ông hãy ngưng đăng những bài chính luận “thân Mỹ”. Chủ biên, Bác sĩ Từ Chung, đáp lại lời răn đe của họ bằng một bài tố cáo nảy lửa trên trang nhất. Cộng sản đáp ứng bằng cách ám sát ông ngay trước cửa nhà vào buổi sáng ngày 30/12/1965. Việc xử bắn Tạ Vinh là vì lý do kinh tế, nhưng giết Chung là lý do chính trị, và việc này đã lôi kéo người Hoa về với CQMN.

Một tác động chủ chốt khác gây lạm phát là việc chính quyền trang trải ngày càng tăng chi phí chiến tranh. Vì Việt Nam không có đánh thuế lợi tức cá nhân, khoảng 90 phần trăm ngân sách nhà nước đến từ thuế hải quan hoặc qua tỉ giá hối đoái tiền tệ ưu đãi. Với việc xung đột mở rộng, Saigon giờ đây đối mặt với một khoảng hở nặng nề về ngân sách. Số giấy bạc lưu thông đã tăng như nấm, và sự thâm hụt đã phình to. Vào năm 1964, ngân sách chính quyền xấp xỉ 25 tỉ đồng với số thâm hụt 5 tỉ đồng. Vào cuối năm 1965, ngân sách đã tăng đến gần 46 tỉ, với sự thâm hụt gần 20 tỉ. Để trả cho chi phí binh định hóa và tăng cường quân đội, ngân sách 1966 được mong đợi sẽ tăng đến 55 tỉ. Sự phối hợp giữa chi tiêu thâm hụt, khan hiếm đồ tiêu dùng, và mua sắm của Hoa Kỳ đã tạo ra sự tăng đột biến về giá cả, và lạm phát tăng gần 30 phần trăm trong năm 1966.

Tìm cách tăng lợi tức và làm chậm đà lạm phát, vào ngày 15/10/1965, chính phủ phát động chương trình chống lạm phát, bao gồm việc tăng thuế nhập khẩu. Để chặn cơn lũ tiền Mỹ, Westmoreland đổi việc trả lương nhân viên Mỹ từ đô la sang chứng khoán quân sự. Ông cũng tìm cách  trừng trị thẳng tay việc buôn bán chợ đen hàng hoá Mý từ các cửa hàng Mỹ đang manh nha và phi vụ đổi ngoại tệ bất hợp pháp đang phất lên, nhưng cho thấy là không thể kham nổi. Vào đầu tháng 2 1966, Hoa Kỳ đồng ý mở rộng viện trợ kinh tế theo chương trình CIP (Nhập khẩu Đồ Tiêu dùng) và Chương trình Lương thực PL 480 lên đến 400 triệu đô. CQMN quyết định sử dụng tiền viện trợ bổ sung để tăng gấp đôi chương trình nhập khẩu, liên kết với việc tăng thuế nhập khẩu, sẽ có thêm được 11 tỉ đồng.

Trong khi Saigon ra sức vực dậy những khó khăn về sắc tộc, xã hội, và kinh tế sau những năm hỗn loạn, chính quyền Johnson đối mặt với sự chống đối gay gắt của quốc hội về sự lún sâu của Mỹ. Sự chống đối của quốc hội đã kết tinh qua số thương vong Mỹ tăng vọt cộng với việc nối lại ném bom vào cuối tháng giêng 1966 và số tiền khổng lồ đổ vào Việt Nam. Vào đầu tháng 2 1966, Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy (bang Massachusetts) thình lình kêu gọi một chính quyền liên hiệp giữa chính phủ miền Nam và Cộng sản. Không lâu sau đó, Thượng Nghị sĩ William Fulbright (bang Arkansas) tuyên bố rằng mình sẽ tổ chức buổi nghe ý kiến đề xem xét các chính sách về Việt Nam của tổng thống.

Để dập tắt làn sóng chỉ trích đang lên cao, Johnson đột ngột lên lịch cho một cuộc họp với Thiệu và Kỳ tại Honolulu. Johnson muốn bàn về các vấn đề bình định và chính trị  mà Saigon đang đương đầu, và ông muốn Kỳ đẩy nhanh việc tổ chức bầu cử vào năm 1967 đã được loan báo. Cuộc họp, tổ chức vào tháng 2 ngày 6-8, là một thành công lớn. Johnson hứa hẹn hậu thuẫn việc bình định hoá bằng cách viện trợ rộng lớn để cải thiện sức khỏe, giáo dục, nông nghiệp, và thậm chí xây dựng một hệ thống truyền hình để chính quyền có thể thông tin cho dân chúng. Về phần mình, Thiệu và Kỳ đồng ý theo đuổi bất kỳ diễn đàn hòa bình nào. Đó là một nhượng bộ nhỏ vì họ không tin Cộng sản chịu đàm phán. Hơn nữa, họ đồng thuận nhanh chóng bổ nhiệm Hội đồng Quốc gia do Thiệu đề xướng, sau đó loan báo trong một tuyên  bố chung rằng hiến pháp sẽ được phê chuẩn qua một cuộc đầu phiếu kín.

Mặc dù có những thảo luận bổ ích và các chương trình viện trợ của Hoa Kỳ gia tăng mạnh, một số người miền Nam có những nhận thức xung khắc nhau về cuộc gặp gỡ thượng đỉnh. Ít người miền Nam hiểu rằng Johnson thực sự gồng mình vì Saigon dù phong trào phản chiến đang dâng cao. Phần đông người miền Nam xem hội nghị thượng đỉnh là chứng cứ cho thấy Thiệu và Kỳ đuoc sự hậu thuẫn của người Mỹ hùng mạnh, trong khi các người Quốc gia khác bất mãn trước các vị lãnh đạo của mình có vẻ như bị triệu tập đến. Khi một bức ảnh được lên mặt báo cho thấy Johnson ôm chầm Kỳ, như trường hợp ảnh McNamara nắm tay Khánh vung lên cao, tính bài ngoại của người Việt được dịp nổi lên. Nhiều người Việt đồng thời nhìn nhận rằng Kỳ là sự lựa chọn của Mỹ nhưng không ưa ấn tượng bị Hoa Kỳ điều khiển. Đó chính là một hợp âm gây xúc cảm mà ngài Thích Trí Quang luôn năng nổ sẽ mau chóng lợi dụng .

NỀN CHÍNH TRỊ BẢN SẮC

Để đúc rèn tình đoàn kết quốc gia, Kỳ và Thiệu đã ra sức đưa những lực lượng hùng mạnh của đất nước vào trong một hình thức liên minh chính trị. Vượt lên những khác biệt tôn giáo và vùng miền là điều sinh tử đối với thành công, vì không có sự đồng thuận quốc gia nào khác hơn là chủ trương chống cộng và chống trung lập, bản sắc tôn giáo và vùng miền vẫn duy trì là tiêu điểm cho sự bất hòa. Hai vị lãnh đạo, dù vậy, đã học được từ thất bại của Diệm rằng củ cà rốt tốt hơn là cây gậy.

Tính kỳ thị vùng miền cũng trồi lên như một vấn đề gây tranh cãi. Vào mùa xuân 1965, Trần Văn Đôn đã được bầu làm người đứng đầu của một tổ chức mới tập trung người  nam có tên là Hội Liên Trường miền Nam. Được tổ chức một phần để đáp ứng với thiên kiến được cho là chống người nam của Quát, thành viên của hội được giới hạn cho những người sinh quán ở miền Nam và đã tốt nghiệp từ một trong bốn trường trung học  do Pháp thành lập ở Nam Kỳ trong thời thuộc địa. Mặc dù ra vẻ là không có tính chính trị, Liên Trường đã được thành lập để tạo cho người nam một thành trì chống lại sự thống trị từ năm 1954 của người sinh quán ở miền bắc và trung. Nhiều người nam tin rằng cuộc chiến thực sự là giữa hai phe phái người bắc, và họ thường rêu rao “Chúng ta không thể để một triệu người bắc đè đầu đè cổ 14 triệu người nam chúng ta.” Trong khi chỉ có 1000 thành viên, nhóm đại diện cho một số lớn tầng lớp chuyên nghiệp người nam. Xét gia thế và uy tín của họ, Liên Trường có thể đe doạ chính quyền Kỳ nếu họ bắt đầu đưa ra những yêu sách gia tăng số đại diện người nam hoặc liên minh với phe Phật giáo hay Công giáo. Sự trỗi dậy của Liên Trường sẽ làm bùng phát lên cơn bão chính trị thứ hai gây thiệt hại nhất của năm 1966 – cuộc nổi dậy của nội các.

Sau khi trở về từ Hawaii, Kỳ tái tổ chức nội các của mình để vận dụng những chương trình viện trợ mà Johnson đã hứa hẹn, và ông sử dụng cơ hội để xoa dịu hai nhóm chủ chốt. Kỳ thay thế bộ trưởng kinh tế, được cho là nhận hối lộ kết sù của người Hoa, bằng Âu Trường Thanh, một người nam ở Saigon, 30 tuổi được Pháp đào tạo, xuất thân từ dân Hoa kiều nhập cư tầng lớp thấp. Kỳ cũng mời một người nam khác cũng do Pháp đào tạo, 31 tuổi tên Võ Long Triều, làm bộ trưởng thanh niên. Hai người này phản ánh ước muốn của Kỳ nhằm lôi kéo tiếng nói của người trẻ vào chính quyền và tận diệt tham nhũng như lời ông tuyên bố, việc bổ nhiệm cũng xoa dịu Liên Trường. Thanh cũng xoa dịu các ông trùm buôn bán người Hoa vì Thanh là người gốc Hoa. Nhưng Thanh cũng có vấn đề. Khi ông bị bỏ tù hai lần vì tội chống đối Diệm về mặt chính trị, ông cũng bị tố cáo là thân Cộng qua một thời gian lâu dài dính líu với các tổ chức thiên tả. Thanh không thân Cộng, nhưng ông là người chủ trương trung lập có học vấn về kinh tế xã hội.

Triều cũng cung cấp những lợi ích quan trọng về mặt chính trị. Trước khi được bổ nhiệm, ông đã công tác với vai trò thống kê trong Bộ Canh Nông, nhưng ông cũng là một trong những lãnh tụ Công giáo quan trọng nhất trong xứ, một người nam nhiệt huyết, và một thành viên chủ chốt của Liên Trường. Sinh tại vùng châu thổ, ông là đại biểu của Văn phòng Liên lạc Tổng Giáo khu, có vai trò chỉ đạo các hoạt động chính trị của Công giáo, và ông thường hoạt động như người trung gian giữa giáo hội và phe Phật tử. Không may cho ngài Kỳ năng nổ nhưng trình độ chính trị yếu kém, việc lựa chọn Thanh và Triều của ông sẽ phản pháo khi hai người sẽ cầm đầu cuộc nổi dậy của nội các vào cuối năm 1966.

Mối quan hệ giữa các nhóm tôn giáo chính từ tháng 7 1965 đến tháng 3 1966 tương đối trầm lắng. Như Minh và Khánh trước họ, Thiệu và Kỳ nhắm đến việc xây dựng một liên minh đa số quản trị đất nước, đặc biệt nhóm thiểu số tôn giáo và sắc tộc ở đồng bằng Cửu Long. Vào ngày 12/7/1965, Thiệu ký một sắc lệnh công nhận chính thức lần đầu tiên giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo. Tương tự, vào ngày 15/2/1966, chính quyền trao tặng cho Giáo đoàn Phật giáo Theravada Cao Miên 5.5 triệu đồng để xoa dịu các Phật tử gốc Miên ở vùng châu thổ. Quỹ tài trợ được trích ra để xây dựng một ngôi trường. Việc này có kết quả, và Phật tử Miên không hề tham gia việc nổi dậy của Quang.

Mối quan hệ giữa chính quyền và Phật tử, mối quan hệ trọng yếu nhất, vẫn duy trì ổn định. Kỳ và Thích Trí Quang có quan hệ tử tế, nhưng như đã nói, Quang không nói thay cho tất cả Phật tử miền Nam. Thích Tâm Châu, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, cầm đầu nhóm Phật tử gốc bắc và sống quanh Saigon. Để duy trì quan hệ thân thiết, chính quyền nỗ lực mở rộng tay đến các sư sãi. Vào tháng 11 1965, các kỹ sư công binh bắt đầu xây dựng chùa Vĩnh Nghiêm, một trong những ngôi chùa lớn nhất Saigon. Số các sĩ quan tuyên úy Phật giáo trong quân đội, một chương trình bắt đầu vào thời Khánh, được gia tăng. Hơn nữa, Giáo hội Phật giáo Thống Nhất bắt đầu xây dựng đại học Phật giáo đầu tiên ở Saigon, Đại học Vạn Hạnh. Đất xây đại học được một trong những người giàu có nhất miền Nam hiến tặng, Nguyễn Cao Thăng. Ông vừa trở lại vào tháng 11, 1965 sau một năm ở hải ngoại. Tài sản của Thăng lấy từ Nhà Thuốc Tây OPV của ông, công ty dược phẩm chính của miền Nam. Gốc là một hãng dược Pháp được thành lập năm 1950 ở Huế, Thăng đã mua lại từ năm 1956. Vì ông là người đạo Công giáo ở Huế và bà vợ có họ hàng xa vời Diệm, Thăng âm thầm trở thành người hậu thuẫn tài chính cho nhà Ngô để đổi lấy một trong ít giấy phép nhập khẩu thuốc Tây. Dưới tài quản trị của Thăng, OPV trở thành công ty hiện đại nhất và rộng lớn nhất miền Nam.

Thăng hiến tặng miếng đất khi giới lãnh đạo Công giáo yêu cầu ông giúp đỡ thiết lập mối quan hệ thân thiết hơn với phe Phật giáo. Ông cũng đóng góp quỹ để xây dựng một ngôi chùa nhà cho Thích Thiện Minh, người đứng đầu Cánh Trẻ của Giáo hội Phật giáo Thống nhất. Quyết định hỗ trợ Mình không phải là việc làm từ thiện. Minh là phụ tá thân cận nhất của Trí Quang, ông là công cụ tổ chức cuộc nổi dậy chống Diệm của Phật tử, và là một chiến sĩ cầm đầu. Sau những đóng góp này, Thăng trở thành người tài trợ chính cho Thiệu, và sẽ đóng vai trò công cụ sau cuộc bầu cử cho vị tân tổng thống với phe Phật giáo lẫn Quốc hội.

KHỦNG HOẢNG PHẬT GIÁO BÙNG NỔ

Sau hội nghị Honolulu, Kỳ mạnh dạn tiến hành củng cố việc cai trị, nhưng nhiều lực lượng chống đối chính quyền trung ương tập quyền nhiều quyền hành. Nỗ lực đầu tiên của ông là giảm quyền lực của bốn tư lệnh quân đoàn. Những tướng lĩnh này đúng là các lãnh chúa bên trong khu vực của họ, nơi mệnh lệnh của họ thường mạnh hơn của Saigon. Không đâu điều này rõ ràng hơn với vị Trung Tướng đầy tham bọng và nóng nảy Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Quân đoàn I. Thi thường bác bỏ những chỉ thị từ Saigon và đã bắt đầu nói xấu Thiệu và Kỳ sau hội nghị Honolulu, lên án họ là tay sai của Mỹ. Xét thấy Thi không chịu tuân thủ những chỉ thị và tỏ ra khinh miệt công khai, khi Kỳ phát hiện ra “gần đây Thi tiếp cận với Liên Trường do Đôn cầm đầu trong một toan tính dàn xếp một liên minh chính trị,” ông quyết định cho điều tra.

Vào ngày 3/3/1966, Kỳ đến Đà Nẵng để gặp Thi, hy vọng hàn gắn những rạn nứt. Nhưng không có kết quả. Khi Kỳ quở trách Thi vì lỗi bất tuân thượng lệnh và cảnh cáo ông không được dính líu đến Đôn, ngài Thi nóng nảy phản ứng khinh khỉnh với Kỳ. Sau đó Kỳ dự buổi cơm chiều với các viên chức chính quyền địa phương, có cả thị trưởng Đà Nẵng. Ông này công khai thách thức Kỳ về tình trạng cải cách xã hội chậm lụt của chính quyền trong khi lời lẽ thì đao to búa lớn. Biết rằng mình bị thách thức, Kỳ trở về Saigon quyết tâm cách chức Thi, tạo nên cơn khủng hoảng nội bộ tồi tệ nhất kể từ vụ đảo chính Diệm. Hai quan điểm sắp sửa được thử nghiệm. Thứ nhất là quyền hành quốc gia đấu với quyền hành vùng miền. Thứ hai là vai trò và quyền lực của các nhóm ngoài chính quyền đấu với nền hành chính miền Nam. Ai thắng trong cuộc đối đầu này sẽ cai trị miền Nam.

Triệu tập UBLĐQG, vào ngày 9/3, Kỳ yêu cầu loại Thi khỏi chức vụ tư lệnh. Nhóm đồng ý, và Thi được lệnh trình diện tại Saigon vào ngày hôm sau. Đến Bộ Tổng Tham mưu Liên quân, Thi bị cách chức vì bất tuân thượng lệnh. Để tránh khỏi mất mặt, UBLĐQG sẽ thông báo ông từ chức vì lý do sức khỏe và được đi Hoa Kỳ chữa bệnh. Sáng hôm sau, khi Thi đi đến phi trường để bay về Đà Nẵng sắp xếp hành lý và con cái. Ai ra lệnh thì không biết  nhưng khi biết được tin Thi bị cách chức tư lệnh và bị câu lưu, thị trưởng Đà Nẵng tổ chức một “Uỷ ban Tranh đấu” để yêu cầu thả tự do cho Thi ngay lập tức.

Kỳ chờ đợi một số chống đối có giới hạn, nhưng ông hy vọng Phật tử sẽ thông cảm. Để xoa dịu Thích Trí Quang, sau cuộc họp với UBLĐQG vào ngày 9/3, Kỳ phái một người bạn cũ của nhà lãnh đạo Phật giáo đến giải thích cho ông ta về quyết định sa thải Thi. Người bạn “mang về sự bảo đảm của Quang sẽ không gây ra rắc rối”. Trong vòng vài ngày, Quang tuyên bố rằng thật là “vô cùng sai lầm… khi Phật tử không chống đối việc trục xuất Thi.” Nhiều người nghĩ rằng Thi và Quang thân cận nhau (điều mà Thi không viết ra trong hồi ký của mình), nhưng hai người giữ khoảng cách với nhau. Hoặc Quang đã  phản phé Kỳ hoặc sử dụng việc trục xuất Thi như cái cớ để phát động một phong trào chống đối, rõ ràng ông đã lừa dối Kỳ.

Tại sao nhà sư bí ẩn chọn phát động  một làn sóng bất ổn lớn khác? Xét quá khứ gây khích động và hoàn toàn khinh thị Thiệu, nhiều người sợ rằng chỉ là vấn đề thời gian trước khi một khủng hoảng khác bùng phát. Sử gia James McAllister tin rằng Quang “muốn một chế độ ‘cách mạng’ được ông xác định một cách thực tế là một chế độ không chịu ảnh hưởng của Công giáo, chủ nghĩa Diệm hoặc Cần Lao. Vấn đề chính… là Trí Quang thường ám chỉ là chỉ mình ông có quyền quyết định tính hợp pháp của các chế độ miền Nam, cũng như quyền loại bỏ các chế độ này khỏi nhiệm sở.”

Không nghi ngờ gì nữa, một tâm thế “quyền lực phía sau ngai vàng” rất mạnh trong con người Quang. Phe ủng hộ ông, ngược lại, tuyên bố rằng động lực thực sự của Trí Quang là “một chính quyền được phổ thông đầu phiếu, nhờ thế mới có tính hợp pháp để thương lượng với MTGP nhằm chấm dứt chiến tranh.”

Có một phần sự thật trong cả hai lối phân tích, nhưng nhiều nhà lãnh đạo thế tục theo đạo Phật không chia sẻ nhiệt tình của Quang, ông cũng không là trọng tài duy nhất của các yêu sách chính trị của Phật tử. Phong trào Phật giáo thậm chí không được sự ủng hộ rộng rãi ở miền Trung. Đại Việt, VNQDĐ, và Công giáo chống đối ông. Đại Việt Cách Mạng của Hà Thúc Ký kiểm soát chính quyền địa phương tại những quận quanh Huế. VNQDĐ nắm giữ các chức vụ hành chính được chính quyền bổ nhiệm trong nhiều quận ở Tỉnh Quảng Nam, từ lâu được coi như “thánh địa” của đảng. Dù vậy, Trí Quang vẫn còn là một đối thủ đáng gờm. Tài hùng biện bốc lửa của ông có thể, như nhấn một nút bật, ngay lập tức tập hợp được khối đông đảo thanh niên, sinh viên đại học, và tăng ni được sự hỗ trợ nhiệt huyết của phe tả trong Đại học Huế.

Vào ngày 12/3, Thích Tâm Châu tiếp tay Quang lên án chính quyền. Châu mở cuộc họp báo tại Saigon tại đó ông nêu ra bốn yêu sách, bao gồm nhanh chóng tổ chức bầu cử, phục vị các tướng lĩnh đã lật đổ Diệm, nhóm quân sự cầm quyền từ chức và trao lại quyền hành cho dân sự. Kỳ nổi nóng, xem tối hậu thư như muốn giành lấy quyền lực vì chính ông đã tuyên bố kế hoạch sẽ trao trả quyền lực cho phe dân sự. Trong đầu óc Kỳ không có bất kỳ “chính quyền dân sự thay thế có tính dân chủ nào có thể đứng vững được”, nói chi đến một cơ chế có sẵn để tổ chức tổng tuyển cử quốc gia. Cũng gây lúng túng không kém là yêu cầu phục vị các vị tướng trước đây, vì Kỳ cảm nhận được có bàn tay của Đôn táy máy trong bóng tối với các đồng minh Phật tử cũ của mình.

Phật tử nổi giận, sinh viên Huế cũng bắt đầu biểu tình sau khi Quang khéo léo sử dụng việc tống khứ Thi để đốt lên nỗi bất mãn việc Saigon khống chế các vấn đề địa phương. Qua vài ngày sau, Quang sử dụng việc sa thải Thi thành lời kêu gọi tập kết, và lực lượng chống đối tích lũy sức mạnh, mà đỉnh cao là việc chiếm đài phát thanh ở Đà Nẵng vào ngày 15/3. Ngày hôm sau, Tâm Châu tổ chức một buổi tập hợp gồm 10,000 người tại Saigon đòi phục hồi chính quyền dân sự. Trong một bước ngoặt gây kinh ngạc, hai ngày sau, Cha Hoàng Quỳnh đồng ý với lời kêu gọi phục hồi chính quyền dân sự của Châu. Sau khi Quát rơi đài, Quỳnh đã tập trung vào việc thành lập một ủy ban liên tôn có tên Mặt trận Liên Tôn nhằm đoàn kết Công giáo, Phật giáo, và các giáo phái trên một cương lĩnh chính trị chung. Dù vậy, Quỳnh không tán thành tổng tuyển cử, sợ người Cộng sản sẽ thắng cử, mà thích phe quân sự và các công dân lão thành phối hợp nhau để chọn ra một chính quyền dân sự.

Phần đông UBLĐQG muốn mạnh tay, nhưng như Khánh vào tháng 8 1964, Thiệu và Kỳ sợ sẽ lặp lại vụ bắn giết các Phật tử chống đối. Họ thuyết phục các tướng lĩnh đồng sự không nên thẳng tay với đám đông. Như lời một tướng lĩnh cao cấp đã kêu lên, “Chỉ cần một phát súng là cơn điên loạn sẽ theo sau.” Cùng lúc đó, Liễu, vốn đã đến Huế và Đà Nẵng để xoa dịu đám sinh viên, ra lệnh cảnh sát ở hai thành phố không được can thiệp. Thay vào đó, UBLĐQG yêu cầu Thi trở lại Quân đoàn I và vỗ yên đám chống đối. Sau khi hứa sẽ hành động để gây ảnh hưởng ôn hoà,  Thi trở lại Đà Nẵng vào ngày 16/3. Nỗ lực của ông chứng tỏ là vô ích – vì thế qua hai tuần đầu đó, Kỳ và Thiệu tổ chức các cuộc họp với giới lãnh đạo Phật giáo để bàn thảo về yêu sách của họ. Họ đồng ý ném bỏ kế hoạch bầu cử gốc của Thiệu và thay vào đó chỉ định một ủy ban soạn ra hiến pháp trong 2 tháng. Uỷ ban sẽ bao gồm một đại diện cho mỗi hội đồng tỉnh được bầu vào tháng 5 1965, cùng với một số bằng nhau được chọn ra từ các tổ chức tôn giáo. Cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào cuối năm 1966. Vào ngày 25/3, Kỳ thông báo sẽ thành lập một “Hội nghị Chính trị Quốc gia” để soạn thảo hiển pháp. Mặc dù đồng ý, Trí Quang cảm nhận được thiện chí chấp nhận miễn cưỡng của Kỳ, và ông quyết định dấn tới. Các Phật tử lại trở về phương thức cũ, bắt đầu la ó đòi phải bầu cử trong vòng hai tháng. Vào ngày ¼, Thiệu công khai chế giễu thời biểu Phật tử đưa ra: “Dân chủ không thể xây dựng trong một ngày. Chúng ta cần thời gian để soạn ra hiến pháp, giáo dục quần chúng, tô chức cuộc trưng cầu dân ý, và chuẩn bị một cuộc tổng tuyển cử để bầu ra quốc hội rồi dựng lên chính quyền dân sự.” Quang phủi sạch những quan ngại của Thiệu, ghi nhận rằng Quát đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Hội đồng tỉnh khi tình hình an ninh con tệ hơn. Vì chính quyền cho rằng tình hình an ninh hiện nay còn tốt hơn nhiều, tại sao họ không tổ chức bầu cử được? Phe quân sự đang ở vào thế bế tắc.

Kỳ nổi nóng vì ông thấy điều mà ông coi là một trò lừa bịp khác của Quang. Mặc dù trước đây ông không tin Quang là một tên Cộng sản, giờ ông đã đổi ý. Sự xuất hiện của những biểu ngữ chống Mỹ khiến người Quốc gia ngờ rằng người Cộng sản đã xâm nhập vào hàng ngũ của phe chống đối và giới lãnh đạo chính quyền lên án giới lãnh đạo Phật giáo cao cấp là các đặc vụ MTGP nằm vùng. Trong một giọng điệu âm mưu diễn hình, Kỳ bảo Lodge rằng “ông giờ nghĩ Quang là một tên Cộng sản và không nghi ngờ gì nữa, chúng ta đối mặt với một âm mưu lớn của Cộng sản để cướp chính quyền, đòi Mỹ rút về nước, và dâng xứ sở này cho Hà Nội. Kỳ nói rằng mình giờ nhận ra rằng đã đặt quá nhiều lòng tin vào việc nhượng bộ phe Phật tử.”

Đối với thế giới, việc chụp mũ theo phản xạ bất kỳ hành động chống đối nào là do Cộng sản giật dây đã trở thành món khoái khẩu của chính sách nhà nước. Người ngoài bác bỏ những tuyên bố của chính quyền cho rằng chống đối là do các cán bộ Cộng sản nằm vùng giật dây vì người miền Nam bôi nhọ bất kỳ ai tố cáo kiểu đó, thường không có chứng cứ hoặc bằng cách đưa ra điều dường như là một chứng cứ được dàn dựng lên. Trong khi lịch sử viết sau chiến tranh của người Cộng sản cho biết họ không xúi giục những cuộc nổi dậy 1966 của Phật giáo, nhưng khi cuộc nổi dậy bùng phát, họ ra lệnh cho người mình (một số tổ chức  giáo sư và sinh viên Đại học Huế là những căn bộ nằm vùng) chỉ đạo những cuộc biểu tình đối kháng để gieo rắc mầm mống chia rẽ sâu sắc hơn giữa Hoa Kỳ và Saigon và trong lòng chế độ. Lịch sử tỉnh bộ đảng Cộng sản Quảng Nam xác nhận rằng “các tổ chức và đặc vụ  Đảng ta bước vào cuộc xung đột để chuyển hướng đấu tranh và biến nó thành một phong trào quần chúng yêu nước chống Mỹ và bè lũ tay sai. .. Chúng ta hoạt động để khoét sâu cuộc xung đột nội bộ giữa các nhóm chống đối của họ và dần dần biến phong trào thành một phong trào đối kháng chống Mỹ và Thiệu.”

Viết tại Hà Nội một năm sau đó, Lê Duẩn ghi nhận rằng

cuộc nổi dậy của nhân dân Quảng Nam chống chính quyền Thiệu-Kỳ giữa tháng 3 và 5 1966 đã cung cấp cho chúng ta một bài học hữu ích trong việc khai thác những xung khắc bên trong hàng ngũ  địch. Trong khi vụ nổi dậy không phải do chúng ta khởi phát, bằng cách lợi dụng cơ hội mà các xung đột nội bộ trong hàng ngũ kẻ thù ban cho ta, chúng ta có thể sát cánh và xúi giục quần chúng đứng lên làm chủ thành phố. .. Chúng ta không nên chỉ ngồi và đợi quả chín của những xung đột như thế rơi vào lòng ta. Khả năng nắm bắt thời cơ bằng cách lợi dụng những xung đột như thế là một nhiệm vụ công kích, chủ động, chính xác theo đúng nguyên tắc chiến lược của cách mạng.

Lê Duẩn tin chắc rằng miền Nam là hộp bật lửa và bằng cách khai thác “xung đột nội bộ”, ông có thể đẩy nhanh đến thắng lợi. Điều xác quyết này góp thêm vào lý do tồn tại của cuộc Tổng Cộng kích Tết 1968: dân cư đô thị ngay lập tức sẽ tập họp với Cộng sản nếu được cho một cơ hội.

Xét những yêu sách mới của Phật tử, ngài Kỳ bưc dọc và thịnh nộ phái vài tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến đến Đà Nẵng để chiếm lại thành phố. Kỳ bay đến nơi để chỉ huy cuộc tấn công, nhưng các đơn vị địa phương đã tiếp tay cho Phong trào Đấu tranh phong tỏa căn cứ không quân. Với Quân đoàn I trên bờ vực nội chiến, Kỳ rút lui. Để thiết lập lại tình hình, Kỳ nhượng bộ một yêu sách chủ chốt khác của Phật tử là phục chức các tướng lĩnh đã lật đổ Diệm. Mặc dù Kỳ không đồng ý phục chức Minh Cồ hoặc Trần Văn Đôn, vào ngày 9/4, ông làm một động thái chính trị sắc sảo là bổ nhiệm  Trung Tướng Tôn Thất Đính, một người sinh quán Huế, làm tân tư lệnh Quân đoàn I. Để sẵn sàng cho Hội nghị Chính trị Quốc gia, Thiệu biết rằng mình cần một liên minh các lực lượng chống Trí Quang. Thiệu âm thầm hoạt động để tranh thủ sự hậu thuẫn của Công giáo và Phật tử phía nam, cùng với các giáo phái, nhóm thiểu số, và tàn tích của các chính đảng để đứng về phe chính quyền chống bè phái Trí Quang. Westmoreland cho rằng Thiệu là một lựa chọn hoàn hảo để xây dựng một liên minh chống Quang. Thiệu, ông nói, “cực kỳ sắc sảo và vô cùng mưu mô. Sức mạnh lớn của ông có vẻ nằm trong những mưu tính ở hậu trường,” một đánh giá biết trước thật phi thường. Vào ngày 6/4, Thiệu tổ chức một buổi họp có tính tổ chức với 24 đại diện từ những nhóm khác nhau này. Ông lặp lại lập trường đã nhiều lần được đề cập:

Quân đội chỉ là người gìn giữ lợi ích của đất nước bởi vì những người khác không đủ mạnh cho vai trò này… Có người Việt nào khác nghĩ rằng mình có thể làm được những gì chính quyền hiện nay đã làm –  khởi động chương trình Xây Dựng Nông Thôn, chiến đấu kiên cường với VC… và thể hiện hành động chống tham nhũng, như xử bắn Tạ Vinh? Ông và Kỳ bị chỉ trích về kinh tế… nhưng dân chúng phải hiểu rõ những vấn đề này chứ không chỉ biết chỉ trích. Quân đội sẽ bước ra khỏi chính quyền vào thời điểm có một nhà lãnh đạo tốt sẵn sàng đứng lên trước nhân dân và tuyên bố rằng… “tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm.” Thiệu nói thêm rằng nhà lãnh đạo như thế phải chống cộng, cam kết phục vụ lợi ích tốt nhất của đất nước và thi hành phúc lợi xã hội cho nhân dân.

Tìm một đối trọng chống lại Trí Quang, Thiệu nhờ Phan Quang Đán cầm đầu hội nghị. Đán đã yêu cầu bầu cử kể từ buổi họp hội đồng tỉnh vào tháng 10 1965, và xét uy tín của Đán và tiếng tăm chính trị của ông – cộng thêm việc ông thân với phe Phật tử – đây là một lựa chọn khôn ngoan. Hội nghị thành công, và các nhà lãnh đạo quyết định tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến trong vòng từ 3 đến 5 tháng. Phe Phật tử chấp nhận công thức này và đồng ý ngừng kêu gọi chính quyền từ chức. Vào ngày 14/4, Thiệu ký sắc lệnh hợp thực hóa cuộc bầu cử. Những nỗ lực của ông đã được đền đáp một cách xứng đáng. Sự kiên trì của ông đã tạo phe chống đối thành một đa số cấu kết ngăn cản Quang chỉ đạo. Trong khi Thiệu và UBLĐQG muốn một chương trình kéo dài hai năm nhằm giáo dục dân chúng và bảo đảm an ninh để “đất nước có thể tiến từng bước tới nền đân chủ theo một cách thứ tự và hài hòa,” họ đã xoa dịu dân chúng bằng cách chìu theo yêu cầu của họ  cho một chính quyền hợp hiến.

Quang sau đó bay về Huế. Nói ứng khẩu trước một cử toạ đông đảo, ông yêu cầu ngưng đối kháng và ngưng đòi Thiệu và Kỳ từ chức. Giữ lại các nhà lãnh đạo, ông nói, sẽ làm họ giữ đúng lời hứa,” vì mỗi chế độ mới đều phản bội chúng ta.” Theo lời một viên chức Mỹ, diễn văn của Quang là một buổi trình diễn chính trị xuất sắc.” Tình hình yên tĩnh bên ngoài nhanh chóng buông xuống Quân đoàn I.

Kỳ và Thiệu, dù vậy, vẫn còn phải đối mặt trước sự chống đối nội bộ mạnh mẽ vì sự nhượng bộ của mình. Việc hai người từ chối dùng vũ lực đã tạo ra một căng thẳng có ý nghĩa trong nhóm UBLĐQG. Giờ họ cần vãn hồi tỉnh đoàn kết không chỉ trong nhóm tướng lĩnh cai trị mà còn trong toàn quân, vì một số phật tử trong Quân đoàn I, kế cả một số khá đông binh lính trong Sư đoàn 1, đã tham gia Phong trào Tranh đấu. Tệ hơn, một khối quyền lực mới đã xuất hiện trong quân đội không thể phớt lờ. Vào ngày 21/4, Kỳ đã bổ nhiệm người bạn thân của mình Nguyễn Ngọc Loan làm tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia thay Phạm Văn Liễu, một người phe Thi. Loan đã trở thành người cầm đầu một nhóm các sĩ quan tác chiến cao cấp được biết dưới tên Baby Turks. Nhóm nhỏ này bao gồm chỉ huy các đơn vị quân đội thiện chiến (Nhảy Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động), và do đó họ sở hữu một số lượng  quá mức cơ bắp vũ trang. Nhóm Baby Turks nhấn mạnh rằng quân đội phải tiếp tục nắm lấy quyền lực cho đến khi có thể giao lại quyền hành cho một chính quyền dân sự. Họ sẵn sàng hành động bằng vũ lực để ngăn bất kể chuyện gì xảy ra. Giữ cho họ không đụng chạm tới các yêu sách của Phật tử trở thành hành động lấy thăng bằng tinh tế của Kỳ.

Các khối quyền lực khác cũng làm hai nhà lãnh đạo nhiều phen điêu đứng. Hai người đã tìm cách tranh thủ hậu thuẫn từ các nhóm khác, nhưng họ không bằng lòng. Những người nằm trong Liên Trường vẫn tỏ ra  cao ngạo. Họ không khuyến khích biểu tình, nhưng họ cũng không chịu tham gia trong hội nghị. Nhóm Công giáo thường có kỷ luật hơn cũng thúc thủ trước lời nguyền của chủ nghĩa bè phái, và họ đã tách ra. Những nỗ lực của Cha Quỳnh nhằm tìm kiếm sự hợp tác với phe Phật tử cũng chịu sức ép mạnh mẽ từ phe Công giáo cứng rắn chỉ muốn chống lại bọn Phật tử chống đối biểu tình ở Saigon. Khi Quỳnh kêu gọi sự hợp tác, một số họ chỉ trích ông “quá già và mềm yếu.” Thế lãnh đạo của ông trong nhóm quá khích giờ đã xứt mẻ, các người cầm đầu mới chống đối sự hợp tác với Phật tử như Võ Long Triều bắt đầu xuất hiện và thay thế Quỳnh. Mặc dù Triều đã từng làm việc với các hàng giáo phẩm Công giáo để ủng hộ chính quyền, như nhiều người khác, ông hy vọng được tưởng thưởng vì những nỗ lực của mình.

Tuy nhiên, Thiệu từ chối công khai đứng về phe với những người có cùng tôn giáo với mình. Triều nói xấu ông, tuyên bố rằng “vị tướng xem tôn giáo mình là nguyên do của các phiền toái và do đó cúi mình lùi ra sau để tránh bị chỉ trích.” Mặc dù bị Trí Quang lên án, Thiệu không bao giờ thăng cấp cho bất kỳ nhóm nào hoặc đảng nào khi đang nằm trong chính quyền. Ông cũng quá biết rằng tín ngưỡng của mình được sử dụng chống lại ông trên bình diện quốc gia. Thiệu bảo với Lodge rằng ông nhận ra ‘Tôi có vấn đề vì tôi là người Công giáo” và rằng Quang đang tìm cách “chọc tức tôi bắn chết một Phật tử nổi loạn” để biện minh cho việc nổi dậy. Quyết tâm không để bị sập bẫy, thay vào đó Thiệu biến Quang chỉ còn là một tiếng nói trong nhiều tiếng nói khác. Đó là một bài học mà Thiệu sẽ dùng cho đến cuối sự nghiệp mình. Thay vì, “chia rồi chinh phục” như người Pháp đã làm, ông sẽ xây dựng một liên minh đa số để bao trùm các tiếng nói gây chia rẽ ở miền Nam.

Như Phật tử, Kỳ sớm đi theo đường cũ. Uỷ ban soạn thảo luật bầu cử họp nhưng tiến trình bị khựng lại khi Kỳ lập luận rằng bất kỳ điều luật nào họ viết ra đều cần có sự tán thành của nội các. Tại sao Kỳ bổng sa đà vào nguyên tắc hợp pháp nhiêu khê này ta không hiểu, nhưng có chứng cứ cho rằng các đồng sự trong UBLĐQG ép buộc ông. CIA báo cáo vào ngày 18/4, UBLĐQG quyết định rằng “sự tồn vong  của đất nước và nỗ lực quân sự… đòi hỏi một chính quyền được quân sự hậu thuẫn tiếp tục nắm quyền cho đến khi một hiến pháp mới được thành lập và khi đó quân đội mới an toàn chuyển giao quyền lực.” Đại tá Loan, nói thay cho nhóm Baby Turks, ủng hộ thỏa thuận này và phát biểu rằng nếu Quang hoặc bất cứ ai ép buộc Kỳ từ chức, họ sẽ “hoặc có hành động ngăn ngừa hoặc tiến hành đảo chính để vãn hồi chính quyền quân sự lâm thời.” Vào cuối tháng 4, Kỳ bảo với Lodge về việc UBLĐQG từ chối buông bỏ quyền hành cho quốc hội được bầu ra. Kỳ đã cố gắng cai tri với sự đồng thuận giữa các chỉ huy quân sự, và nó chứng tỏ đó là một con dao hai lưỡi. Sợ rằng quân đội có thể rạn nứt nếu những người nóng đầu như Loan đảo chính, vào ngày 7/5, Kỳ công khai không giữ lời hứa. Ông thông báo rằng bầu cử sẽ được tổ chức vào mùa thu nhưng hội đồng mới chỉ có nhiệm vụ soạn thảo hiến pháp. Một khi hoàn tất, các cuộc bầu cử quốc gia sẽ xảy ra vào tháng cuối năm 1967, nhưng đến lúc đó, quân đội vẫn ở lại cầm quyền.

Mặc dù Phật tử đe đọa sẽ tiếp tục biểu tình, nhưng họ kềm chế không có phản ứng công khai nào. Vậy mà sự kiểm soát chính quyền tiếp tục tồi tệ khi sinh viên Huế bắt đầu trang bị vũ khí lấy cắp được, và đài phát thanh Đà Nẵng nôn ra giọng điệu chống Mỹ không ngừng. Kỳ tin rằng nếu mình đợi thêm nữa, tình hình có thể không thể đảo ngược được. Đối mặt với một vụ gần như cuộc khởi nghĩa và dưới sức ép đáng kể từ nhóm Baby Turks, Công giáo, và UBLĐQG, ông quyết định mạnh tay đập tan cuộc nổi dậy của Phật tử. Vào ngày ⁶/5, ông bảo Trần Quốc Bửu rằng “giờ ông nhận ra rằng bọn Phật tử là “bọn bẩn thỉu nhất” và rằng hành động của họ “sẽ dâng đất nước vào tay Cộng sản” và ông dự định đàn áp họ.”

Chọn thời điểm khi Lodge, Westmoreland, và Thích Tâm Châu đang ở nước ngoài, Kỳ phát động cuộc tấn công. Hành động đơn phương, vào sáng sớm ngày 15/5, ông ra lệnh hai tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến và một tiểu đoàn Dù đến Đà Nẵng. Do Trung Tướng Viên và Đại tá Loan chỉ huy, họ nhanh chóng tiến vào thành phố và chiếm bộ chỉ huy Quân đoàn I và đài phát thanh. Phật tử và một số binh sĩ bất đồng chính kiến đánh trả, nhưng qua một tuần lễ sau, Loan từ từ mở rộng quyền kiểm soát Đà Nẵng. Phản ứng với động thái của Kỳ, Trí Quang nhờ Đôn tiến hành đảo chính, nhưng ông thoái thác. Nhiều trận đối đầu nguy hiểm giữa phe bất đồng chính kiến và Thủy quân Lục chiến Mỹ và binh sĩ chính quyền chỉ tránh được trong gang tấc. Cuối cùng, vào ngày 23/5, Kỳ lấy lại quyền kiểm soát thành phố lớn thứ hai ở miền Nam. Số thương vong xấp xỉ 150 người chết và 700 bị thương.

Washington cực lực phản đối chuyện đã rồi của Kỳ và rút các cố vấn quân sự Mỹ trong các đơn vị địa phương. Khi Lodge trở lại, ông khuyên Kỳ hành động thận trọng, thế là Kỳ quyết định để Huế tự tàn úa như giàn dây nho thay vì tiến hành một cuộc tấn kích quy mô lớn thứ hai. Mặc dù bị Kỳ kềm chế, các đường phố bùng nổ sau vụ tấn công Đà Nẵng. Sinh viên phóng hoả thư viện USIS và sau đó cướp phá lãnh sự Mỹ. Ở Saigon vào ngày 26/5, Thủy quân Lục chiến Việt giải tán cuộc biểu tình gồm 4000 Phật tử, đồng hô vang “Đả đảo Kỳ”.

Có lẽ để đáp trả, bạn thân của Quang Thích Thiện Minh trở lại từ một buổi họp không có kết quả với Thiệu và Kỳ, khi ông bước xuống ô tô,  tiếp đón ông là một quả lựu đạn phát nổ. Bị thương nặng, ông được nhanh chóng đưa tới bệnh viện và vẫn còn sống. Không biết tên sát thủ là ai, và vì sử liệu Cộng sản hậu chiến không đề cập đến việc đó, có thể là do một người Công giáo quá khích hoặc một bộ hạ của Loan. Để phản đối, bốn nhà sư tự thiêu, buộc Thích Tâm Châu phải ra lời kêu gọi khẩn cấp hãy ngưng những trò tự tử chính trị như thế.

Vô cùng quan ngại với tình hình leo thang, một nhóm các nhân vật tôn giáo hàng đầu, kể cả Tâm Châu và Cha Quỳnh, ký tên vào một bức thư yêu cầu chính quyền bước xuống. Kỳ mời họ đến đối thoại và không lâu sau đó, Kỳ đồng ý mở rộng nhóm UBLĐQG thêm 10 nhân vật dân sự. Các đại diện đến từ các nhóm tôn giáo và chính đảng. Đổi lại việc thu nạp các nhân vật dân sự, vào giữa tháng 6 UBLĐQG mới được mở rộng và ủy ban bầu cử đã mày mò tìm ra một tiến trình tổ chức bầu cử quốc hội vào tháng 9. Thiệu ký hai sắc lệnh bầu cử vào ngày 19/6 đặt nền móng cho quyền lực của quốc hội mới và chiến dịch bầu cử. Cùng một lúc, để chào mừng lễ kỷ niệm chính quyền tròn một năm tuổi, giới quân sự tuyên bố ngày 19/6 là Ngày Quân Lực.

Với Đà Nẵng dưới quyền kiểm soát, và sau khi đã kết thúc thỏa thuận việc bầu cử với các nhóm khác, Kỳ tiến lên kết liễu Phong trào Tranh đấu. Vào ngày 10/6, ông phái vài trăm Cảnh Sát Dã chiến được huấn luyện đặc biệt đến Huế dưới quyền chỉ huy của Đại tá Loan. Loan nắm quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát địa phương và cho vào tù bọn chống đối còn lại. Giữa 15-17 tháng 6, hai tiểu đoàn Dù và hai tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến do Trung tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy tiếp tay lực lượng cảnh sát, và vào 19/6, cuộc kháng cự của Phật tử và binh lính chống đối đã sụp đổ. Cuộc tranh đấu đã kết thúc. Dù có những sai sót, những chỉ trích gay gắt của công luận, Kỳ và Thiệu đã thành công đi qua được cầu treo bắc qua vực thẳm. Họ đã đương đầu hiên ngang với áp lực khủng khiếp từ bên ngoài của phe Phật tử trong khi khắc phục những căng thẳng nội bộ đáng kể. Quyết tâm tránh tạo ra các kẻ tử đạo, Thiệu và Kỳ trước tiên vận động chính trị thay vì dùng đến bạo lực. Đúc kết cách tiếp cận của họ, Thiệu bảo với Lodge rằng ba tháng vừa qua “chắc chắn là vụ khủng hoảng chính trị nghiêm trọng nhất mà miền Nam trải qua trong ba năm vừa qua. Đối thủ của họ đã thử hết mọi cách. Đặc biệt, họ đã cố gắng gây xúc động người Mỹ bằng hành động tự thiêu và biểu tình… Nếu chính quyền đã hành động chống Đà Nẵng sớm hơn, kết quả có thể là hiểm họa. Chính quyền, ông nói, muốn cho dân chúng thời gian nhận thức rõ để khi họ cuối cùng hành động, họ được sự ủng hộ của quần chúng vi cho hành động của họ là hợp lý.” Tất nhiên, Kỳ dành hết công trạng trong hồi ký của mình, viết rằng bằng cách “đè bẹp cuộc nổi dậy, tôi đã thiết lập nền Đệ nhị Cộng Hòa của chúng tôi và kéo dài sự tồn tại của quốc gia thêm nhiều năm nữa.”

Tuy nền Đệ Nhị Cộng Hòa chỉ thành hình vào năm tới, Thiệu và Kỳ đã xác lập tính ưu việt của nó. Không có vị tướng lĩnh nào thách thức lần nữa chính quyền. Nguyễn Chánh Thi bị lưu vong sang Mỹ, không bao giờ trở lại. Quan trọng nhất, hai người đã đập tan sự chống đối tôn giáo ở miền Nam. Trí Quang, người đã phát động cuộc biểu tình tuyệt thực để phản đối vụ tấn công của Kỳ, được máy bay đưa về Saigon và đặt dưới sự quản thúc, Trong khi vẫn là một nhân vật quan trọng trong nền chính trị miền Nam, Quang sẽ không bao giờ đóng vai thống lĩnh trên sân khấu quốc gia một lần nữa như ông từng làm vào năm 1966. Trong khi phe Phật tử vẫn còn là một lực lượng chính trị ở miền Nam, giờ họ đã chọn một lộ trình khác, một lộ trình tham gia chính trị thay vì phong tỏa nó. Đã sống sót qua cuộc  khủng hoảng nội bộ tồi tệ nhất kể từ vụ đảo chính Diệm, Kỳ và Thiệu giờ có thể quay sang nhiệm vụ chính của mình là xây dựng đất nước.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s