Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 8)

CHƯƠNG 8: “TÔI THỰC SỰ MUỐN THAY ĐỔI CUỘC SỐNG CỦA NHÂN DÂN”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

Quyền Lãnh Đạo

 Vào tháng 6 1965, miền Nam gần như sụp đổ. Trong một năm rưỡi kể từ ngày lật đổ Diệm, đất nước gần như bị xâu xé. Để ổn định chính quyền và tranh thủ lòng dân chúng, nhà lãnh đạo mới được cắt đặt Nguyễn Cao Kỳ cần nhanh chóng xác định rõ ràng tầm nhìn của mình để cứu vãn đất nước. Ông ý thức sâu sắc rằng muốn bảo đảm sự sống còn của Saigon, điều cốt lõi là ổn định chính trị, đánh bại kẻ thù Cộng sản, và giải quyết tình trạng đói nghèo lan tràn. Để nhắm đạt đến các biện pháp này, ông lên kế hoạch phát động một cuộc cách mạng xã hội, nhưng chương trình ông chết non bởi tính hình kinh tế và chính trị xấu đi nhanh chóng. Với số phận của miền Nam đang như chỉ mành treo chuông, Kỳ và Thiệu buộc phải tiến hành một loạt quyết định trong đại về chính sách. Mọi lựa chọn của họ sẽ vang dội thời gian dài, nhưng không có điều gì gây ra hậu quả kéo dài hơn việc ông yêu cầu lực lượng bộ binh Mỹ đánh bại sự xâm nhập của Cộng sản.

NGƯỜI TIẾP THEO: KỲ VÀ THIỆU

Với sự từ chức của Quát và Sửu, việc lựa chọn ai tiếp theo sẽ lãnh đạo đất nước rơi vào tay phe quân đội. Hội đồng Quân lực được tái lập và mở rộng bao gồm các tư lệnh chính. Để cai trị đất nước, vào ngày 14/6, HĐQL bầu ra một ủy ban 10 người gọi là Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG) để chọn ra các lãnh đạo mới của miền Nam. Sau cuộc bỏ phiếu nhanh chóng, hội đồng mới bầu Thiệu làm quốc trưởng nước thay thế Sửu, trong khi Kỳ thay thế Quát. Như hai thủ tướng tiền nhiệm, Kỳ sẽ mắm trọn quyền hành, trong khi vai trò của Thiệu chủ yếu có tính nghi thức. Tuy nhiên, chỉ có ít ỏi chi tiết cho biết Thiệu và Kỳ được bầu chọn ra sao để cầm đầu chính quyền mới. Theo Kỳ, ông trước tiên đề cử Thiệu vào chức thủ tướng, nhưng Thiệu từ chối vì ông cho rằng lý lịch Công giáo của ông sẽ biến ông thành cột thu lôi cho phe Phật tử. Những lời kể khác xác nhận rằng thoạt đầu Nguyễn Chánh Thi được trao chức thủ tướng, nhưng ông cũng thoái thác sau khi ông bạn cũ Phạm Văn Liễu khuyên ông không nên nhận trách vụ được giao phó vì ông không có kinh nghiệm chính trị. Sau một lúc ngần ngại, Thi giới thiệu Kỳ và sau đó Kỳ chấp nhận. Vì Thi đã đề cử chức vụ cho Kỳ, ông nghĩ rằng mình có đòn bẩy đối với chàng phi công trẻ. Kỳ lập tức bác bỏ những nỗ lực của Thi nhằm khống chế mình, tạo ra mối hiềm khích tương lai của họ. Chính quyền mới ra mắt ngày 19/6 (ngày sau này được làm lễ kỷ niệm gọi là Ngày Quân Lực) và chính thức hoạt động vào ngày 21/6, 1965. Kỳ và Thiệu có phải là người lèo lái miền Nam ra khỏi cơn hỗn loạn và xứng đáng là người lãnh đạo mà đất nước đang cần đến một cách tuyệt vọng hay không?

Người ngoài biết ít về Thiệu, nhưng trong hàng ngũ người Quốc gia, ông được kính trọng vì tài quản lý và thận trọng né tránh những khát vọng lớn lao lộ liễu. Họ ngưỡng mộ việc ông xử sự khéo léo với người Mỹ, một ưu tiên của người Việt với người nước ngoài nói chung, và người Mỹ nói riêng. Tuy nhiên, sự lên như pháo thăng thiên của Kỳ gây sửng sốt cho giới quan sát bên ngoài, và họ soi ông rất kỹ. Sự trẻ trung của ông, y phục bóng lộn, những phát ngôn bốc đồng ngoài luồng, tiếng tăm tay chơi của ông khiến chính quyền miền Nam (CQMN) có vẻ không gì khác hơn là một nền độc tài nhảm nhí, rẻ tiền. Một tình trạng lộn xộn điển hình xuất phát từ một cuộc phỏng vấn Kỳ vào đầu tháng 7 với báo London Daily Mirror. Trong cuộc phỏng vấn, ông ám chỉ Hitler là người hùng của ông. Thật ra, Kỳ chỉ muốn nói ông ngưỡng mộ thành công của Hitler trong việc tái thiết nhanh chóng nước Đức từ một nhà nước bại trận, một điều Kỳ hy vọng cũng sẽ thành tựu được, nhưng nhà báo lại quan tâm đến trích dẫn gây khích động hơn là lập luận lắt léo. Nhận xét của Kỳ ngay lập tức làm đục mờ hình ảnh của ông trên trường quốc tế và quan điểm tiêu cực về các nhà lãnh đạo Saigon trong mắt quốc tế xảy ra không đúng lúc cho đất nước ông. Miền Nam đã vừa chịu đựng lời chỉ trích quốc tế về việc bắt bớ các nhà hoạt động hòa bình vào đầu tháng 3, thì nay lời nhận xét này chỉ làm phóng đại ấn tượng rằng Saigon là một chế độ rối loạn chức năng.

Về cá tính, hai người đối ngược nhau. Họ có những khác biệt mà đến cuối cùng không thể vượt qua. Hiện giờ, họ đoàn kết vì sự cần thiết hơn là hỗ trợ nhau, nhưng sự tương phản trần trụi của họ bộc lộ ngay từ đầu. Trong khi Thiệu thích chơi quần vợt và câu cá thì Kỳ thích đánh bạc, một tật xấu mà Thiệu không ham. Hai thứ mà Kỳ rất mê là đá gà và mạt chược. Trong khi Thiệu khiêm tốn nhưng rất hay kể chuyện tiếu lâm, thì Kỳ là một người khoác loác, một điểm mà ngay các đồng sự của ông thường không thích. Thiệu thì thận trọng đến mức như bị tê liệt còn Kỳ thì nói năng thiếu  suy nghĩ, một phong cách thường khiến ông gặp rắc rối về mặt chính trị. Thiệu có vẻ điềm tĩnh còn Kỳ thì nôn nóng. Kỳ tin là số phận mình đã được an bày và tuyên bố rằng “mọi thầy tướng số giỏi ở Việt Nam đều nhất trí.” Thiệu thì tẻ nhạt và dè dặt còn nét nổi bật nhất của Kỳ là tính đỏm đáng. Ông “rất chăm chút dáng vẻ của mình” và rất “ý thức về các ấn tượng và hình ảnh.” Bộ quân phục phi hành đen, khẩu súng lục cán ngà, khăn quàng cổ màu hoa oải hương, và cô vợ đẹp mê hồn khiến ông được đặt cho biệt danh “Cơ trưởng Nửa Đêm”, theo tên của loạt phim về một anh chàng phi công liều lĩnh.

Với Thiệu giờ chỉ là người đứng đầu hữu danh vô thực, các nhà báo Mỹ bắt đầu xoi mói cá tính của ông. Chẳng hạn, tờ New York Times báo cáo rằng Thiệu “sống sót được trong khu rừng chính trị miền Nam thường nhờ ông xử sự như một chính khách lão  thành, như một triết gia hơn là một quân nhân đầy tham vọng…. Rời chính trị và quân đội, ông xử sự giống một giáo sư đại học hơn là một nhà lãnh đạo chính quyền. Ông ghiền ngậm ống píp và thích đọc sách, xem phim và làm vườn. Ông chơi quần vợt để giải trí.” Trong khi những nhận xét bên ngoài này có vẻ như lên án khi so sánh với ngài Kỳ hợm hĩnh, thì Phạm Văn Liễu, một kẻ phê phán vị tổng thống tương lai một cách thậm tệ, không đồng ý. Ông xác nhận rằng “Thiệu đã chuẩn bị cho mình vào vai trò này từ trước so với các tướng lĩnh khác có ngôi sao đang lên trong thời gian Khánh cầm quyền, người ta phải nhìn nhận rằng Thiệu là người tinh ranh nhất, khôn ngoan nhất, và bẩn thỉu nhất.” Còn Kỳ còn lâu mới là tên công tử bột bốc đồng. Điều thực sự phân biệt ông với các tướng lĩnh khác là nhiệt quyết tuổi trẻ, và ông quyết tâm khai thác nó. Đối với Kỳ, “quanh chúng ta dường như các quyết định đều do các ông già đưa ra… Nhưng giờ đây cuối cùng thì tôi cũng có thể làm điều gì đó về chuyện ấy….Chúng tôi không có tham vọng chính trị…. nhưng giờ không phải lúc cho các ông già loạng choạng đã đặt một chân xuống mồ dẫn dắt vận mệnh của một đất nước như đất nước của chúng ta.” Vì vậy nội các của ông chủ yếu chọn những nhà kỹ trị trẻ tuổi, cân bằng số người nam và bắc. Người trẻ nhất, một người miền Nam 29 tuổi tên Nguyễn Xuân Phong; doanh nhân đã theo học tại Oxford. Phong được chọn làm bộ trưởng Lao động chủ yếu vì ông đã khổ công dàn xếp được một thỏa thuận hợp đồng tập thể Việt Nam đầu tiên giữa một công ty (Esso, công ty chủ của ông) với một nghiệp đoàn địa phương. Người ta kể là Phong ra mắt Kỳ vào buổi tối ngày 18 tháng 6 và tham gia nội các. Nếu ông khước từ, giấy gọi nhập ngũ mà ông mới nhận được sẽ lập tức được quân cảnh đến tận nhà thi hành. Một người rất thông minh, uyên bác, Phong sau này sẽ lên đến chức quốc vụ khanh phụ trách thương thuyết cho miền Nam tại hoà đàm Paris. Phong mô tả Kỳ là “một con người của hành động – một hỗn hợp phức tạp của tính bốc đồng, trực giác , và quyết đoán trong những thời khắc khủng hoảng.”

Vào ngày 19/6, hội đồng lãnh đạo tán thành một hiến chương được vá víu vội vàng  để thay thế hiến chương của HĐQGTC của Minh và tạo một khung pháp lý cho chính quyền mới. UBLĐQG bao gồm các tư lệnh chủ chốt, điều hành xứ sở. Là quốc trưởng, Thiệu có một số quyền lực, chẳng hạn ký sắc lệnh, nhưng trách vụ của ông có giới hạn. Là thủ tướng, Kỳ có thể soạn thảo luật, đề ra chính sách, chỉ đạo những bộ ngành và bổ nhiệm nội các. Để bảo vệ mình chống lại các tướng lĩnh nhiều tham vọng. Kỳ giao người bạn thân thiết của mình, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Lê Nguyên Khang, làm tư lệnh Quân khu Thủ đô (Saigon và Tỉnh Gia Định). Để theo dõi chặt chẽ bọn âm mưu đảo chính, ông bổ nhiệm một đồng minh khác, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, cầm đầu ngành phản gián. Vì cả hai đều là người miền bắc, để xoa dịu các công chức thủ đô hầu hết là người miền Nam, Kỳ đặt một người miền Nam làm thị trưởng Saigon, trước đây là trưởng quân y của Lữ đoàn Nhảy Dù, Thiếu tá Văn Văn Của. Kỳ khôn ngoan; Của là em rể của Loan. 

XÂY DỰNG CÔNG LÝ XÃ HỘI

Dù bề ngoài phô trương, Kỳ bước vào chức vụ với quyết tâm “vãn hồi hòa bình và xây dựng một quốc gia tiên tiến và thịnh vượng.” Mặc dù “cuộc cách mạng 1/11 xảy ra vì chính quyền lúc đó độc tài và không thể bảo đảm thắng lợi đối với Cộng sản,” dân chủ không phải là một chọn lựa cho ông. Ông sẽ cai trị như một nhà lãnh đạo mạnh mẽ, tin rằng khả năng ra quyết định nhanh chóng của mình không bị câu thúc bởi cơ quan lập pháp là điều tiên quyết để tránh được những lỗi làm của các người tiền nhiệm. Họ đã hành động quá chậm chạp, lại thêm bị cản trở bởi một bộ máy hành chính thiếu máu và những hạn chế do hệ thống đào tạo của Pháp.

Người thống soái không lực 34 tuổi quyết tâm đưa miền Nam lên một hành trình mới bằng cách phát động một cuộc cách mạng xã hội sẽ thay đổi sâu sắc cuộc sống của nhân dân. Trong một bài diễn văn lời lẽ cứng rắn vào ngày 19/6, Kỳ vạch ra một nghị trình 26 điểm đồ sộ xúc tiến công cuộc thay đổi triệt để xã hội. Ông nhìn nhận tình hình chiến sự là nghiêm trọng, nhưng ông cam kết sẽ đảo ngược cục diện đồng thời tận diệt tham nhũng và những kẻ trục lợi. Mặc dù Kỳ có thiện chí, nhưng chương trình của ông là một ước mơ ảo tưởng. Đại sứ Maxwell Taylor đúc kết những thách thức nội bộ khủng khiếp của Kỳ: kình chống và chia rẽ tôn giáo và vùng miền vẫn không hề thay đổi và tạo thành những sự kiện của cuộc sống cho chính quyền này cũng như bất cứ chính quyền nào khác. Hiện giờ … chính quyền này với người Công giáo có khuynh hướng đối kháng, Phật giáo thì tán thành (dù chống Thiệu); người miền Nam chắc chắn chống lại mọi chính quyền trừ chính quyền thuần túy người miền Nam, người  Trung (theo Trí Quang) tán thành, các chính trị gia Saigon chống (như họ từng chống mọi chính quyền không giao cho họ quyền hành).

Dù tôn giáo vẫn là một trong những vết rạn nứt đang mở toạc của miền Nam và Cha Quỳnh cùng Thích Trí Quang vẫn còn thù nghịch một chính quyền quân sự, trong lúc này, cả hai đều dừng hoả lực. Vatican đã gửi lời cho Quỳnh bảo hãy giảm bớt chuyện xuống đường, một sự khiển trách bóp nghẹt đám hậu thuẫn cuồng nhiệt của Quỳnh. Mặc dù Kỳ tương đối hoà hoãn với phe Phật giáo, Trí Quang vẫn chấp nhận Thiệu một cách bực bội vì ông là người Công giáo, thuộc Đại Việt, và nhúng chàm Cần Lao. Trí Quang báo với sứ quán Mỹ rằng “Phật tử miễn cưỡng chấp nhận ông ta làm Quốc trưởng vì chống đối ông sẽ gây ra nhiều phiền phức.” Trí Quang sau đó báo với một viên chức sứ quán là nếu Thiệu “thôi không có những hành động chống Phật giáo, Phật tử sẽ không công khai chống đối ông ta.” Tuy nhiên, “Quang nhắc lại rằng Phật tử sẽ không bao giờ tha thứ cho Thiệu vì vai trò của ông ta trong những hành động chống Phật tử vào năm rồi và theo sát những hành động của ông ta.” Kỳ lạ, Thiệu cảm thấy không thoải mái với những người cùng đạo với mình, vì những người quá khích ở phe Quỳnh cũng công kích ông. Theo Liễu, “Một số người lên án Thiệu là một ‘kẻ phản giáo’ vì ông không bảo vệ Đảng Cần Lao đúng mức hoặc ban cho người Công giáo các đặc quyền.”

Nhận thức được tầm quan trọng phải xoa dịu đám Phật tử nóng nảy của Trí Quang, Thiệu và Kỳ đi đến Huế để trấn an một số lãnh đạo dân sự và tôn giáo địa phương. Cố gắng làm nguội đi những lời lên án họ chỉ là một nhóm độc tài quân phiệt khác, Thiệu xác quyết rằng vai trò của quân đội là “để phục vụ quốc gia hơn là phục vụ các phe nhóm đặc biệt nào và quân đội đã lên nắm quyền” vì tình hình, không phải vì “đói khát quyền lực”. Tuy nhiên, 1,500 sinh viên tập họp bên ngoài dinh, yêu cầu nói chuyện với họ. Hai người bước ra đối mặt với đám đông, tại đó họ trả lời nhiều câu hỏi về vai trò của mình trong những biến động chính trị gần đây. Thể hiện sự chán ghét Thiệu của nhóm Phật tử hung hăng, tờ rơi được chuyền tay tố ông là “thú cưng của Diệm” và lên án ông đã tham gia vào những vụ đảo chính thất bại vào tháng 9 1964 và tháng 2 1965. Kỳ sau này nhận xét rằng ông lấy làm “ngạc nhiên khi Thiệu không được yêu chuộng ở đó,” một khuyết điểm mà Thiệu không bao giờ vượt qua được.

Tại cuộc họp báo vào ngày 24/6, Thiệu và Kỳ cung cấp thêm chi tiết cho các chương trình của mình. Để đối phó với tình hình hiểm nghèo của đất nước, Thiệu soạn thảo một sắc lệnh mới cho tình trạng chiến tranh. Nó cho phép chỉnh quyền áp đặt lệnh giới nghiêm, ngăn cấm tích trữ đầu cơ hàng hóa, đặt ra ngoài vòng pháp luật các cuộc đình công và biểu tình, tăng cường kiểm duyệt, và cấm in ấn các tài liệu được coi là nhằm lật đổ. Ngoài ra, những ai bị kết tội xâm phạm “an ninh quốc gia”, một nhãn hiệu bao trùm nhiều loại vi phạm, sẽ bị đưa ra xét xử trước tòa án quân sự vừa mới thành lập và sớm gây ra tranh cãi kịch liệt. Các nhà lãnh đạo đã hồi sinh ý tưởng của Khánh từ tháng 8 vừa rồi, một ý tưởng sẽ chứng tỏ là một công cụ cùn nhụt và thường bị lạm dụng để đánh bại mưu toan lật đổ trong cuộc nội chiến.

THỎA THUẬN HÒA BÌNH

Quan tâm tức thời của Kỳ là việc giải quyết hòa bình cho một cuộc chiến đang lan rộng, nhưng khủng hoảng chính trị buộc Quát từ chức đã làm ngưng các tiến bộ trong việc hoạch định các chính sách hòa bình của Saigon. Trong khi Kỳ vạch kế hoạch cho cuộc thay đổi rộng khắp về quốc nội, ông bước vào chức vụ mà thật không may chưa chuẩn bị cho những phức tạp của chính sách đối ngoại, một việc mà thoạt đầu ông cho là “kém quan trọng”. Kỳ vẫn giữ lại Trần Văn Đỗ làm ngoại trưởng để giúp ông nói chuyện với người Mỹ. Không hay biết về việc Mỹ mở rộng nỗ lực tìm kiếm cách giải quyết hòa bình và dưới sức ép từ sứ quán yêu cầu cho biết những điều kiện hòa bình của Saigon, vào ngày 22/6, Kỳ cho phép Đổ công bố chương trình đã trình lên người Mỹ vào ngày 26/5. Đó tuyên bố bốn điều kiện chính yếu của chính quyền cho một cuộc dàn xếp. Thứ nhất, Cộng sản chấm dứt việc lật đổ quân sự và chính trị, giải tán MTGP, và rút lui toàn bộ lực lượng xâm nhập trở về VNDCCH. Thứ hai, miền Nam có quyền giải quyết các vấn đề riêng của họ. Thứ ba, các binh sĩ nước ngoài thân hữu cuối cùng sẽ rút quân. Thứ tư, bảo đảm có hiệu quả tính độc lập và tự do của miền Nam. Kết thúc bằng một tuyên bố với cung từ mạnh mẽ, Đổ lên tiếng “nếu Hà Nội có thành ý muốn hòa bình, muốn đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của một ý thức hệ hoặc một đảng, nếu muốn nhân dân Việt Nam và nhân dân vùng Đông Nam Á sống trong hòa bình thay vì chiến tranh, thịnh vượng thay vì đói nghèo, tự do thay vì nô lệ, thì Hà Nội chỉ cần chấm dứt sự xâm lấn.” Cả hai bên giờ đây đều tuyên bố mình muốn hòa bình với yêu sách bên kia phải rút quân. Bắt kể ai dám làm việc ấy trước tiên chắc chắn sẽ được coi như thua cuộc.

Rủi thay, thế giới phớt lờ lời hùng hồn của Đổ. Trong khi phà hơi thở cho Hiệp định Geneva 1954 sống lại dường như là một khởi đầu hợp lý, nhưng nó vẫn còn là điểm thua cuộc cho Saigon. Vào cuối tháng 7, Thiệu và Kỳ cuối cùng hạ thủ ý tưởng đó, với Thiệu trình bày một cách quyết liệt rằng “danh dự và vị trí chính trị  của họ” không cho phép họ công nhận cái hậu quả trói buộc của văn kiện mà người Pháp nhằm áp đặt lên họ bởi chữ ký của Tướng Pháp…. Thiệu cho rằng họ có thể chấp nhận “tình trạng thực tế” tạo ra do Hiệp định Geneva 1954 nhưng chính phủ Việt Nam không thể thay đổi điều đã là tình hình nhất quán và cơ bản của miền Nam kể từ năm 1954. Tuy nhiên, Kỳ nói rằng chính phủ Việt Nam có thể giữ một vị thế, trong khi miền Nam đã không ký hiệp định, họ đã luôn luôn và sẽ tiếp tục tồn trọng các nguyên tắc của nó.

Thiệu dành trọn mùa hè đó để ra sức hoàn thiện chính sách của miền Nam. Con đường đi đến sự hòa giải, ông nói, là người Cộng sản phải “rút bộ đội và cán bộ của họ về Bắc. Đối với chúng ta, những điều kiện tiên quyết nói trên phải được tuân thủ nếu Việt Cộng muốn nói chuyện đàm phán và hòa bình.” Đại sứ Lodge lưu ý rằng “không có thành viên khác trong UBLĐQG đã phát biểu quá nhiều lần và nhất quán như thế về đề tài này. Thiệu, người chắc chắn là chính trị gia tinh tế nhất trong số các tướng lĩnh…. dường như quyết tâm tuyên bố công khai các ý tưởng của mình để bảo đảm không có thương lượng hoặc vị trí thường lượng nào được quyết định mà không có sự tham gia của CQMN. Không nghĩ ngờ gì nữa ông đang phản ánh lập trường được nhóm người bên trong hoặc ngoài chính quyền chủ trương.” Lodge khổ sở nhận biết rằng các lời tuyên bố của Thiệu phản ánh nỗi hoang mang khá lộ liễu của phe Quốc gia đối với “người ngoại bang” đang tiến hành thỏa thuận hòa bình nhằm “bán đứng họ” cho người Cộng sản. Việc chính phủ miền Nam từ chối thương thảo với MTGP không ngăn Lê Văn Hoạch luôn lạc quan ra mặt, bộ trưởng trước đây của Khánh, người một năm trước đã dàn xếp cuộc tiếp xúc với MTGP để thương lượng hòa bình. Vào ngày 3/6, Hoạch báo tin cho một viên chức sứ quán rằng sau những thảo luận kéo dài với các đại diện của Mặt Trận, MTGP giờ đây đã sẵn sàng đồng ý ngừng bắn 6 tháng và đàm phán để thành lập chính phủ liên hiệp. Mặt Trận cũng thỏa thuận cho binh sĩ Mỹ được ở lại trong thời gian thương lượng. Hoạch cảm thấy rằng Mặt Trận “đang mệt mỏi vì chiến tranh, không có lương thực để ăn và họ cũng sốt ruột muốn kết thúc hận thù theo một cách danh dự.”

Với thông tin của Hoạch và mong mỏi mạnh mẽ của người Mỹ muốn tìm được một kênh thương lượng, Phụ tá Ngoại giao đặc trách Vấn để Đông Á và Thái Bình Dương William Bundy hỏi CIA có thể nào gián tiếp tiếp xúc với MTGP qua một bên thứ ba hay không. CIA khẳng định là được nhưng cảnh báo là nếu Saigon tìm ra, “phản ứng của ban lãnh đạo mới của CQMN gần như chắc chắn là thù nghịch và chỉ nói việc đề nghị không thôi cũng đưa đến những ngờ vực nghiêm trọng trong đầu óc họ về tính tin cậy và nhất quán của Hoa Kỳ.” Vậy là nỗ lực mới của Hoạch bị gạt qua một bên, và ngay lúc này chưa thể có cơ may hòa bình. Các bên đều bị trói chặt tại chỗ bởi ý thức hệ, kinh nghiệm, và yêu cầu chính trị nội bộ.

GIẢI QUYẾT CHIẾN TRANH

Thình lình, tình hình chiến sự bỗng trở nên nghiêm trọng hơn chính tình chao đảo. Vào ngày 11/5/1965, MTGP mở một trận công kích lớn nhất trong cuộc chiến. Cho đến trận thảm bại 1975, khoảng thời gian tháng 5-6 1965 là điểm thấp nhất trong cục diện quân sự của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Số bình lính đào ngũ và thương vong tăng vọt, và những quan niệm quân sự đã không được cập nhật hơn 18 tháng qua vì những biến động chính trị.

Các cuộc hành quân ở miền Nam trong năm 1965 đều theo Kế hoạch AB 139.21. Được ấn hành vào tháng 12 1964, kế hoạch về cơ bản làm lại thiết kế Chiến Thắng của Khánh, vốn cũng được viết lại từ chiến lược Diên Hồng của Trần Thiện Khiêm được hoàn tất vào tháng giêng 1964. Giữa sức ép quân sự đang gia tăng của MTGP và sự thiếu thốn một chiến lược hiện thời, các chỉ huy của QLVNCH càng lúc càng bị đẩy vào thế phòng ngự. Xét tình trạng này, Tài liệu Ngũ Giác Đài cho biết “Westmoreland đã đi đến kết luận vào đầu tháng 3 1965 rằng QLVNCH đơn giản là tự mình không có khả năng đánh thắng VC. Yêu cầu chuẩn bị bổ sung các lực lượng bên ngoài vào để tiếp sức cho đến khi các lực lượng của CQMN có thể được chỉnh đốn  và củng cố lại.”

Vào cuối tháng 5, các lực lượng Cộng sản giáng thương vong nặng nề cho các lực lượng miền Nam tại trận đánh Ba Gia trong Tỉnh Quảng Ngãi ở phía nam Quân đoàn I. Thất bại càng cứng cố thêm nhận định của Westmoreland cho rằng QLVNCH mất tinh thần đang trong hiểm họa bị tan rã. Ông phán đoán rằng Hà Nội đã chuyển đến giai đoạn thứ ba và cuối cùng trong chiến tranh cách mạng, giai đoạn của những chiến dịch quy mô lớn. Hà Nội, ông ngờ rằng, ngủi thấy thắng lợi đang đến gần và đang chuẩn bị tấn công.

Đương đầu với điều ông coi là tình hình tồi tệ, vào 7/6, Westmoreland gởi một trong những bức điện quan trọng nhất về Washington, một bức điện đánh dấu việc Mỹ hóa chiến tranh. Tuyên bố rằng giờ đây các lực lượng Cộng sản có thể mở chiến dịch cấp trung đoàn trên khắp xứ, và với quân số sụt giảm một cách hiểm nghèo trong đơn vị QLVNCH, ông thông báo bộ Chỉ huy Liên quân rằng “tương quan lực lượng tiếp tục nghiêng về phía VC.” Hơn nữa, ông nói rằng “tôi tin là VNDCCH sẽ tung ra bất kỳ lực lượng nào họ thấy cần thiết để làm lệch cán cân và CQMN không thể đứng vững được trước loại sức ép này nếu không được củng cố.” Do đó, “tôi không thấy có hướng hành động nào mở ra cho chúng ta trừ việc củng cố những nỗ lực của chúng ta ở miền Nam bằng cách bổ sung các lực lượng Hoa Kỳ hay nước thứ ba nhanh chóng như thực tế đòi hỏi trong những tuần trước mắt.”

Như thể nhắc tuồng, giữa ngày 9-13 tháng 6, QLVNCH chịu đựng một trong trận thảm bại tồi tệ nhất của cuộc chiến tại Đồng Xoài, một quận ở Tỉnh Phước Long hẻo lánh. Hai trung đoàn MTGP tấn công và tràn ngập hầu hết thị trấn và sau đó tiêu diệt ba tiểu đoàn QLVNCH được gửi đến cứu viện. Đạo quân cứu viện thứ nhất là tiểu đoàn Biệt động 52. Họ qua được cuộc phục kích đầu tiên, rồi vừa đánh vừa rút về bộ chi huy quận. Khi một tiểu đoàn từ sư đoàn 5 được gửi đến để cứu viện họ, nó cũng bị phục kích  và gần như bị quét sạch. Rồi Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù tinh nhuệ được phái đến  để giải cứu những người còn sống. Một người lính Dù, nhà văn nổi tiếng  Phan Nhật Nam, mô tả cảnh tượng hãi hùng được ông chứng kiến: “Xác chết vương vãi khắp một vùng bán kính một dặm, nằm sõng soài đủ mọi tư thế…. chúng tôi phải ở lại qua đêm và ngủ trên mặt đất cạnh các thi thể. Cơn mưa trút xuống trên những thi thể thối rữa và mùi tử khí nồng nặc trong không khí. Tất cả sĩ quan và binh lính phải cật lực di chuyển xác chết.” Họ chẳng bao lâu cũng bị tấn công, và trong vòng một ngày, tiểu đoàn Dù đã chịu tổn thất hàng trăm người chết và bị thương. Đêm đó, Nam lắng nghe bộ đội Cộng sản “với súng lục và rựa trong tay, bắt đầu hạ thủ những lính Dù bị thương, đang rên rỉ xin cứu giúp. Giữa tiếng mưa rơi, tôi nghe tiếng súng lục và tiếng rựa bổ xuống. Họ chửi thề và bắn những thương binh Dù.”

 Giữa Đồng Xoài và những trận đánh khác, QLVNCH đã  bê bết máu; thương vong vào giữa tháng 6 cao gấp hai lần bất cứ tuần lễ nào trước đây. Vào cuối tháng 6, hai trung đoàn và 9 tiểu đoàn riêng lẻ đã bị vô hiệu hóa do những tổn thất chiến trường. Westmoreland tin rằng thất bại Đồng Xoài đã minh chứng cho bản phân tích của mình. Trong khi MTGP cũng chịu tổn thất nặng nề, hầu hết các đơn vị chính quy của họ vẫn chưa được tung  vào. Ông cho rằng nếu những đơn vị này tấn công, QLVNCH sẽ không thể chận đứng họ.

Vào ngày 13/6, Westmoreland gửi một bức điện có tính quyết định khác nhằm dỡ bỏ “chiến lược vùng vây quanh” do một số viên chức Hoa Kỳ cao cấp đề nghị, theo đó chỉ giới hạn bình sĩ Mỹ bảo vệ những trung tâm dân cư hoặc cơ sở  trọng yếu. Westmoreland đưa ra ý kiến rằng không nhanh chóng đưa các đơn vị Mỹ vào tác chiến để làm thui chột thế tấn công của MTGP, xứ sở này có thể thất thủ. “Chính MACV (Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Mỹ tại Việt Nam) đã đưa ra nhận định QLVNCH không thể đứng vững trước sức ép này nếu không có hậu thuẫn tác chiến của Hoa Kỳ tại chiến trường.” Để biện minh cho yêu cầu thêm quân, ông vạch ra một chiến lược mới trong đó binh sĩ Mỹ sẽ chiến đấu trong khi QLVNCH lãnh nhiệm vụ giữ gìn an ninh và bình định dân chúng. Đây dường như là một quyết định hợp lý, nhưng thực tế sẽ sai lầm một cách tệ hại. Nhận biết nhu cầu tiến hành công việc bình định, ông viết, Không có chút nghi ngờ nào vụ nổi dậy ở Miền  Nam cuối cùng phải bị đánh bại ngay trong dân chúng sống trong thôn ấp và thị trấn. Dân chúng phải được bảo đảm an ninh thuộc hai loại: An ninh của xứ sở như một toàn thể do các lực lượng lớn mạnh được trang bị và có tổ chức kể cả những lực lượng đến từ nước ngoài đem lại. An ninh khỏi quân du kích, bọn ám sát, bọn khủng bố, bọn đưa tin. MACV tin rằng binh sĩ Mỹ có thể đóng góp to lớn vào loại an ninh thứ nhất. .. nhưng chỉ có người Việt Nam mới có thể tạo được tiến bộ thực sự và thành công đối với bài toán thứ hai trên đây. Không may, QLVNCH bị tách khỏi dân chúng và an ninh của họ để đối phó với thách thức của lực lượng tấn công chủ lực… Nói chung chúng ta nên tập trung lực lượng Hoa Kỳ cách xa những trung tâm dân cư lớn và bất cứ khi nào có thể chiến đấu càng nhiều càng tốt tại những vùng hẻo lánh hơn. 

Rồi, trong một bình luận đanh thép, ông nói thêm: “Các tư lệnh QLVNCH không tin họ có thể trụ vững nếu không có sự hỗ trợ tích cực của các lực lượng tác chiến trên bộ của Hoa Kỳ.” Sau này nhiều người sẽ gièm pha rằng kế hoạch của ông, thường được gọi là “chiến tranh đơn vị lớn”, không thích hợp cho điều chủ yếu là một cuộc xung đột chính trị hoặc rằng người Việt lẽ ra phải đóng vai trò tác chiến chủ yếu thay vì binh  sĩ Mỹ. Với lập luận có giá trị, Westmoreland đã suy diễn đúng đắn dự tính của Hà Nội: Bộ Chính trị chuẩn bị cuộc tàn sát. Sau khi Hoa Kỳ bỏ bom miền bắc và đổ bộ Thủy quân Lục chiến lên Đà Nẵng, Hà Nội cho rằng họ phải tiến nhanh trước khi người Mỹ có thể làm lệch cán cân quyền lực về phía Saigon. Vào cuối tháng 3 1965, Hà Nội mở Hội nghị Trung ương Đảng 11. Báo cáo của hội nghị nêu rõ dự tính của họ3: “Trong tình hình mới này, nhiệm vụ cơ bản của chúng ta là… tìm cơ hội tập trung nguồn lực của toàn bộ quốc gia nhằm bảo đảm một thắng lợi quyết định tại miền Nam trong một thời gian tương đối ngắn.”

Khu vực được chọn để tạo ra nỗ lực chính là Mặt trận B – 1 của Cộng sản, thường được biết dưới tên Quân Khu 5. Vùng này, kéo dài từ Cao nguyên Trung phần đến các tỉnh duyên hải như Bình Định và Quảng Ngãi, đã từng là vùng cứ địa của Cộng sản từ 1945. Lãnh thổ này ắt hẳn là cái nôi thực sự của cách mạng Việt Nam phía nam hơn là Tỉnh Bến Tre như Đảng đã tô vẽ. Trong khi việc chuyển Sư đoàn 9 và 25 ra khỏi Bình Định và Quảng Ngãi đến thượng nguồn Cửu Long và tây Saigon đã phần nào làm ổn định tình hình an ninh trong các vùng đó, thì nó lại để hở vùng duyên hải miền Trung cho Cộng sản xâm nhập. Do đó, không phải tính cờ mà Hà Nội đã chuyển Sư đoàn 325A vào khu vực này thay vì vào Quân đoàn I ở gần hơn. Hành động theo nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng 11, vào cuối tháng 4 1965 Quân ủy Trung ương chỉ thị Quân khu 5 “tiến hành một đợt sóng chiến dịch kéo dài từ 15/5 đến 30/8, 1965. Mục tiêu các cuộc chiến dịch là tiếp tục tiểu diệt các phần tử trọng yếu của quân đội bù nhìn, để phá hủy các ấp chiến lược, và đóng chiếm đại bộ phận vùng đồng bằng nông thôn, và để mở rộng vùng giải phóng của chúng ta tại Cao nguyên miền Trung.

Trong khi mục tiêu của Bộ Chính trị là chinh phục miền Nam, cả Westmoreland và Hà Nội đã đánh giá sai năng lực của MTGP. Mặt Trận, cho dù được Sư đoàn 325A tăng viện, không có đủ sức đánh bại chính quyền Saigon, Hà Nội cũng không thể chi viên nhanh chóng cho chiến trường miền Nam. Đường Mòn Hồ Chí Minh huyền thoại vào thời điểm đó chỉ là một mê lộ sơ khai của những đường mòn, và phương tiện vận tải chính là người khuân vác . Về phương diện hậu cần, Đường Mòn không thể kham nỗi  số lượng khổng lồ binh linh  và khí tài hoặc chịu đựng được nhịp độ chuyển quân cần thiết để đánh thắng cuộc chiến. Toàn bộ Sư đoàn 325A lên kế hoạch sẽ đến Cao nguyên Trung Phần vào cuối tháng 3, 1965, nhưng chuyến đi vào nam của họ quá cam go đến nỗi việc sẵn sàng tác chiến của sư đoàn bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Theo sử liệu của sư đoàn, Con đường thì lầy lội, qua nhiều đầm lầy, và hiểm trở. Có nhiều vực sâu và dốc trượt chưa được phát quang thành đường đi đúng nghĩa. Muốn vượt qua cần có sức mạnh dẻo dai. Dọc nhiều chặn đường các trạm lộ và hầm tiếp tế của chúng tôi đã bị kẻ thù tấn công và hủy diệt, kho lương thực gần như mất hết, và các đơn vị phải tìm rễ cây rừng và rau củ để ăn thay gạo nhiều tuần liền mỗi lần … nhiều lần, chỉ có cháo cho thương bệnh binh, còn bộ đội phải nhịn đói. .. Rừng rậm hoang dã, một số nơi chưa có dấu chân người và đầy mầm bệnh. Trong nhiều đơn vị hành quân trên đường mòn tỷ số người bệnh có khi lên đến hai phần ba. Không có đủ người còn sức để cáng bệnh binh và phải dắt dìu nhau bước tới. Không ít bộ đội đã chết vì sốt rét tấn công.

Cho dù trải qua đoạn đường bốn tháng gian khổ, khi cuối cùng Sư đoàn 325A phát động những mũi tấn công vào vùng đất Pleiku/ Kontum, bộ đội chính quy nhanh chóng áp đảo những đơn vị dân quân địa phương. Khi QĐVNCH được điều động tới Cao nguyên Trung phần để đáp trả, thì các trung đoàn  MTGP tấn công vùng duyên hải. Với các đơn vị Saigon ở Quân đoàn II bị kéo dãn đến mức đứt gãy, Westmoreland dường như đã rõ ràng phải lựa chọn:  không làm gì và  hy vọng QLVNCH có thể cầm cự được, hoặc tấn công với binh lính Mỹ. Vị chỉ huy MACV chọn mang chiến tranh đến với kẻ thù.

Dựa vào phân tích u ám của Westmoreland, và với chính quyền Thiệu-Kỳ vừa mới nắm quyền tại Saigon, ngày 26/6, Tổng thống Lyndon Johnson cho phép ông tung lực lượng Mỹ vào chiến trường. Kết quả là chỉ huy MACV Westmoreland yêu cầu tăng quân số khổng lồ , bao gồm đợt đầu 44 tiểu đoàn trong năm 1965 và có thể nhiều hơn trong năm 1966. Thiệu và Kỳ đồng ý. Đó là một  trong những quyết định thời chiến trọng yếu nhất. Vào ngày 28/6, Đại sứ Maxwell Taylor đến gặp hai nhà lãnh đạo. Theo Taylor, Kỳ nhanh chóng đi đến điểm chính của ông – nhu cầu có thêm lực lượng tác chiến trên bộ Hoa Kỳ. Kỳ ấn tượng với sự cần thiết phải bổ sung các lực lượng Mỹ (hoặc của một nước thứ ba) để trang trải trong thời kỳ tấn công mùa mưa và cất đi áp lực của VC trong khi các biện pháp động viên được tiến hành và, nói theo cách ông, ‘trong khi hậu phương được thanh lọc’. Ông dường như sử dụng cụm từ này theo nghĩa là những hoạt động nhằm đẩy mạnh công tác bình định, xốc lên  công luận, và thiết lập những biện pháp an ninh tốt hơn chống lại bọn khủng bố VC.

Kỳ, mơ về một mặt trận Á châu chống cộng, nhưng cũng bằng lòng với một đơn vị tác chiến Đại Hàn. Vào ngày 24/6, ông yêu cầu Seoul gửi một sư đoàn bộ binh, mà ông muốn cài vào vùng duyên hải thuộc

Quân đoàn II đang nóng bỏng. Người Đại Hàn đã liệu trước lời yêu cầu. Để đổi lấy việc gửi quân, Seoul nhờ Mỹ viện trợ nhiều hơn để “đồng thời đem lại sự tăng trưởng kinh tế và an ninh và Đại Hàn hy vọng sử dụng việc góp quân như một đòn bẩy trong hiệp ước SOFA (Hiệp ước về Vị thế Lực Lượng) vốn đã đầy khó khăn kế từ khi bắt đầu vào năm 1962”. Người Hàn thắng và được hưởng viện trợ và nhiều vũ khí hiện đại hơn.

Ý thức được sự đánh giá tỉnh táo của Westmoreland trong yêu cầu gửi thêm quân của ông, Johnson một lần nữa phái McNamara đến Saigon để thảo luận tình hình với miền Nam. Thiệu và Kỳ gặp gỡ Bộ trưởng Quốc phòng vào ngày 16/7 để thảo luận chiến lược quân sự của đồng minh. Người Việt đồng ý với yêu cầu gởi thêm tiểu đoàn của Westmoreland, và thật ra họ muốn thêm một sư đoàn. Tuy nhiên, Thiệu cảnh giác trước những dư luận chính trị của việc Mỹ đưa quân vào. Ông nhắc nhở các đơn vị Mỹ nên chiếm đóng vùng Cao nguyên và những khu vực bắc và tây Saigon. Ông nói, “CQMN chủ yếu giao QĐVNCH việc bảo vệ dân chúng và dàn các đơn vị Việt Nam dọc theo đồng bằng duyên hải và Cửu Long. Theo quan niệm này…. sứ mạng chính yếu của các lực lượng Hoa Kỳ/đồng minh sẽ là những cuộc hành quân tìm và diệt và phòng vệ những căn cứ trọng yếu. Sứ mạng chính của QĐVNCH sẽ là tham gia chương trình bình định hóa và bảo vệ dân chúng.

McNamara sau đó hỏi liệu người dân có chấp nhận một số lớn người Mỹ tràn vào hay không. Mặc dù Quát và Taylor đã từng chống lại việc đưa vào binh lính Mỹ, Kỳ nói mình không thấy có vấn đề gì lớn lao và Thiệu thêm là cần phải giải thích cặn kẽ với người dân rằng người Mỹ đến miền Nam chỉ để hỗ trợ chiến đấu. Thiệu tin rằng đa số dân chúng không coi người Mỹ có tham vọng thuộc địa nhưng ông nghĩ chính quyền cũng cần phải phát động một chương trình tuyên truyền rộng khắp để giải thích sự hiện diện của Hoa Kỳ. .. Nếu các lực lượng Hoa Kỳ tập trung tại những vùng quân sự cách biệt xa trung tâm dân cư lớn và các miền đông dân cư, tác động về sự hiện diện của người Mỹ sẽ được giảm thiểu. Ông nói rằng nhận định này là nền tảng trong việc đề nghị các lực lượng Mỹ hoạt động trong vùng Cao nguyên và chống lại Khu C và D (vùng phía bắc và tây Saigon). Nếu binh sĩ VNCH có thể công tác tích cực trong nhiệm vụ bình định, chính quyền hiện thời có thể chứng minh với nhân dân là mình có năng lực và đủ điều kiện cai trị. Kỳ cho biết chính quyền muốn có nhiều binh sĩ Mỹ hơn không phải  vì người Việt không muốn chiến đấu mà bởi vì như vậy sẽ giải phóng cho QĐVNCH được rảnh tay lo công tác bình định quan trọng.

Thiệu sợ rằng giao cho binh lính Mỹ vai trò tác chiến chính sẽ khiến chính quyền dễ bị Cộng sản tuyên truyền và tổn thương đến cảm xúc chống thực dân dễ hiểu được của dân chúng. Để phản tác dụng, Thiệu công khai nhấn mạnh trong một cuộc phỏng vấn vào đầu tháng 8 rằng “tác chiến trực tiếp với VC là nhiệm vụ của các lực lượng Việt Nam. Theo đó, nhiệm vụ chính của các lực lượng bạn, bao gồm binh sĩ Đại Hàn, là phòng vệ hậu phương để các lực lượng Việt Nam có thể tham gia chiến đấu đến mức tối đa có thể.” Cho dù có nỗ lực để biện minh cho việc yêu cầu xin quân, nhiều sĩ quan Việt vẫn thấy khó chịu. Thiệu ra sức xoa dịu họ trong một bài diễn văn đọc trước một hội nghị các lực lượng vũ trang tổ chức tại Vũng Tàu vào cuối tháng 9. Ông phát biểu rằng “nếu chúng ta không nhận được  sự hỗ trợ đúng lúc… chúng ta sẽ phải đánh mất thế cân bằng quân sự và chúng ta có thể đã mất cao nguyên; thậm chí thủ đô cũng bi đe doạ.”

Mặc dù Westmoreland bị lên án là Mỹ hóa chiến tranh, ông không đơn độc. Thiệu và Kỳ đã yêu cầu Mỹ can thiệp bởi vì họ tin thảm họa ở Đồng Xoài và sư đoàn đang lù lù chực chờ từ Cao nguyên thọc xuống như báo trước sự sụp đổ quân sự của miền Nam. Lỗi lầm của Westmoreland, và đến một mức độ kém hơn lỗi lầm của McNamara, là việc họ bác bỏ quan niệm chiến lược của Thiệu. Công bình mà nói, “mặc dù lúc đầu ủng hộ vai trò kép, ông đổi ý vì hai lý do chiến thuật quyết định. Ông viết, “Những nhà lãnh đạo miền Nam đầu tiên yêu cầu tôi giới hạn sự hiện diện của người Mỹ tại những vùng xa xôi, tôi không đồng ý, không muốn nhìn thấy tính linh hoạt của mình bị xiềng xích.” Thứ hai, kẻ thù thì quá mạnh “trong một số vùng đông dân cư”, như các khu vực duyên hải ở các tỉnh phía bắc, nên binh lính Mỹ phải tiến hành các hoạt động lớn ở đó ” để tiểu trừ những đơn vị Cộng sản này. Tuy nhiên, như sức mạnh quân sự của MTGP, có phải Westmoreland cũng đánh giá sai khả năng chiến đấu của QLVNCH? Trong khi Quân đoàn II và III đang trong tình trạng tệ hại, thì Quân đoàn I và đồng bằng Cửu Long thì vững mạnh. Tình thần sĩ khi bốc cháy khiến Westmoreland không chịu ngồi đợi và nhìn, và vào cuối tháng 8, ông đã hình thành kế hoạch của mình. Hoa Kỳ sẽ nhận lãnh gánh nặng việc chiến đấu trong khi QLVNCH sẽ tái thiết lực lượng. Với các bô đội từ Hà Nội Washington chẳng bao lâu sẽ giao tranh trong các trận tác chiến đối đầu, cả hai bên sẽ leo thang chiến tranh trong khi người miền Nam bị gạt sang bên. Một Johnson miễn cưỡng đã muốn tránh can thiệp trực tiếp, nhưng đối mặt trước một sự sụp đổ của miền Nam lù lù hiện ra, các cố vấn của ông đã thuyết phục ông hành động. Cuộc chiến tiếp diễn.

PHÁT ĐỘNG THẤT BẠI

Mặc dù mong muốn xóa đi tính trạng nghèo đói ở nông thôn, vào mùa hè 1965, Kỳ đối mặt với những thách thức to lớn mà không có người tiền nhiệm nào của ông đã gặp phải. Cùng lúc với tình hình chiến sự đầy thảm hoạ lù lù hiện ra một cơn khủng hoảng kinh tế bao trùm kế hoạch cách mạng xã hội mà ông dự tính. Từ tháng giêng 1964 mức độ lạm phát tăng không ngừng, khi ngân sách chi ra phải tăng 70 phần trăm mới thỏa mãn lượng thiếu hụt ngân sách đang tăng vọt gây ra do chi phí chiến tranh tăng lên. Tệ hơn nữa, lực lượng MTGP đã chặn một dây thòng lọng kinh tế quanh thủ đô bằng cách ngăn chặn lưu thông đường xá, kênh rạch, và các đường ống năng lượng dẫn vào thành phố. Thình lình, lương thực cơ bản thiết yếu nhất của người Việt Nam, lúa gạo, bổng trở nên khan hiếm ở Saigon. Các bọn đầu cơ lợi dụng tình thế để tích trữ nâng giá, gây ra lạm  phát đối với mặt hàng sinh tử này. Kỳ đe doạ sẽ bắt giữ các kẻ đầu cơ, một cảnh báo nhắm trực tiếp tới các doanh nhân Hoa Kiều không chế ngành buôn bán lúa gạo. Ông thực hiện lời răn đe của mình vào ngày 6/7 khi cảnh sát câu lưu gần 100 nhà buôn vì tội hoạt động chợ đen. Khi giá vẫn không giảm, vào ngày 25/7, Kỳ phản ứng. Thiệu ký một sắc lệnh khác quy định ai bắt được có tích trữ lúa gạo hoặc đầu cơ để nâng giá gạo sẽ bị tử hình, và ông đe dọa “tử hình hoặc tịch thu tài sản nếu phạm tội loan truyền tin đồn gây xáo trộn tinh hình kinh tế hoặc tài chính.” Hơn nữa, những thanh niên Việt gốc Hoa, trước đây được miễn quân dịch vì chính quyền không mấy tin tưởng vào lòng trung thành của họ, thì giờ đây có thể bị gọi đi lính. Thiệu và Kỳ, đang cần một cách tuyệt vọng nguồn nhân lực để thay thế những tổn thất ở chiến trường, cố tình nhắc nhở cho cộng đồng người Hoa rằng con cái họ sẽ không được phép nhởn nhơ giữa Saigon trong khi những người con nông dân đang hi sinh hàng trăm người mỗi tháng. Mặc dù vấn đề “cao bồi Saigon” – những tên thanh niên tóc dài ống loe long nhong giữa thủ đô trốn lính vì hối lộ đúng chỗ – không hề được giải quyết dứt điểm, Kỳ đang cố xoa dịu nguồn bất mãn xã hội mà người Việt cảm thấy đối với người Hoa. Ra sức áp dụng công bằng xã hội và phát triển kinh tế cùng một lúc tỏ ra bất khả. Kỳ cần vực dậy sản lượng gạo xuống dốc, và ông làm việc với Hoa Kỳ để nhập khẩu hàng ngàn tấn gạo Mỹ trong một chương trình có tên “Lương thực cho Hòa Bình,” hoặc Luật Công (Public Law) 480. Được tiến hành dưới sự đỡ đầu của USAID, Mỹ hỗ trợ lương thực cho hàng triệu người trên thế giới. Mặc dù việc nhập khẩu gạo bình ổn giá, việc miền Nam không thể tự túc lương thực mãi mãi là một khủng hoảng không được giải quyết. Chiến tranh mở rộng đã hạn chế khả năng trồng trọt, thu hoạch, và chở gạo về Saigon của nông dân, từ đó các thương lái thu mua và bán lại cho miền trung và miền bắc vốn luôn thiếu hụt gạo. Gạo đang trở thành một vũ khí chiến tranh.

Vùng Cao nguyên cũng cản trở các kế hoạch của Kỳ. Như Khánh trước đây, Kỳ phải giải quyết tình trạng bất bình của dân tộc thiểu số, nhưng may mắn cho ông, Quát đã đạt được một số tiến bộ về mặt này. Vào tháng 5 1965, Quát lập Văn phòng các Vấn đề Sắc tộc Thiểu số để giải quyết những khiếu nại của đồng bào Thượng. Dù có những nỗ lực này, tổ chức FULRO vẫn chưa bị dẹp yên. Vào giữa tháng 7, họ lại nổi dậy và đột kích một căn cứ Địa phương Quân, trói gô các sĩ quan người Kinh và thượng cờ FULRO lên. Chỉ sau một đàm phán kéo dài giữa Saigon và FULRO nhóm bộ tộc mới rút lui, và vào ngày 15/9, Kỳ bay đến Ban Mê Thuộc để chào mừng sự trở lại hàng ngũ của gần 500 người Thượng bất đồng chính kiến. Sau đó ông kêu gọi “sự thống nhất sắc tộc” giữa Thượng và Kinh và nói rằng “nhiệm vụ duy trì sự thống nhất nhân dân miền Nam đòi hỏi sự không kỳ thị về mặt địa vị xã hội và chủng tộc. Để đạt được điều đó, nguyên tắc đoàn kết sắc tộc nên được xúc tiến trên mọi thứ khác.” Nhận xét của Kỳ làm nhiều người Việt kinh ngạc vì họ thường coi người Thượng như người hoang dã.

Vào tháng 8, Henry Cabot Lodge trở lại Saigon để thay thế Taylor làm đại sứ. Kỳ trình bày chương trình công bình xã hội cho Lodge vào ngày 20/8. Kỳ thề quét sạch tham nhũng, cải thiện chính quyền địa phương, thiết lập chương trình cải cách ruộng đất, và động viên thanh niên nhập ngũ. Cải cách ruộng đất là trung tâm của công bình xã hội, và Kỳ muốn làm sống lại chương trình đã hấp hối từ lâu này. Ông muốn làm tốt hơn lời khuyến dụ có tính kinh tế hấp dẫn nhất của MTGP: cấp đất miễn phí cho tá điền đang phải nộp tô cắt cổ cho điền chủ. Trong khi MTGP đã tái phân phối đất cho các nông dân địa phương, Mặt trận cũng gây ra bất bình bằng cách áp đặt mức thuế quá cao lên họ. Kỳ cảm nhận một cơ hội để tranh thủ lòng tin của nông dân, nhưng như việc trồng lúa và chuyên chở gạo, ông lập tức đối đầu với những trở ngại lớn lao. Vì những hộ đất cò bay thẳng cánh đã được phân mảnh dưới thời Diệm, biện pháp lớn là gỡ rối cho hàng ngàn tá điền. Nhiều sổ sách không còn lưu lại, và MTGP đã xoá bỏ việc thuê đất trước đây bằng cách chuyển nông dân vào canh tác trên đất thuộc sở hữu của người khác. Tệ hơn nữa, kế hoạch của Kỳ gặp khó khăn vì nhiều đất đai giờ đây nằm trong vùng kiểm soát của  Mặt trận. Cải cách ruộng đất, như nhiều sáng kiến địa phương khác, phải đợi chờ đến khi chính quyền có thể lấy lại nông thôn.

PHỤC HỒI CHẾ ĐỘ DÂN SỰ

Một dấu hiệu hy vọng trong khung cảnh chính trị ảm đạm là việc duy trì thành công các cuộc bầu cử ở thị xã và tỉnh lỵ vào cuối tháng 5. Trung bình có 73 phần trăm cử tri trong danh sách đã đi bầu, một sự kiện chính trị tuyệt vời nếu xét tình hình rối loạn trong tháng 5 1965. Những cuộc bầu cử này nhằm lập ra các hội đồng tỉnh  sẽ “cố vấn” cho các tỉnh trưởng được bổ nhiệm, nhưng quan trọng hơn, chúng tạo được cơ sở cho việc tái xác nhận quyền kiểm soát dân sự của chính quyền. Như các lãnh đạo quân sự trước đây, Kỳ và Thiệu xác nhận rằng mục tiêu của họ là cuối cùng sẽ trả lại quyền lực về cho dân sự. Thật ra, hiến chương mới được ban hành vào ngày 19/6 nêu lên rằng quyền hành của chính phủ chỉ tạm thời do phe quân sự nắm giữ. Kỳ thuận theo ý của Thiệu về vấn đề bầu cử. Tại cuộc họp báo vào ngày 24/6, Thiệu tuyên bố rằng các cuộc bầu cử quốc gia không thể tiến hành được vì MTGP kiểm soát phân nửa lãnh thổ. Như việc gìa tăng sản lượng gạo và thi hành cải cách ruộng đất, chỉ có thể bắt đầu khi chính quyền đã phục hồi quyền kiểm soát ở nông thôn. Nhưng vào giữa tháng 9, với binh sĩ Mỹ ồ ạt đổ vào xứ và đẩy lùi các đơn vị Cộng sản, Thiệu bắt đầu xem xét việc thành lập Hội đồng Quốc gia, giống như các hội đồng tỉnh lỵ vừa được bầu. Hội đồng Quốc gia này hoạt động như một bộ phận tư vấn cho UBLĐQG và có nhiệm vụ soạn thảo hiến pháp. 

Thiệu, người trước đây đã từng lốp bi Trần Văn Đôn lẫn Nguyễn Khánh cho phe quản sự nắm quyền, giờ đây rõ ràng đã thay đổi suy nghĩ, nhất là vì việc làm nói to hơn lời nói. Thiệu bỏ ra vài tháng lên kế hoạch, và vào cuối tháng 11, các tướng lĩnh cầm quyền tán thành việc thành lập hội đồng. Một lần nữa các thành viên hội đồng được bổ nhiệm, họ sẽ bắt tay vào công việc vào đầu năm 1966. Họ sẽ đi khắp đất nước và tìm hiểu xem dân chúng muốn điều gì trong hiến pháp mới. Sau đó, Hội đồng Quốc gia sẽ soạn thảo một hiến pháp và rồi chính quyền quân sự sẽ tổ chức tổng tuyển cử. Sau đó, họ sẽ trở lại với công việc nặng nề cam go là giành lại quyền kiểm soát nông thôn. Cặp đôi trước tiên chuyển đến việc khởi động bình định hoá. Vào ngày 30/7, Kỳ bãi bỏ Hội đồng Tái Thiết Nông Thôn Trung Ương đã được thành lập vào tháng 4 dưới chính quyền Quát và tạo ra một cơ quan mới có tên Xây Dựng Nông Thôn báo cáo trực tiếp với ông. Khi vị bộ trưởng đầu tiên của hội đồng mới mất vào tháng 9 trong một tai nạn rơi máy bay, Kỳ cử một người bạn miền bắc, Chuẩn tướng Nguyễn Đức Thắng, làm bộ trưởng mới. Để giải thích các kế hoạch bình định hoá của Kỳ, một buổi họp các tỉnh trưởng và đại biểu từ các hội đồng tỉnh được tổ chức vào ngày 11-12 tháng 10, 1965. Hội nghị quan trọng này, một trong những hội nghị đầu tiên thuộc loại đó, được thiết kế nhằm tiếp thêm sinh lực cho nỗ lực binh định hoá, nhưng lạ là nó cũng giúp tạo hình cho tương lai hợp hiến của miền Nam.

Những nỗ lực của Thiệu khởi động tiến trình vãn hồi chế độ cai trị dân sự không phải không được chú ý. Tại cuối cuộc hội thảo, các thành viên của hội đồng tỉnh vừa được bầu ký một tuyên bố khuyến khích nhóm lãnh đạo quân sự “hãy chuẩn bị việc bầu ra một quốc hội lập hiến”. Tiếng nói chủ chốt cho lời yêu cầu này là Bác sĩ Phan Quang Đán nổi tiếng. Đán đã từng chỉ trích Diệm một thời gian dài và đã bị tống giam vì được cho là tham gia vào cú đảo chính 1960 không thành. Sau khi được trả tự do vào tháng 11 1963, ông trở lại hoạt động nghề thuốc và trở thành một nhân vật được yêu mến vì chữa bệnh không lấy tiền cho dân nghèo. Vào tháng 5, 1965, Đán đã được bầu vào Hội đồng tính Gia Định (tỉnh bao quanh Saigon), trong đó ông được bầu làm chủ tịch. Hoạt động không mệt mỏi để giải quyết những vấn đề địa phương, ông trở thành một trong số ít chính trị gia độc lập thuộc phe Quốc gia có sức lôi cuốn quần chúng.

Lời yêu cầu của hội đồng cổ vũ Thiệu. Ông đọc một bài diễn văn vào ngày 1/11/1965, mà phe quân sự ấn định là “Ngày Quốc Khánh” để tưởng nhớ việc lật đổ Diệm. Mặc dù Thiệu nhìn nhận chính quyền mình chỉ mới bước đầu đạt được sự ổn định, ông một lần nữa hứa hẹn phe quân sự sẽ tái thiết lập các định chế dân chủ vào năm 1966, bắt đầu bằng việc tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến.

Tuy nhiên, Kỳ kém lạc quan hơn. Dù ông ủng hộ bầu cử quyền cai trị dân sự, Chuẩn tướng Thắng đã thông tin cho Kỳ phải mất hai năm trước khi có ít nhất phân nửa dân số có an ninh. Sợ Cộng sản phá hoại bầu cử, Kỳ quyết liệt cho rằng bầu cử chỉ có thể tổ chức sau khi quân đội có thể bảo vệ được dân chúng. Thiệu và nhóm quân sự bị kẹt trong thế nan giải. Họ muốn trân trọng quyền cai trị dân sự nhưng lại sợ người Cộng sản sẽ lợi dụng bằng cách ép buộc người dân bầu cho người của họ. Vì vậy, Kỳ dự kiến việc dân chủ hóa là một tiến trình chậm chạp dựa vào việc trước tiên phải bảo đảm an ninh dân chúng hơn là nhanh chóng tổ chức bầu cử như một số các lãnh đạo chính trị và Phật giáo chủ trương. May thay, lời yêu cầu công khai mới dây của Đán giúp Thiệu thúc đẩy Kỳ miễn cưỡng tiến đến chính quyền dân sự. Vào đầu tháng 12 1965, Bùi Diễm thông báo cho sứ quán Mỹ rằng ông, Kỳ, Thiệu và một một sĩ quan cao cấp khác, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, đã đúc kết một kế hoạch nhằm dân chủ hoá đất nước. Thiệu đã cử Chiểu quản lỵ việc chuyển tiếp đến chế độ dân sự. Khi sứ quán tiếp xúc với ông nhắm khẳng định việc UBLĐQG đang xúc tiến việc dân chủ hóa đất nước, Chiểu chứng thực rằng các tướng lĩnh đã tán thành kế hoạch thành lập ủy ban tư vấn sẽ đi kinh lý các tỉnh tìm hiểu nguyên vọng nhân dân. Sau đó Hội đồng sẽ soạn một quy chế quản trị hoạt động của các chính đảng, soạn thảo hiển pháp, và luật bầu cử.

Vào ngày 7/2, 1966, Thiệu ký sắc lệnh “Thành lập Hội đồng Lập pháp cho việc Xây Dựng Dân Chủ,” Các quy chế của hội đồng cũng tương tự như của Hội đồng Nhân sĩ đã được tổ chức ngay sau khi đảo chính Diệm. Tuy nhiên, các Phật tử, không hứng thú với các chương trình của Thiệu. Họ có kế hoạch của riêng họ.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s