Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 6)

CHƯƠNG 6: “MỘT CHÍNH QUYỀN QUÂN SỰ THỰC SỰ  CẦN ĐẾN”

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

 

Gặt Được Những Gì Đã Gieo

Việc tấn công leo thang của MTGP, số thương vong tăng cao của QLVNCH, và những thất bại về chính sách ngoại giao ở Lào và Cao Miên đè nặng lên vai Khánh. Lần đầu tiên, ông bắt đầu thắc mắc về chi phí sinh mạng của cuộc xung đột, và xa hơn nữa, lý do tồn tại của cuộc đấu tranh. Khánh ôn lại làn sóng bất mãn dâng cao và cuộc chiến nhanh chóng  lan rộng, ông được trao tặng một món quà: chỉ đạo sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ vào Miền Bắc sau cuộc tấn công chống lại một khu trục hạm Hoa Kỳ vào ngày 2/8/1964. Được biết là sự kiện Vịnh Bắc Việt, chương mở đầu này dẫn đến sự leo thang rầm rộ của cuộc chiến và cung cấp cho Khánh cơ hội hành động chống lại các kẻ nội thù. Các thành tích tiếp theo của ông khởi động những sự kiện sâu sắc làm biến đổi khung cảnh chính trị Saigon, làm nhụt nhuệ khí của đất nước, hủy diệt gần như tất cả những thành tựu của Diệm, và dẫn đến không sao cưỡng được sự can thiệp của các lực lượng chiến đấu Mỹ.

 THÁCH THỨC NỘI BỘ

Vào ngày ⅘, Khánh triệu tập Đại sứ Henry Cabot Lodge đến tư dinh để bàn luận về vận bỉ cực của mình. Khánh tâm sự về các chọn lựa khó khăn mình đang đối mặt. Mình có nên giải tán nội các, hầu hết là các chính trị gia dân sự được cất nhắc mà ông xem thường, và đặt đất nước trên thế đứng chiến tranh hay không? Người Mỹ có chịu ném bom miền Bắc nếu Hà Nội tiếp tục xen vào việc miền Nam? Quan trọng hơn, người miền Nam đang bắt đầu mệt mỏi vì chiến tranh, và Khánh nghĩ rằng nó “phi lý, phung phí, và sai lầm khi tiếp tục chịu thương vong chỉ để nỗi thống khổ kéo dài.”

Những đắn đo của Khánh khiến Washington báo động, đặc biệt về chuyện không nên tiếp tục kéo dài nỗi thống khổ, mà nhiều người diễn giải là muốn tìm kiếm một giải pháp thỏa thuận. Mặc dù Lodge bào chữa các nhận định của Khánh chỉ là các nhận định của một người đang cân nhắc những chọn lựa khó khăn, Ngoại trưởng Dean Rush trả lời rằng thông điệp của Lodge “nêu lên những vấn đề cực kỳ nghiêm trọng và chúng ta cảm nhận được rằng phản ứng của chúng ta phải được triển khai một cách thận trọng.”

Tổng thống Johnson một lần nữa phái McNamara đến Saigon để gặp Khánh bàn luận về các lựa chọn và bảo đảm với ông sự hậu thuẫn tiếp tục của Mỹ. Khánh bảo với McNamara trong chuyến viếng thăm của ông rằng mình “phải đương đầu  các vấn đề tôn giáo nghiêm trọng. Có vẻ gần như mọi vấn đề chính trị đều bao gồm yếu tố tôn giáo… Tầm quan trọng của vấn đề tôn giáo không thể nào là nói quá đáng.” Nhận xét của Khánh không phải là cường điệu. Trong hai năm tiếp theo, chỉ có chiến tranh là vấn đề to tát hơn sự căng thẳng tôn giáo. Những lo lắng về tâm linh của Khánh đã dâng cao vào đầu tháng 4 khi các Phật tử, vốn đã lắng dịu kể từ khi Minh bị tống khứ, bất ngờ quậy lên tiếp. Một lần nữa sự khuấy động của Phật giáo tập trung vào Thích Trí Quang, người cầm đầu lực lượng Phật tử đấu tranh ở tỉnh phía bắc miền Nam.  Kỹ năng hùng biện của Quang khích động giới trẻ Việt Nam, và ông càng phát ngôn, tham vọng khống chế chính trường càng bành trướng. Ông nhắm đến “cách giải quyết hòa bình” chung chung đối với cuộc chiến, thuyết phục rằng lời kêu gọi thuận lòng dân của ông có thể ngăn cản người Cộng sản thiết lập một nền chuyên chính của giai cấp vô sản. Tuy vậy Quang từ chối nhận một vai trò trong chính quyền, mà thích duy trì một quyền lực phía sau ngôi vua hơn, sẵn sàng lật đổ các chế độ nào không phù hợp với quan điểm của ông về tính dân tộc Việt Nam. Ông là cơn ác mộng đối với một quốc gia mong manh về mặt xã hội, một kẻ mị dân có tài thôi miên với năng lực hủy diệt nhưng không có động lực xây dựng.

Mặc dù Khánh đã ra sức xoa dịu Quang, nhà sư hiếu thắng vẫn cho đăng lên một tờ báo Saigon ngày 8/5 một bức thư chỉ trích chính quyền đã cho phép các viên chức địa phương tiếp tục có những hành động “chuyên chế” và yêu sách những đạo luật mới nhằm bảo vệ “quyền tự do tín ngưỡng”. Lo lắng trước ảnh hưởng của nhà sư Khánh quyết định ngưng lại việc hành quyết Ngô Đình Cẩn, em trai Diệm. Khánh cũng tuyên bố rằng người sĩ quan Công giáo đã để cho binh sĩ  mình khai hỏa vào các Phật tử biểu tình chống đối ở Huế vào tháng 5 1963 sẽ phải ra tòa. Nỗ lực hơn nữa nhằm xoa dịu phe Phật tử, Khánh sau đó ký một sắc luật hợp pháp hóa việc thành lập trước đây của Giáo hội Phật giáo Thống nhất. Ông hy vọng hành động của mình sẽ hình thành một mặt trận Phật giáo có thể “ngăn chặn làn sóng đỏ hung hăng bằng cách sử dụng một rào chắn vàng (vàng là màu áo các thầy sư tại các tỉnh phía tây và nam của Saigon). Đây là hàng rào của đạo Phật phái Theravada, không phải Phật giáo phía bắc (Quang thuộc phái Mahayana phía bắc), một hàng rào vươn dài qua Nam Vang và đến tận Thái Lan và Miến Điện.”

Nhưng còn lâu mới được xoa dịu, vào ngày 26/5, Phật tử tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ tại Saigon để mừng lễ Phật đản. Với khoảng 200,000 người tham dự, đây là cuộc tập họp lớn nhất từng được tổ chức tại Saigon trong một thập niên qua. Không chịu lép vế, vào ngày 8/6 cộng đồng Công giáo Saigon tổ chức một cuộc phản biểu tình. Một đám đông ước tính 35,000 ngàn người tuần hành hoà bình qua các đường phố thủ đô vẫy khẩu hiệu ủng hộ chính quyền và chống cộng. Bị kẹt giữa hai bên, Khánh không tham dự bên nào. Thay vào đó, ngày hôm sau nhằm làm nguội lạnh một cuộc xung đột tôn giáo tiềm năng ông tuyên bố với cánh nhà báo rằng “đây là xứ sở tự do. Người dân có quyền tự thể hiện mình theo cách họ cho là thích hợp… Tôi không nghĩ chúng ta sẽ có một vụ khủng hoảng tôn giáo nào khác.”

Đối với một người bị bọn chính trị gia sa-long gièm pha là chính trị  kém cỏi, thì đây là một phát biểu thật đúng lúc có thể tạm thời xoa dịu những quan ngại  ở cả hai bên. Năm ngày sau, vào 13/6, ông triệu tập một hội nghị chính trị gồm mọi đảng phái và các nhóm giáo phái nhằm thảo luận về một dự luật mới nhằm khuyến khích một hệ thống hai đảng, về cơ bản là ý tưởng của Nguyễn Tôn Hoàn về một đảng cầm quyền và một đảng đối lập. Khánh mở đầu hội nghị bằng cách kêu gọi mọi giai tầng xã hội miền Nam vào hàng ngũ cho “sự sống còn của quốc gia trong giờ phút quyết định này.” Ông cảnh báo các đại diện phe phái rằng việc cãi cọ triền miên của người Quốc gia đang làm suy yếu quốc gia. Các phái đoàn phớt lờ lời khẩn khoản của Khánh, và cuộc hội nghị biến thành cuộc cãi vã chẳng đi tới đâu.

Sự thất bại của hội nghị thuyết phục Khánh rằng phe dân sự sẽ không thể nào làm việc với nhau vì điều tốt đẹp cho đất nước. Vang dội những cảm nghĩ của Diệm, Khánh bảo với Robert Shaplen, thông tín viên Viễn Đông huyền thoại của tạp chí New Yorker, “Hiện giờ chúng tôi chỉ có thể cung cấp công thức cho dân chủ. Chúng tôi có thể tạo ra nền móng, những định chế cho một nhà nước, nhưng chúng tôi không thể hoàn thành một nền dân chủ đầy đủ trong một thời gian, có thể trong một thời đại nữa.” Nỗi thất vọng của Khánh, như của hầu hết các nhà cai trị miền Nam khác, tập trung vào những tình cách nan giải của xã hội miền Nam cũng nhiều như vào cách thức chiến thắng cuộc chiến.

Nổi giận vì những chỉ trích không dứt của các chính trị gia đối lập và các thành viên trong nội các mình, Khánh cuối cùng đáp trả. Ông công khai đả kích giới trí thức Saigon chỉ biết công kích chính quyền mình mà không làm gì để hỗ trợ cho nỗ lực chiến đấu. Rồi ông lao vào đối thủ tiếp theo, giới báo chí đầy ác ý của Saigon. Tình hình báo chí vừa được cởi trói đang trên bờ hỗn loạn, với các tin đồn thất thiệt thường lên báo như tin thực để câu độc giả. Để phanh lại đà xuống dốc của báo chí, ông áp đặt những sắc luật báo chí mới. Ông lập ra một hội đồng để kiểm duyệt các bài báo, ra luật chỉ cấp phép xuất bản cho ai không có trong hồ sơ cảnh sát hoặc có khuynh hướng thân Cộng hoặc trung lập, và yêu cầu mỗi tờ báo phải ký quĩ một số tiền cho Bộ Thông tin trước khi được cấp giấy phép. Luật kiểm duyệt báo chí mới cũng cho phép chính quyền tịch thu bất cứ tờ báo nào đã vi phạm “an ninh quốc gia”, một cái bẫy cho Khánh quyền lực muốn làm gì tùy ý.

Để minh chứng cho quyết tâm của mình, vào cuối tháng 5, Bộ Nội vụ bất ngờ đóng cửa 9 tờ báo vì được cho là đã viết những bài báo có tính lật đổ.

Như Minh, Khánh thoạt đầu hy vọng trao lại  quyền cầm cân nẩy mực cho giới dân sự, nhưng đối mặt với tính vô tổ chức phe phái này, ông phải quay về với chế độ chuyên quyền để áp đặt tính ổn định vững chắc. Nhiều người trong giới quân sự chia sẻ niềm tin của Khánh. Có ba lý do cho sự xác quyết này. Thứ nhất là một lực tác động đưa đến quyền lãnh đạo mạnh, một trạng thái tâm lý được củng cố bởi lối suy nghĩ theo thứ bậc quân sự điển hình. Về bản chất, bản năng này xem xã hội như được quản trị từ trên xuống dưới, không phải từ dưới lên. Thứ hai là nhận thức bi quan cho rằng giới dân sự hay tranh cãi thường chỉ nghĩ đến chính mình hơn là vì điều tốt đẹp cho đất nước. Thứ ba là việc đóng cửa tiến trình chính trị vốn chỉ tạo điều kiện cho người Cộng sản chui vào. Người Quốc gia tin rằng cho phép MTGP thậm chí cho dù chỉ một chỗ đứng nhỏ nhất trong cuộc bầu cử sẽ là con dốc trượt dài đến thảm bại. Trong khi những tin tưởng này ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành động của Khánh và các nhà lãnh đạo miền Nam khác, cánh tả  khiển trách kết quả xem như đó là sự chuyên quyền quân phiệt của cánh phải, vốn là như vậy nhưng về hình thức nhưng không về chất.

Sức ép cũng gia tăng lên Khánh khi phải quyết định số phận của 4 tướng lĩnh bị giam lỏng vào ngày 30/1/1964. Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, và Mai Hữu Xuân vẫn còn ở Đà Lạt, đợi Khánh  ra phán quyết cuối cùng. Cả Khánh và Khiêm đều đã đến thăm họ vào cuối tháng 4 để bàn bạc về tương lai các tướng lĩnh, theo đó Khiêm đã cố vấn Khánh đình hoãn việc phóng thích bộ tứ cho đến cuối tháng 5. Khiêm tin rằng những người Đại Việt, vốn cực lực chống lại việc thả tự do cho bốn tướng, vẫn còn quá mạnh để có thể làm liều. Nhưng Khánh càng để lâu không kết án các tướng lĩnh, càng có vẻ như là mục đích thực sự của vụ đảo chính tháng giêng của ông là để chiếm đoạt quyền lực chứ không phải để ngăn chặn một thỏa hiệp trung lập hóa với người Pháp. Sau khi không thể tìm thấy chứng cứ vững chắc nào, vào ngày 30/5, Khánh tuyên bố lời phán quyết của HĐQNCM. Ông trả tự do cho các tướng đồng sự không trừng phạt cho tội âm mưu đã viện dẫn nhưng khiển trách họ vì lối sống hoang phí xa xỉ. Ông cũng không giao cho họ các chức vụ chỉ huy trong quân đội nhưng cho khôi phục cấp bậc cũ.

Tuy nhiên tự do mới được ban cho họ chết yểu. Trong vòng một ngày, Đôn nhận được tin từ Khánh bốn tướng lĩnh phải ở lại Đà Lạt. Đôn sợ Đại Việt can thiệp, và những ngờ vực của ông được khẳng định khi “một người bạn bảo với tôi rằng Hoàn không muốn chúng tôi trở lại Saigon vì ông sợ chúng tôi sẽ hành động và phanh phui vụ chỉnh lý 30/1/1964.” Bạn của Đôn nói đúng. Vào ngày 3/6, CIA báo cáo rằng lãnh tụ Đại Việt Đặng Văn Sung chỉ trích Khánh đã không trục xuất các tướng và rằng Hoàn đang tính đến việc biểu tình chống việc thả họ.

XÁO TRỘN Ở SAIGON

Tôn giáo, báo chí, và thất bại chính trị, tuy nhiên, không chỉ là những vấn đề cấp bách của Khánh. Mòn mỏi vì những toan tính chính trị nội bộ, Khánh có ít thời gian cho công việc bình định, vậy mà ông lại không nhường quyền này cho Hoàn cộng thêm sức mạnh gia tăng nhanh chóng của MTGP và bất ổn chính quyền đang làm suy mòn sức sống của chương trình. Tình hình đảo ngược của miền Nam như thế đang buộc người Mỹ một lần nữa tìm kiếm một chiến lược thành công để yểm trợ người đồng mình đang loạng choạng của mình, một đồng minh đang mất quyền kiểm soát đất nước cho một thế lực nổi dậy di căn và được bên ngoài hậu thuẫn. Để chính đốn tình hình đang xấu đi, vào tháng 6, Trung tướng William Westmoreland, chỉ huy phó của Harkins tại MACV, vận động Khánh thay thế Chiến Thắng bằng chương trình bình định do người Mỹ soạn thảo có tên Hợp Tác (Cooperate). Quan điểm của Westmoreland là trước tiên bình định tám tỉnh chung quanh Saigon, sau đó sẽ đẩy lùi họ ra khỏi đó. Vì kế hoạch này là một phiên bản của chiến lược vết dầu loang, Khánh đồng ý, sung sướng để cho người Mỹ đóng một vai trò lớn hơn trong cuộc chiến để ông có thể giải quyết việc um sùm nội bộ.

Cùng một lúc, công tác lãnh đạo của Hoa Kỳ ở Saigon được tái tổ chức. Vào giữa tháng 6, Westmoreland hất cẳng Harkins làm chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ tại miền Nam.

Đồng thời, vì những lý do cá nhân liên quan đến cuộc bầu cử tổng thống 1964, Lodge từ chức đại sứ. Tổng thống Johnson chọn Chủ tịch Tổng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ Tướng Maxwell Taylor để thay thế ông. Việc thuyên chuyển vị chỉ huy quân sự chóp bu của Hoa Kỳ về làm  đại sứ mới, việc thay thế Harkins, và số lượng gia tăng cố vấn Mỹ thuyết phục nhiều người Việt rằng người Mỹ đang sẵn sàng nhận lãnh nhiệm vụ chiến đấu. Người Cộng sản cũng biết được điều đó. Theo một cán bộ MTGP, họ đánh giá rằng các vai trò của Westmoreland và Taylor là “cung cấp năng lực lãnh đạo và tổ chức  cho sự can thiệp leo thang từng bước của Mỹ. Sự phán xét sai lầm của người Việt Nam ở cả hai bên cho rằng Mỹ sẽ sớm gánh vác việc chiến đấu sẽ tạo ra những điều chỉnh chiến lược nghiêm túc sẽ dẫn đến một cuộc chiến toàn diện.

Từ cuộc nói chuyện của ông với Lodge vào ngày ⅘, trong đó ông yêu cầu Hoa Kỳ oanh tạc miền Bắc Khánh tiếp tục thúc giục Mỹ hành động. Những viên chức Mỹ chấp thuận hợp tác lên kế hoạch với QĐVNCH cho những cuộc không kích leo thang và các lựa chọn khác, nhưng họ yêu cầu Khánh kiềm chế không bàn bạc công khai khả năng này. Các tướng Mỹ, tuy nhiên, đã bí mật chủ trương tấn công có hạn chế chống VNDCCH nhằm ép buộc Hà Nội ngừng hậu thuẫn cho MTGP.  Johnson đã khước từ lựa chọn này vì sợ mở rộng chiến tranh, nhưng ông cho phép những vụ không kích nhỏ và phân loại cao chống miền Bắc. Với tình trạng giao tranh ở nông thôn tồi tệ thêm, một bộ phận báo chí miền Nam bắt đầu kêu gào lộ liễu Hoa Kỳ hãy tấn công miền bắc. Trong khi nhìn nhận không úp mỡ càng lúc càng cần thiết phải yểm trợ quân sự, Johnson vẫn quyết tâm tránh can thiệp trực tiếp, nhất là vì chiến dịch tranh cử tổng thống Hoa Kỳ đang đến gần.

Tuy nhiên, khi Taylor đến, Khánh lại tiếp tục thúc ép sự lựa chọn này. Khi ông gặp sự phản đối tiếp tục của người Mỹ, lễ kỷ niệm 10 năm ký Hiệp định Geneva 1954 đang đến gần cho ông một cơ hội.

Chính quyền đã lên lịch tổ chức một buổi mít tinh lớn vào ngày 19/7 để tố cáo việc ký kết hiệp định chia đôi đất nước. Sau khi 200,000 đã tề tựu tại trung tâm Saigon, Khánh phát biểu trước đám đông. Tuyệt vọng tìm cách tập họp các giai tầng xã hội miền Nam, ông kêu gọi Phật tử, các tín đồ Công giáo, và các sinh viên sát cánh bên nhau để cứu quốc. Rồi Khánh kêu gọi đám đông đoàn kết để có thể Bắc Tiến giải phóng miền Bắc khỏi bọn áp bức Cộng sản và thống nhất đất nước.

Đối với Khánh, Bắc Tiến là một lời kêu gọi tập họp cho nhân dân bị bao vây của ông hơn là một lời kêu gọi hành động thực tiễn. Tuy nhiên, các viên chức ở Washington, vốn rất nhạy cảm trong thời gian chạy đua tổng thống với bất cứ lời phát biểu nào về việc mở rộng chiến tranh. đọc nó theo nghĩa đen và phản ứng. Rusk ngay lập tức gọi điện cho Taylor hãy cảnh báo Khánh không được buột miệng công khai thêm về việc mở rộng chiến tranh. Taylor trả lời rằng mặc dù Khánh đã “phát động một chiến dịch có tính toán để liên kết Hoa Kỳ với chính sách gia tăng sức ép chiến tranh lên miền Bắc,” diễn văn của ông đã được tạo hình bởi những sức ép nội địa hơn là mong muốn xâm lược miền Bắc. Theo Taylor, Khánh tin rằng mình cần vượt qua một lô vấn đề gồm tình hình mệt mỏi vì chiến tranh, xung đột tôn giáo, thành viên nội các bắn tỉa, báo chí kích bác, và ngoại giao thất bại. Taylor thấy rằng “dường như Khánh đã đi đến kết luận rằng chỉ những công cụ chống nổi dậy đáng thất vọng và vô hiệu quả của bộ máy chính quyền dưới quyền mình thì không đủ để chế ngự Việt Cộng. Ông và đồng sự của mình dường như đã quyết định rằng họ chỉ có thể dẹp tan việc quấy rối của Việt Cộng bằng cách áp đặt sức ép trực tiếp lên miền Bắc.”

Đánh giá của ông về quan điểm của Khánh là chính xác, nhưng việc cự tuyệt của Taylor đẩy vị tướng lĩnh thấp lùn rơi vào một cơn khủng hoảng niềm tin mới ngay vào lúc cuộc chiến chuyển sang giai đoạn quyết liệt. Vào tháng 7, MTGP đã phát động 12 trận tấn công cấp tiểu đoàn, nhiều hơn tổng số các trận đánh trong 5 tháng đầu năm 1964. Giờ thì Khánh tin tưởng hơn bao giờ hết rằng chiến lược của đồng minh hiện giờ mang đến ít hy vọng thắng lợi và đã đến lúc phải tiếp cận cách khác. Các tin đồn cũng vừa bắt đầu nổi lên rằng Khánh, giữa lúc hô hào Bắc Tiến, đang âm thầm tìm kiếm việc thương thảo để kết thúc chiến tranh. Sớm hơn, vào ngày 8/7, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant đã chủ trương việc mở lại hội nghị Geneva 1954 nhằm chấm dứt xung đột.

Quan trọng hơn, hai tuần sau CIA biết tin Khánh đang phái một đặc sứ đến Pháp nhờ Pháp nối lại thương thảo với MTGP. Vài ngày sau đó Tổng thống Pháp Charles De Gaulle công khai lên tiếng kêu gọi mở hội nghị để kết thúc chiến tranh.

Một cách đầy ý nghĩa, Bô Ngoại giao miền Nam bác bỏ đề xướng của Uthant nhưng không nói gì về đề nghị của De Gaulle.

Cùng lúc đó, Lê Văn Hoạch – một trong những bộ trưởng của Khánh, một chức sắc Cao Đài cao cấp, và nhà lãnh đạo trước đây của Cộng Hòa Nam Việt – tiến hành một nỗ lực che đậy nhằm mở ra đàm phán với MTGP. Vào ngày 7/7, bên Anh báo tin cho Bô Ngoại giao của họ rằng vào cuối tháng 6 Hoạch đã báo với đại sứ Anh rằng ông “đã thiết lập liên lạc với Việt Cộng với sự thỏa thuận ngầm của Tướng Khánh. Hoạch chỉ ra sự tiếp xúc có thể tạo ra kênh qua đó việc đàm phán có thể được tiến hành giữa chính quyền miền Nam với Việt Cộng để giải quyết cuộc chiến tại Việt Nam.” Vào cuối tháng 7, đến lượt Hoạch thông báo cho Taylor là mình đang tìm kiếm một cuộc ngừng bắn và thỏa thuận với giới lãnh đạo MTGP. Tuy nhiên, Hoạch chối với Taylor là Khánh có biết việc làm của mình. Khi gặp Taylor, Khánh cũng phủ nhận mình biết việc này. Cả hai đều đang nói dối.

Trong một cuộc phỏng vấn sau đó, Khánh bày tỏ cảm nghĩ của mình. Như Thơ và Minh trước ông. “Chúng tôi phải kéo MTGP đến với chúng tôi. Rồi sau khi chúng tôi đã thỏa thuận được một nền hòa bình với MTGP ở miền Nam, nếu miền Bắc tiếp tục xâm lấn, tôi sẽ tấn công miền Bắc, tôi sẽ ‘bắc tiến’. Tôi là người đầu tiên chủ trương việc đó. Tại sao tôi chủ trương điều đó? Đó là bởi vì chúng tôi không thể vừa chiến đấu ở miền Nam lại vừa tấn công miền Bắc. Chúng tôi không đủ mạnh để làm chuyện đó. . . Vì thế tôi nhờ Ngoại trưởng của tôi, Tiến sĩ Hoạch – Tiến sĩ Hoạch là một người có uy tín lớn ở miền Nam – tôi nhờ ông tiếp xúc với MTGP dùm tôi để đi đến được một giải pháp danh dự”

Đó là tâm trạng của Khánh khi sự kiện Vịnh Bắc Việt xảy ra. Vào ngày 2/8, thuyền ngư lôi của miền Bắc tấn công khu trục hạm Maddox của Hoa Kỳ. Sau khi cho là bị tấn công lần hai hai đêm sau đó, Tổng thống Johnson ra lệnh oanh kích trả đũa chống lại căn cứ thuyền ngư lôi và các khí tài yểm trợ. Vài ngày sau, Quốc hội ủy quyền cho Johnson thi hành bất kỳ biện pháp nào để duy trì an ninh trong khu vực.

Với Hoa Kỳ giờ đã trực tiếp giao tranh, Khánh tin rằng dân miền Nam lúc nào cũng cãi cọ cần một người mạnh mẽ để đem lại ổn định chính trị nhằm đánh thắng địch. Ông lên kế hoạch thay thế các chính trị gia dân sự bằng một chính quyền quân sự, loại bỏ Minh Cồ, chỉnh đốn lại tinh thần chiến đấu quốc dân, và định ra các biện pháp hợp pháp mới để chống lại chủ nghĩa khủng bố của Cộng sản. Theo thống kê chinh thức của chính phủ miền Nam, kể từ đầu năm, đội ám sát của MTGP đã sát hại hoặc bắt cóc hơn 900 viên chức địa phương. Những tổn thất này, kết hợp với tuyên truyền không dứt và đột kích quân sự, đang xói mòn sự hiện diện của chính quyền nông thôn vốn đã suy yếu.

Khi báo chí miền Nam ca tụng các cuộc công kích của Hoa Kỳ lên miền Bắc, Khánh quyết định lợi dụng. Vào ngày ⅞, ông áp đặt lệnh kiểm duyệt báo chí, cấm đình công và biểu tình, và tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Luật cũng giao cho tòa án quân sự quyền được xét xử mọi “vi phạm trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia” và tử hình mọi tên khủng bố hoặc đầu cơ kinh tế. Việc chuyển giao cho tòa án binh, mục đích để giải quyết mức độ khủng bố gia tăng của MTGP, cuối cùng sẽ trở thành một trong những biện pháp bị lăng mạ nhiều nhất.

Khánh cũng nhanh chóng ra lệnh soạn thảo một hiến pháp mới để thay thế cấu trúc lâm thời của Minh. Trong khi tuyên bố mình mong muốn một “đảng đối lập trung thành”, bất kỳ khát vọng nào muốn quay về một chính quyền dân sự đều đã tiêu tan. Như các đồng sự của ông, Khánh tin rằng chỉ có quân đội có thể lãnh đạo đất nước. Một hiện pháp nhanh chóng được thảo ra và trình bày trước một buổi họp của HĐQNCM tại thị trấn nghỉ mát Vũng Tàu vào ngày 16/8. Sau cuộc bỏ phiếu, hiến pháp lập tức được phê chuẩn. Được biết dưới tên Hiến chương Vũng Tàu, Khánh được tuyên bố là chủ tịch và đứng đầu HĐQNCM, do đó loại Minh ra khỏi chức vụ.

Nhân vật chủ chốt ép Khánh chỉnh đốn lại chính quyền miền Nam là Chuẩn tướng Nguyễn Văn Thiệu. Trần Văn Đôn đã thăng cấp ông lên chuẩn tướng vào sáng ngày 2/11 vì lãnh đạo thành công trong vụ đảo chính. Thiệu tiết lộ với một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ vào ngày 27/8 rằng “Hiến chương 16/8 chính là con đẻ của ông; rằng chính ông đã thuyết phục Khánh chính quyền quân sự thực sự là cần thiết ” Cũng giống như những gì ông đã phát biểu vào tháng giêng với Trần Văn Đôn, ông tin rằng chỉ quân đội mới có thể điều hành hiệu quả đất nước. Xét bản lĩnh kém cỏi của các nhà lãnh đạo dân sự hay gây sự, Thiệu tin rằng miền Nam cần một nhà lãnh đạo mạnh mẽ như Diệm nhưng không có máu độc tài và gia đình trị.

Tuy nhiên, Khánh đã đánh giá thấp một cách đáng tiếc người hậu thuẫn nội bộ của ông. Nhà lãnh đạo Phật giáo Trí Quang lập tức lên án sắc lệnh ⅞ và hiến chương 16/8 xem như áp đặt một chế độ độc tài mới. Lợi dụng lễ kỷ niệm một năm ngày bức hại chùa chiền 1963, vào ngày 21/8, Quang phát động các cuộc biểu tình để yêu cầu trả lại chính quyền cho giới dân sự.

Được ông khích động, trong vòng ba ngày, hàng ngũ sinh viên đấu tranh đã lên đến hàng ngàn người. Vào ngày 23/8, những cuộc chống đối ở Saigon, Huế, và Đà Nẵng biến thành bạo động. Khánh, sợ lập lại vụ ở Huế vào tháng 5 1963, ra lệnh cảnh sát không được khai hỏa vào các người biểu tình.

Ra sức giải quyết vấn đề, ngày hôm sau Khánh đến gặp Quang và một vài lãnh đạo Phật giáo khác. Nhà sư có đầu óc âm mưu tuyên bố rằng một âm mưu bí mật bởi một phe nhóm Cần Lao, Công giáo và Đại Việt đang len lỏi vào ngay trung tâm chính quyền và Khiêm và Thiệu là thủ phạm chính. Ông đòi hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu và thay thế bằng một hiến pháp mới và HĐQNCM bầu ra một tổng thống và sau đó giải tán, rằng mọi phần tử Cần Lao và Đại Việt phải bị loại khỏi chính quyền. Nếu Khánh chấp thuận yêu cầu này Quang và Phật tử sẽ ủng hộ ông.

Đương đầu với các tối hậu thư của Quang, Khánh đầu hàng. Ông tin rằng ông không thắng cuộc chiến nếu không được sự hậu thuẫn của Phật giáo, và cũng không muốn tạo ra những kẻ tử đạo nếu bắn vào người biểu tình. Vào ngày 25/8, Khánh triệu tập HĐQNCM. Họ bỏ phiếu để hủy bỏ hiến chương Vũng Tàu. Một cuộc họp khác của HĐQNCM sẽ được tổ chức vào ngày hôm sau để bầu ra một lãnh đạo mới. Mặc dù Quang gởi cho Khánh một bức thư cam kết ủng hộ ông, chiều hôm đó Khiêm và Thiệu bất đầu tiếp xúc với các thành viên HĐQNCM khác, tìm cách hất cẳng Khánh tại buổi bỏ phiếu và thay ông bằng Tướng Minh. Mặc dù cả hai không ai không biết về tính lười nhác của Minh, Khiêm cho rằng Quang đang “vận động một cách ráo riết cho giải pháp trung lập hóa miền Nam,” khẳng định rằng nỗi sợ xưa cũ về việc trung lập vẫn còn ám ảnh nhiều người Quốc gia.

Một lý do che giấu việc Khánh quá sốt sắng chấp thuận đòi hỏi của Quang chỉnh đốn chính quyền là vì Khánh muốn loại bỏ những người Đại Việt trong chính quyền mình. Tuy nhiên, Đại Việt không ra đi lặng lẽ. Bực dọc vì Khánh đã cúi đầu trước những yêu sách của Phật giáo và biết rõ mưu tính loại trừ mình, các lãnh tụ Đại Việt quyết định tiến hành một cú đảo chính. Giới lãnh đạo đảng tổ chức họp khẩn cấp và bàn kế hoạch chiếm chính quyền. Lịch sử đảng đã nói rõ, “Thỏa theo yêu cầu của Khánh, Hoàn và Huy sẽ rời nước đi lưu vong. Việc này sẽ khiến tâm trí Khánh dễ chịu và cả tin sinh ra chủ quan. Rồi, vào ngày 1/9/1964, một cuộc đảo chính sẽ được tiến hành nhằm lật đổ Khánh. Ủy ban Quân sự Đảng Đại Việt trao trách nhiệm tổ chức đảo chính cho Đại tá Huỳnh Văn Tồn,” giờ là sư đoàn trưởng Sư đoàn 7.

Nghe được hơi hám của âm mưu, vào sáng ngày 26/8, Taylor vội vã đến gặp Minh báo tin là Hoa Kỳ cực lực phản đối một vụ đảo chính. Cũng khẩn cấp không kém, Taylor phái các đặc sứ đến gặp Khiêm và Thiệu để cảnh báo họ chống lại. Nỗ lực có kết quả. Thiệu bảo với đại diện Mỹ rằng trong khi bản thân ông tin Khánh đã trở nên “cuồng si quyền lực”, và giờ đây ông “cảm thấy buộc lòng phải ứng hộ Khánh vì người Mỹ hăm dọa rút lại sự hậu thuẫn nếu có thêm một vụ đảo chính nữa.” Lịch sử Đại Việt phát biểu ngắn gọn rằng “Đối điện với phản ứng mạnh mẽ bất ngờ này, Ủy ban Quân sự Đảng buộc phải thối lui và tìm kiếm giải pháp khắc”

Tại buổi họp HĐQNCM vào ngày 26/8 Khánh tiến hành một “cuộc tấn công dữ dội vào Đại Việt, kết án họ, và đặc biệt Phó Thủ tướng Hoàn, vì tội chỉ biết quan tâm phát triển đảng mình. . . Khiêm phản đối những nhận xét của Khánh về Đại Việt; tuyên bố rằng ông là người chịu trách nhiệm cho cuộc đảo chính tháng 11 1963 và tháng giêng 1964, và ông nói rằng Khánh phải bị thay thế.”

Mặc dù cuộc trao đổi diễn ra trong không khí thù địch, nhiều thành viên HĐQNCM yêu cầu Khánh giữ lại chức thủ tướng như trước đây nhưng ông từ khước trừ khi ông được sự ủng hộ hoàn toàn của các tướng. Mặc dù nhạy cảm trước lời hăm dọa của Taylor, cả Khiêm và Thiệu đều yêu cầu Minh giữ lại chức chủ tịch, nhưng Minh cũng thoái thác. Không có lãnh đạo rõ ràng, sau hai ngày trao đổi gay gắt, HĐQNCM biểu quyết giải tán và thành lập một tam đầu chế với Khánh, Minh, và Khiêm để lãnh đạo đất nước.

Minh được giao nhiệm vụ thành lập một Hội đồng Quốc gia Tối cao, một bộ phận đặc biệt gồm những nhân vật nổi tiếng sẽ lập một chính quyền mới và soạn thảo hiến pháp. Tam đầu chế tạm thời điều hành đất nước cho đến khi hiến pháp soạn thảo xong. Khi đó họ sẽ từ nhiệm và trả lại quyền lực chính trị cho dân sự. Hạn chót được ấn định là ngày 27/10. Khánh bảo với Taylor rằng, xét sự chống đối mạnh mẽ của Phật tử, ông muốn loại bỏ quân đội ra khỏi chính trường. Tuy nhiên, ông nói rằng lực lượng vũ trang luôn cảnh giác trong tình huống có bất kỳ chính quyền dân sự nào tìm cách liên minh hoặc chọn giải pháp trung lập, một phát biểu che đậy nếu biết ông đã từng lén lút đi theo chính đường hướng ấy.

Sau buổi họp HĐQNCM, Khánh tổ chức họp báo trong đó ông công khai lên án mưu toan đảo chính của Hoàn và đảng Đại Việt. Rồi, cáo lỗi vì lý do sức khỏe, ông tuyên bố từ chức và lui về Đà Lạt tịnh dưỡng. Dù có những nỗ lực xoa dịu Quang, nhà lãnh đạo Phật giáo đã đốt quá nhiều lửa sân hận tôn giáo đến nỗi ông thậm chí không còn có thể chịu được những cuộc xuống đường chống đối. Bạo lực kỳ thị tôn giáo đẫm máu bùng phát giữa đám khích động Công giáo và Phật giáo, với hơn một chục người chết. Không còn giải pháp nào khác, quân đội phái một tiểu đoàn Dù vào Saigon để dẹp biểu tình. Trật tự chẳng bao lâu được vãn hồi bằng bá súng và lưỡi lê.

Sau cuộc họp báo của Khánh, vào ngày 1/9, Hoàn, công khai kể ra nhiều khó khăn mà Khánh gây ra cho mình, rồi từ chức. Cùng ngày đó, Khánh yêu cầu và nhận được những lời tuyên thệ trung thành có chữ ký của tất cả bốn tư lệnh quân đoàn và từ Khiêm với Thiệu. Thậm chí cho dù Khánh và chính quyền đã chấp nhận miễn cưỡng những yêu sách của Trí Quang, nhà sư vẫn phát đi một tối hậu thư khác. Giờ thì ông đòi bảy tướng lĩnh chủ chốt phải từ chức, trong đó có Khiêm và Thiệu. Cân nhắc yêu cầu mới này, Khiêm đành phải ra nước ngoài một vài tháng để “xoa dịu Phật tử… Khiêm nói mình đã nói chuyện với Quang vào cuối ngày 1 tháng 9. Quang đã trực tiếp bảo với Khiêm rằng ông ta không tin Khiêm và rằng Khiêm thế nào cũng hất Khánh và thành lập một chính quyền Công giáo làm phương hại cho phong trào Phật giáo. “

Trong khi Khánh chấp nhận lời đề nghị của Khiêm, Khánh giờ đã tin vào lòng trung thành của Thiệu, tuyên bố Thiệu trước tiên là một quân nhân sau đó mới là người của Đại Việt. Vào ngày 4/9, Khiêm và Thiệu cam kết hậu thuẫn cho Khánh làm người cầm đầu chính quyền và nói rằng họ đã cắt đứt liên hệ với Đại Việt. Khánh, giờ được sự hậu thuẫn của quân đội và Phật giáo, từ Đà Lạt trở về Saigon và nắm lại quyền hành. Ông lập tức ra lệnh cho Hoàn và Huy phải rời bỏ xứ. Mặc dù Khánh tưởng rằng mình đã lật kèo Đại Việt, một lần nữa, ông đã lầm.

CƠN GIÃY CHẾT CỦA ĐẠI VIỆT

Tưởng rằng mình đã loại trừ được mối đe dọa Đại Việt, Khánh tiến tới kiếm thêm sự hậu thuẫn trong quân đội. Ông phóng thích bốn tướng lĩnh ở Đà Lạt và cho họ những chức vụ trong chính quyền mới. Khánh giờ xem các tướng cao cấp này không như những tay sai của Pháp mà như một bức tường ngăn chặn các tướng lĩnh Công giáo không tán thành với khuynh hướng thân Phật giáo của ông. Các ông tướng đồng ý, và ngày trở lại Saigon được ấn định là 13/9.

Tuy nhiên, Khánh đã không tính đến viên thiếu tướng bốc đồng Dương Văn Đức, chỉ huy Quân đoàn IV, và niềm cảm hứng cho việc loại trừ bốn tướng lĩnh trong cuộc đảo chính 30/1. Bực bội vì việc Khánh đầu hàng Phật tử và nổi nóng vì vụ thả tự do cho bốn tướng lĩnh, Đức và Đại tá Huỳnh Văn Tồn hạ thủ. Lúc 4 giờ sáng ngày 13/9, các đơn vị Sư đoàn 7 của Tồn bắt đầu lăn bánh về phía Saigon. Tới 10 giờ sáng, họ đã đánh chiếm những vị trí ở thủ đô. Là một trò hề hơn là một cuộc nổi dậy thực sự, không bắn một viên đạn nào, và dân chúng Saigon không hề biết chuyện đó.

Đức và Tồn liền được Chuẩn tướng Lâm Văn Phát, người gần đây bị tống khứ với vai trò bộ trưởng nội vụ, tham gia. Tồn cưới em gái của Phát, và ông đồng ý để Phát soạn thảo và thông báo cương lĩnh chính trị cho lực lượng đảo chính. Thông báo điên dại của ông trên đài Saigon rằng ông muốn phục hồi đường lối điều hành của Diệm khiến các chỉ huy khác xa lánh. Nhiều người quy tụ đến với Khánh đang tơi tả, phớt lờ những lời khẩn cầu của Đức và Phát. Họ khinh bỉ những sĩ quan như Đức, mà họ xem như ô uế không cứu chữa được vì được Pháp đào tạo và mắc bệnh tự cao tự đại.

Các mưu toan chính trị này trong tháng vừa qua đã làm phẫn nộ một nhóm tướng lĩnh trẻ hơn, vừa được thăng cấp. Họ đã liên minh thành một phe nhóm lấn át  mới được biết dưới tên Young Turks. Thoạt đầu nhóm chỉ gồm khoảng 10 sĩ quan giữ những chức vụ chỉ huy chiến lược.

Chỉ huy Không lực 34 tuổi Nguyễn Cao Kỳ từ từ trỗi lên như phát ngôn nhân của nhóm, và chẳng bao lâu ông sẽ trở thành nhân vật quyền lực nhất miền Nam.

Kỳ sinh ngày 8/9/1930, tại Sơn Tây, Bắc Việt Nam. Được người Pháp gọi vào lính, ông đã tốt nghiệp học viện quân sự Nam Định do người Pháp điều hành tại Hà Nội vào tháng 5 1952. Kỳ trở thành thiếu úy và được giao chỉ huy trung đội bộ binh, và ông đã từng đánh trận lớn. Được nhận vào trường phi hành, ông tốt nghiệp vào tháng 9 1954 và vào giữa 1955, ông được giao chỉ huy Đội Vận chuyển 1 thuộc Không lực Việt Nam. Kỳ không che giấu việc mình không ưa Diệm và đã tính đến việc tham gia vụ đảo chính 1960, nhưng rồi ông đã nghĩ lại. Mặc dù bị Diệm ngờ vực, Kỳ tránh được sự trừng phạt và vẫn giữ được chức vụ. Ông đã hăng hái tham gia cuộc đảo chính 1963. Cá tính đầy màu sắc và chức vụ đứng đầu Không lực khiến ông có thể lên cấp bậc nhanh chóng, và cơn giãy chết mới này tạo cho Kỳ cơ hội chiếm trung tâm sân khấu.

Nhóm Young Turks có cả Cao Văn Viên, chỉ huy Lữ đoàn Dù, và Lê Nguyên Khang, chỉ huy Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến. Kỳ và Khang là bạn cũ. Cả hai đều sinh ở Sơn Tây, và cùng học trường quân sự Nam Định với nhau. Sau khi nghe bài phát thanh của Phát, và quá chán ngấy với các âm mưu không dứt, nhóm Young Turks hậu thuẫn Khánh, không vì sự lãnh đạo của ông mà để ngăn đất nước trôi dạt về tình trạng vô chính phủ trong khi MTGP ngày càng mạnh lên.

Với phần lớn dân chúng không hay biết gì về cảnh ngoạn mục, và không có chỉ huy nào khác hậu thuẫn Đức, Khánh yêu cầu nhóm Young Turks đàn áp vụ đảo chính. Kỳ đe đọa sẽ không kích Đức nếu y tiến quân xa hơn. Một thành viên khác, Nguyễn Chánh Thi, giờ chỉ huy Sư đoàn 1, bay đến Saigon và thẳng thừng bảo với Đức hãy lui quân nếu không muốn bị tấn công.

Thiệu, đang ở bộ Tổng Tham mưu Liên quân, bắt liên lạc với Khánh ở Đà Lạt và cam kết trung thành với ông. Ông và Khiêm liền công khai lên án vụ đảo chính, và Khánh ra lệnh Thiệu đến với ông ở Đà Lạt, đập tan mọi hy vọng của Đại Việt muốn lôi kéo quân đội về phe mình. Không có hậu thuẫn trong nội bộ, vào chiều ngày 14, vụ đảo chính sụp đổ.

Thật khó mà gọi cái chương hồi phi lý này là điểm thấp nhất của chính trường miền Nam, vì những sự kiện cứ tiếp tục nảy lên bật xuống trong chiếc máng tận đáy của sự vô vọng nhiều tháng trời. Khánh đã sống sót một thử thách chính trị khác, chủ yếu nhờ ông xây dựng một đồng minh với các Phật tử, nhóm Young Turks, và người Mỹ. Mối liên minh này là  cuộc hôn nhân vì thuận tiện đối với mong ước được ổn định chính quyền và tiếp tục chiến đấu.

Khánh bắt giữ các chủ mưu đảo chính, và vào tháng 10 hơn 20 sĩ quan bị đưa ra tòa án binh xét xử. Đức bào chữa cho rằng đây không phải là đảo chính mà chỉ là “phô trương lực lượng,”, một cuộc biểu dương nhằm thuyết phục Khánh chỉnh đốn đường lối của mình. Vào ngày 23/10, toà nhất trí xứ họ vô tội, nhưng ngay khi phiên tòa kết thúc, những tên thủ phạm được mang ra trước Hội đồng Kỷ luật Quân sự do Khánh đứng đầu. Nhóm Young Turks muốn các sĩ quan phải bị trừng trị nghiêm khắc, và họ tức giận khi Khánh chỉ đưa ra những bán án nhẹ. Đức và Phát bị án 60 ngày giam và đuổi ra khỏi quân ngũ. Tồn bị giam 30 ngày và bị đuổi. Các sĩ quan khác bị phạt tù ngắn ngày và cho trở lại quân ngũ.

NHỮNG DƯ CHẤN

Nếu có ai đó ra khỏi sự kiện này và trở nên hùng mạnh, thì đó là Nguyễn Văn Thiệu. Lòng trung thành được minh chứng đối với chỉ huy mình hơn là đối với một chính đảng, một tình cách có từ thời Tướng Hinh vào 1954, lấy được lòng biết ơn của Khánh và sự tôn trọng của nhóm Young Turks. Khánh tưởng thưởng Thiệu bằng cách bổ nhiệm ông làm tư lệnh mới của Quân đoàn IV. Trong những tháng sau đó, vị sĩ quan trầm tĩnh xuất thân từ Tỉnh Ninh Thuận sẽ đi tới gần hơn đỉnh cao quyền lực. Việc Thiệu chọn hướng giữ lòng trung thành với Khánh trong vụ đảo chính 13/9, cũng như quyết định gia nhập Đảng Cần Lao, sẽ thay đổi một cách ấn tượng cuộc đời ông cũng như số phận của miền Nam.

 Tuy nhiên, Khiêm không quá may mắn như thế. Vào ngày 21/9, ông báo tin cho một viên chức cao cấp Mỹ rằng Khánh đã giữ ông tại Đà Lạt trong một tuần để điều tra ông về việc dính líu vào vụ đảo chính. Theo Khiêm, Khánh đã hóa ra “ngờ vực” đồng đội mình, nghi ngờ “tính chân thực của các phát biểu của người Mỹ”, và đã trở nên”hay phê phán sứ quán Mỹ”. Cuối cùng Khánh miễn tội cho ông vào ngày 20/9, nhưng thậm chí sau khi Khiêm đã được giải tội, mối quan hệ giữa hai người bạn cũ vẫn căng thẳng. Tệ hơn, kẻ thù của Khiêm đang tập họp lực lượng, và giờ đây thời gian của ông trong ánh mặt trời đã qua rồi. Đáp lại cho sự  tiếp tục hậu thuẫn Khánh, nhóm Kỳ nhấn mạnh là Khiêm và một vài tướng lĩnh lão thành khác hoặc phải rời xứ hoặc bị đuổi ra khỏi quân đội.

Nguyễn Chánh Thi cũng góp sức trong việc thuyết phục Khánh loại bỏ Khiêm. Thi còn ôm hận đối với Khiêm vì cuộc đảo chính 1960 thất bại. Khiêm hội tụ mọi thứ mà ông khinh bỉ: được Pháp đào tạo, một điền chủ người nam, một người bỏ đạo sang Công giáo vì lợi lộc bản thân, một búa rìu của Đảng Cần Lao, và một tên âm mưu đảo chính. Vậy mà Khiêm vẫn trỗi dậy với quyền lực và thăng cấp. Tất cả những thuộc tính này đã trộn lẫn tạo thành mối hận thù kỳ lạ đối với Khiêm. Giờ là lúc phải trả lại cho thời gian lưu vong của Thi ở Cao Miên. Với Trí Quang cũng yêu cầu Khánh loại Khiêm, vào đầu tháng 10, Khánh cử Khiêm đến Mỹ làm đại sứ miền Nam.

Khánh cũng gởi tên xúi giục thâm căn, Phạm Ngọc Thảo, đến Washington để phục vụ trong sứ quán. Khiêm, tất nhiên, bất bình vì bị tống khứ. Trong một buổi họp với một viên chức CIA ở Washington vào ngày 14/12, Khiêm “xỉ vả việc Khánh dung túng sự bất đồng chính kiến của Phật giáo, và nói rằng chỉ có thiếu chứng cứ trực tiếp về chủ trương trung lập của phe Phật giáo và chủ nghĩa chống Mỹ ngăn cản ông không tiến hành đảo chính chống Khánh.” Cơn căm giận của Khiêm đối với bạn thân cũ của mình rất sâu xa, bởi vì không lâu sau đó, Thảo biến mất khỏi sứ quán. Để vợ và con ở lại Mỹ, ông trở về Việt Nam vào đầu tháng giêng 1965 để bày thêm nhiều cuộc đảo chính nữa theo mệnh lệnh của Khiêm.

Dù có thắng lợi của Khánh, miền Nam có vẻ gần như không người cầm lái, và phần còn lại của tháng 9 không thấy có ai đến cứu viện. Vào ngày 20/9, những hiềm khích ung mủ từ lâu giữa người Thượng và người Kinh về quyền tự trị sụp đổ. Các thành viên từ bộ tộc Ra-đê phục vụ dưới quyền cố vấn Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ kết phe với tổ chức đồng bào Thượng ly khai có tên FULRO (Mặt trận Thống nhất Đấu tranh các Sắc tộc bị Áp bức). Họ đánh chiếm Ban Mê Thuộc, thành phố lớn nhất trên Cao nguyên Trung phần phía nam, bắt được một số tù binh, và tàn sát 70 người Kinh trong vài cuộc giao tranh. Dân quân Ra-đê cầm cự hơn một tuần mặc dù liên tiếp được kêu gọi buông súng. Yêu sách của họ bao gồm một vùng tự trị cho người cao nguyên và ngừng lại việc các dân định cư người Kinh chiếm đất đai của họ. Chính sách dưới thời Diệm đã cổ vũ cho việc đổ xô tìm đất, và thống kê của người Mỹ cho thấy từ năm 1953, gần 150,000 người Kinh đã xông lên cao nguyên, làm trầm trọng thêm tình hình căng thẳng sắc tộc đã tồn tại. Chỉ sau nhiều cuộc thương thảo kéo dài được các chỉ huy Mỹ ở địa phương tiến hành cùng với lời hăm dọa của Khánh sẽ dội bom để dập tắt cuộc nổi dậy thì người Ra-đê và FULRO mới chấm dứt cuộc khởi nghĩa của họ.

Những vấn đề với Cao Miên cũng trở lại làm điên đầu Khánh. Vào ngày 4/9, các đơn vị quân đội Cao Miên nã pháo xuống một ngôi làng Việt Nam, và chiến đấu cơ MIG của Cao Miên săn đuổi và bắn vào hai máy bay miền Nam. Dân chúng miền Nam, nổi giận vì các sự kiện này, ép buộc Khánh đáp trả. Vào ngày 20/9, ông mở cuộc họp báo và hăm dọa phong tỏa Sông Mekong nếu Sihanouk tiếp tục vi phạm biên giới. Cho dù dán cho Sihanouk nhãn hiệu “thù địch”, Khánh vẫn một lần nữa đưa ra đề nghị giải quyết tranh chấp biên giới, nhưng chỉ khi chủ tịch Cao Miên bày tỏ “thiện chí”. Nhận thức được Saigon đang rối beng, vào ngày 1/9, Bộ Chính trị đánh điện cho Trung ương Cục miền Nam, ra lệnh họ tăng cường đấu tranh chính trị trong các thành phố, đặc biệt trong “các tầng lớp lao động”. Sau khi lưu ý rằng chính quyền miền Nam đang mắc kẹt trong một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, Trung ương Cục miền Nam được chỉ thị kích động bất ổn mới bằng cách kết nạp “một số trí thức và nhân vật nổi tiếng có uy tín và cài đặt họ làm đại diện các phong trào đòi quyền sống  và dân chủ của nhân dân để lôi kéo một số lượng lớn người đi theo.” Được biết dưới tên Bộ phận Địch Vận Trí thức, những nỗ lực này đã được đền đáp, và trong vòng một năm phong trào đòi hòa bình sẽ xuất hiện trong số  băng nhóm nhỏ của giới trí thức tả khuynh Saigon.

Hà Nội thường bị lên ăn, hoặc ít nhất bị nghi ngờ, là đã quậy lên các cuộc biểu tình của sinh viên và Phật tử vào cuối tháng 8, nhưng đảng đã không kể công trạng cho những cuộc quấy rối này. Nhưng các cuộc đảo chính bất thành và làn sóng thắng lợi chiến trường lên cao của MTGP đã thuyết phục Hà Nội rằng chính quyền miền Nam sắp sửa sụp đổ về phương diện chính trị. Vào cuối tháng 9, Bộ Chính trị đưa ra một quyết định hệ trọng: “Chúng ta phải động viên toàn Đảng, toàn bộ đội, và toàn dân, tập trung mọi nguồn lực để bảo đảm một thắng lợi quyết định trong vài năm tới.” Bộ Chính trị ra lệnh Sư đoàn 325, đã được chuẩn bị hàng tháng trời để đi Nam, bắt đầu lên đường vào miền Nam. Cũng quan trọng không kém, họ cử Tướng Nguyễn Chí Thanh  vào miền Nam để nắm quyền chỉ huy trực tiếp nỗ lực của chiến tranh. Chỉ thị cho Nguyễn Chí Thanh thật đơn giản: tổ chức các đội hình tác chiến chủ lực, khởi phát trận đánh quy mô lớn, và chinh phục miền Nam. Sẽ không có đàm phán kết thúc chiến tranh trừ khi người Mỹ đồng ý với các điều kiện rút quân của Hà Nội, giải tán chính quyền hiện thời, và thay bằng một chính quyền liên hiệp hoặc trung lập hóa đất nước. Trung lập hóa và chính quyền liên hiệp sẽ được nhanh chóng tiếp nối bằng việc thống nhất dưới quyền kiểm soát của Hà Nội. Chính sách này, theo nhiều hình thức và hoán đổi khác nhau, về bản chất sẽ giữ nguyên vẹn cho đến tháng 10 1972.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s