Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 1)

aaa

George J. Veith 

Trần Quang Nghĩa dịch

 GIỚI THIỆU 

Sáng sớm ngày 2 tháng 11 năm 1963, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu hốt hoảng nhảy xuống xe jeep và vội vã chạy đến một xe thiết giáp đang đỗ bên ngoài bộ chỉ huy quân sự Miền Nam tại Phi trường Tân Sơn Nhất. Trong suốt 18 tiếng đồng hồ vừa qua, ông đã chỉ huy lực lượng quân sự ở Saigon lật đổ chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm. Bên trong xe thiết giáp là hai thi thể xé toạc của Diệm và bào đệ của tổng thống, Ngô Đình Nhu. Thiệu chỉ tham gia đảo chính sau khi được bảo đảm là Diệm và gia đình ông ta sẽ không bị sát hại. Giờ ông cần phải xác nhận cái tin choáng váng này, để chắc chắn là những lời hứa hẹn với mình và các bạn đồng mưu đã thực sự bị bội ước. Đại tá Thiệu ra lệnh cho người lái mở cánh cửa sau. Những năm sau đó, ông nhớ lại chứng kiến thi thể của hai anh em nằm trong vũng máu làm ông buồn nôn. Ông chào họ, rồi dỡ mũ sắt và cúi đầu thật thấp về hướng họ. Giây phút khủng khiếp này, dù chỉ là một giọt nước trong dòng sông bát ngát của lịch sử Việt Nam hiện đại, đánh dấu sự chuyển giao biểu tượng từ Đệ Nhất Cộng Hòa của Diệm sang Đệ Nhị Cộng Hòa và Tổng thống Thiệu bốn năm sau đó. Trong thời khắc đau khổ đó, lịch sử chính trị của Miền Nam mãi mãi thay đổi.

Thiên sử đấu tranh của người Việt phi-Cộng sản nhằm xây dựng một quốc gia có chủ quyền có tên gọi Việt Nam Cộng Hòa, được biết nhiều hơn dưới tên Nam Việt Nam, có thể được xem như một vở kịch bốn màn: Nhà nước Việt Nam của Bảo Đại, Đệ Nhất Cộng Hòa của Diệm, thời gián đoạn bốn năm kế tiếp, và, cuối cùng, Đệ Nhị Cộng Hòa của Thiệu. Sử gia Brett Reilly đã duyệt lại những nỗ lực thường bị bóp nghẹt của cựu hoàng Bảo Đại nhằm tạo ra một nhà nước phi-Cộng sản. Những sử gia khác như Mark Moyar, Edward Miller, Geoffrey Shaw, và Jessica Chapman đã khảo sát việc trị nước của Diệm một cách chi tiết. Những gì còn lại gần như không được xem xét là bốn năm gián đoạn theo sau việc ám sát Diệm, cuộc bầu cử tiếp theo của Nguyễn Văn Thiệu, và cuộc đời ngắn ngủi của Đệ Nhị Cộng Hòa.

Mục đích của tôi là đánh giá và bổ sung một tái thẩm định sâu xa hai thời kỳ cuối cùng cho các khảo cứu đã tồn tại. Quyển sách này xem xét những nỗ lực bị hành hạ rồi thất bại  của người Nam Việt Nam nhằm đạt tới một nhà nước độc lập. Nó tập trung vào cuộc đấu tranh giữ gìn vùng nông thôn, những lươn lẹo và mưu mô của các tiến trình chính trị, những toan tính hàn gắn sự đoàn kết dân tộc, và quá trình tiến hóa của các mối quan hệ phức tạp về xã hội, sắc tộc, và tôn giáo của Nam Việt Nam. Kinh tế cũng được xem xét cẩn thận vì nó có ảnh hưởng lớn hơn người ta thường biết. Các học giả cũng thường lướt qua việc Thiệu nhấn mạnh giải pháp hòa bình và thắng trong kỳ tuyển cử để chống lại người Cộng sản.

Vì nhu cầu, tôi tập trung về các vấn đề ở Saigon hơn là ở các tỉnh. Các lĩnh vực quân sự và các quyết định chính trị được quyết ở Hà Nội và Washington chỉ được đề cập khi cần nhấn mạnh những điểm nổi bật hoặc mình họa bằng cách nào những đánh giá của họ tác động đến tiến triển của nền cộng hoà. Nhiều nước đi của Hà Nội và Washington là phản ứng lại với các sự kiện xảy ra ở Saigon, một quan hệ nhân quả đã thường bị quên đi một cách đáng ngạc nhiên. Nam Việt Nam luôn là trung tâm của cuộc chiến, và quyển sách này sẽ giải thích tại sao.

Mặc dù mục đích của tôi là khảo sát  trải nghiệm của Nam Việt Nam, tôi không đào sâu vào những câu hỏi như chủ nghĩa chống thực dân, sinh thái học, hoặc chỗ đứng của xứ sở này trong cuộc xung đột địa chính trị Chiến tranh Lạnh. Những sử gia khác đã viết hoặc đang trong tiến trình xem xét các chủ đề quan trọng này. Tôi cũng gác qua một bên câu hỏi liệu chính quyền Hoa Kỳ có đáng phải tham gia vào cuộc chiến nơi miền đất xa xôi đó. Cuối cùng, vì không có những nhãn hiệu được công nhận chung cho hai bên đối địch, và vì người Nam Việt Nam tự xưng mình là người Quốc gia, tôi sẽ sử dụng từ đó cho những ai chống cộng, còn sẽ dùng người Cộng sản cho ai đi theo Hồ Chí Minh.

Trong khi sự đối đầu giữa hai kình địch này có tính đa tầng, chủ yếu nó là cuộc xô xát giữa hai quan điểm chống đối nhau khốc liệt về cách thức hiện đại hóa và kiến tạo đất nước Việt Nam. Cũng có một cuộc tranh luận giằng co về cùng chủ đề này trong phe Quốc gia, sẽ cho thấy đó là yếu tố chính trong câu chuyện này. Người Quốc gia cãi cọ nhau gồm hai phe, phe này muốn cai trị thông qua một mô hình chính quyền  trung ương tập quyền, con phe kia chủ trương nhắm đến một hình thức dân chủ kiểu Việt Nam cho địa phương nhiều quyền hành hơn. Vấn đề của người Quốc gia là làm sao để loại bỏ những đường lối cũ và những định chế đã thất bại và thay thế chúng bằng những ý tưởng mới và những thiết chế hiện đại để phát triển một nhân dạng cộng hòa bao hàm cho một đất nước đa sắc tộc và đa tôn giáo. Cuộc chiến giữa người Cộng sản và Quốc gia, và giữa người Quốc gia với nhau, là làm sao để đạt được tầm nhìn chính trị đó.

Trong cuộc chiến, và trong nhiều năm sau đó, Nam Việt Nam được phán xử như một chính quyền tham nhũng. Thể văn thì đơn giản: Hà Nội là con chiên được xức dầu thánh của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam còn Saigon tất định là phải sụp đổ.

 Với sự thất thủ bi thảm của đất nước vào tháng 4 1975, những phán xử này dường như được chứng minh và do đó không cần phải xét lại. Người Nam Việt Nam, tuy nhiên, có câu chuyện riêng của mình, một câu chuyện đã bị người nước ngoài đa phần phớt lờ. Như một người người bạn Việt đã bảo tôi, “Chúng tôi có nhiều ước mơ: ước mơ được tự do, ước mơ được độc lập, và ước mơ đưa nhân dân thoát khỏi cảnh đói nghèo. Người Cộng sản chỉ có một ước mơ: thắng cuộc chiến bằng mọi giá.”

Lập luận chủ yếu được trình bày ở đây là Nam Việt Nam không phải là sản phẩm giả tạo của người Mỹ, và Đệ Nhị Cộng Hòa cũng không phải là chế độ độc tài như Đệ Nhất Cộng Hòa của Diệm. Như chúng ta sẽ thấy, Thiệu và chính quyền của mình đã có những nỗ lực có ý nghĩa để xây dựng một nhà nước dân chủ hiện đại làm vơi đi cái nghèo đói luôn đeo đẳng dân tộc mình, một quá trình mà họ chưa hề nhận được  công trạng. Để hoàn thành nhiệm vụ to tát này, họ phải vượt qua di sản còm cõi mà chế độ thuộc địa Pháp để lại song hành với những vấn đề điển hình gắn liền với công cuộc kiến thiết quốc gia: thiếu sự đoàn kết dân tộc, sự hiềm khích giữa phe quân sự và dân sự, các định chế chính trị lỗi thời, và nhiều nhiều nữa. Tệ hơn, họ phải vượt qua những khiếm khuyết này với một kẻ thù dai dẳng kề dao sát cổ. Vì tính hợp pháp bị tranh cãi là quy luật, chứ không là ngoại lệ, trong những nhà nước mới ra đời, người Quốc gia đối diện với một câu hỏi sống còn: làm sao một nền dân chủ non trẻ và một xã hội mở có thể đánh bại một kẻ thù chuyên chế, một kẻ thù giỏi xâm nhập, giỏi vận dụng tâm lý và chính trị, và giỏi xâm nhập tình báo? Cũng quan trọng không kém, làm sao Nam Việt Nam có thể tự mình sống sót được với mối đe đọa Cộng sản? Câu trả lời đòi hỏi một sự thấu hiểu sâu xa hơn về thử nghiệm của người Quốc gia nhằm tạo ra một nhà nước như mong muốn. Như sử gia quân sự nổi tiếng Michael Howard lập luận, “tách việc tiến hành chiến tranh ra khỏi môi trường trong đó nó xảy ra – về mặt xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế – là bỏ qua, những chiều kích tối thiết để thấu hiểu nó.” Quyển sách này bàn về những chiều kích đó. Việc người Nam Việt Nam bị đánh bại không có nghĩa họ không đạt được tính hợp pháp chính trị. Luận điểm của tôi là họ đã đạt được, nhưng Nam Việt Nam chịu đựng những cơn đau quặn thắt tương tự như nhiều xứ sở mới ra đời, đặc biệt những xứ sở trải qua nhiều năm dài trong một cuộc chiến chết chóc. Suy cho cùng, Nam Việt Nam không thể vừa xây dựng vừa chiến đấu cùng một lúc.

Cần nhớ rằng dân chủ luôn luôn là một tiến trình, nhất là đối với một đất nước mới cố sức tìm một chỗ đứng trong một cuộc chiến khó khăn. Hoa Kỳ cũng từng có những khiếm khuyết về luật pháp giữa các giá trị đặt ra và thực tế thi hành trong thời kỳ khủng hoảng.

Đạo luật Ngoại Kiều Và Chống Nổi Loạn năm 1798, thời Tổng Thống John Adams, cho phép trục xuất, phạt tiền hoặc bỏ tù bất kỳ ai bị coi là mối đe dọa hoặc những ai xuất bản “những bài viết sai sự thật, gây tai tiếng hoặc có ác ý” nhằm chống lại Hoa Kỳ. Trong cuộc Nội Chiến, Tổng Thống Abraham Lincoln đã đình chỉ một số điều trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền, bao gồm quyền tự do ngôn luận và luật phải có trát tòa khi bắt giữ. Ngoài ra, sau vụ khủng bố 11 Tháng 9, các nước đã có nền dân chủ hoàn chỉnh vẫn thông qua một số luật lệ khiến nhiều người theo chủ nghĩa tự do dân sự phải nhíu mày.

Vì ngay cả những quốc gia trưởng thành cũng phải hiệu chỉnh lại trong những thời kỳ khó khăn, nên Nam Việt Nam cũng không ngoại lệ. Khi người Pháp từ chối đưa các thể chế dân chủ vào những thuộc địa Đông Dương, các khái niệm như “tự do ngôn luận” và “đối lập trung thành” chỉ có một chỗ đứng nhỏ ở Miền Nam, một nơi có những trải nghiệm lịch sử rất khác với chúng ta.

Giống như các quốc gia non trẻ khác ra đời  từ chế độ thực dân, trước tiên, Việt Nam Cộng Hòa phải soạn thảo hiến pháp để thể hiện ý định chính trị của mình. Hiến pháp xác định bộ máy nhà nước – cơ quan lập pháp, tòa án và hệ thống an ninh quốc gia – và bộ máy ấy được tạo ra giữa bối cảnh các lợi ích xã hội và tôn giáo đang cạnh tranh gay gắt.

​Điều này đưa chúng ta đến với người đàn ông bí ẩn sẽ có mặt trong những trang sách này – cựu Tổng Thống Miền Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu.

Vì sự nghiệp của ông trải dài cùng với tuổi thọ của đất nước nên qua đó ta có được phương tiện rất tốt để xem xét sự thăng trầm của Miền Nam Việt Nam.

 Cuốn sách này không là tiểu sử Nguyễn Văn Thiệu mà chỉ xác định rằng Thiệu đã đóng vai trò trung tâm trong nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Mặc dù ông có lẽ là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ trong thế kỷ hai mươi nhưng lại ít được phân tích nhất.

Trong hầu hết các ấn phẩm của Hoa Kỳ, Thiệu xuất hiện như một tay chơi cò con trong toàn bộ canh bạc lớn của Mỹ, hoặc phổ biến hơn là một nhà độc tài quân phiệt có các chính sách đàn áp người dân nên đã trực tiếp dẫn đến đất nước sụp đổ. Hơn nữa, những phân tích hạn hẹp về Thiệu thường bị giới hạn trong các sự kiện như các cuộc đàm phán dẫn đến Hiệp Định Hòa Bình Paris. 

Đối với người đàn ông đã ở ngay trong tâm bão Việt Nam từ khi bắt đầu thực hiện vai trò chiến đấu của Hoa Kỳ cho đến chung cuộc của Miền Nam, việc bỏ qua quá trình làm tổng thống của ông Thiệu đã để lại một lỗ hổng trong lịch sử chiến tranh.

Như chúng ta sẽ thấy, Thiệu là người chơi trọng yếu trong việc chuyển Miền Nam từ một chế độ quân sự sang một nền cộng hòa lập pháp. Nhưng làm sao ông đối phó lại với các phe nhóm nội bộ, và làm sao ông giải quyết những thách thức của họ? Ông khác với Tổng thống Diệm ra sao? Phong cách trị nước của ông là gì, làm sao ông quản lý được những đối sách, và lịch trình nghị sự quốc nội của ông là gì? Có thể nào ông tạo ra và rồi quản lý một chiến lược quân sự và kinh tế để đánh bại một đối thủ không khoan nhượng? Đa phần, những câu hỏi này cho đến giờ vẫn chưa được trả lời.

Tại sao các sử gia đã không xăm soi các chính sách của Thiệu hoặc đánh giá những phản ứng của ông đối với các sự kiện nội ngoại? Câu trả lời nằm trong những phán xét đưa ra trong thời chiến. Trong hơn một thập niên, Việt Nam thường là trung tâm của cuộc xung đột Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Các nhà phê bình Tây phương thường tô vẽ Thiệu bằng cùng một bảng màu ý thức hệ phản ánh quan điểm chính trị của mình, và cách ăn nói nóng nảy của họ về ông phản ánh tính độc đoán của kỷ nguyên. Bọn ‘học giả’ phản chiến luôn phân vai ông là một nhà độc tài thối nát, áp bức. Người Cộng sản đồng thời lăng mạ ông là tên phản bội và cánh tay dài cho Đế quốc Mỹ. Ngoài quốc tế, tiếng tăm ông cũng không khá hơn gì.

Tuy nhiên, công luận Miền Nam giữ những quan điểm có nhiều sắc thái hơn. Như những tổng thống khác, điểm đánh giá tán thành ông cũng trồi sụt theo những đề mục thường lệ: an ninh, phồn thịnh kinh tế, hoặc xì căng đan chính trị mới nhất. Những lời kết án như thế thường đông kết dọc theo những đường đứt gãy truyền thống của Miền Nam: người đô thị đấu với nông dân, giáo phái, hoặc thiên kiến tôn giáo. Ông ta có một số người hậu thuẫn, một phân khúc người trung lập, và một bộ phận nhìn ông với vẻ khinh thị. Phần trăm của mỗi nhóm dao động theo thời gian, tùy thuộc tình hình chiến sự hoặc giá lương thực.

Thậm chí với việc Saigon sụp đổ, cũng cần phải xét lại vai trò lịch sử của Tổng thống Thiệu. Ông ta không phải là nhà độc tài đê tiện và thối nát mà phe tả khuynh phản chiến mô tả, cũng không phải là “bù nhìn” của Hoa Kỳ. Trong khi ông có những nét đặc trưng chính trị và quân sự điển hình còn thấy trong một số nhà lãnh đạo chống cộng lão thành ở các nước Á châu khác như Đài Loan và Nam Hàn, vốn xem sự lãnh đạo mạnh mẽ là đối trọng tốt nhất đối với chủ nghĩa Cộng sản, Thiệu cũng quyết tâm tạo ra một xã hội dân chủ, dựa trên quyền sở hữu. Hai thái độ tương phản này luôn lôi kéo ông gay gắt, không bao giờ chịu thỏa hiệp. Đặc biệt, những giá trị dân chủ của ông dường như bị moi móc khi ông là ứng cử viên duy nhất trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1971.

Về cơ bản, Thiệu nhắm đến hai mục tiêu bao quát. Thứ nhất, ông quyết tâm tuyệt đối đánh bại các đối thủ của mình. Quan điểm ông cho rằng bất kỳ thương lượng nào với người Cộng sản đều là con đường trượt dài đến thảm bại là dựa vào kinh nghiệm trực tiếp, chứ không phải là bất kỳ ý thức hệ cứng nhắc và không thực tế nào. Thứ hai, ông muốn xây dựng đất nước mình thành một nhà nước hiện đại, đưa đồng bào mình thoát khỏi cảnh nghèo khổ cùng cực, và cuối cùng dẫn dắt họ vào một điều gì đó giống như nền dân chủ. Tạo một nhà nước hoạt động được có thể nâng cao mức sống vật chất trong khi gắn kết tinh hoa dân chủ vào chất DNA của quốc gia – không chỉ là hình thức – là những mục tiêu cấp bách của ông. Để đạt được điều đó, chính sách của ông vừa tiến bộ vừa cách mạng. Ông duy trì các chính sách của Chính quyền Việt Nam có từ lâu trong một số vùng như những thỏa thuận hòa bình. Ngược lại, ông ra khỏi căn cơ các chính sách của những người tiền nhiệm, đặc biệt trong việc cải cách ruộng đất và tái thiết nền kinh tế. Hơn nữa, ông ra sức làm lại Miền Nam theo mô hình Mỹ bằng cách củng cố quyền tự trị địa phương và làm mới nền hành chính lề mề. Cũng quan trọng không kém, ông làm việc chăm chỉ để cải thiện an ninh nông thôn bằng cách vũ trang cho dân chúng nhằm bảo vệ xóm làng, một sự liều lĩnh căn cơ trong một đất nước mà lòng trung thành của nông dân đối với chính phủ có nhiều nghi vấn. Tóm lại, Thiệu muốn tạo ra sự thịnh vượng cho người nông dân bằng cách cung cấp nhân dân Miền Nam một môi trường tư bản ban cho họ vốn liếng để tự phát triển qua chế độ tự quản.

Điều này không ám chỉ Thiệu là nhà cải cách tự do. Một số cách xử lý cai trị của ông lấy từ các chế độ Á châu tự trị chống cộng khác. Ông có nhiều điểm chung với Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan và Park Chung-hee ở Nam Hàn. Cũng như họ, ông theo đuổi các mục tiêu đối nội trong khi kềm chế sự chống đối chính trị, cho rằng nó sẽ bị Cộng sản giật dây. Mặc dù ông điều tiết những tiếng nói phi-cộng sản khác, và tuy ông công nhận rằng sự đốp chát qua lại quyết liệt trong một xã hội dân chủ là điều thiết yếu để nó tồn tại, ông lại cho rằng sự bất đồng thái quá là một căn bệnh ung thư sẽ làm yếu đi bộ phận chống cộng trong cuộc đấu tranh chống lại một địch thủ không kém ngoan cường. Đối với ông, sự đoàn kết quốc gia là sức mạnh dân tộc, một nhân tố cốt lõi có thể thuyết phục Hà Nội là họ không thể đánh thắng. Một khi Hà Nội nhận ra điều đó, thế thì các thương thảo hòa bình thực sự mới có thể bắt đầu. Bằng không,  sự bất đồng chính kiến công khai thể hiện sự yếu đuối, chỉ cổ vũ cho Hà Nội đẩy mạnh chiến tranh.

Như các nhà chính trị khác, bản thân Thiệu có những điểm yếu và cung cách điều hành kỳ cục ảnh hưởng đến chính sách của mình. Tuy quá nhiều động thái của Thiệu làm giới phê bình phương Tây khiếp đảm thi chúng lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác trong cảnh ngộ Việt Nam. Đối với Thiệu, phản ứng của đám cử tọa trong nước quan trọng hơn phản ứng của bọn gièm pha quốc tế. Thêm nữa, ông tiếp cận những trách nhiệm của mình với sự tỉnh táo sắt đá, khiến những ai nhắm đến những đàm phán chính trị với kẻ thù phải tức giận. Tuy ông có những khiếm khuyết trong tư cách nhà lãnh đạo, nhiều viên chức Mỹ cho rằng không có một chính khách Miền Nam nào khác sở hữu một sự kết hợp giữa tính chín chắn, gan lì, và trí thức như ông. Theo ý họ, ông là nhà lãnh đạo tốt nhất ở Miền Nam.

Bất kỳ ai đã vươn đến đỉnh cao chính trị trong xã hội mình đều là hỗn hợp đầy mê hoặc của tham vọng, thông minh, và động lực luôn thúc bách. Đảm trách việc phân tích các chính sách của một nhà lãnh đạo cùng với việc xem xét pháp y cá tính của họ đòi hỏi phải được truy cập vào những tài liệu của chính quyền và những chi tiết mà những bạn tâm giao muốn thổ lộ về các tính toán riêng tư và các động lực của người lãnh đạo họ. Trong trường hợp Thiệu, hồ sơ chính thức của các cố vấn quân sự Mỹ từ những năm đầu khi Mỹ bắt đầu can thiệp vào VN đã bị tiêu hủy, để lại một khoảng trống cho những tác động qua lại buổi đầu giữa ông với người Mỹ. Các báo cáo của người Pháp về ông cũng cực kỳ hạn chế. Các văn kiện Chính quyền Miền Nam giờ nằm trong tay người Cộng sản, và việc truy cập, mặc dù rộng cửa hơn trong quá khứ, vẫn còn nhiều hạn chế số với các văn kiện do Mỹ lưu trữ. Các học giả đã tra cứu tài liệu lưu trữ tìm thấy ít báo cáo về các đánh giá chính sách và chương trình khác nhau của Thiệu. Mặc dù có những trở ngại này, ta còn có thể phân tích nghị trình của ông khi làm tổng thống. Các đại sứ Mỹ báo cáo tỉ mỉ về những lời bình luận của ông. Tuy nhiên, những viên chức sứ quán Mỹ  khác thường thấy ông khó dò nên thường đưa ra ý kiến của mình dựa trên những thông tin thu thập được từ các đại diện chính trị hoặc quan chức Miền Nam. Phần đông các báo cáo Hoa Kỳ này, tuy thường sâu sắc, cũng phải được sử dụng cẩn thận. Thiệu là một người vô cùng khép kín, hiếm khi bày tỏ ý kiến của mình. Với nhóm ra quyết định nội bộ của mình, ông giới hạn số người cực kỳ nhỏ, và những người Việt Nam không thuộc tầng lớp cao chỉ có thể đưa ra những  ức đoán về các lý do trong các quyết định của ông. Hoặc tệ hơn, họ gán những động lực có tính âm mưu cho các hành động của ông mà không có kiến thức nào về cách thức một chính sách được thiết kế.

Do đó, một kết hợp giữa các bài diễn văn của Thiệu, các văn kiện Chính quyền Miền Nam, hồ sơ Hoa Kỳ, và các cuộc phỏng vấn với một số bạn tâm giao  của ông sẽ khiến cho ta hiểu được động lực đằng sau các chính sách đối ngoại và đối nội của ông. Những hồi ký Miền Nam cũng giúp ta hiểu rõ, nhưng cũng giống như trường hợp chỉ dựa thuần túy vào các hồ sơ Hoa Kỳ, nó chẳng khác nào khiêu vũ trên một bãi mìn. Dù là một nguồn tư liệu tuyệt vời, cũng cần phải thận trọng. Không những ký ức rất mong manh, mà nhiều tác giả còn có thiên kiến dễ hiểu và không ngần ngại phơi bày nó.

May thay, tôi được phỏng vấn nhiều bộ trưởng lão thành trong nội các Miền Nam và những viên chức khác có trách nhiệm thiết kế và cài đặt những chính sách của chính phủ. Những bàn luận này phát lộ những thông tin lịch sử mới bất ngờ, kể cả cú đảo chính Diệm gần như bị chặn lại ra sao, những chi tiết chưa hề được biết trước đây về cú phản đảo chính tháng giêng 1964, Hiệp ước Faustian bật đèn xanh cho Thiệu chứ không phải Kỳ làm tổng thống, bối cảnh thực sự về Vụ Chennault trong kỳ tuyển cử 1968, và những chi tiết bùng nổ có thể là bí ẩn lớn và cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam xảy ra vào những ngày cuối cùng.

Trong khi tôi tin tưởng có sự khác biệt lớn lao giữa tầm nhìn của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Tổng thống Thiệu về việc hiện đại hóa nền công hòa, cũng quan trọng khi nhớ rằng Thiệu hoạt động trong một môi trường chính trị và kỷ nguyên hoàn toàn khác với Diệm. Bốn năm sau vụ đảo chính, Miền Nam trải qua những biến động lớn lao về quân sự, chính trị, xã hội và kinh tế đánh dấu bởi cuộc leo thang của cuộc chiến và mức can thiệp của Mỹ. Dù những hỗn loạn này, nhờ phần lớn vào tài chăn dắt của Kỳ và Thiệu, Miền Nam đã ban hành được một hiến pháp và thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Rồi những biến cố lớn như cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Cộng sản, việc thi hành cải cách ruộng đất, và vũ trang địa phương quân để tăng cường an ninh đã xoay chuyển một số nông dân trước đây trung lập hoặc có cảm tình với địch về phía mình. Cuộc tiến công 1972 của Hà Nội, tuy nhiên, đã phá hỏng nhiều thành quả kinh tế và sự phát triển của chính quyền địa phương mà Thiệu đã đạt được. Hiệp định Hòa Bình Paris và sự rút quân của Mỹ sau đó đã để lại phía sau một Miền Nam đầy thương tích, trở thành miếng mồi ngon cho cuộc tấn công cuối cùng của Bắc Việt Nam vào năm 1975.

May thay, kiến thức uyên bác hiện thời về cuộc xung đột, nhiều như nền văn hóa luôn thay đổi của chúng ta, đã tiến hóa để ôm lấy những viễn cảnh mới về Miền Nam. Một cách thật hy vọng, vực thẳm ý thức hệ vốn  chia cắt chúng ta trước đây giờ sẽ không còn trói chặt các độc giả nữa. Chuyện thường tình là những tình huống phí thường buộc những con người bất toàn đưa ra những quyết định trọng đại dựa vào thông tin sai lầm. Thiệu không khác được. Khi đọc bản thảo này, bạn hãy xem ông ấy, giống hầu hết những người đứng đầu chính quyền có trách nhiệm, như một nhà chính trị cố gắng làm hết sức mình cho xứ sở hơn là một kẻ độc tài chỉ biết tham quyền cố vị. Với quan niệm đó trong trí, trích Hợp Xướng của Shakespeare trong Henry V, giờ đây chính ”những suy nghĩ của bạn sẽ tô điểm cho các vì vua của chúng ta” và điều gì nên phán xét  Nguyễn Văn Thiệu và Miền Nam Việt Nam.

CHƯƠNG 1

“NHỮNG NGÀY TƯƠI ĐẸP NHẤT CỦA ĐỜI TÔI

 Sự Trỗi Dậy của Việt Nam Cộng Hòa

Nguồn gốc của xứ sở trở thành Việt Nam Cộng Hòa có căn cứ ở miền nam bắt đầu với sự sụp đổ của Nhật vào cuối Thế Chiến II, sự trở lại của người Pháp nhằm lấy lại thuộc địa của mình, và rồi Chiến tranh Đông Dương Thứ Nhất sau đó. Khi Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào tháng 9 1945, không ai có thể tưởng tượng hai Việt Nam chia cắt có thể cuối cùng hòa nhập. Vì vậy để hiểu rõ cơn đau đẻ của một Cộng Hòa phi-Cộng sản, cần ôn lại nhanh chóng bài học lịch sử. Việc đầu tiên là chúng ta hãy nhanh chóng quay về các  sự kiện đã dẫn đến sự ra đời của nền Cộng Hòa, lược qua bước đầu khởi nghiệp của Nguyễn Văn Thiệu, và cuối cùng vỡ lòng về những đảng phái khó nắm bắt có mặt trong đất nước mới này. Câu chuyện chính của chúng ta sẽ khởi sự ngắn ngủi, nhưng bối cảnh giúp ta hiểu thấu, và thiên truyện chằn chịt của Miền Nam cũng không khác.

LÚC KHỞI THỦY

Người Việt tự hào về một lịch sử lâu dài với nhiều sự kiện, một lịch sử nổi bật vì nhiều cuộc đấu tranh nội bộ và khởi nghĩa chống ngoại xâm, trong đó có Trung Hoa và Cao Miên. Sau nhiều năm dài nội chiến, vào năm 1802, Gia Long lên ngôi xưng hoàng đế của một nước Việt Nam thống nhất. Nhưng nó  kéo dài không lâu. Vào năm 1856, người Pháp, đang tìm kiếm thuộc địa, tấn công Việt Nam và đánh chiếm thị trấn Đà Nẵng ở ngay trung tâm đất nước. Qua hai thập niên, người Pháp chinh phục phần còn lại của xứ sở. Họ chia Việt Nam thành ba vùng: hai vùng bảo hộ – Annam ở trung tâm và Bắc Kỳ ở phía bắc – và một vùng thuộc địa ở miền nam gọi là Nam Kỳ. Người Pháp cho phép triều đình nhà Nguyễn tiếp tục cai trị từ kinh đô Huế, nhưng chỉ theo điều kiện của Pháp. Vào năm 1888, người Pháp vá víu Việt Nam, Lào và Cao Miên vào Liên bang Đông Dương thường gọi là Đông Dương thuộc Pháp.

Người Việt lập tức nổi lên chống quân chiếm đóng. Hai nhân vật, Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu, kháng chiến chống ách cai trị của Pháp, người đầu tiên hoạt động trong nước cho đến khi hi sinh vào năm 1897, người thứ hai hoạt động trong các nước châu Á lân bang cho đến 1925 thì bị Pháp bắt và cho an trí tại Huế. Tuy nhiên, nhân vật lừng lẫy nhất trong số người yêu nước là Hồ Chí Minh. Sau Thể Chiến I, Hồ đi sang Pháp, Nga, Trung Hoa, và một số xứ khác, thuyết giảng cẩm nang tìm độc lập của mình. Sau khi yêu cầu người Pháp giúp mình xây dựng một cộng hòa thuộc địa, ông đâm ra vỡ mộng vì người Pháp không giữ lời hứa sẽ cải cách và lập nền cộng hòa. Ông quay sang chủ nghĩa Mác, hồ hởi khi được Lênin hứa sẽ giúp giải phóng các thuộc địa khỏi tay bọn thực dân áp bức. Ông trở thành một người Cộng sản đầy nhiệt huyết, và dần dần thành lập một nhóm đồng chí, nhưng lực lượng an ninh Pháp truy lùng gắt gao. Tuy nhiên, tư tưởng thì không có biên giới, và khái niệm về một nước Việt Nam độc lập tiếp tục lớn mạnh.

Vào đầu Thế Chiến II, quân Nhật chiếm đóng Đông Dương, nhưng họ cho phép người Pháp tiếp tục cai trị, vì chính quyền Vichy hợp tác với Đức. Vào ngày 9/3/1945, khi người Nhật đang trên bờ thảm bại và hoảng sợ trước việc Đồng minh sẽ đổ bộ vào Việt Nam, quân Nhật bèn lật đổ chính quyền Vichy tại Việt Nam. Hành động này, như một học giả đã viết, “đánh một đòn trí mạng vào chính quyền thuộc địa từ đó nó không hề gượng dậy hoàn toàn.” Hai ngày sau khi Nhật đảo chính, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố Việt Nam là một quốc gia độc lập với Pháp nhưng là một thành viên của đế chế Nhật. Ông nhờ một học giả có uy tín, Trần Trọng Kim, đứng ra thành lập một chính phủ và lãnh chức thủ tướng cho ông.

Hai ngày sau khi quân Nhật đóng ở Việt Nam đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945, một nhóm người Việt có tên Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, phát động một cuộc cách mạng trên khắp đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Việt Minh nghiễm nhiên trở thành một mặt trận đoàn kết của những phong trào kháng chiến chiến đấu chống lại sự trở lại của bọn thực dân Pháp. Vào ngày 19/8, Việt Minh chiếm Hà Nội, thủ đô của miền bắc Việt Nam. Bảo Đại thoái vị nhường chỗ cho Hồ và chính phủ Kim từ chức vào ngày 25/8. Khi Nhật hoàn toàn đầu hàng vào ngày 2/9/1945, cũng là lúc Hồ tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhà nước Việt Nam hoàn toàn độc lập đầu tiên kể từ thế kỷ 19.

Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, và Liên bang Xô viết họp hội nghị vào cuối tháng 6 để bàn về những vấn đề hậu chiến liên quan đến Đức và tương lai của châu Á. Biết trước Nhật Bản sẽ đầu hàng, Anh được giao nhiệm vụ chiếm đóng Việt Nam phía dưới vĩ tuyến 16, còn Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch sẽ chiếm đóng phần phía trên vĩ tuyến đó. Pháp không được giao việc chiếm lại vì họ không thuộc phe Đồng minh ở châu Á. Tuy nhiên, người Pháp có kế hoạch khác. Lãnh tụ Pháp Charles De Gaulle xua quân đội đến Đông Dương để lấy lại thuộc địa, và vào ngày 23/9, người Anh cho phép quân Pháp đổ bộ lên Saigon. Cuộc chiến Pháp Việt lập tức nổ ra. Mặc dù Saigon nhanh chóng thất thủ, ở miền bắc, Trung Hoa Dân Quốc từ chối việc Pháp lấy lại thuộc địa của mình vì sợ sẽ xảy ra lộn xộn như ở miền nam. Việc này tạo cho chính phủ ông Hồ một năm để củng cố lực lượng ở phía bắc. Việc hưu chiến một năm ròng chứng tỏ có tính quyết định, cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời gian để tổ chức và chuẩn bị chiến tranh. Việt Minh lớn mạnh hơn ở miền bắc nhưng ở miền nam vẫn còn yếu. Vào ngày 6/3/1945, người Pháp và Hồ ký một thỏa ước cho phép Pháp đóng quân tại bắc Việt Nam trong 5 năm thay thế Trung Hoa, nhưng Paris chịu công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) là một nhà nước tự do trong Liên hiệp Pháp. Vào tháng 7, người Pháp và VNDCCH mở những cuộc thương thảo ở Fontainebleau, Pháp, để thảo luận về nền độc lập của Việt Nam và vai trò của nó bên trong liên hiệp, nhưng những cuộc nói chuyện diễn ra trong  không khí ngờ vực lẫn nhau. Vì miền nam nằm dưới sự kiểm soát của người Pháp, người Pháp dựng lên một nước Cộng Hòa Nam Việt riêng biệt (khởi đầu của Việt Nam Cộng Hòa) vào tháng 6 1946. Chính quyền cò con này có thủ đô là Saigon, đứng đầu là Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, một bác sĩ tiếng tăm. Thinh đồng y hợp tác với Pháp để đổi lấy quyền tự trị trong Liên hiệp Pháp. Thinh nhắm đến một nước cộng hòa tách biệt với một nước VNDCCH có cảm tình với Cộng sản ở Hà Nội, mặc dù phần đông đồng bào của ông đều mong muốn một đất nước thống nhất. Tuy nhiên, Paris không tha thiết với Việt Nam tự trị, mà chỉ muốn tạo một chính quyền Việt Nam lệ thuộc Liên hiệp Pháp. Sợ rằng người Pháp đang lợi dụng mình, vào ngày 10/11/1945, Thinh tự tử. Ông được thay thế bởi Lê Văn Hoạch, tiếp tục cộng tác với Pháp.

 Dù sự liên minh giữa những người Cộng sản của Hồ và những chính đảng phi-cộng sản như Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDDD) và đảng Đại Việt, người Cộng sản chẳng bao lâu khống chế liên minh. Họ bắt đầu nhắm đến những đảng phi-cộng sản, tự xưng mình là người Quốc gia mà chúng ta sẽ gặp lại sau này chi tiết hơn. Hai đảng này cũng xuất xứ từ miền bắc, đã phát động nổi dậy vào những năm 1930 và đã bị quân đội Pháp đàn áp. Bị những người Cộng sản săn lùng, liên minh Việt Minh bắt đầu rạn nứt.

Vì Paris không chịu từ bỏ thuộc địa ở Đông Dương, hội nghị Fontaineableau đổ vỡ. Chiến tranh bùng phát giữa Pháp và VNDCCH vào tháng 12 1946. Để tách người Quốc gia ra khỏi Việt Minh, Paris thử tìm cách ban cho những người chống cộng quyền hành hạn chế đối với đất nước. Tìm kiếm một nhà cai trị có sức lôi cuốn rộng lớn, người Pháp quay sang Cựu Hoàng Bảo Đại, người đã ly khai với Hồ Chí Minh. Vào tháng 9 1947, Bảo Đại mở ra cuộc thương thảo với Pháp để thành lập một chính quyền Việt Nam tách biệt chống cộng. Bảo Đại hy vọng sẽ buộc được Paris trao quyền độc lập, nhưng ông chỉ đạt được một phần  thắng lợi. Vào ngày 5/6/1948, người Pháp và Cựu Hoàng ký Hiệp ước Vịnh Hạ Long trao cho Việt Nam vị thế chính thức trong Liên hiệp Pháp và thống nhất ba miền Việt Nam (Bắc Kỳ, Annam và Nam Kỳ) dưới quyền cai trị của ông. Một Chính phủ Trung ương Việt Nam Lâm thời được thành lập tách biệt với VNDCCH của Hồ, và Cộng Hòa Nam Việt được nhập vào đó.

Sau những đàm phán xa hơn, vào ngày 8/3/1949, Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Aurio kết thúc Hiệp định Elysee, theo đó Việt Nam là một “nhà nước liên đới” trong Đông Dương cùng với Lào và Cao Miên. Tất cả ba xứ này, tuy nhiên, vẫn duy trì là thành phần của Liên hiệp Pháp. Vào ngày 2/7/1949, Bảo Đại chính thức tuyên bố sự ra đời của Quốc gia Việt Nam. Hiệp ước không ban cho sự độc lập như mong đợi nhưng cho phép Việt Nam điều hành chính sách đối ngoại riêng của mình, kiểm soát tài chính và thành lập quân đội. Hồ và những người theo phe ông lập tức tẩy chay Cựu Hoàng và nội các của ông cho là “bọn phản bội giống nòi.”

Cùng ngày, chính phủ lâm thời mới toanh cũng  lập ra Bộ Quốc phòng, và vào tháng 8 thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Đối với nhiều người Quốc gia, chống lại mối đe doạ Cộng sản là quan trọng hơn đánh nhau với người Pháp, và bộ máy hành chính còn non trẻ của Bảo Đại cùng với người Pháp nhanh chóng xây dựng một quân đội bản xứ. Họ lập ra các tiểu đoàn bộ binh, và vì Bảo Đại cần các sĩ quan để chỉ huy những đơn vị này, người Pháp tổ chức Trường Sĩ quan Chính quy ở Huế. Trường trở thành  tiền thân của Học viện Quân sự Quốc gia Việt Nam. Lớp đầu tiên khai giảng vào ngày 1/12/1948, và được gọi là khóa Phan Bội Châu theo tên người tiên phong lừng lẫy của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Một trong những người tốt nghiệp lớp sĩ quan đầu tiên taì Huế là Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống tương lai của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Trong khi đó, những sự kiện bên ngoài Việt Nam tác động một  ảnh hưởng lớn lao đến những biến cố xảy ra trong nước. Thắng lợi của Trung Cộng vào năm 1949 buộc Hoa Kỳ phải thay đổi sâu sắc cách thức họ xử sự với đế chế Pháp. Khi vũ khí của Trung Cộng bắt đầu đến tay bộ đội của Hồ vào năm 1950, Pháp yêu cầu Mỹ viện trợ quân sự đại quy mô. Mỹ đồng ý, và việc bùng nổ Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 1950 chỉ củng cố thêm sự can thiệp của Washington. Viện trợ quân sự và kinh tế bắt đầu đổ vào ồ ạt, và về mặt ngoại giao Washington công nhận Quốc gia Việt Nam, tiếp theo là Anh và phần còn lại của “Thế giới Tự do”. Mục tiêu chính của Washington và Paris là thành lập một chính quyền chống cộng ở Việt Nam đồng minh với Pháp. Tuy nhiên, Quốc gia Việt Nam phải tự bảo vệ mình và mở rộng quyền cai trị và Bảo Đại cần đến một Quân đội Quốc gia Việt Nam để hoàn thành mục tiêu đó.

NHỮNG NĂM TUỔI TRẺ CỦA NGUYỄN VĂN THIỆU

Vì Thiệu là một trong hai nhân vật có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Miền Nam – Ngô Đình Diệm là người còn lại – chúng ta cần xem lại thời tuổi trẻ của ông. Vì thế giới quan thường là sự hội tụ của văn hóa, cách nuôi dưỡng, cá tính, và trải nghiệm, nên cần phải xem xét môi trường nuôi dạy Thiệu  và sự nghiệp quân sự đầu đời của ông đã ảnh hưởng đến cá tính và chính sách tương lai của ông ra sao.

Rủi thay, kiến thức của chúng ta về những năm tháng hình thành của ông rất ít ỏi. Ngay cả thông tin lai lịch cơ bản cũng xung khắc nhau. Chẳng hạn, một thông tín viên lão thành trải nhiều năm ở Việt Nam và viết tin về cái chết của Thiệu cho tờ New York Times đã nhắc lại sự  hiểu lầm phổ biến về ngày sinh thực sự của ông. Fox Butterfield viết “Thiệu sinh vào tháng 11 1924, nhưng theo tập quán của người Việt chọn ngày khác làm sinh nhật cho được tốt lành hơn – ngày 5/4/1923. Ông là con út trong 5 anh em, sinh ra tại một làng quê trên bờ biển miền Trung.” Những người khác đồng ý rằng ông đã thay đổi ngày sinh của mình “theo lời khuyên của một ông thầy bói.” Trong khi đúng là dân quê Việt Nam thường thay đổi ngày sinh của họ cho được may mắn hơn theo tử vi, nhưng phụ nhân của ông cho rằng chồng mình không làm việc ấy. Mặc dù nhiều người tin rằng sinh nhật thực sự của ông là 12/11/1924, đây là một sai sót thời trẻ vì ông không nhớ chắc về ngày tháng chính xác. Theo bà Thiệu, khi ông còn là một cậu bé điền đơn thi vào trường, thầy giáo hỏi ông ngày sinh. Không nhớ rõ, ông về nhà hỏi mẹ. Không tìm thấy mẹ, ông quay về trường và báo đại ngày 12/11/1924. Thầy giáo ghi vào hồ sơ, và cái ngày sinh sai lạc này trở thành một phần trong lý lịch chính thức của ông. Mặc dù mẹ Thiệu sau đó có đính chính với con trai, việc bà có thay đổi ngày sinh của ông để được tốt số theo tử vi hay không là điều ta không thể biết.

Thiệu sinh ngày 5/4/1923 tại Trị Thủy, một làng đánh cá và làm nông rất đẹp trên một vịnh nhỏ cách thành phố Phan Rang, thủ phủ của Ninh Thuận, một vài dặm. Một tỉnh lỵ ven biển cách Saigon khoảng 150 dặm về phía đông bắc, Ninh Thuận gần như đường chia đôi phần trung tâm với phần phía nam của Miền Nam. Cha mẹ ông không phải là nông dân nghèo khó cày sâu cuốc bẩm; họ thuộc gia đình trung lưu tương đối khá giả có ruộng đất và làm một số nghề kinh doanh. Họ thấm nhuần trong ông một đạo lý yêu lao động mạnh mẽ và các giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống vẫn theo ông đến tuổi trưởng thành. Cha ông, Nguyễn Văn Trung, và ông nội ông và ông cố là những người buôn bán hàng hóa bằng đường thủy lên xuống dọc bờ biển. Sau khi Thiệu ra đời, cha ông kiếm “một kế sinh nhai khác. Ông đến Qui Nhơn và chở về súc vật và trâu bò để bán ở Phan Rang, và ông xuống Saigon mua bán hàng hóa.” Cha Thiệu mồ côi ngay từ lúc lên 10, và ông ghi khắc những bài học cam go từ cuộc sống khó khăn  lên đứa con trai. Thiệu bảo với một phỏng vấn viên thời hậu chiến rằng, “cha ông luôn dạy ông phải cẩn thận và thận trọng và đừng bao giờ bất cẩn và hấp tấp” một bài học đã trở thành một nét cá tính xác định của ông. Thiệu là con út trong số 7 anh chị em. Ông có 4 anh trai và 2 chị gái. Vì thế, tên tục của ông là “Tám”, vì người miền nam gọi anh cả là Anh Hai. Hai chị gái và hai ông anh của ông không được biết nhiều, nhưng hai ông anh lớn nhất, Hiếu và Kiểu, sẽ trở thành đại sứ của Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, hai người anh có ít ảnh hưởng đối với ông, một điều không thường xảy ra trong truyền thống gia đình Việt Nam. Ông anh cả, Hiếu, sinh ngày 4/4/1906, được gia đình gởi sang Pháp du học, một thành tựu đầy ấn tượng đối với một người Việt dưới thời thuộc địa, vì chỉ có vài ngàn người Việt leo được đến cấp ba trường Pháp. Hiếu nhận được bằng cao đẳng luật học tại Đại học Paris vao năm 1932, một cánh cửa truyền thống để bước vào ngành công vụ. Ông trở về Việt Nam và làm quan tòa tại Huế cho đến 1939. Sau khi cha mất vào 12/1/1969, là con trai trưởng, Hiếu trở thành người đứng đầu trên danh nghĩa của gia đình, nhưng ông đã rời Việt Nam vào năm 1956 vì những công tác ngoại giao khác nhau. Vào năm 1966, ông trở thành đại sứ của VNCH tại Ý. Khi bà xã ông chết vì căn bệnh ung thư vào năm 1966, Thiệu nhận con gái của anh mình làm con nuôi.  Đây là một bí ẩn của gia đình được giữ kín, chỉ ít người được biết. Là một Phật tử, Hiếu là một người trầm tính không có tham vọng chính trị, và sau khi nhận nhiệm vụ tai Ý, ông tránh xa chính tình Việt Nam và vẫn ở lại Rome cho đến khi Saigon thất thủ. Kiểu thì ngược lại, năng động về chính trị hơn nhiều. Ông sinh năm 1916, và tại một thời điểm đã cải sang đạo Thiên chúa. Khoảng năm 1940, Kiểu trở thành một trong những người sáng lập nhánh miền Nam của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Đai Việt là một đảng chính trị cạnh tranh với một chính đảng khác, Việt Nam Quốc Dân Đảng, để lấy lòng người Quốc gia. Cuối cùng Kiểu trở thành đại sứ tại Đài Loan, nhưng ông cũng hoạt động dưới vai trò sứ giả chính và người trung gian của Thiệu với nhiều lãnh tụ chính trị và tôn giáo của Miền Nam. Cha mẹ Thiệu tập trung vào việc dạy dỗ con cái, đặc biệt Hiếu và và Kiểu. Để trang trải chi phí học cao lên, cậu bé Thiệu phải đỡ đần mẹ, Bùi Thị Hạnh, bán hàng ngoài chợ làng. Ông ghi lại: Khi còn đi học, tôi phải phụ giúp các chị gái bán bánh tráng và khoai lang. Mỗi ngày tôi ra chợ cùng mẹ và giúp chị kiếm tiền. Hai anh tôi bận đi học xa và tôi phải ở lại nhà và giúp các chị mang hàng hóa tới lui. Tôi làm việc rất cần cù. Mẹ tôi có một quầy rau củ nhỏ ở chợ làng và tôi cũng giúp bà buôn bán ở đó. Thời gian đó, cha mẹ tôi phải nuôi nấng hai anh tôi và gởi họ vào Saigon học hành. Cha tôi luôn ra sức tạo cho chúng tôi một nền học vấn tốt. Ông làm việc rất siêng năng như mẹ tôi và hai chị gái để có đủ tiền gởi cho hai anh ăn học cao hơn, rồi sau đó cho tôi đến trường.

Một người Việt biết rõ Thiệu nhiều năm cho rằng Thiệu xuất thân từ một gia đình tốt. Ông viết: “Khi đó tôi đặc biệt tôn trọng Thiệu vì cha mẹ ông là những bậc trưởng thượng có đạo đức luôn gìn giữ truyền thống tốt đẹp của Tam giáo chúng tôi.” Ba tôn giáo truyền thống của người Việt là Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo. Thờ kính tổ tiên cũng đóng vai trò nổi bật trong tín ngưỡng người Việt. Những phẩm chất của Thiệu phản ánh quá trình nuôi dưỡng theo Khổng giáo, một triết lý chi phối đời sống và vị thứ con người trong xã hội, nhưng những kim chỉ nam của nó chỉ phần nào lý giải thế giới quan của ông. Trong khi ông chấp nhận những quan điểm thuộc đạo Khổng liên quan đến những vấn đề xã hội, thì nền giáo dục mang ông đến với văn hóa Pháp, bao gồm những quan niệm về tự do và dân chủ. Những chuyến thăm sau này của ông đến Hoa Kỳ thuyết phục ông rằng Việt Nam cần tiếp thu lối quản lý và những kỹ thuật công nghiệp kiểu Mỹ và khước từ lối quản lý kiểu Pháp có tính tập trung hoá. Việc đi theo sự hiện đại hóa kiểu Mỹ là một sự khác biệt chủ chốt giữa Thiệu và nhiều nhà lãnh đạo Việt khác. Nghi thức quân sự củng cố niềm tin của ông vào truyền thống, đặc biệt khi nhìn qua lăng kính của những tập quán và phong tục Việt Nam. Sau này ông sẽ chấp nhận những giáo điều của đạo Thiên chúa, nhưng nó chỉ là một lớp phủ lên những giá trị Việt Nam cốt lõi.

Vì thân sinh ông luôn nhấn mạnh học tập chính là con đường đưa đến thành đạt, Thiệu hưởng được một nền học vấn tốt đẹp so với chuẩn mực của một Việt Nam thuộc địa. Việc học rèn dũa tính thông minh bẩm sinh của ông, một lợi thế mà giới trẻ Việt thời đại ông hiếm có được. Ông học tiểu học ở trường làng, rồi lên trung học ở thành phố Phan Rang. Mỗi ngày hai lần ông phải băng qua một đầm phá giữa Trị Thủy và Phan Rang trên một con phà. Một thầy giáo của ông là thân sinh của người em họ thứ hai ông, Hoàng Đức Nhã. Điều này khởi đầu mối gắn bó giữa hai người, và Nhã sau này trở thành cố vấn thân cận nhất khi ông làm tổng thống. Nhã sinh ngày 21/8/1942. Gia đình ông cũng là điền chủ. Vào cuối thập niên 1950, ông sống với Thiệu ở Đà Lạt khi ông theo học trường Lycee Yersin danh giá. Sau khi tốt nghiệp, ông đổ bằng Tú tài II, kỳ thi bắt buộc của Pháp nếu muốn vào đại học. Vào năm 1961, ông nhận được học bổng Hoa Kỳ, một kỳ công hiếm có đôi với một chàng trai Việt vào thời kỳ đó. Ông vào Đại học Tiểu Bang Oklahoma, tại đó ông trở thành người bạn thân thiết với Trần Quang Minh, sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục Thực phẩm Quốc gia.

Thiệu vào trường cấp ba Pellerin danh giá ở Huế. Pellerin là một trong bốn trường nam trung học do Pháp điều hành, và vào được phải có điểm số xuất sắc cùng với thế lực không nhỏ của ông anh Hiếu. Khi Hiếu rời Huế vào năm 1939, Thiệu cũng rời trường Pellerin và chuyển về sống ở Saigon với Kiểu, tại đó ông ghi danh học trường trung học Việt có tên Lê Bá Cang. Ông tốt nghiệp năm 1942, đổ Tú tài I, nhưng vì một lý do nào đó, ông không thi Tú tài II. Sau đó ông quay về làng quê và làm việc trên ruộng lúa của gia đình và phụ giúp thân sinh trên thuyền buôn.

Việc quân Nhật lật đổ người Pháp vào tháng 3 1945 đã cởi trói những tình tự dân tộc của Thiệu. Ông bảo với tạp chí Time rằng “mọi người lúc đó tin rằng người Nhật sẽ mang đến  cho chúng tôi tự do khỏi tay người Pháp.” Tất nhiên, ông cũng nung nấu niềm khao khát độc lập cháy bỏng như bao thanh niên của thời đại mình. Say sưa trước ý tưởng đánh đuổi bọn ngoại bang, vào tháng 9 1945 chàng trai Thiệu 22 tuổi gia nhập Việt Minh trong tỉnh lỵ quê nhà. Ông được huấn luyện trong rừng, sử dụng tầm vông thay súng trường. Nhờ những nỗ lực của mình trong tổ chức thanh niên địa phương ông được giữ chức trưởng ủy ban xã. Chẳng bao lâu ông lên chức cố vấn cho huyện ủy. Như nhiều người Quốc gia của thời đại mình, Thiệu chống Pháp, nhưng ông sớm thấy chua chát vói tổ chức Việt Minh sau khi phát hiện ra rằng những người Cộng sản bí mật khống chế nó. Giải thích tại sao ông rời bỏ Việt Minh, Thiệu cho biết: “Vào tháng 8 1946, tôi biết rằng Việt Minh là những người Cộng sản. . . Họ bắn giết dân lành. Họ giải tán ủy ban xã. Họ chiếm lấy ruộng đất.” Ông tuyên bố mình phải trốn khỏi nhà khi nghe tin Việt Minh đã quyết định ám sát mình vì ông là người trí thức, tức người có học trường tây.

Bỏ Việt Minh vào tháng 8 1946 – để tránh tai họa cho gia đình – Thiệu trở lại Saigon. Đầu tiên ông theo học trường điện, nhưng rồi bỏ giữa chừng và theo học Trường Hàng hải Dân Dụng (École de navigation civile) từ năm 1947 đến 1948, và được xếp loại sĩ quan. Ông được mời vào làm việc cho một công ty hàng hải Pháp, nhưng từ khước khi khám phá ra rằng người chủ trả lương ông ít hơn các sĩ quan Pháp có cùng thứ bậc.

Ghép lại sự nghiệp khởi đầu của Thiệu cũng khó như đoán được thời thơ ấu của ông. Mặc dù có mối tương giao kéo dài với các viên chức Mỹ, chính phủ Hoa Kỳ chỉ gom được một nhúm phác họa tiểu sử về ông. Tệ hơn nữa, những ghi chép này chỉ chứa một ít sự kiện trần trụi thường tương phản nhau về các nhiệm vụ quân sự buổi đầu của ông. Kinh ngạc hơn, thậm chí lý lịch Việt Nam về Thiệu cũng có sai sót liên quan đến những hoạt động của ông trong những năm trước cuộc đảo chính 1/11/1963. Chẳng hạn, một vài sơ yếu chính thức được viết trong chiến tranh nêu ra không đúng rằng ông chỉ huy Sư đoàn 21 Quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1954, trong khi sư đoàn đó chỉ được thành lập vào ngày 1/6/1959. Tuy hiếm có những chi tiết có uy tín viết về thời thơ ấu của Thiệu, bằng cách chọn lọc từ những cuộc phỏng vấn khác nhau và những nhận xét từ nhiều nguồn thông tin của Miền Nam và Mỹ, một bức tranh bắt đầu xuất hiện.

Với ít triển vọng có việc làm, Thiệu tình nguyện vào học lớp sĩ quan Quân đội Quốc gia Việt Nam đầu tiên ở Huế. Trong số bạn cùng lớp có Tôn Thất Đính, người sau này sẽ là sĩ quan chỉ huy của Thiệu trong vụ đảo chính Diệm, Nguyễn Hữu Có, Bộ trưởng Quốc phòng trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, và Đặng Văn Quang, người sau này sẽ trở thành cổ vấn an ninh quốc gia của Thiệu. Khóa huấn luyện được tổ chức để đào tạo các chỉ huy trung đội bộ binh, Thiệu hoàn tất khóa học 6 tháng vào ngày 1/6/1949, và được đề bạt chức thiếu úy. Theo hồ sơ của Pháp, Thiệu tốt nghiệp với thứ hạng 4 trong số 52 sĩ quan.

Sau khi tốt nghiệp, Thiệu làm trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 1, một trong ba tiểu đoàn bộ binh đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Thời gian ông làm trung đội trưởng qua rất nhanh; ông chỉ phục vụ từ tháng 6 đến tháng 9 1949. Chẳng bao lâu sau khi lớp quân sự đầu tiên kết thúc, Bảo Đại chọn ra 10 sĩ quan thiếu úy để theo học Khóa Bộ Bình Cao cấp tại Coetquiden, Pháp. Thiệu, Trần Thiện Khiêm, và Đặng Văn Quang là ba trong số mười người được chọn. Khóa học kéo dài từ tháng 12 1949 đến tháng 6 1950.

Nhiều ghi chép cho rằng Thiệu và Khiêm đã từng gặp nhau tại trường Hàng hải Dân dụng, nhưng điều đó không đúng. Lần đầu tiên họ gặp nhau là trên chuyến đi này. Cặp đôi này cuối cùng sẽ thống trị chính tình Miền Nam, vì Khiêm trở thành thủ tướng dưới chính quyền vị tổng thống tương lai. Sứ quán Mỹ ở Saigon viết rằng “Khiêm đã được xem là người bạn tâm giao thân thiết nhất mà Thiệu có được trong suốt đời bình nghiệp.” Đánh giá của sứ quán, vốn được các sử gia nhìn nhận, cũng không đúng. Theo Khiêm, họ “không phải bạn bè mà chỉ là đồng nghiệp trong hầu hết thời gian. . . không bao giờ giao lưu bên ngoài nhiệm vụ.. . Ông gặp Thiệu với tư cách công việc chính thức và trong tư cách đó, ông ta có chức tước cao hơn và bởi thế, sẽ không đàn đúm với Thiệu.”

Nhóm sĩ quan đi Pháp trên chiếc tàu viễn dương SS Pasteur. Trên boong, một sĩ quan Việt cho ông xem một bức ảnh chụp bốn chị em quê ở Mỹ Tho, một thủ phủ trong miền Châu thổ Cửu Long thuộc lãnh thổ phía nam của Việt Nam. Anh ta bảo với Thiệu là ba cô đã có chủ, chỉ còn một cô, Nguyễn Thị Mai Anh, là còn độc thân. Thiệu năn nỉ và được viên sĩ quan hứa sẽ giới thiệu cho mình. Khi từ Pháp trở về, Thiệu được giới thiệu với Mai Anh, và chẳng bao lâu ông hỏi cưới bà. Theo bà Thiệu, điều kiện duy nhất của bà là ông phải cải sang đạo Thiên chúa, vì giáo hội cấm người Thiên chúa kết hôn với người ngoài đạo. Điều này ắt hẳn gây nhiều tranh cãi trong gia đình, và hai ông xui tương lai phải mất một năm để giải quyết những bất đồng.

Nguyễn Thị Mai Anh xuất thân từ một gia đình Cửu Long tiếng tăm. Sinh ngày 20/6/1930, tại Mỹ Tho, cả hai song thân đều là thầy thuốc đông y. Cha bà chữa bênh cho người lớn, còn mẹ bà chuyên môn trẻ em. Mẹ bà là một tín đồ Công giáo thuần thành và thường chữa bệnh làm từ thiện. Theo một tiểu sử Việt Nam, “Gia đình sống giản dị, và con cái được nuôi dạy theo truyền thống nghiêm khắc nhất của người Việt Nam. Các cô con gái tham gia thiện nguyện với nhà tu kín Thiên chúa tại Mỹ Tho.” Cuối cùng, cha Thiệu đồng ý cho ông cải sang đạo Thiên chúa. Mặc dù Thiệu hoãn việc rửa tội nhiều năm, ông kết hôn với Mai Anh vào ngày 18/7/1951.

Không giống phu nhân các lãnh đạo cao cấp khác, Bà Thiệu không tham gia hoạt động chính trị. Bà dè dặt và không gần gũi với bà xã các vị tướng lĩnh khác. Theo Thiệu, bà “chưa hề đóng vai trò chính trị nào, lúc nào cũng ở phía sau.” Bà khẳng định điều này với một nhà báo, phát biểu rằng bà không “cố vấn cho chồng tôi về các vấn đề quốc gia hoặc phải điều hành chính quyền ra sao.” Thay vào đó, bà tập trung vào phúc lợi xã hội, quyên tiền để xây cất bệnh viện cho các trẻ em tàn tật hoặc thăm viếng thương bệnh binh. Thiệu muốn bảo vệ bà khỏi các âm mưu chính trị, đặc biệt những thỏa thuận đen tối mà vợ các sĩ quan thường dấn sâu gây tai tiếng cho các ông chồng. Ông cũng hiểu rằng nếu bà nhúng tay vào các việc như thế, sẽ gây ra ganh ghét giữa các bà vợ, và họ sẽ xúi giục chồng mình và do đó tạo thêm những kẻ thù cho ông.

Sau khi tốt nghiệp trường bộ binh Pháp, Thiệu phục vụ từ tháng 8 1950 đến tháng 6 1951 với chức vụ đại đội trưởng cho Tiểu đoàn 5 của Quân đội Quốc gia Việt Nam, một đơn vị đóng tại Sóc Trăng dưới Châu thổ Cửu Long. Sau đó, theo yêu cầu đích thân của Bảo Đại, Thiệu lãnh nhiệm vụ đào tạo các khóa sinh tại trường quân sự Đà Lạt, vừa chuyển từ Huế về thành phố nghỉ dưỡng xinh đẹp phía bắc Saigon nơi Cựu Hoàng có một dinh thự nghĩ mát. Trong khi trên giấy tờ người Pháp đã cho phép Bảo Đại thành lập quân đội, nhưng chỉ đến 1951 Paris, bị Cao Ủy Pháp và Tổng Tư lệnh  Jean de Lattre thúc giục, mới xem vấn đề Quân đội Quốc gia Việt Nam một cách nghiêm túc. De Lattre áp đặt một dự thảo cho nam công dân Việt, ban hành luật tổng động viên vào năm 1951, và ra lệnh soạn thảo một chương trình huấn luyện hiệu quả hơn để phát triển lực lượng sĩ quan có năng lực điều hành một quân đội hiện đại. Thiệu là một thành phần tích hợp trong đó. Được thăng chức trung úy vào ngày 1/6/1951, Thiệu dạy ở Đà Lạt gần một năm. Khóa cuối cùng ông dạy là Lớp thứ 5 nổi tiếng sản sinh nhiều vị tướng hơn bất kỳ lớp nào khác. Có mặt trong lớp này là những tư lệnh quân đoàn tương lai như Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Vĩnh Nghi, và Phạm Quốc Thuần, những người sẽ trở thành những cột trụ của bộ máy quân sự của ông.

Khi cuộc chiến trở nên ác liệt hơn, nhất là ở phía bắc, các tư lệnh Pháp nhắm đến việc sử dụng các hàng ngũ đang lớn mạnh của Quân đội Quốc gia Việt Nam để đánh thắng cuộc chiến. Vào cuối tháng 5 1952, Thiệu chuyển đến Hà Nội để dự khóa tham mưu ba tháng. Cũng có mặt trong khoá này là người đứng đầu tương lai của quân đội Miền Nam, Cao Văn Viên, và thủ tướng tương lai Nguyễn Khánh. Lớp học được thiết kế để dạy chiến thuật và nghệ thuật chỉ huy và tham mưu cao cấp. Đây là thời kỳ sôi động nhất của cuộc chiến. De Lattre đã vừa đẩy lui ba cuộc tấn công chủ lực ở vùng châu thổ sông Hồng ở miền bắc của các lực lượng có quy mô sư đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN). Tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ huy QĐNDVN, tin tưởng rằng mình có thể tràn vào các công sự Pháp bằng các cuộc tấn công biến người. Khi người Pháp triển khai bom na-pan chống lại đám bô đội không che chắn, họ chết hàng ngàn. Tuy nhiên, người Pháp cần binh lính Việt Nam một cách tuyệt vọng để giúp họ phòng thủ các làng quê, một nhiệm vụ mà người Mỹ gọi là bình định.

Cuộc xung đột đã biến hình thành hai cuộc chiến riêng biệt, giống như đối với người Mỹ sau này. Cuộc chiến thứ nhất có tính quy ước, bao gồm pháo binh, các đơn vị lớn, và các trận đánh có bày binh bố trận. Cuộc chiến thứ hai là cuộc chiến ở nông thôn, khi người Cộng sản ra sức bóp nghẹt dần dần những thành phố do Pháp cố thủ như Hà Nội bằng cách cắt đứt chúng khỏi vùng quê.

Thiệu tốt nghiệp vào ngày 27/9/1952. Người đứng đầu trường Pháp, Đại tá (sau này là Đại tướng Sư đoàn) Paul Vanuxem, người sẽ nảy nở một tình bạn lâu dài với Thiệu và sẽ tái xuất hiện ngay điểm kết thúc của quyền sách này, đánh giá vị tổng thống tương lai là ‘rất trí thức và năng động. Phẩm chất đạo đức cao, giá trị trí thức, nhân cách và cá tính mạnh mẽ của ông sẽ khiến ông hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ giao phó. Xếp hạng: Xuất sắc, và ông sẽ nổi bật lên trong tương lai gần.”

Infantry_lieutenant_Nguyen_Van_Thieu

Trung úy Nguyễn Văn Thiệu sau khi tốt nghiệp khóa tham mưu Bộ Bình tại Hà Nội, tháng 9 1952.

Sau khi tốt nghiệp, Thiệu được giao công việc sĩ quan hành quân, một chức vụ tham mưu có trách nhiệm lên kế hoạch các hoạt động quân sự tại địa phận Hưng Yên, kéo dài về phía nam tử Hà Nội đến Tỉnh Hải Dương. Vào tháng 7 1952, người Pháp giao Hưng Yên, một khu vực nằm dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của VNDCCH, cho Quân đội Quốc gia Việt Nam, khu vực đầu tiên giao hoàn toàn cho người Quốc gia. Hưng Yên là một bộ phận trong Châu thổ sông Hồng và Thiệu cùng các sĩ quan đồng đội dấn thân vào một nỗ lực kiểm soát làng quê lần đầu tiên chỉ do người Việt đảm trách. Chính ở đây ông học hỏi về công tác bình định, kiểu Pháp. Lâu trước khi nắm quyền chỉ huy Miền Nam, ông có được một cái nhìn cận cảnh về cách thức QĐNDVN hoạt động một cách quy ước và bất quy ước. Cao Văn Viên cũng phục vụ trong bộ tham mưu khu vực với vai trò sĩ quan tình báo. Gia đình Thiệu và Viên sống với nhau, nhưng theo bà Thiệu, “Mối quan hệ chỉ ở mức bình thường, không quá thân thiết.” Tâm sự với một phóng viên Mỹ, Thiệu “nhớ lại thời gian đó là ngày tháng tươi đẹp nhất của đời ông.” Một phóng viên khác cũng ghi nhận rằng Thiệu cũng gọi những nhiệm vụ bình định của mình là “kinh nghiệm quý giá nhất trong đời binh nghiệp ông”.

Sau khi phục vụ một năm ở Hưng Yên, Thiệu rời nhiệm sở vào cuối tháng 10 1953 và được điều về bộ tham mưu của Quân khu 2, lúc ấy gồm các tỉnh duyên hải ở miền trung Việt. Thêm một lần nữa giữ chức sĩ quan hành quân cho đến tháng 3 1954, khi Quân khu 2 dời từ trung tâm đến phần phía bắc Miền Nam, chiếm khu vực sau này là Quân đoàn I. Khung thời gian này tương ứng với Chiến dịch Atlande, nỗ lực chủ yếu cuối cùng của Pháp trong cuộc chiến. Một nỗ lực gồm nhiều tiểu đoàn, Atlande kéo dài từ tháng 1 đến tháng 7 1954. Sử dụng phối hợp các đơn vị Pháp và QDQGVN, cuộc tấn công định quét sạch Việt Minh ra khỏi các tỉnh duyên hải ở trung tâm Miền Nam. Atlande gồm ba giai đoạn. Giai đoạn I đổ bộ quân vào Tuy Hòa, thủ phủ Tỉnh Phú Yên, ngay phía bắc Ninh Thuận, quê nhà của Thiệu. Tiếp sau việc chiếm lại Tuy Hòa quân Pháp mở tiếp Giai đoạn II vào giữa tháng 3, tấn công thành phố Qui Nhơn, thủ phủ tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, ngay lúc đó, Việt Minh phát động cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ mà kết cuộc là trận thảm bại nổi tiếng của quân Pháp kết liễu cuộc chiến. Việc chinh phục Điện Biên Phủ buộc người Pháp phải bỏ dỡ giai đoạn ba của Atlande.

Nói chung, QĐQGVN thể hiện sự kém cỏi trong chiến dịch Atlande, vì nhiều đơn vị không chịu chiến đấu. Tư lệnh mới của Pháp, Tướng Henri-Eugene Navarre, chế nhạo QĐQGVN, bảo với các phóng viên rằng “binh sĩ Việt Nam được sử dụng trong Chiến dịch Atlande không hăng hái.” Navarre nói thêm QĐQGVN “thiếu tinh thần dân tộc.” Thay vì thú nhận nhiều người Việt trong hàng ngũ binh sĩ không muốn chiến đấu cho người Pháp, lời bình phẩm của Navarre phản ánh quan điểm của nhiều người Pháp rằng người Quốc gia cùng lắm là một đám không ra gì. Quan điểm này sẽ khiến các quan chức cao cấp Pháp kết luận rằng người Quốc gia không thể thắng và lối thoát duy nhất cho cuộc chiến là nền trung lập cho Miền Nam, một phán xét sẽ dẫn dắt chính sách Pháp trong nhiều năm liền.

Thiệu có tham gia Atlande từ tháng 3 đến tháng 7 1954. Được thăng chức Thiếu tá vào ngày 1/3/1954, ông nghiễm nhiên nắm quyền chỉ huy trung đoàn vùng Ninh Thuận vừa mới thành lập và đồng thời trở thành tiểu khu trưởng vào tháng 3 1953, mặc dù điều này không được xác minh. Ông kể với tạp chí Time rằng trong Chiến dịch Atlande, ông đã chỉ huy lực lượng QĐQGVN truy quét làng quê mình. “Bọn Cộng sản rút lui vào ngôi nhà cũ của Thiệu, tưởng rằng ông không dám bắn vào nhà mình. Nhưng Thiệu nói một cách hả hê: ‘Tôi bắn vào ngay ngôi nhà tôi.'” Ông cũng tuyên bố đã tham gia Giai đoạn II của Atlande, nói rằng, “Tôi là người đầu tiên tràn vào chiếm lại Sông Cầu, phía nam Qui Nhơn vì vùng đó đang nằm dưới sự kiểm soát của Việt Cộng.”

Sau đó, Thiệu trở lại Quân khu 2, giờ bộ chỉ huy đóng tại Huế, làm Sĩ quan Hành quân. Vào tháng 9 1954, ông leo đến chức chỉ huy phó, Quân khu 2. Tại sao ông chưa bao giờ chỉ huy một tiểu đoàn QĐQGVN vẫn còn là một câu hỏi lớn, nhất là kể từ khi ông được các chỉ huy Pháp của mình đánh giá cao. Đổ Mậu, người phục vụ với Thiệu ở Hưng Yên, cho rằng Thiệu “nghiêm túc, khôn ngoan, và tài năng của ông về công việc tham mưu được Tướng Pháp De Linares đánh giá rất cao như sau: “Thông minh sắc sảo, cần cù, có phương pháp, và tỉ mỉ. Một sĩ quan tốt có sự hiểu biết đáng kể về các vấn đề tổ chức và nhu cầu giữ mật.'”

Việc thất trận của người Pháp tại Điện Biên Phủ nhanh chóng đưa đến việc ký kết Hiệp định Paris vào ngày 20/7/1954 chia cắt đất nước thành hai phần tại vĩ tuyến 17. Cho đến lúc đó, Miền Bắc Việt và Miền Nam không tồn tại, nhưng hiệp định bắt buộc hai miền đối đầu vốn đều tuyên bố mình làm chủ toàn bộ Việt Nam phải chấp nhận chia đôi đất nước. Người Quốc gia sẽ sớm bị quét sạch trong cơn biến động lớn với sự xuất hiện của Ngô Đình Diệm. Để hoàn thành việc xem xét của chúng ta, trước hết chúng ta hãy tìm hiểu chính xác họ là ai.

NGƯỜI QUỐC GIA

Các độc giả thường bối rối trước sự phức tạp và hỗn loạn của chính tình Việt Nam và sự phi lý của các vai tuồng. Người Mỹ thời gian đó ra sức tìm hiểu những tác động nội tâm của các tính cách Việt Nam và chính trị là hiện thân của câu nói trong kinh thánh “Giờ đây chúng ta nhìn qua một tấm kính, một cách tối tăm.” Các phóng viên và viên chức Mỹ thường tìm hiểu chính tình Việt Nam qua bộ kinh lọc của các nhân vật ưu tú ở Saigon, mà thời gian rảnh rỗi chủ yếu là bàn chuyện phiếm và bày mưu kế giành quyền lực, thường bất chấp thiệt hại cho những người Quốc gia khác. Nhà báo Việt và gián điệp nằm vùng Cộng sản Phạm Xuân Ẩn là một minh hoạ hoàn hảo, vì ông thường là đường dây chính cho thông tin nội bộ cho các phóng viên Mỹ.

Mặc dù đạo Nho vẫn còn có ảnh hưởng ở nông thôn Việt Nam, tác động của nó chỉ được cảm nhận ít ra ở phần phía nam của đất nước. Vậy mà các nông dân chân lấm tay bùn nói chung vẫn chấp nhận các nguyên tắc truyền thống phác họa vai trò của người cai trị và người bị cai trị.

Từ đó phản ứng của họ đối với sự trừng trị nghiêm khắc mà nhà cai trị dành cho những kẻ bất đồng chính kiến là sự dửng dưng. Sự lạnh nhạt này, kèm với khuynh hướng hướng tâm của xã hội Việt, nguồn gốc bí ẩn của các chính đảng và đầu óc độc đoán của các lãnh tụ của chúng lý giải tại sao hầu hết các nhà cai trị Việt Nam đều chấp nhận một kiểu cai trị sắt thép. Rủi thay, một chế độ áp bức, bất kể hoàn cảnh, không hợp với quan điểm cai trị của người Tây phương, và nó tạo thành cơ sở cho nhiều chia rẽ về vấn đề Miền Nam.

Có bốn cơ sở của mối xung đột xã hội-kinh tế trong số người Quốc gia: chính trị, tôn giáo, vùng miền, và sắc tộc. Trong vũ đài chính trị, hai đảng Quốc gia lớn nhất và lâu đời nhất là Đai Việt và VNQDĐ. Cả hai đều xuất xứ từ Bắc Việt như những tổ chức cách mạng, chống Pháp. Họ không thể so sánh, theo thuật ngữ Mỹ, với đảng Dân chủ và Cộng hòa. Họ là dòng dõi thực sự đấu đá nhau thuộc cùng một cương lĩnh.

Thất bại của người Quốc gia trong việc đạt được sự thống soái chính trị ở Việt Nam có tính hai mặt. Vấn đề thứ nhất là sự lãnh đạo. Cả người Cộng sản và Pháp đều nhắm đến và thậm chí sát hại các lãnh tụ chính trị Quốc gia. Vấn đề thứ hai là những người Quốc gia, cũng như người Cộng sản, không thể hoạt động công khai dưới thời thuộc địa và sau đó. Đại Việt, chẳng hạn, bị bộ máy hành chính thuộc địa Pháp cấm và một lần nữa bị Cộng sản cấm khi Hồ lên nắm chính quyền ở Hà Nội vào năm 1945. Người Cộng sản kết tội Đại Việt đang âm mưu “tiến hành những hoạt động chống phá nền kinh tế Việt Nam và nền độc lập quốc gia.” Nếu Đại Việt tiếp tục “tập hợp và hội họp bọn vi phạm sẽ bị truy tố nghiêm khắc theo luật pháp của chúng ta,” nghĩa là họ có thể bị tận diệt. Ngô Đình Diệm cũng ngăn cấm Đại Việt hoạt động, xem Đại Việt như kẻ tranh giành quyền lực hơn là những đối tác chống cộng. Việc áp bức này làm suy yếu nghiêm trọng bất kỳ động lực nào tiến đến một hình thức chính quyền dân chủ, cộng hoà như Quốc hội Ấn dưới thời thuộc địa Anh.

Bị cấm hoạt động công khai, người Quốc gia phải hoạt động ngầm để tổ chức, phát triển và trên hết, để tự bảo vệ mình. Các tổ đảng, chủ yếu trong số dân cư đô thị, sử dụng những kỹ thuật bí mật để liên lạc. Lãnh tụ Đại Việt hàng đầu Nguyễn Ngọc Huy nhận xét rằng những hoạt động bí mật này “cản trở việc tuyên truyền cho cương lĩnh đảng và ngăn cản họ mở rộng cơ sở đảng.” Trong những tình huống khó khăn này, thay vì xây dựng từ đáy lên, các đảng Quốc gia nhắm đến việc cai trị từ đỉnh xuống. Mỗi đảng đều theo đuổi mục tiêu thành lập “một đảng gốm các đồng chí trung kiên, đủ lớn và đủ giỏi lẩn tránh để có thể kiểm soát quyền điều hành địa phương trên toàn quốc, cũng như những hình thức bên ngoài và những tiến hành dân chủ (lập pháp và bầu cử).”

Một lãnh tụ và nhà trí thức lôi cuốn có tên Trương Tú Anh thành lập Đại Việt vào ngày 10/12/1939, ở Hà Nội. Đại Việt có lẽ là đảng Quốc gia lớn nhất ở Miền Nam, thậm chí cho dù họ có số đảng viên kém hơn đối thủ của họ, VNQDĐ, trong các tỉnh phía bắc ở Miền Nam. Khi Anh mất tích đâu đó khoảng cuối năm 1946, người Đại Việt tin rằng Việt Minh đã ám sát ông, buộc nhiều người Quốc gia phải bỏ theo người Pháp chống lại các đối thủ sát nhân của mình.

Cái chết của Anh cũng loại bỏ nhân vật giữ được sự đoàn kết của đảng, cuối cùng nó vỡ ra thành ba nhóm. Nhóm đầu là một phe phái nhỏ ở miền bắc, thường bị gọi chế giễu là nhóm quan lại, vì nhóm chủ yếu gồm những người bắc có học thức. Những người như Bùi Diễm, Phan Huy Quát, Trần Văn Đổ, Đặng Văn Sung, là một số thuộc nhóm này, và tất cả đều từng làm việc cho chính quyền Bảo Đại. Là người bắc, họ ít được dân chúng Miền Nam ủng hộ, nhưng học vấn của họ khiến họ trở thành những ứng viên thu hút vào chính quyền của ông. Mặc dù họ hướng đến một chính phủ lập hiến sẽ hợp pháp hóa các quyền tự do căn bản, nhóm ít ỏi của họ buộc họ phải trông cậy vào sức thuyết phục, một điều bất lợi trong một xã hội cai trị bởi những người có súng đạn.

Nhóm Đại Việt thứ hai là Đại Việt Cách Mạng. Nhóm này chủ yếu đặt cơ sở ở các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ở miền trung. Hà Thúc Ký lãnh đạo nhóm này, nhưng nó chỉ chính thức trở thành Đại Việt Cách Mạng vào năm 1965. Ký sinh ngày 1/1/1919 tại Huế và học tại Đại học Hà Nội. Ông trở thành đảng viên Đại Việt vào năm 1939, và sau đó gia nhập Việt Minh để chống Pháp. Ông trốn khỏi vùng kháng chiến vào giữa năm 1946 khi phát hiện người Cộng sản đã lên danh sách thủ tiêu ông. Vào cuối 1950, ông được chọn cầm đầu nhánh Đại Việt miền Trung, tại đó ông sớm trở thành một nhân vật phân cực khác trong không khí chính trị sôi sục của trung tâm Miền Nam. Sau khi Diệm lên, nhóm của Ký nhen nhóm một cuộc nổi dậy ở Tỉnh Quảng Trị trong số các đơn vị Quân đội Quốc gia Việt Nam. Có tên là Biến cố Ba Lòng, cuộc binh biến bị dập tắt vào ngày 15/3/1955 bởi một nhóm binh sĩ quốc gia trung thành. Ký bỏ trốn vào Saigon và dựng nên trạm phát sóng lén lút nhằm phát đi những thông điệp ủng hộ Đại Việt và chống Diệm. Vào giữa tháng 10 1958, ông bị bắt và kết án chung thân trong tù. Ông được phóng thích sau ngày đảo chính Diệm.

Phe nhóm cuối cùng, nhóm Đại Việt lớn nhất và mạnh nhất, là nhóm miền nam. Do bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Nguyễn Ngọc Huy cầm đầu, nhóm gồm nhiều tầng lớp đia chủ miền Nam trong hàng ngũ. Diệm đày Hoàn và Huy sang Pháp, nhưng cả hai trở về nước sau vụ đảo chính. Mặc dù nguồn gốc quan quyền của đảng, Hoàn và Huy cuối cùng cũng kết luận, giống như Đại Việt miền bắc, rằng nền dân chủ đại diện là hệ thống chính trị tốt nhất. Huy là một trong những nhà trí thức hàng đầu  của phe Quốc gia, và ông sẽ là một động lực chính trong việc biến đổi cách suy nghĩ chính trị của Đại Việt phía nam từ một nhóm cách mạng tìm cách lật đổ chế độ, sang một chính đảng tìm kiếm quyền lực qua thùng phiếu.

Hà Thúc Ký, tuy nhiên, không đồng ý. Phe nhóm ông tiếp tục hoạt động lén lút để gây ảnh hưởng đối với các viên chức cao cấp đang điều hành chính quyền hơn là tranh thủ quyền lực qua vận động bầu cử. Việc ông thành lập Đại Việt Cách Mạng là một minh chứng cho thấy ông muốn theo sát nguồn cội của đảng. Đối mặt với sự chia rẽ không thể hàn gắn được, Huy và Hoàn thành lập Tân Đại Việt vào cuối năm 1964. Vào năm 1969, Tân Đại Việt phát triển thành Phong trào Quốc gia Cấp tiến, chính đảng quan trọng nhất trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam chỉ sau Đảng Dân Chủ của Thiệu và Đảng Công Nông của lãnh tụ lao động Trần Quốc Bửu.

Chính đảng Quốc gia lâu đời nhất của Việt Nam là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Được thành lập vào ngày 25/12/1927, lãnh tụ đầu tiên là Nguyễn Thái Học. Đảng phát động cuộc vùng dậy lừng danh chống Pháp vào ngày 10/2/1930 tại Yên Bái Bắc Việt. Sử dụng phối hợp binh lính Việt Nam nổi dậy và người theo đảng, người của Học giết được một số binh lính thuộc địa, nhưng người Pháp nhanh chóng dập tắt cuộc binh biến. Học bị bắt và bị hành hình, nhưng khẩu hiệu lừng danh trước khi sự hi sinh của ông thúc giục hàng ngàn người Việt gia nhập chính nghĩa Quốc gia: “Dù không thành công thì cũng thành nhân.”

Như mọi tổ chức đảng Việt Nam – trừ người Cộng sản, vốn luôn loại trừ bất kỳ kẻ đi lệch đường lối nào trong đảng như đệ tử của Trotsky – VNQDĐ cũng chia tách thành hai phe sau cái chết của người thành lập. Một người bắc tên Vũ Hồng Khanh cuối cùng nắm quyền chỉ huy nhóm chính. Bản tính chuyên quyền, Khanh là người bắc và cũng là một thành viên sáng lập đảng đã tham gia cuộc nổi dậy Yên Bái non yểu. Sau đó ông chuồn qua Tàu, tại đó ông gia nhập quân đội Quốc gia của Tưởng Giới Thạch. Thoạt đầu ông về với Việt Minh, nhưng sau khi thấy rõ kế sách Cộng sản của Hồ, ông cắt đứt với ông ta. Khanh vào nam năm 1954, và cầm đầu phe nhóm mình chống lại Diệm. Vào năm 1955, ông chỉ huy một băng du kích nhỏ ở Quảng Nam, nhưng rồi như Hà Thúc Ký, cuộc nổi dậy của ông nhanh chóng bị đàn áp. Bị bắt vào năm 1958, Khanh được thả sau cú đảo chính Diệm. Nhóm của ông mạnh nhất ở phía bắc Miền Nam và có số đảng viên lớn nhất so với mọi chính đáng ở vùng đó.

CÁC NHÓM QUÂN SỰ VÀ THỂ TỤC

Trong xứ, đảng nắm nhiều quyền lực nhất là quân đội. Thường được gọi là Đảng Kaki, quân đội luôn duy trì là phần tử Quốc gia có tổ chức nhất ở Miền Nam, nhưng nó cũng chia bè kết phái. Các sĩ quan gốc miền nam thường không ưa người miền bắc, trong khi nhiều người không mấy tin tưởng ai đã từng ly khai với Việt Minh. Xích mích Phật-Thiên chúa giáo cũng âm ỉ ngầm. Sĩ quan thâm niên thì xiết chặt việc thăng chức cho cấp dưới trẻ hơn mình: một sĩ quan đã từng tốt nghiệp  khóa trước không thích làm việc cho các sĩ quan khóa sau. Quân đội chính quy coi thường lực lượng ở địa phương, và những đơn vị tinh nhuệ như Thủy quân Lục chiến, Nhảy dù, và Biệt động thường từ khước nhận lệnh từ những chỉ huy không thuộc binh chủng mình. Cuối cùng, “quyền lợi làm ăn”, nói trắng ra là các hoạt động thương mại bất hợp pháp, làm những mối quan hệ thêm căng thẳng. Theo thời gian, những căng thẳng mới lại nảy sinh giữa những ai theo phe Nguyễn Cao Kỳ và ai về cánh Thiệu. Nói chung, những chia rẽ này tác hại trầm trọng đến tính hiệu quả của các hoạt động quân sự, góp thêm vào các áp lực thông thường của cuộc hành quân tác chiến là thương vong, lương thấp, thiếu tinh thần chiến đấu, và gia đình ly tán.

Nhóm áp lực chủ yếu khác là sinh viên, nổi trội nhất là ở Saigon và Huế. Bình thường nhút nhát, họ bỗng vùng lên chống đối Diệm. Lập tức tổng thống phái cảnh sát đàn áp họ, từ đó phát sinh ý thức về chính trị của họ. Sự kết hợp giữa các sinh viên vận động và các Phật tử đấu tranh là một hỗn hợp chính trị bùng nổ, kéo dài nhiều năm liền. Vào năm 1970, sinh viên trở thành tác nhân chính cho sự bất ổn trong các thành phố.

Những nhóm người Việt không thuộc chính quyền, như lực lượng lao động, cũng muốn nắm quyền lực chính trị. Liên đoàn Lao động Việt Nam là nghiệp đoàn nổi bật của đất nước. Được biết dưới tên viết tắt bằng tiếng Pháp, CVT, nghiệp đoàn đặt cơ sở chính ở Saigon, nhưng có những chi nhánh quan trọng ở Đà Nẵng và đồng bằng Cửu Long. Số hội viên của nó thay đổi, nhưng tại đỉnh điểm CVT tuyên bố có đến 300,000 thành viên. Trần Quốc Bửu cầm đầu nghiệp đoàn. Sinh tại Bình Định, Bửu chuyện về Sàigon vào cuối những năm 1930. Ông bị bắt vào tháng 2 1941 vì các hoạt động chống Pháp và bị đày ra đảo Côn Sơn, một nhà tù chính của Pháp. Một người bạn tù của ông là Phan Khắc Sửu, thủ tướng tương lai. Bửu được phong thích năm 1945, và sau một thời gian ngắn ngủi theo Việt Minh, ông thành lập nghiệp đoàn vào tháng 11 1949.

Ngô Đình Nhu, em trai của Tổng thống Diệm và là cố vấn trưởng của ông, là một người ủng hộ nghiệp đoàn từ buổi đầu. Ông giúp Bửu xây dựng CVT, vừa là một tường thành chống Pháp vừa để chặn đứng âm mưu lôi kéo các công nhân nhà máy của người Cộng sản.  Mặc dù mối quan hệ giữa họ lúc đầu ăn ý, vào năm 1961 cả hai bắt đầu đấu đá giành quyền kiểm soát nghiệp đoàn. Vào tháng 10 1963, Bửu đã chán ngấy hai anh em. Mối quan hệ của ông với phe quân sự trước và ngay sau vụ đảo chính  thì u ám, nhưng ông tất nhiên cam kết hậu thuẫn cuộc đảo chính, và kết quả ông được phép cầm đầu phong trào lao động của mình. Theo thời gian, Bửu phát triển ba đường lối bao trùm: củng cố liên đoàn, trung thành với chủ nghĩa Quốc gia, và chủ nghĩa thực dụng chính trị, một quan điểm ông theo là cứ đứng bên ngoài chính quyền nhưng tránh xa xung đột chính trị nảy lửa. Bửu có khả năng làm việc với chính quyền nhưng vẫn giữ vị trí bên trên khiến ông trở thành một trong ít người ngoài có thể ảnh hưởng đến chính sách.

Một nhóm áp lực thế tục khác chỉ phối đến xã hội Việt Nam là những người bị lưu đày tại Pháp. Theo kiểu điển hình, họ chỉ là một nhóm rời rạc. Một số là các quan chức trước đây của Bảo Đại, một số khác là những bộ trưởng vỡ mộng đã phục vụ dưới trướng Diệm. Hầu hết đều đề xuất một giải pháp trung lập hoặc mong muốn thỏa hiệp chính trị với người Cộng sản. Họ ít được ủng hộ ở Miền Nam, nhưng lúc này lúc khác thỉnh thoảng tên tuổi một vài nhân vật được đưa lên bàn tán như những đại diện nhằm lắp lỗ hổng giữa người Cộng sản và người Quốc gia nếu một giải pháp trung lập cho cuộc chiến là điều có thể. Áp lực thế tục cuối cùng tất nhiên là người Cộng sản. Dù người ta có đồng ý với phương pháp hoặc cương lĩnh của họ hay không, họ đã lên tiếng rõ ràng về cương lĩnh chính trị và xã hội mang tính tập thể kêu gọi được một phân khúc dân chúng bị tước đoạt đặc quyền. Họ đưa ra một hợp đồng mạng tính cộng đồng, độc nhất để tái lập trật tự xã hội, trong khi cách suy nghĩ chính trị của người Quốc gia lúng túng giữa những tư tưởng của Tàu, Nhật, và Pháp. Khi những bất ổn xã hội trong thập niên 1960 quét qua toàn cầu, thì tổ chức Cộng sản phía nam có tên Mặt trận Dân tộc Giải phóng trở nên hấp dẫn như một phong trào và một ý thức hệ đối với những người có cảm tình với cảnh tả, bất kể cách lý giải về tự do có giống với ý nghĩa ở phương Tây hay không. Họ lớn mạnh cho đến cuộc Tổng Công kích Tết Mậu Thân 1968, khi những tổn thất nặng nề và sự rút lui của các đơn vị quân chủ lực Cộng sản khiến chính quyền Thiệu có thể làm yếu đi lực lượng của họ một cách đáng kể.

CÁC NHÓM TÔN GIÁO

Những chính đảng và tổ chức thế tục, bị phân mảnh và yếu đi nhiều sau những năm tháng bị Cộng sản truy sát và bị Diệm áp bức, không còn có vai trò quan trọng như lý lịch tôn giáo và vùng miền. Tam giáo (Phật, Khổng, Lão) và thờ cúng tổ tiên cấu thành nền đá tảng của các giá trị xã hội và văn hóa Việt Nam. Phật giáo, Khổng giáo, và Thiên chúa giáo, và ở một mức độ kém hơn, giáo phái Hoà Hảo và Cao Đài là những tôn giáo chính.

Phật giáo, một sản phẩm văn hóa khác trong một chuỗi dài các sản phẩm nhập khẩu từ Tàu, là tôn giáo lớn nhất của Miền Nam. Trong dân số xấp xỉ 12 triệu người vào thời kỳ đó, có khoảng 3 đến 4 triệu người theo đạo Phật, trong số đó khoảng phân nửa là những phật tử tích cực. Ba đến bốn triệu người khác theo lời dạy của đạo Nho. Trong số đó cũng có người theo đạo Phật một cách hình thức và thờ cúng tổ tiên. Khoảng một triệu rưỡi người theo đạo Thiên chúa, và hai triệu người khác theo giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài.

Đạo Phật ở Miền Nam có nhiều giáo phái nhưng đi theo ba phe chính trị khác nhau. Không có gì ngạc nhiên, họ chia rẽ theo đường đứt gãy vùng miền. Một phe ở các tỉnh phía bắc Miền Nam, phe khác là người tị nạn từ Bắc vào định cư tại Saigon, và phe cuối cùng là ở vùng châu thổ Cửu Long.

Các Phật tử có tính thần đấu tranh nhiều hơn chủ yếu ở phía bắc Miền Nam, vùng bao gồm Quân khu I. Thích Trí Quang, người sau này sẽ trở thành nhà vận động Phật giáo cự phách nhất trong xứ, chỉ huy nhóm này. Trong khi chỉ nắm một chức vị tâm linh, ông ta là một người vận động quần chúng xuất sắc. Để tập kết được giới tăng sĩ  thường xa lạ với chính trị và kích động công luận, ông đúc khuôn các vấn đề chính trị bằng những thuật ngữ tôn giáo đầy hình ảnh như “bảo vệ Phật pháp” hoặc “tự do tín ngưỡng”. Thưởng bị tố cáo là có cảm tình với Cộng sản, cách tu từ  của Trí Quang thể hiện một chương trình hành động mang tính dân tộc cao độ, chống tư bản kết hợp với khẩu hiệu “hòa bình với bất cứ giá nào”. Òng không thân cộng, nhưng nền tảng của ông thật ngây thơ về mặt chính trị, và một số tu từ của ông quá sát với Hà Nội về mặt ý thức hệ khiến Saigon và Washington thấy khó chịu.

Thích Tâm Châu dẫn đầu nhóm chung quanh thủ đô. Nhiều người là bắc di cư nên thân chính quyền hơn. Châu là chủ tịch Tổng Hội Phật giáo, một cấu trúc điều hành yếu kém các tổ chức Phật giáo khác. Như Quang, mục tiêu chính của ông là thống nhất nhiều phe phái, và ông hậu thuẫn một dự thảo của chính quyền sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ở Miền Nam để tạo cho giáo hội một vị thế pháp lý. Châu thành công khi thuyết phục được 14 trong số 16 phe nhóm Phật giáo gia nhập giáo hội thống nhất. Sau vụ đảo chính Diệm, thoạt đầu ông cùng phe với Trí Quang, nhưng cuối cùng ông chia tay với ông ta và ngấm ngầm hậu thuẫn chính quyền Saigon. Nhóm thứ ba, phần đông là người Miên ở vùng hạ lưu sông Cửu Long và những người miền nam khác, không tham gia chính trị.

Giáo hội Thiên chúa giáo đại diện cho tổ chức có cấu trúc chặt chẽ nhất ở Miền Nam sau quân đội và Đảng Cộng sản. Nó vượt trội so với Phật giáo về vấn đề đầu tư tài chính, khiến giáo hội có thể tài trợ một mạng lưới rộng lớn các trường dòng và nhà xuất bản tạo thành một hạ tầng cơ sở ấn tượng trên khắp xứ. Nó cũng được liên kết vào mạng lưới toàn cầu  các tổ chức Thiên chúa giáo hỗ trợ cung cấp chuyên viên cho những cơ sở phúc lợi khác nhau.

Rủi thay, vì các giáo sĩ do người Pháp đào tạo và giáo dục, và giáo hội đã phát triển nhờ vào hỗ trợ chính quyền thuộc địa, giáo hội thường được đồng nhất với quyền lợi của người Pháp. Nhiều Phật tử nhiệt huyết nhìn thấy ở người Thiên chúa giáo là bọn hợp tác và tay sai của thực dân Pháp. Một câu nói dân gian tóm lược thái độ này như sau: “Giáo dân Thiên chúa Việt Nam là cái càng để con cua Pháp bò khắp đất nước chúng ta.” Tuy các Phật tử đấu tranh và người Cộng sản ra sức tô vẻ người Thiên chúa như những tên bù nhìn Pháp, cả giáo hội địa phương và giáo dân thường là những người Quốc gia nhiệt thành và vì vậy chống cộng quyết liệt. Giáo hội Thiên chúa Miền Nam do Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình cầm đầu. Nói năng ôn tồn, ông được nhiều người kính trọng, kể cả phần đông Phật tử. Bình kín đáo chỉ trích Diệm nhưng lại hậu thuẫn mạnh mẽ các chính quyền tương lai. Người Thiên chúa, mặc dù đoàn kết hơn Phật tử, nhưng cũng có những rạn nứt kiểu vùng miền. Cha Hoàng Quỳnh là một đại diện tiếng tăm của khoảng 800,000 giáo dân miền bắc đã di cư vào nam. Ở miền Bắc, Quỳnh đã chỉ huy lực lượng dân quân tự vệ giáo khu Phát Diệm cầm cự với lực lượng Cộng sản hàng năm liền. Sau Hiệp định Geneva, Quỳnh đã dẫn dắt giáo dân của mình di cư vào nam, cuối cùng định cư xứ đạo của mình ở Saigon, nơi ông trở nên thân cận với Diệm. Mối đe doạ do các Phật tử quá khích gây ra vào năm 1965 thúc giục Quỳnh thành lập “Lực Lượng Đại Đoàn Kết”, mà cuối cùng chuyển thành chính đảng Thiên chúa giáo có tên Nhân Xã. Quỳnh trở thành lãnh tụ chính trị thẳng thắn, và Lực Lượng Đại Đoàn Kết tạo cho ông nền tảng từ đó ông yêu cầu một thắng lợi quân sự đối với người Cộng sản. Cuối cùng, có một nhóm nhỏ nhưng ồn ào các giáo sĩ Thiên chúa cánh tả phản chiến, mà hàng ngũ của họ lớn mạnh khi cuộc chiến tiếp diễn.

Những tôn giáo có ý nghĩa khác ở Miền Nam là Cao Đài và Hòa Hảo. Đạo Cao Đài được chính thức thành lập tại thành phố Tây Ninh vào năm 1926. Mặc dù có tín ngưỡng đa thần khá bất thường, tôn giáo này nhanh chóng thu hút người mộ đạo và khống chế khu vực dọc biên giới Việt-Miên phía tây Saigon. Đạo Cao Đài thành lập một đội dân quân lớn, nhưng Diệm có thể kết nạp lãnh đạo giáo hội tham gia vào chính quyền của mình.

Hoà Hảo là một phong trào phục hưng đao Phật do Huỳnh Phú Sổ sáng lập vào năm 1939 tại những tỉnh miền tây như Châu Đốc và An Giang ở đồng bằng sông Cửu Long. Được các tín đồ xem là đấng tiên tri, ông vừa chống Pháp vừa chống Việt Minh. Sau những biến động trọng đại của ngày 2/9/1945 tại Hà Nội, và nhận thấy ảnh hưởng chính trị lên cao của Cộng sản, vào ngày 9/9, Huỳnh Phú Sổ tìm cách đánh đuổi Việt Minh ra khỏi Cần Thơ, thủ phủ của đồng bằng sông Cửu Long. Không có đủ vũ khí hoặc được đào tạo quân sự, Việt Minh ra tay tàn sát họ. Biết rằng Hòa Hảo sẽ không hợp tác, Việt Minh bắt và thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ vào ngày 16/4/1947.

Việc sát hại người lãnh tụ của mình khiến giáo phái này thường xuyên căm thù người Cộng sản. Như những nhóm chính trị khác, cái chết của lãnh tụ chia rẽ Hòa Hảo. Hai nhánh được thành lập, nhưng sự khác biệt không hề liên quan đến tôn giáo mà nguyên nhân chỉ là do cá tính và chính trị. Mặc dù chống cộng kịch liệt, Hòa Hảo từ chối hợp tác với chính quyền Saigon. Người Pháp đã thành lập một lực lượng dân quân Hòa Hảo, nhưng để mở rộng quyền kiểm soát khắp đất nước, vào năm 1956 Diệm đem quân đi tiêu diệt lực lượng không chính quy Hòa Hảo. Không có lối thoát, Hòa Hảo bất đắc dĩ phải trung thành với Saigon, và chẳng bao lâu các tỉnh lỵ Hòa Hảo chính như Cháu Đốc và An Giang gần như hoàn toàn  không chịu ảnh hưởng của Cộng sản. Khi cuộc chiến diễn tiến, tuy nhiên, ước muốn tự trị từ xưa của người Hoà Hảo sống lại, và vào năm 1974, giáo phái và chính quyền Thiệu đành gác lại ước muốn thành lập lực lượng phòng thủ của riêng mình. Dù vậy, suy cho cùng, Hoà Hảo coi QĐQGVN như thành trì bảo vệ đất đai của mình chống lại người Cộng sản.

CHIA RẼ SẮC TỘC

Sắc tộc cũng đóng một vai trò quốc gia quan trọng. Các nhóm thiểu số có ý nghĩa nhất ở Miền Nam là người Khmer (hay Miên), sống tập trung ở vùng Cửu Long; người Hoa, với khoảng 700 ngàn người trong xấp xỉ 1 triệu người đóng chốt ở vùng Saigon và Chợ Lớn; và người miền núi ở Cao nguyên miền Trung gọi là đồng bào Thượng. Một triệu đồng bào Thượng – một số là người Malayo-Polynesian về ngôn ngữ, một số Mon Khmer – được phân chia thành khoảng 35 bộ tộc khác nhau và tiểu nhóm bộ tộc. Họ sống theo kiểu bán du cư trong vùng rừng núi và cao nguyên miền trung Việt Nam.

Người Việt kỳ thị tất cả ba nhóm sắc tộc này, càng làm trầm trọng mối hận thù sắc tộc giữa các nhóm. Người Khmer, hậu duệ của một đế chế Cao Miên đã từng trải rộng khắp vùng châu thổ Cửu Long, thường ít được thăng cấp trong quân ngũ và hành chính công vụ. Đồng bào Thượng thường bị đối xử chỉ hơn người man dã một chút và đất đai cùng gỗ quý của họ bị mặc tình đến chiêm đoạt.

Vì Việt Nam đã từng nằm dưới ách đô hộ của Tàu, nên động cơ sắc tộc gay gắt nhất là giữa hai sắc tộc này. Là một bộ phận của đế chế Trung Hoa trong một ngàn năm, và thường đứng lên chống quân xâm lược, người Việt buộc phải tiếp thu phần lớn văn hóa của bọn chiếm đóng. Trong tất cả nhóm thiểu số ở Miền Nam, người Hoa có ảnh hưởng lớn nhất. Thương mại là nguyên do, và như các cộng đồng Hoa kiều thống trị thị trường các nước Đông Nam Á, Việt Nam không phải là ngoại lệ. Người Pháp mang vào dân lao động Hoa và cho phép họ duy trì mạng lưới thương mại đã tồn tại trước đó, nhất là trong nghề buôn bán lúa gạo ở Miền Nam.

Việc hầu hết quyền lợi thương trường của Pháp đều cuối cùng rút lui để lại các hoạt động thương mại gần như trong tay người Hoa. Phần đông người làm ăn và viên chức chính quyền Việt Nam đều không thích sự vượt trội này của Hoa kiều,  và càng ngày càng  mong muốn hạn chế ảnh hưởng kinh tế của họ qua pháp luật. Vì thế đến thời Diệm, ông thông qua vài đạo luật thương mại cấm đoán người Hoa. Chẳng hạn, những nhà máy xay lúa mới mở ra phải do người Việt làm chủ. QĐQGVN tuy thế cũng phải thận trọng vì họ không muốn nguy cơ mất quan hệ với Đài Loan và Singapore nếu áp bức thái quá việc làm ăn của người Hoa. Trong khi đa phần người Hoa đều vất vả mưu sinh bằng lao động tay chân hay buôn bán nhỏ, chỉ có khoảng hai chục đại gia đình khống chế ngành kỹ nghệ đất nước. Bảy đến mười gia đình kiểm soát thị trường lúa gạo, trong khi những gia đình khác thống trị kỹ nghệ dệt. xuất nhập khẩu, cho vay nóng không qua ngân hàng.

Những gia đình này thường được coi là tác nhân chính gây ra nạn hối lộ làm tình trạng tham nhũng, thối nát  của các viên chức  chính quyền và sĩ quan cảnh sát tràn lan. Đến lượt họ thường bị hù doạ bởi các chính trị gia Việt để đóng góp tài chính, đi từ việc tài trợ cho các chính đảng đến các dự án dân sự.

KỲ THỊ VÙNG MIỀN

Tình trạng phe cánh xấu xa nhất là kỳ thị vùng miền. Khi người Việt mở cuộc “Nam tiến”, nhiều xung đột nội bộ của người Việt là dựa vào vùng miền, đặc biệt giữa các chúa Trịnh ở phía bắc và Vương triều Nguyễn đặt kinh đô ở Huế. Nam tiến thực chất là cuộc bành trướng thuộc địa về phương nam của người Việt, và nó làm bùng lên những cuộc nội chiến vào thế kỷ 17 và 18, và một lần nữa vào năm 1945 (một ý kiến có thể gây tranh cãi). Địa thế gồ ghề nảy sinh sự khác biệt về phương ngữ và văn hóa giữa các vùng miền, cũng như khi xét về những đặc điểm tính cách. Người Bắc kỳ khinh thị người Nam kỳ, xem họ là dễ tính và đôi khi lè phè, trong khi người Nam xem người Bắc là hay gây sự và huênh hoang. Người Trung, đặc biệt người từ kinh thành Huế xưa, tự coi mình là những người lãnh đạo đúng đắn của Việt Nam và không chịu để vùng miền nào chỉ huy mình. Người Pháp lợi dụng mối chia rẽ chua cay này và làm trầm trọng thêm bằng cách chia đất nước ra làm ba kỳ. Vì vậy, khi gần một triệu người Bắc di cư vào nam sau Hiệp định Geneva, nhiều nhân vật ưu tú miền nam, đặc biệt những người đã từng học trường Pháp, bất mãn trước sự khống chế của người bắc và trung trong quân đội và trong chính quyền Miền Nam

Trong khi duyệt xét điểm số của các phe đảng chính trị, những rạn nứt tôn giáo, mối hiềm khích vùng miền, và bệnh mù quáng về sắc tộc, nhiều người nhận ra không sai lầm sự chia rẽ của người Quốc gia, so với bên Cộng sản gắn kết như một khối đá, là điểm yếu lớn nhất của Miền Nam, một điểm yếu sẽ đương nhiên dẫn đến sự hủy diệt của nó. Sau khi các cường quốc, Hà Nội, và Paris kết thúc Hiệp định Geneva chia đôi đất nước, Miền Bác do Hồ lãnh đạo, xây dựng một cấu trúc cai trị bền vững. Họ phát triển một quân đội ấn tượng và tranh thủ được lòng trung thành của nhân dân. Chính phủ Bảo Đại ở phía nam chỉ cai trị một lãnh thổ hơi vượt quá địa phận Saigon, quân đội thì yếu ớt, thiếu tinh thần chiến đấu, và còn phải giải quyết số người Pháp còn ở lại. Cựu Hoàng cần có ai đó trợ giúp ông cai trị, và ông tìm được một nhà lãnh đạo mới ở Ngô Đình Diệm. Từ đây bắt đầu câu chuyện chính của chúng ta.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s