Truyền kỳ về nước Việt Thường thời xưa

越裳氏

Tích Dã

I. Dẫn nhập

Việt Thường (chữ Hán: 越裳, còn được viết là 越常, 越嘗), còn gọi là nước Việt Thường (Việt Thường quốc 越裳國) hoặc họ Việt Thường (Việt Thường thị 越裳氏) là một quốc gia hoặc bộ lạc cổ đại được nhắc đến trong một số thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam.

II. Diễn văn

1. Nước Việt Thường được nhắc đến đầu tiên ở thời Hán 漢 với chuyện dâng chim trĩ cho vua Châu Thành Vương 周成王, cho biết nước ấy ở phía nam đất Giao Chỉ (chữ Hán: 交趾 hoặc 交阯), nhưng không nói rõ ở vùng nào.

Thượng thư đại truyện – Đại cáo 尚書大傳 – 大誥 (Hán 漢 – Phục Thắng 伏勝 soạn):

交阯之南,有越裳國。周公居攝六年,制禮作樂,天下和平。越裳以三象,重譯而獻白雉,曰道路悠遠,山川阻深,音使不通,故重譯而朝。成王以歸周公。公曰:德不加焉,則君子不饗其質。政不施焉,則君子不臣其人;吾何以獲此賜也?其使請曰:吾受命吾國之黃耇,曰久矣天之無烈風澍雨,意者中國有聖人乎?有則,盍往朝之。周公乃歸之於王,稱先王之神,致以薦於宗廟。周德既衰,於是稍絕。

Phía nam đất Giao Chỉ có nước Việt Thường. Châu Công (tên Cơ Đán 姬旦) nhiếp chính được sáu năm, đặt lễ làm nhạc, thiên hạ hòa bình. Người nước Việt Thường qua quan Tam tượng (tức Tượng tư 象胥: chức quan phiên dịch thời nhà Châu) nhiều lần phiên dịch mà dâng chim trĩ trắng, nói: “Đường đi xa xôi, sông núi sâu hiểm, tin tức không thông, cho nên nhiều lần phiên dịch mà đến chầu.” Thành Vương đem cho Châu Công, Châu Công nói: “Đức không trùm nước người thì quân tử không hưởng lễ vật của nước người. Lệnh không đến nước người thì quân tử không bắt nước người xưng thần. Ta cớ gì mà nhận lễ vật ấy?” Sứ giả nước ấy nói: “Tôi vâng lệnh ông kẹ (ông già, tộc trưởng) nước tôi nói nhiều năm nay trời không có mưa rào gió lốc, nghĩ là Trung Quốc có thánh nhân chăng? Có thì cho nên đến chầu vậy.” Châu Công lại trả cho Thành Vương, ca ngợi công đức của tiên vương, đem cúng tế ở tông miếu. Sau này nhà Châu đức suy, (nước Việt Thường) dần dần dứt qua lại.

Luận hành – Nho tăng 論衡 – 儒增 (Hán 漢 – Vương Sung 王充 soạn):

周時天下太平,越裳獻白雉,倭人貢鬯草。

Thời nhà Châu thiên hạ thái bình, người nước Việt Thường dâng chim trĩ trắng, người nước Oa cống cây lúa nếp.

2. Chuyện nước Việt Thường dâng chim trĩ trở thành biểu tượng cho việc Man Di mến mộ sự thịnh trị của Trung Quốc. Cho nên cuối thời Tây Hán, ngoại thích quyền thần là Vương Mãng 王莽 phụ chính, ngầm sai quận Ích Châu 益州 (thuộc đất Nam Trung 南中, tức tỉnh Vân Nam 雲南 ngày nay) mạo xưng là họ Việt Thường đến cống chim trĩ để tâng bốc công lao của mình.

Tiền Hán kỷ – Hiếu Bình Hoàng Đế kỷ 前漢紀 – 孝平皇帝紀 ( Hán 漢 – Tuân Duyệt 旬悅 soạn ):

元始元年春正月,越裳氏重譯獻白雉一,黑雉二。莽令益州諷使之也。群臣奏言莽功德比周公,宜賜號安漢公,益封三萬戶,莽固辭封。

Năm Nguyên Thủy đầu tiên (năm 1 sau Công nguyên), mùa xuân, tháng giêng, họ Việt Thường qua nhiều lần phiên dịch dâng một con chim trĩ trắng, hai con chim trĩ đen. Là do (Vương) Mãng lệnh cho quận Ích Châu làm nên chuyện ấy vậy. Bầy tôi tấu nói công đức của Mãng sánh với Châu Công, nên ban hiệu là An Hán Công, phong thêm thực ấp ba vạn hộ. Mãng cố từ chối phong thêm.

3. Muộn nhất đến thời Tam quốc và thời Tấn thì người ta xác định vị trí nước Việt Thường thời nhà Châu ở quận Cửu Đức 九德 (ở phía nam sông sông Lam thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay) hoặc ở nước Lâm Ấp 林邑 (ở phía nam đèo Ngang, tức huyện Tượng Lâm 象林 thuộc miền trung Việt Nam ngày nay), tức nước Chiêm Thành 占城 sau này.

Thủy kinh chú 水涇注 của người thời Bắc Ngụy 北魏 là Lịch Đạo Nguyên 酈道元 dẫn Lâm Ấp ký 林邑記 (Tác giả khuyết danh soạn):

九德,九夷所極,故以名郡。郡名所置,周越裳氏之夷國。《周禮》,九夷遠極越裳。白雉、象牙,重九譯而來。自九德通類口,水源從西北遠荒,逕寧州界來也。九德浦內逕越裳究、九德究、南陵究。

Quận Cửu Đức là chỗ cuối cùng của Cửu Di, cho nên đặt tên quận như vậy. Đặt ra quận ấy, vốn là nước Man Di của họ Việt Thường thời nhà Châu. Châu lễ có nói “Chỗ xa nhất của Cửu Di là nước Việt Thường, đem chim trĩ trắng và ngà voi, nhiều lần phiên dịch mà đến chầu.” Từ cửa Thông Loại quận Cửu Đức, nguồn nước chảy ra từ miền xa vắng phía tây bắc, chảy qua đất Ninh châu mà đến đây. Từ bến Cửu Đức đi đến suối Việt Thường, suối Cửu Đức, suối Nam Lăng.

Cổ kim chú 古今注 (Tấn 晉 – Thôi Báo 崔豹 soạn):

大駕指南車,起黃帝與蚩尤戰於涿鹿之野。蚩尤作大霧,兵士皆迷,於是作指南車,以示四方,遂擒蚩尤,而即帝位。故後常建焉。舊說周公所作也。周公治致太平,越裳氏重譯來貢白雉一,黑雉二,象牙一,使者迷其歸路,周公錫以文錦二匹,軿車五乘,皆為司南之制,使越裳氏載之以南。緣扶南林邑海際,期年而至其國。使大夫宴將送至國而還,亦乘司南而背其所指,亦期年而還至。

Xe giá lớn chỉ nam có từ thời Hoàng Đế đánh nhau với Xi Vưu ở cánh đồng Trác Lộc. Bấy giờ Xi Vưu làm ra sương mù, quân lính đều lạc đường, do đó (Hoàng Đế) làm ra xe chỉ nam để xác định bốn hướng, cuối cùng bắt được Xi Vưu mà lên ngôi vua. Cho nên người đời sau cũng thường làm xe này. Có thuyết xưa nói là do Châu Công làm nên. Châu Công trị thiên hạ thái bình, họ Việt Thường nhiều lần phiên dịch đến cống một con chim trĩ trắn, hai con chim trĩ đen, một cái ngà voi. Sứ giả quên đường về nước, Châu Công tặng cho hai bó lụa thêu và năm cỗ xe lớn đều có kim chỉ nam, sai người họ Việt Thường chở nó để về phía nam, men theo bờ biển Lâm Ấp-Phù Nam, trong năm đó thì về đến nước ấy, sai quan Đại phu cũng đi theo hộ tống đến nước ấy rồi về, cũng ngồi quay lưng xe chỉ nam ấy trong năm thì về được.

Tấn thư – Địa lí chí 晉書 – Địa lý chí 地理志 (Đường 唐 – Phòng Huyền Linh 房玄齡 soạn):

九德郡吳置,周時越常氏地。

Quận Cửu Đức đặt ra từ thời nhà Ngô (thời Tam quốc), là đất của họ Việt Thường thời nhà Châu.

Nam Tề thư – Châu quận chí 南齊書 – 州郡志 (Nam Lương 南梁 – Tiêu Tử Hiển 蕭子顯 soạn):

九德郡,九德、咸驩、浦陽、南陵、都洨、越常、西安。

Quận Cửu Đức gồm các huyện Cửu Đức, Hàm Hoan, Phố Dương, Nam Lăng, Đô Giao, Việt Thường, Tây An.

Cựu Đường thư – Địa lý chí 舊唐書 – 地理志 (Hậu Tấn 後晉 – Lưu Hú 劉昫 soạn):

九德州所治。古越裳氏國。

Huyện Cửu Đức là sở trị của (Hoan 驩) châu. Là nước của họ Việt Thường thời xưa.

Lương thư – Chư di liệt truyện 梁書 – 諸夷列傳 (Đường 唐- Diêu Tư Liêm 姚思廉 soạn):

林邑國者,本漢日南郡象林縣,古越裳之界也。

Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam thời Hán, là đất của nước Việt Thường thời xưa.

Thù vực châu tư lục 殊域周咨錄 (Minh 明 – Nghiêm Tòng Giản 嚴從簡 soạn):

占城國,古越裳氏界。

Nước Chiêm Thành là dất của họ Việt Thường thời xưa.

4. Thời Nam bắc triều ghi chuyện người nước Việt Thường dâng rùa thần cho vua Nghiêu 堯 nhà Đào Đường 陶唐.

Thuật dị chí 述異記 (Nam Lương 南梁 – Nhâm Phưởng 任昉):

陶唐之世越常國獻千歳神龜方三尺餘,背上有文科斗書,記開闢已來。帝命録之謂之龜厯。伏滔述帝功徳銘曰胡書龜厯之文。

Vào thời Đào Đường, người nước Việt Thường dâng rùa thần nghìn năm, vuông hơn ba thước, trên lưng (mai rùa) có lời văn viết bằng chữ khoa đẩu (chữ hình giống con nòng nọc), ghi từ thủa khai tịch đến nay. Vua (Nghiêu) sai ghi lại gọi là lịch rùa. Thuật đế công đức minh của Phục Thao (Phục Thao 伏滔: tác giả thời Tấn 晉) chép “Dùng chữ người Hồ (chắc là một dạng chữ Phạn) ghi lịch rùa.”

5. Đến thời Minh 明 – Thanh 清 lại nói nước Lão Qua ( Lão Qua 老撾, hoặc tên Nam Chưởng 南掌, tức nước Lào ngày nay) là đất Việt Thường xưa.

Chi Phong loại thuyết 芝峯類說 (Triều Tiên 朝鮮 – Lý Túy Quang 李睟光 soạn):

老撾國在安南西南。古越裳之國。

Nước Lão Qua ở phía tây nam nước An Nam, là nước của họ Việt Thường thời xưa.

Thánh vũ ký 聖武記 (Thanh 清 – Ngụy Nguyên 魏源 soạn):

老撾 即古 越裳氏 , 景 邁 二國即 八百息婦國 ,皆來貢象。

Nước Lão Qua là đất của họ Việt Thường thời xưa, cùng nước Cảnh Mại tức nước Bát Bách Tức Phụ, hai nước đều đến cống voi (cho nhà Thanh).

6. Sử Việt chép nước họ Việt Thường là một bộ của nước Văn Lang 文郎, hoặc Hùng Vương 雄王 sai sứ tự xưng.

Việt sử lược 越史略 (Tác giả khuyết danh thời Trần 陳):

昔黃帝既建萬國,以交趾遠在百粵之表,莫能統屬,遂界於西南隅,其部落十有五焉,曰交趾、越裳氏、武寧、軍寧、嘉寧、寧海、陸海、湯泉、新昌、平文、文郎、九真、日南、懷驤、九德,皆禹貢之所不及。

Ngày xưa Hoàng Đế đã dựng muôn nước, vì đất Giao Chỉ xa ở ngoài cõi Bách Việt, chẳng thống thuộc được, bèn đặt ranh giới ở góc tây nam, trong đó có mười lăm bộ lạc là Giao Chỉ, Việt Thường, Vũ Ninh, Quân Ninh, Gia Ninh, Ninh Hải, Lục Hải, Thang Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Hoan, Cửu Đức. Đều không được sách Vũ cống nói đến.

Lĩnh Nam chích quái – Bạch trĩ truyện 嶺南摭怪 – 白雉傳(Trần 陳 – Trần Thế Pháp 陳世法 soạn):

周成王時,雄王命其臣稱越裳氏,獻白雉於周。其言語不通,周公使人重譯,然後相通。周公問曰:「何為而來?」越裳氏應曰:「今天無淫雨、海不揚波三年矣。意者中國有聖人矣,故來。」周公嘆曰:「政令不施,君子不臣其人;德澤不加,君子不享其物。及記黃帝所誓曰:『交趾方外,無得侵犯。』」賞以重物,教戒放回。越裳使忘其歸路,周公命賜之駢車五乘,皆為向南之制。越裳氏載之由扶南、林邑海渚,期年而至其國,故指南車常為先導。

Vào thời vua Thành Vương nhà Châu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim trĩ trắng sang cống cho nhà Châu. Vì ngôn ngữ bất đồng, Châu Công phải sai sứ qua nhiều lần dịch mới hiểu nhau được. Châu Công hỏi: “Tại sao tới đây?” Người họ Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nhân vậy tới đây.” Châu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì người quân tử không bắt được kẻ khác thần phục mình, đức trạch không mở rộng thì người quân tử không hưởng lễ vật của người. Còn nhớ Hoàng Đế có câu thề rằng “Đất Giao Chỉ ở ngoài cõi, không được xâm phạm.” Bèn ban thưởng cho phẩm vật, răn dạy mà cho về. Người họ Việt Thường quên đường về, Châu Công bèn ban cho năm cỗ to đều có kim chỉ nam. Người họ Việt Thường nhận lấy rồi theo bờ biển Phù Nam-Lâm ấp, đi một năm thì về tới nước. Cho nên xe chỉ nam thường dùng để đi trước dẫn đường.

III. Kết luận

Niên đại xa xôi lại ít được ghi chép, cho nên phần lớn là do người đời sau suy diễn chủ quan theo ý mình. Theo chủ ý của người viết Tích Dã thì nước Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ tức đất quận Cửu Đức 九德 thời nhà Đông Ngô là đáng tin hơn, vì được sách vở ghi nhận sớm nhất, ở đó còn có huyện Việt Thường 越裳 để ghi nhận đất cũ vậy.


16 thoughts on “Truyền kỳ về nước Việt Thường thời xưa

    • Thời Nam bắc triều, nhà Nam Lương 南梁 đặt ra Đức châu 德州 vốn là đổi quận Cửu Đức (Cửu Đức quận 九德郡) mà nên. Bấy giờ quận 郡 đổi ra châu 州 hết, dưới châu là huyện 縣. Mà quận Cửu Đức đặt ra từ thời nhà Ngô (vua Tôn Hạo), vốn tách huyện Hàm Hoan 咸驩 của quận Cửu Chân 九真 mà thành. Vậy thì huyện Hàm Hoan là quận Cửu Đức là Đức châu thuộc đất Nghệ Tĩnh ngày nay vậy. Đến thời Đường 唐, lại lấy đất phía bắc của Đức châu cũ đặt Hoan châu 驩州 (phần lớn đất Nghệ An ngày nay), đất Đức châu cũ chỉ còn phần lớn đất Hà Tĩnh ngày nay. Sau nhà Đường lại đổi tên Hoan châu thành Diễn châu 演州, lại đổi tên Đức châu thành Hoan châu 驩州. Từ đó tên gọi Đức châu 德州 bị bỏ, chỉ còn Diễn châu 演州 ở phía bắc (phần lớn đất Nghệ An) và Hoan châu 驩州 ở phía nam (phần lớn đất Hà Tĩnh). Đời sau gọi chung là đất Hoan Diễn 驩演, tức Nghệ Tĩnh ngày nay vậy.

      • Tôi có chỗ nói sai. Xét địa danh Đức châu 德州, Lợi châu 利州, Minh châu 明州 thời nhà Lương 梁 (tức Nam Lương 南梁) phải xem ở Tùy thư 隋書 – Địa lý chí 地理志 mới được.

        _____________

        Tùy thư – Địa lý chí

        (Đường 唐 – Ngụy Trưng 魏徵 soạn. Tùy thư là sách chép về mọi mặt chính trị quân sự văn hóa kinh tế địa lý thời nhà Tùy)

        日南郡梁置德州,開皇十八年改曰驩州。統縣八,戸九千九百一十五。九德帶郡。咸驩浦陽越常金甯梁置利州。開皇十八年改爲智州,大業初州廢。交谷梁置明州,大業初州廢。安遠光安舊曰西安,開皇十八年改名焉。
        Quận Nhật Nam: Là đất Đức châu mà nhà Lương đặt ở đây. Năm Khai Hoàng thứ mười tám (tuế thứ Mậu Ngọ, năm 598, thời vua Văn Đế 文帝 tên là Dương Kiên 楊堅), đổi tên là Hoan châu. Quản lý tám huyện, lĩnh chín nghìn chín trăm mười lăm hộ.

        – Huyện Cửu Đức: Là nơi đặt sở trị (thủ phủ) của quận.
        – Huyện Hàm Hoan.
        – Huyện Phố Dương.
        – Huyện Việt Thường.
        – Huyện Kim Ninh: Nhà Lương từng đặt ra Lợi châu ở đây, năm Khai Hoàng thứ mười tám đổi tên là Trí châu. Đầu năm Đại Nghiệp (thời vua Dạng Đế 煬帝 tên là Dương Quảng 楊廣) thì bỏ Trí châu.
        – Huyện Giao Cốc: Nhà Lương từng đặt ra Minh châu ở đây. Đầu năm Đại Nghiệp thì bỏ Minh châu.
        – Huyện An Viễn.
        – Huyện Quang An: Trước đây (thời nhà Nam Tề, Nam Lương) tên là Tây An, đến năm Khai Hoàng thứ mười tám thì đổi tên như vậy.

        _________

        Tức là thời Tùy đặt ra quận Nhật Nam (khác với quận Nhật Nam thời trước) trên đất Nghệ-Tĩnh ngày nay, gồm tám huyện, trị ở huyện Cửu Đức (có lẽ ở ven bờ nam hoặc bắc sông Lam, thuộc các huyện Nam Đàn hoặc Đức Thọ ngày nay). Thời nhà Lương, đất Đức châu, Lợi châu và Minh châu đều nằm trên đất Nghệ-Tĩnh ngày nay. Thời Đông Ngô, Tây Tấn, Đông Tấn, Lưu Tống, Nam Tề là quận Cửu Đức, đều trị ở huyện Cửu Đức.

        Huyện Hàm Hoan và huyện Phố Dương chắc chắn ở bờ bắc sông Lam thì chắc chắn rồi.

        Huyện Việt Thường ở phía nam sông Lam, có lẽ là nước Việt Thường thời nhà Châu từng đóng đô ở đây, cho nên lấy đặt tên huyện.

        Vậy thì ở thời Lương, đất Lợi châu và Minh châu nằm trọn ở phía nam sông Lam, cụ thể hơn phần nam đất Hà Tĩnh; đất Đức châu nằm trọn ở Nghệ An và một phần bắc Hà Tĩnh.

      • Đức châu chắc chắn ở hai bờ sông Lam rồi. Minh châu ở phía nam Hà Tĩnh cũng đúng rồi. Có khi nào lợi châu ở phía bắc Nghệ An không nhỉ?

  1. Bạn bình tĩnh đi, bình tĩnh nào!

    Sách xưa gọi Việt Thường 越裳, 越常, 越嘗, chữ Thường 裳, 常, 嘗 đều được, chứng tỏ nó không cần giải nghĩa theo mặt chữ là cái váy hay nghĩa gì đó. Nó là từ ghi âm của một từ nào đó cũng nên.

    Lãnh thổ nhà Châu đến đâu thì sách xưa đã ghi nhiều rồi. Đâu phải vì chuyện nước Việt Thường dâng chim trĩ mà xác định lãnh thổ nhà Châu đến đó? Việt Thường với nhà Châu thì cũng như một nước xa xôi nào đó vì hâm mộ sự thịnh trị của nhau mà đến thăm hỏi mà thôi, chứ có muốn làm phiên thuộc chư hầu gì. Bạn không phải lo lắng về chuyện này. Châu Công chẳng nói là đức không ra ngoài thì không bắt người khác xưng thần (bề tôi) rồi sao? Chúng ta nên cho rằng Việt Thường tặng chim trị là một điển tích đẹp về ngoại giao thời xưa. Châu Công là quân tử thì Việt Thường là thượng khách vậy.

    Thiển ý của tôi, chuyện người nước Việt Thường xa xôi ở đất Cửu Đức 九德 phía nam Giao Chỉ 交趾 lặn lội xa xôi vạn dặm sông núi đến thăm nhà Châu 周 cũng không hẳn là không thể. Sao không nghĩ nước Việt Thường đi đường biển rồi vào cửa sông mà vào nội địa, đường xa thì nhiều ngày đi mãi cũng đến thôi. Sao không nghĩ thời xưa các bộ tộc yên vui hòa bình lắm! Người nước Việt Thường đến đâu cũng được chào đón và được chỉ đường cho? Đương thời theo sách chép còn có người nước Oa 倭 (ở quần đảo Phù Tang 扶桑 tức Nhật Bản 日本 ngày nay) còn đến tặng nhà Châu được, xa xôi cách trở không kém! Có sách cũng ghi nn
    nước Túc Thận 肅慎 ở nơi xa xôi miền Viễn Đông cũng đến cống cho nhà Châu.

  2. 1. Có hai loại “sử gia” mà bạn đọc phải hết sức cẩn thận khi tiếp cận “tác phẩm” của họ:
    * Người tham khảo sử Tầu để viết lịch sử nước nhà theo phương châm:
    Dân ta phải biết sử ta,
    Những gì chưa rõ thì tra sử Tầu.
    * Người tham khảo văn hóa dân gian để phục dựng lịch sử nước nhà.
    2. Hai loại “sử gia” này đang là những người đang viết sách giáo khoa để con cháu chúng ta hiểu về lịch sử thế nào đấy!?

    • Tôi dùng phương pháp phân tích khả dĩ nhất đấy ạ. Tư liệu sách vở từ xưa đến nay, càng xưa thì càng giá trị. Chuyện Việt Thường dâng chim trĩ cho nhà Châu thì rất nhiều sách nói đến. Chỉ có hai sách xưa nhất nói về vị trí của nước Việt Thường là Thượng thư đại truyện 尚書大傳 của Phục Thắng 伏勝 thời Tây Hán 西漢 nói ở phía nam Giao Chỉ (Giao Chỉ chi nam 交阯之南) và sách Thủy kinh chú 水涇注 dẫn Lâm Ấp ký 林邑記 (tác giả khuyết danh, sớm nhất phải ở thời Nam Tề 南齊) nói là ở quận Cửu Đức 九德. Xét quận Cửu Đức vốn là huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân 九真 ở phía nam quận Giao Chỉ 交阯 là hợp với Thượng thư đại truyện chép.

      Nền sử học Việt Nam mới dựng nền ở thời Lý Trần về sau mà thôi. Do đó những chuyện trước đó, nhất là thời Châu 周 -Tần 秦 – Hán 漢 ngang với thời Văn Lang 文郎 – Âu Lạc 甌駱 thì không đọc những ghi chép tản mát ở sách Tàu thì đọc gì?

  3. Hệ…..hệ….., bản nhân cực kỳ xin lỗi bạn đọc: ở mục trước viết thiếu mất hai chữ, nên, bản nhân xin bạn đọc sửa lại “… hiểu về lịch sử như thế nào đấy” thành “…. hiểu về lịch sử LÀ NHƯ thế nào đấy” nhé, xin chân thành cảm ơn!

  4. Chỉ có kẻ DỐT NÁT và kém THÔNG MINH nên mới cho rằng chữ THƯỜNG trong chữ Việt THƯỜNG có nghĩa là cái váy ( xà rông )và ba chữ Việt Thường này có nghĩa như nhau hay cho rằng chữ Hùng của các vua Hùng cũng là chữ Lạc Vương ( chữ Lạc thuộc bộ chuy và bộ mã ) là do chép nhầm! !! Còn chữ Đối Vương về nghĩa của nó # với Hùng Vương và thay thế cho nhau là tạm được ! ! ! Chữ Hùng và chữ Thường có liên quan với nhau vì nó có liên quan đến một loài vật mà những bộ tộc ở phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh dùng làm vât biểu trung cho bộ tộc của mình sau là làm họ của bộ tộc mình. Chẳng có hiểu biết gì hết toàn là nói tào lao ! ! !

    • Việt Thường 越裳 là địa danh, tên nước thời xưa, ý nghĩa ra sao không khảo cứu được rồi. Đừng vội nhìn mặt chữ mà suy đoán. Có người nói là Việt 越 và Thường 裳, nhưng Việt Thường ở đất Cửu Đức 九德 vốn chẳng liên hệ với nước Việt của Câu Tiễn 句踐 ở đất Cối Kê 會稽.

      Hùng Vương 雄王 hay Lạc Vương 雒王 cũng khó khảo chứng ý nghĩa, vì sách xưa dùng chữ nào cũng được, cũng có sách gọi là Đối Vương 碓王. Đều là mặt chữ Hùng 雄, Lạc 雒, Đối 碓 giống nhau. Có sách gọi Lạc Vương 駱王. Do đó Lạc 雒 khả dĩ hơn. Có tên gọi Lạc Việt 駱越 và Lạc tướng 駱將 làm bằng chứng.

      • Tín sử về nước Âu Lạc thời xưa

        I. DẪN NHẬP

        Âu Lạc [Âu Lạc (甌駱), sách sử Việt Nam hoặc chép là Âu Lạc (甌貉)] là một quốc gia hoặc dân tộc được nói đến ở thời Hán (漢) trong chính sử Trung Quốc cùng với các nước trong vùng phương nam của nhà Hán như Đông Âu (東甌), Mân Việt (閩越), Nam Việt (南越), Dạ Lang (夜郎), Điền (滇), Côn Minh (昆明)…

        II. DIỄN VĂN

        1. Nước Âu Lạc (甌駱) lần đầu tiên được chính sử thời Hán (漢) nói đến, đó là một nước ở phía tây của nước Nam Việt (南越), cùng với nước Mân Việt (閩越) ở phía đông đều bị vua Nam Việt là Triệu Đà (趙佗) dùng của cải mua chuộc và đem binh uy hiếp dịch thuộc vào nước Nam Việt. Khi nhà Hán bình định Nam Việt, các quận huyện hàng phục thì Âu Lạc cũng bị dụ hàng, đặt thành quận huyện.

        Sử ký (史記) – Nam Việt liệt truyện (南越列傳) – Kiến Nguyên dĩ lai hầu giả niên biểu (建元以來侯者年表) [Hán (漢) – Tư Mã Thiên (司馬遷) soạn]

        高后時,有司請禁南越關市鐵器。佗曰:「高帝立我,通使物,今高後聽讒臣,別異蠻夷,隔絕器物,此必長沙王計也,欲倚中國,擊滅南越而并王之,自為功也。」於是佗乃自尊號為南越武帝,發兵攻長沙邊邑,敗數縣而去焉。高後遣將軍隆慮侯灶往擊之。會暑溼,士卒大疫,兵不能踰嶺。歲餘,高后崩,即罷兵。佗因此以兵威邊,財物賂遺閩越、西甌駱,役屬焉,東西萬餘里。乃乘黃屋左纛,稱制,與中國侔。
        Vào thời Cao Hậu, quan coi việc [giao thương] xin cấm mở chợ búa bán đồ sắt cho người nước Nam Việt, [Triệu] Đà nói: “Cao Đế lập ta làm vua, cho sứ giả qua lại trao đổi đồ dùng. Nay Cao Hậu nghe lời bề tôi gièm pha, phân biệt Man Di, ngăn chặn đồ dùng. Đấy tất là kế của vua nước Trường Sa muốn cậy vào Trung Quốc để đánh diệt nước Nam Việt mà làm vua cả nước ta vậy.” Do đó Đà bèn tự tôn hiệu là Vũ Đế của nước Nam Việt, phát binh đánh biên giới của nước Trường Sa, đánh phá mấy huyện rồi rút quân về. Cao Hậu sai Long Lự Hầu là [họ Châu (周)] Táo đến đánh nước ấy, gặp lúc nóng nực, quân lính bị bệnh dịch lớn, quân không qua được [Ngũ] Lĩnh. Được hơn một năm thì Cao Hậu chết, [nhà Hán] liền bãi binh ấy. [Triệu] Đà nhân đó đem binh uy hiếp biên giới, đưa của cải mua chuộc người các nước Mân Việt-Tây Âu Lạc [1], bắt người các nước ấy thần phục mình, [đất đai] chiều đông tây dài hơn một vạn dặm. Bèn ngồi xe mui vàng cắm cờ tiết mao bên trái, sánh ngang với Trung Quốc.

        且南方卑溼,蠻夷中閒,其東閩越千人眾號稱王,其西甌駱裸國亦稱王。
        Vả lại miền nam ẩm ướt, người Man Di ở giữa chỗ ấy. Phía đông chỗ ấy là nước Mân Việt có nghìn người hiệu xưng làm vua, phía tây chỗ ấy là nước Âu Lạc có dân cởi trần cũng xưng làm vua.

        蒼梧王趙光者,越王同姓,聞漢兵至,及越揭陽令定自定屬漢;越桂林監居翁諭甌駱屬漢,皆得為侯。戈船、下厲將軍兵及馳義侯所發夜郎兵未下,南越已平矣。遂為九郡。
        Vua nước Thương Ngô là Triệu Quang, là người cùng họ của vua nước [Nam] Việt, khi nghe tin quân Hán đến thì cùng quan Lệnh huyện Yết Dương tên là Định của nước [Nam] Việt tự quyết định hàng phục nhà Hán. Quan Giám quận Quế Lâm của nước [Nam] Việt là Cư Ông dụ người nước Âu Lạc thần phục nhà Hán, đều được phong tước Hầu. Quân của Qua thuyền-Hạ lệ tướng quân và quân của nước Dạ Lang mà Trì Nghĩa Hầu đem đi chưa xuống đến nơi thì nước Nam Việt đã được bình định rồi. Rút cuộc đặt nước ấy thành chín quận.

        湘成以南越桂林監聞漢兵破番禺,諭甌駱兵四十餘萬降侯。
        Tương Thành Hầu vì có công khi làm quan Giám quận Quế Lâm của nước Nam Việt nghe tin quân Hán phá được thành Phiên Ngung, dụ hơn bốn mươi vạn quân Âu Lạc hàng [nhà Hán] được phong tước Hầu.

        下酈以故甌駱左將斬西于王功侯。
        Hạ Lịch Hầu vì trước đây làm Tả tướng của nước Âu Lạc có công chém Tây Vu Vương [2], được phong tước Hầu.

        Hán thư (漢書) – Vũ Đế kỷ (武帝紀) – Tuy Lưỡng Hạ Hầu Kinh Dực Lý truyện (眭兩夏侯京翼李傳) [Hán (漢) – Ban Cố (班固) soạn]

        春,至汲新中鄉,得呂嘉首,以為獲嘉縣。馳義侯遺兵未及下,上便令征西南夷,平之。遂定越地,以為南海、蒼梧、鬱林、合浦、交阯、九真、日南、珠崖、儋耳郡。定西南夷,以為武都、牂柯、越嶲、沈黎、文山郡。
        [Năm Nguyên Đỉnh thứ sáu] Mùa xuân, nhà vua đến huyện Tân Trung Hương, nghe tin chém được đầu Lữ Gia, bèn đổi tên huyện ấy thành huyện Hoạch Gia. Bấy giờ Trì Nghĩa Hầu đem binh chưa kịp xuống đến nơi thì nhà vua sai đánh các nước Tây Nam Di, bình đình được các nước ấy. Rút cuộc lược định đất [Nam] Việt đặt thành các quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đam Nhĩ. Lại lược định đất Tây Nam Di đặt thành các quận Vũ Đô, Tường Kha, Việt Tủy, Thẩm Lê, Văn Sơn.

        孝武皇帝躬仁誼,厲威武,北征匈奴,單于遠遁,南平氐羌、昆明、甌駱、兩越,東定薉、貉、朝鮮,廓地斥境,立郡縣,百蠻率服。
        Hiếu Vũ Hoàng Đế tỏ nhân nghĩa, nêu oai vũ, phía bắc đánh rợ Hung Nô khiến cho Thiền vu chạy dài; phía nam dẹp yên các nước Đê Khương, Côn Minh, Âu Lạc, Lưỡng Việt [3]; phía đông lược định các nước Uế, Mạch, Triều Tiên; mở đất lấn cõi, đặt thành quận huyện, Bách Man thần phục.

        2. Từ thời Tam quốc (三國) về sau đến thời Nam bắc triều (南北朝) và thời Đường (唐) thì chính sử và truyền kỳ chép về quận Giao Chỉ (交趾) là nước của An Dương Vương (安陽王) cũng như chép việc vua nước Nam Việt là Triệu Đà vỗ về chinh phục nước ấy. Tức là nói vua nước Âu Lạc là An Dương Vương và đất của nước Âu Lạc bị nhà Hán đặt thành quận Giao Chỉ (交趾).

        Tam quốc chí (三國志) – Tiết Tổng truyện (薛綜傳) [Tấn (晉) – Trần Thọ (陳壽) soạn]

        昔帝舜南巡,卒於蒼梧。秦置桂林、南海、象郡,然則四國之內屬也,有自來矣。趙佗起番禺,懷服百越之君,珠宮之南是也。漢武帝誅呂嘉,開九郡,設交阯刺史以鎮監之。
        Ngày xưa Đế Thuấn đi tuần thú miền nam, chết ở quận Thương Ngô. Nhà Tần đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, vậy thì bốn quận ấy đã nội thuộc rồi. Sau có Triệu Đà nổi lên ở thành Phiên Ngung, vỗ về chinh phục vua của các nước Bách Việt, đấy là các nước ở phía nam quận Châu Quan [4] vậy. Hán Vũ Đế diệt Lữ Gia, mở ra chín quận, đặt chức Giao châu thứ sử để trong coi đất ấy.

        Quảng châu ký (廣州記) [Tấn (晉) – Bùi Uyên (裴淵) soạn]

        交趾有駱田,仰潮水上下,人食其田,名為駱人。有駱王、駱侯。諸縣自名為駱將,銅印青綬,即今之令長也。後蜀王子將兵討駱侯,自稱為安陽王,治封溪縣。後南越王尉他攻破安陽王,令二使典主交阯、九真二郡人。
        Quận Giao Chỉ có ruộng Lạc, người dân trong theo nước sông lên xuống mà cày trồng ở ruộng ấy, gọi là người Lạc. Đất ấy xưa có Lạc Vương, các huyện tự có các Lạc tướng, đo ấn đồng tua xanh, tức quan Lệnh-Trưởng ngày nay vậy. Sau con vua Thục đánh dẹp Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương, trị ở huyện Phong Khê [5]. Sau vua Nam Việt là Úy Đà đánh phá An Dương Vương, sai hai sứ giả thống trị người dân của hai quận Giao Chỉ-Cửu Chân.

        Thủy kinh chú (水經注) [Bắc Ngụy (北魏) – Lịch Đạo Nguyên (酈道元) soạn]

        《交州外域記》曰:越王令二使者典主交趾、九真二郡民,後漢遣伏波將軍路博德討越王,路將軍到合浦,越王令二使者,齎牛百頭,酒千鍾,及二郡民戶口簿,詣路將軍,乃拜二使者為交趾、九真太守,諸雒將主民如故。
        Giao châu ngoại vực ký chép: Vua [Nam] Việt sai hai sứ giả thống trị người dân hai quận Giao Chỉ-Cửu Chân. Sau nhà Hán sai Phục ba tướng quân là Lộ Bác Đức đánh vua [Nam] Việt. Vào lúc Lộ tướng quân đến quận Hợp Phố, vua Nam Việt sai hai sứ giả đem một trăm con bò, một nghìn vò rượu cùng sổ hộ khẩu của dân hai quận ấy đến gặp Lộ tướng quân, bèn lấy hai sứ giả ấy làm Thái thú Giao Chỉ-Cửu Chân. Còn các Lạc tướng vẫn trị dân như cũ.

        Hậu Hán thư (後漢書)- Địa lý chí (地理志) [Lưu Tống (劉宋) – Phạm Diệp (范曄) soạn, Đường (唐) – Lý Hiền (李賢) chú]

        交趾郡武帝置,即安陽王國。
        Quận Giao Chỉ đặt ra ở thời [Hán] Vũ Đế, là nước của An Dương Vương [thời xưa].

        III. KẾT LUẬN

        Nước Âu Lạc (甌駱) là quốc gia ra đời ở thời Hán (漢) thuộc miền bắc Việt Nam ngày nay.

        _______________

        Chú thích

        [1] Tây Âu Lạc: Tây Âu Lạc (西甌駱) hoặc có thể hiểu hiểu là Tây Âu (西甌) và Lạc (駱), đều là các nước phía tây của nước Nam Việt (南越) bị Triệu Đà (趙佗) mua chuộc chinh phục.
        [2] Tây Vu Vương: Tây Vu Vương (西于王) là vua nước Tây Vu (西于). Xét thấy Hán thư (漢書) – Địa lý chí (地理志) chép quận Giao Chỉ (交阯) có huyện Tây Vu (西于). Hậu Hán thư (後漢書) – Mã Viện liệt truyện (馬援列傳) chép huyện Tây Vu thời ấy có khoảng ba vạn hai nghìn hộ. Suy đoán huyện Tây Vu thời Hán vốn là nước Tây Vu thuộc nước Nam Việt như nước Thương Ngô (蒼梧) vậy.
        [3] Lưỡng Việt: Lưỡng Việt (兩越) chỉ hai nước Nam Việt (南越) và Mân Việt (閩越).
        [4] Triệu Đà nổi lên ở thành Phiên Ngung, vỗ về chinh phục vua của các nước Bách Việt, đấy là các nước ở phía nam quận Châu Quan: Quận Châu Quan (珠官) vốn là do thời vua Đông Ngô (東吳) là Tôn Quyền (孫權) đổi tên quận Hợp Phố (合浦). Bấy giờ thời Tam quốc (三國) thì Tiết Tổng (薛綜) từng làm Thái thú Giao Chỉ (交趾)-Hợp Phố (合浦), biết lịch sử của các quận ấy, cho nên mới tấu nói như vậy, nói Triệu Đà vỗ về vua các nước Bách Việt ở phía nam quận Châu Quan [vốn tên Hợp Phố], tức vua An Dương Vương (安陽王) nước Âu Lạc (甌駱) vậy.
        [5] Huyện Phong Khê: Huyện Phong Khê (封溪) cùng huyện Vọng Hải (望海) vốn tách ra từ huyện Tây Vu (西于) thời Hán (漢). Thời Hán, Phục ba tướng quân là Mã Viện (馬援) đánh phá Trưng Trắc (徵側) xong tấu xin chia huyện Tây Vu đặt ra hai huyện Phong Khê-Vọng Hải.


        Sơ đồ khu di tích thành Cổ Loa [kinh đô của nước Âu Lạc (甌駱) thời xưa] ở huyện Đông Anh thành Hà Nội ngày nay [thuộc huyện Phong Khê (封溪) thời Đông Hán và huyện Tây Vu (西于) thời Tây Hán]


        Lược đồ nước Âu Lạc (甌駱) và Nam Việt (南越)

Trả lời Tô Ngọc Tú Hủy trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s