Tư tưởng-Tôn giáo Nhật Bản từ nguyên thuỷ đến trước thế kỉ XII

TƯ TƯỞNG – TÔN GIÁO NHẬT BẢN TỪ NGUYÊN THỦY ĐẾN TRƯỚC THẾ KỈ XII[1]

shinto.jpg

Nguyễn Huỳnh Đăng Khoa

Nhật Bản là một quốc gia thuộc khu vực Đông Á, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh Trung Hoa ngay từ những giai đoạn đầu thời kì cổ đại. Mặc dù vậy cũng như nhiều nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Nhật Bản vẫn tồn tại những nền tảng văn hóa nhất định trên cơ sở tiếp biến văn hóa ngoại lai, trong đó có vấn đề tôn giáo, bởi nó cũng là một phần của văn hóa.

Hầu hết các công trình xuất bản viết về Nhật Bản ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các vấn đề thuộc thời kỳ cận – hiện đại, rất ít đề cập đến lịch sử từ nguyên thủy đến cổ đại. Bởi lẽ một phần vì sự hạn chế của nguồn sử liệu và khó khăn trong cách tiếp cận. Đối với tư tưởng – tôn giáo lại là một lĩnh vực nghiên cứu tương đối khó khăn, đòi hỏi tính liên ngành và nghiên cứu tổng thể toàn bộ lịch sử khu vực. Nhưng có thể thấy, trong suốt lịch sử phát triển của từng quốc gia nói chung và Nhật Bản nói riêng, tôn giáo có tác động to lớn, trực tiếp và gián tiếp nhất định, đặc biệt là thời kì cổ đại.

Hiện nay việc phân kì lịch sử Nhật Bản vô cùng đa dạng, vì cũng như đặc điểm các quốc gia phương Đông, không thể hiện ra đặc trưng của hình thái kinh tế xã hội, mà đó lại là một yếu tố để giới sử học phân kì lịch sử một quốc gia. Việc phân kì kết hợp giữa hình thái kinh tế xã hội với đặc thù Nhật Bản là cách mà giới nghiên cứu thường áp dụng. Đối với lịch sử tôn giáo và tư tưởng Nhật Bản ở đây sẽ chủ yếu dựa vào nguyên tắc trên để phân kì, bởi nó cũng thuộc về thượng tầng kiến trúc và có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố còn lại, đặc biệt là chính trị trong thượng tầng ấy. Tóm lại, tôn giáo và tư tưởng Nhật Bản từ nguyên thủy đến trước thế kỉ XII được chia làm hai thời kì chủ yếu: Thời kì từ khi con người xuất hiện đến thể kỉ III, với đặc trưng là quá trình hình thành và phát triển totem giáo, saman giáo với các lễ nghi nông nghiệp, hết sức đa dạng và không thống nhất giữa các bộ lạc trên quần đảo Nhật Bản. Thời kì giao lưu và tiếp biến văn hóa ngoại lai, cũng ứng với thời kì mà các tín ngưỡng bản địa được bổ sung và hoàn thiện, trong đó Shinto dần dần trở thành một tôn giáo dân tộc, đồng thời tôn giáo gắn liền với đời sống và chính trị. Đương nhiên trong mỗi thời kì chúng ta còn phải chia cụ thể các giai đoạn để thấy được sự chuyển biến của tín ngưỡng và tôn giáo của quốc gia này.

Là một quốc gia ảnh hưởng văn hóa trung Hoa như Triều Tiên, Việt Nam. Tôn giáo và tín ngưỡng ở Nhật Bản luôn luôn mang những nét tương đồng nhất định, nhưng cũng có đặc điểm riêng biệt của nó. Tìm hiểu lịch sử Nhật Bản bỏ qua hoặc sơ lược về tôn giáo và tư tưởng chắc hẳn là một thiếu sót rất lớn. Bởi lẽ, nếu nhìn nhận một cách tổng quát lịch sử nhân loại, lịch sử phương Đông, hay cụ thể là lịch sử Nhật Bản và Việt Nam chúng ta không thể chối rằng, tôn giáo và tư tưởng luôn luôn đóng vai trò mang tính chủ đạo trong suốt quá trình phát triển của một khu vực, một dân tộc, mà đặc biệt trong thế giới trước cận đại, những thế lực tôn giáo là thế lực chi phối hầu như tất cả, đều này chính là trường hợp của phương Tây vào đêm trường trung cổ. Với Nhật Bản, nếu xem xét về nguyên nhân biến đất nước này trở thành một tên phát xít, có lẽ đã có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định rằng có một phần do tác động của tư tưởng và tôn giáo trước đó, mà điển hình là chủ nghĩa dân tộc thái quá đã được hình thành vào cuối trung đại. Vấn đề đó chỉ là một dẫn dụ để khẳng định, tôn giáo một mặt ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của một quốc gia, trong đó có Nhật Bản. Không chỉ thế mặt khác tôn giáo – tư tưởng cũng chịu ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên và quá trình lịch sử, tóm lại một mối quan hệ hai chiều đã diễn ra giữa các đối tượng kể trên. Do đó, nghiên cứu về tôn giáo – tín ngưỡng Nhật Bản không chỉ lắp đầy và bổ sung cho lịch sử quốc gia này nói chung và còn làm cơ sở để giải thích nhiều vấn đề của quốc gia này, bên cạnh chủ nghĩa dân tộc như đề cập ở trên, còn có nguồn gốc Thiên Hoàng, nguồn gốc của nhà nước đầu tiên Nhật Bản,….

Một lý do mang tính luận điểm cho đề tài này chính là chứng minh cho những thiếu sót về quan điểm của một số nhà nghiên cứu khi cho rằng: Thứ nhất tôn giáo và tín ngưỡng Nhật Bản là thứ đã hình thành và bất biến theo thời gian như Massao. Thứ hai, tôn giáo và tín ngưỡng Nhật Bản chỉ được hình thành qua quá trình tiếp biến của Fumihiko trong tác phầm “lịch sử tôn giáo Nhật Bản”. Ở đây chúng ta cần khẳng định rằng, tất cả các quốc gia ảnh hưởng văn minh Trung Hòa nói riêng đều đã hình thành cho mình những nền tảng văn hóa nhất định trong thời kì nguyên thủy, bởi tiếp biến văn hóa chỉ diễn ra mạnh ở những giai đoạn từ khi nhà nước cổ đại hình thành, tức vào thời kim khí ở Trung Quốc. Cho nên phải công nhận một thực tế rằng: tôn giáo và tư tưởng Nhật Bản đã hình thành từ nguyên thủy với đặc điểm chủ yếu là một thời kì đa thần giáo, không thống nhất, với nghi lễ nông nghiệp, chỉ từ thế kỉ VI khi văn minh Trung Hoa tràn vào, các tín ngưỡng bản địa được bổ sung về lý luận để trở thành tôn giáo dân tộc, và các tôn giáo – tín ngưỡng ngoại lai cùng bị biến đổi, mà chủ yếu là chịu ảnh hưởng từ các nghi lễ bản địa ở Nhật Bản.

CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG – TÔN GIÁO NHẬT BẢN NGUYÊN THỦY

Mục tiêu của chương này là làm rõ những cơ sở hình thành, trong đó gồm các yếu tố nội sinh, ngoại lai, đặc biệt là phân tích những vấn đề liên quan đến tôn giáo – tư tưởng để làm cơ sở lý luận nghiên cứu.

  • Một số khái niệm và cơ sở lý luận.
    • Khái niệm tôn giáo.

Việc nghiên cứu tôn giáo và tư tưởng đối với sử học là vấn đề tương đối phức tạp, không chỉ đòi hỏi tính liên ngành, mà ở đó các vấn đề cần phải được mổ xẻ trên cơ sở các lý thuyết và lý luận khác nhau. Trong quá trình làm rõ các vấn đề lịch sử tôn giáo và tư tưởng Nhật Bản do đặc thù của quốc gia, cho nên việc vận dụng các lý thuyết cũng như là các cơ sở khác cũng hết sức cẩn trọng. Trong đó, làm rõ khái niệm, đặc trưng, và cơ sở để xác định một tôn giáo; phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng, tư tưởng (trường hợp Nho giáo); tiếp biến văn hóa. Từ việc phân tích những vấn đề bên trên, nhầm mục đích cụ thể là áp dụng làm rõ lịch sử tôn giáo – tín ngưỡng Nhật Bản.

Tôn giáo là một trong những khái niệm được nhiều ngành khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội đề cập đến, mỗi khoa học đưa ra một khía cạnh nhìn nhận tôn giáo trên những cơ sở nhất định, mà cụ thể có thể kể đến một số các quan điểm sau:

Có lẽ những nhà triết học là người đưa ra những giải thích đầu tiên cho tôn giáo, họ xem nó xuất phát như là một ý niệm của tinh thần. Từ Platon cho đến Heghen đều chung nhất cho rằng: “Tôn giáo là sức mạnh kì bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người”[12;17].

Đối với nhân học, Emile Durkheim cho rằng “tôn giáo là niềm tin vào các thực thể tinh thần/linh hồn (spiritual beings), hoặc thực thể tâm linh”[8;198].

  1. Weber “xem tôn giáo như là cách nhìn của con người về thế giới, hơn nữa còn là thái độ ứng xử của các cá nhân và các nhóm xã hội, đặc biệt là thái độ đối với kinh tế. Tôn giáo là một hoạt động đặc biệt trong cộng đồng gắn với các thế lực siêu nhiên”[12;19].

Và còn rất nhiều khái niệm khác đề cập đến vấn đề giải thích tôn giáo là gì? Tuy nhiên hầu hết chúng đều bị hạn chế bởi lịch sử và tính giai cấp, hoặc hầu như không có cái nhìn chân thực và khách quan nhất.

Đối với những nhà sử học Marxism, luôn luôn chấp nhận khái niệm của Engghen: “tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hư ảo về thế giới bên ngoài nhằm đền bù cho những bất lực của cong người trong cuộc sống hằng ngày”[12;23]. Rõ ràng khái niệm trên hoàn toàn phản ánh đầy đủ nguồn gốc và bản chất tôn giáo, khi cho rằng nó là sản phẩm của ý thức xã hội và hệ quả của trình độ lực lượng sản xuất mỗi thời kì, do đó khi lịch sử hay hình thái hoặc xã hội có những biến đổi sẽ dẫn đến biến đổi về tôn giáo, hay theo chiều hướng ngược lại tôn giáo có sự chi phối và tác động nhất định đến với con người.

Tuy nhiên khi nhìn nhận một cách thỏa đáng liệu khái niệm tôn giáo xuất hiện từ bao giờ, ở đây chúng ta không đi vào làm rõ thế nào là tôn giáo, mà chỉ là làm rõ liệu thuật ngữ “tôn giáo” bắt nguồn từ đâu và liệu giữa  phương Đông và phương Tây có sự khác biệt nào hay không, trong khi hầu hết những phương pháp và cơ sở lý thuyết về tôn giáo đều được tiếp nhận từ các học giả phương Tây. Hiện nay thuật ngữ tôn giáo được sử dụng chủ yếu bắt nguồn từ từ “religion” trong ngôn ngữ Kito giáo châu Âu trung đại, ban đầu vào thế kỉ IV tại La Mã, từ religion trong Kinh Thánh được hiểu là religare tức sự ràng buộc các tín đồ với chúa, nhưng kể từ sau thế kỉ XI, lại được hiểu là nhà thờ hay giáo hội, nó mang tính tổ chức và dùng để phân biệt với tôn giáo khác, đặc biệt là từ khi có cuộc phân ly tôn giáo năm 1054. Nhưng khi nhìn nhận vào sự phát triển của các quốc gia phương Đông, chính phương thức sản xuất châu Á, với sự xác lập duy nhất quyền sở hữu về một người tối cao, cũng là người đứng đầu nhà nước và tôn giáo, cho nên vì vậy không thể áp dụng cách máy móc cách hiểu về tôn giáo như là thực thể tách rời khỏi nhà nước và quyền lực chính trị.

  • Nguồn gốc và cách xác định tôn giáo.

Vấn đề thứ hai là tôn giáo xuất phát từ đâu. Chính khái niệm của Engghen cho ta những cơ sở về nguồn gốc tôn giáo. Có 3 cơ sở hình thành, chính là nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý.

Trong đó người ta chú trọng vào nguồn gốc xã hội. Tôn giáo thật sự ra đời khoảng 10000 năm trước, tức ngay từ thời kì nguyên thủy. Chính nền kinh tế tự nhiên săn bắt và hái lượm, khiến con người không thể tách rời khỏi thiên nhiên, cùng với trình độ yếu kém về nhận thức, đã làm nảy sinh ra tư tưởng thần thánh hóa những hiện tượng mà con người bất lực hay không thể giải thích được, đó là cơ sở đầu tiên của tôn giáo nguyên thủy, thường dưới các hình thức đa thần giáo. Có thể thấy, trong nguồn gốc xã hội tôn giáo, yếu tố địa lý kinh tế là hết sức quan trọng và có vai trò quyết định, chính điều kiện tự nhiên đã quy định cách thức sinh sống là kinh tế của một dân tộc, hay sơ khai nhất là các cộng đồng dân cư, và chính nền kinh tế đã tạo nên đặc thù tôn giáo. Nền kinh tế nông nghiệp đã quy định các vị thần luôn luôn gắn với các hiện tượng tự nhiên, như hầu hết các quốc gia phương Đông đều thờ thần sông, núi, mặt trời và mặt trăng. Và chính các hiện tượng thiên nhiên được chính tư duy trừu tượng con người nhân cách hóa để trở thành các vị thần thánh, vì vậy chỉ đến khi người hiện đại xuất hiện thì mới đủ cơ sở sinh học (phát triển vùng tư duy ở não) mới nảy sinh ra những suy tư về thứ mà họ không thể nào giải thích. Như vậy điểm đầu tiên cần khẳng định, tôn giáo chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của người tinh khôn, và bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên và kinh tế thời kì nguyên thủy.

Đến giai đoạn lịch sử bất đầu xuất hiện và phân hóa giai cấp và xuất hiện nhà nước, thông thường là thuộc vào cổ đại, thì nảy sinh ra một nguyên nhân mới làm xuất hiện tôn giáo. Đó là sự bất lực của con người trước các thế lực xã hội. Đây là trường hợp thấy rõ nhất đối với Kito giáo, ra đời nhằm chống lại sự đàn áp của chính quyền La Mã. Nhưng ở phương Đông hầu như sự áp bức của giai cấp thống trị không đủ để tạo nên một tôn giáo mới mà nó chỉ làm biếng đổi tôn giáo thời kì nguyên thủy, mang tính đấu tranh xã hội nhiều hơn.

Nguyên nhân thứ hai, nguồn gốc nhận thức. Người hiện đại xuất hiện khoảng 100000 năm trước đây, chính sự phát triển vùng nhận thức ở não, mà phần lớn là hệ quả sự phát triển công sụ sản xuất đem lại đã khiến họ có đủ cơ sở để họ thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên khi ngoài khả năng giải thích của bản thân. Và chính việc hầu như cho đến nay con người vẫn không thể nhận thức toàn bộ thế giới khách quan nên vẫn tồn tại nhưng mơ hồ nhất định đó. Và cho dù hiện nay khoa học phát triển nhưng chính ý nghĩ chủ quan trong tâm thức con người khiến tôn giáo vẫn tồn tại.

Nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân tâm lí, đây có thể là một cơ sở bổ sung cho giải thích bên trên. Mặc dù thời kì hiện đại, sự phát triển của khoa học là tương đối đầy đủ nhưng con người “không những chỉ tiếp xúc với cái hiện hữu mà còn tiếp xúc với vô số những cái vô hình, trừu tượng, không thể lí giải bằng lí trí mà chỉ có thể cảm nhận từ tâm thức và linh cảm”[12;32].

Tóm lại, tôn giáo ra đời bởi nguyên nhân khách quan chính là ở điều kiện địa lý, tự nhiên và kinh tế, bên cạnh đó bị chi phối bởi nguyên nhân chủ quan chính là yếu tố tâm lí và nhận thức của con người. Nhưng tôn giáo chính là một hình thái ý thức xã hội luôn luôn không đứng yên mà biến đổi phù hợp với sự biến đổi hình thái kinh tế xã hội và đặc thù lịch sử từng quốc gia, khu vực.

Vấn đề cuối cùng cần làm rõ trong đề tài này là dựa vào những cơ sở nào để đánh giá đó là một tôn giáo. Đây là điều hết sức quan trọng và có ý nghĩa kiên quyết trong phân kì lịch sử tôn giáo nói chung và chỉ ra được xu thế phát triển và đặc điểm tôn giáo từng thời kì một, và để phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo, trong đó có trường hợp Shinto trước và sau thế kỉ VI. Thông thường một tín ngưỡng được xem là tôn giáo nếu: có ý thức tôn giáo, nghi lễ tôn giáo và tổ chức tôn giáo. Cụ thể:

Trong ý thức tôn giáo bao gồm yếu tố tâm lí và hệ tư tưởng (giáo lý). Nhưng quan trọng nhất chính là tư tưởng được khái quát bằng các giáo lý nhằm chứng minh cho sự tồn tại của thần tối cao cho tôn giáo, các quy phạm đạo đức và nghi lễ để những tín đồ tin và thực hiện theo. Tư tưởng là cái quyết định xem tôn giáo này được những ai tiếp nhận, và những người đó sẽ trở thành tín đồ tôn giáo. Cho nên ngay từ đầu, các tư tưởng phải xuất phát từ chính tư tưởng cộng đồng và dân tộc, mới có thể tạo ra những nét tương đồng, lôi kéo tín đồ tôn giáo.

Thông thường đối với các tôn giáo độc thần, thì tư tưởng thường xuất phát từ một cá nhân nhất định, thông qua cá nhân đó, những giáo lý và nghi lễ được truyền bá rộng rãi xuống các tín đồ. Nhưng nhiều tôn giáo phương Đông trong thời kì đa thần giáo thì hệ tư tưởng là một tập hợp đa dạng nhiều quan điểm khác nhau về niềm tin, chưa có hệ thống giáo lý và nghi lễ thống nhất, cho nên tôn giáo thường vẫn được hiểu là tôn giáo độc thần, và các tín ngưỡng đa thần nếu muốn được xem là tôn giáo trừ khi phải qua một quá trình biến đổi, mà thông thường là qua sự tiếp biến văn hóa (tiếp xúc với tư tưởng của một tôn giáo độc thần) hay bị yếu tố chính trị lợi dụng, đây là trường hợp rõ ràng đối với Thần đạo Nhật Bản vào trung đại (thế kỉ XII).

Yếu tố thứ hai, hệ thống nghi lễ. Đây được xem là một hình thức để niềm tin và tư tưởng tôn giáo truyền đạt xuống cho các tín đồ. Trong đó bao gồm, nghi lễ thờ cúng biểu tượng tôn giáo, nghi lễ sinh hoạt. “Hệ thống nghi lễ có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự thống nhất của các tín đồ”[12;25].

Yếu tố thức ba, tổ chức tôn giáo. Thường bao gồm tổ chức thờ tự, tổ chức con người, dùng để điều hành và duy trì hoạt động tôn giáo theo cách thức thống nhất.

Tóm lại, ba yếu tố trên là cơ sở để định hình thế nào là một tôn giáo như một thực thể để phân biệt với tôn giáo khác. Bên cạnh đó, mỗi tôn giáo, trong mối quan hệ với các tôn giáo khác đều có một tên gọi để phân biệt.

  • Tôn giáo và các mối quan hệ trong đời sống xã hội.

Một vấn đề của tôn giáo thưởng được xem là trọng yếu của lịch sử hầu hết các quốc gia, đó là tác động của nó đến tình hình văn hóa, chính trị và xã hội, kể cả kinh tế.

Thứ nhất phải thừa nhận rằng tôn giáo cũng thuộc một bộ phận của văn hóa và văn minh, do đó nó có một vị thế quan trọng trong một nên văn hóa. Chính tập tục của lối sống dân tộc hình thành nên nền tảng văn hóa của dân tộc đó. Và văn hóa dân tộc cũng quy định nên bản sắc tín ngưỡng và tôn giáo. Và mặt khác tôn giáo có vai trò bổ sung và làm phong phú đa dạng cho nên văn hóa, đó là mối quan hệ hai chiều, nếu xem xét kĩ trường hợp của Nhật Bản thì điều này hoàn toàn có lí của nó.

Thứ hai, tôn giáo trong giai đoạn nguyên thủy hầu như không có mối quan hệ nào với nhà nước, bởi chính thời kì này nhà nước vẫn chưa ra đời. Nhưng khi có một tổ chức chính trị thì tôn giáo luôn luôn trở thành một công cụ bảo vệ cho quyền lực của họ. Nhiều gia đình hoàng tộc trong các nhà nước dùng các truyền thuyết để giải thích về nguồn gốc và quyền lực của chính mình, và đôi khi dùng tôn giáo để vì những mục đích chính trị khác, quan trọng nhất là thống nhất quốc gia, chứng minh cho điều này chính là sự ra đời của nhiều tôn giáo độc thàn như Islam ở vùng Ả Rập, Kito giáo thời kì La mã, và sự chuyển biến từ đa thần sang độc thần như của Thần đạo Nhật Bản, có thể thấy đó là mối quan hệ phổ biến, hầu hết ở phương Đông vương quyền gắn chặt với thần quyền.

Thứ ba, tôn giáo với hệ tư tưởng bị chính trị hóa cũng tạo nên nguyên tắc phân chia xã hội, đó là trường hợp mà Bà La Môn ở Ấn Độ và các đẳng cấp được quy định ở quốc gia này. Đối với Nhật Bản, xã hội bị tác động rất nhiều bởi Thần đạo và Phật giáo, ở chỗ luôn luôn đề cao Thiên hoàng, và nghi lễ, hay tính cộng đồng cũng bắt nguồn từ tôn giáo. Bàn chút về Nho giáo, mặc dù không được xem là tôn giáo nhưng đặc biệt thời kì phong kiến Nhật Bản nó là cơ sở tạo nên những phân tầng đẳng cấp có nét tương đồng với Trung Quốc, và là cơ sở tạo ra nhà nước luật lệnh, tiêu biểu cho nhận định trên chính là Thập thất hiến pháp.

Thứ tư, tôn giáo tác động đến kinh tế. Mối quan hệ này thường không được phổ biến, và M. Weber khi nhìn nhận xã hội tư sản và tôn giáo[2] của nó đã cho rằng kinh tế bị chi phối bởi những giá trị tôn giáo. Nhìn nhận theo chiều hướng lịch sử nhân loại, đặc biệt là các nhà nước thời kì cổ đại như ở nhiều nước Đông Nam Á và Đông Á. Chúng ta thấy ở đó có những người đứng đầu tôn giáo gọi là các Saman, nghĩa là người phụ trách chuyện thực hiện nghi lễ, và cũng tồn tại những cơ sở kinh tế tu viện, thánh đường, chuyên phục vụ cho tôn giáo. Mandala hay Narga là những thuật ngữ có lẽ khá lạ lẫm với nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, nhưng đó là một thể chế nhà nước tôn giáo điển hình của Champa[3], ở đây việc phân chia các khu vực kinh tế dựa trên thánh đường thờ tự, và đó là các đô thị tôn giáo có nền kinh tế khép kín. Tại Nhật Bản, tôn giáo ảnh hưởng thế nào đến kinh tế, hầu như cũng không phải là quan hệ quá nổi bật, bởi ngoài số tiền bỏ ra để vua chúa thi hành nghi lễ và xây dựng đền đài thì hầu như là các tông phái đều có kinh tế riêng biệt, là một dạng ban cấp ruộng đất phong kiến. Điều này khác hẳn với việc Giáo hội phương Tây trung đại lủng đoạn nền kinh tế bằng cách thu thuế.

Tóm lại, khi xét mối quan hệ tôn giáo với các lĩnh vực khác, chúng ta cần xem nó là một bộ phận của văn hóa và mang những yếu tố văn hóa: văn hóa tinh thần, văn hóa chính trị, tổ chức xã hội,…Chúng một mặt chi phối, mặt khác bị tác động ngược lại bởi các yếu tố và lĩnh vực trong xã hội, bởi tôn giáo là thuộc thượng tầng kiến trúc, nên không thể thoát khỏi và không thể không ảnh hưởng đến các yếu tố thượng tầng khác và kể cả là hạ tầng kiến trúc.

  • Tín ngưỡng và tôn giáo.

Câu hỏi đặt ra ở đây chính là thời kì nguyên thủy xuất hiện các niềm tin vào thế lực thần thánh là một dạng tín ngưỡng hay tôn giáo nguyên thủy.

Nếu như xem xét một cách kĩ lưỡng những vấn đề tạm gọi là tôn giáo nguyên thủy thì hầu như nó không có những yếu tố để tạo nên một tôn giáo như những phân tích ở mục 1.1.2, quan trọng là tư tưởng giáo lý và cơ cấu tổ chức. Trong giới nghiên cứu người ta thường đánh đồng giữa tín ngưỡng và tôn giáo, hầu như không phân biệt hai khái niệm này, nhưng điều đó chỉ có thể đúng khi xét trên phương diện văn hóa của một quốc gia đa dân tộc và trong thời kì mà các giá trị tôn giáo đan xen với tín ngưỡng bản địa trong đời sống hằng ngày, như Việt Nam Lý – Trần chẳng hạn. Nhưng trong phân kì lịch sử tôn giáo, nếu như không phân biệt hai khái niệm này thì hầu như không thể chia ra các giai đoạn và đặc điểm các giai đoạn. Đối với tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản nói chung và sự phát triển của Shinto thì là một quá trình từ tín ngưỡng trở thành tôn giáo.

Trước hết để làm rõ lập luận trên cần xem đặc trưng của tín ngưỡng là như thế nào. “Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người”[13;91]. Như vậy khác với tôn giáo, tín ngưỡng chỉ là những niềm tin ban đầu chưa mang nhiều tư tưởng hay giáo lý, chưa có tổ chức thống nhất, và chủ yếu dựa trên niềm tin và nghi lễ.

Tóm lại, tín ngưỡng và tôn giáo cần phải có cái nhìn rạch rồi để dễ dàng nghiên cứu sự phát triển của tôn giáo. Việc xem tín ngưỡng là tôn giáo nguyên thủy chỉ đúng một phần, bởi tín ngưỡng chỉ là nền tảng để hình thành tôn giáo chứ không là yếu tố cơ sở duy nhất và quyết định.

  • Vấn đề bản địa, cơ tầng văn hóa và tiếp biến văn hóa trong nghiên cứu tôn giáo.

Như những lập luận bên trên, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa, nên cũng nằm trong những quy luật phát triển của văn hóa.

Trong nhiều thập kĩ, các nhà nghiên cứu về Đông Nam Á và Đông Bắc Á xem văn hóa các quốc gia này chỉ là những sản phẩm tiếp thu không sáng tạo từ hai nền văn minh lớn là Trung Hoa và Ấn Độ. Trong những năm gần đây, nhìn nhận từ các nghiên cứu của các học giả từng quốc gia kể trên đã cho cái nhìn tương đối khác và chính xác hơn. Trong sự phát triển của đa số quốc gia đều có quá trình hình thành nền văn hóa bản địa hay cơ tầng văn hóa, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và cư dân tại từng quốc gia quy định, đồng thời trong quá trình phát triển, giao lưu và tiếp biến văn hóa làm cho các cơ tầng bị biến đổi hoặc là đồng hóa. Việc xem xét các khái niệm văn hóa bản địa, tiếp biến văn hóa, chính là một cơ sở để xem xét sự phát triển tôn giáo trong suốt tiến trình lịch sử.

Thứ nhất văn hóa bản địa “là văn hóa do cư dân tại chỗ sáng tạo ra”[9;97]. Yếu tố chi phối và hình thành nên nền văn hóa bản địa gồm có: điều kiện tự nhiên và dân cư. Văn hóa bản địa được xem là yếu tố nội sinh và nền tảng của văn hóa dân tộc.

Thứ hai, tiếp biến văn hóa “là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm”[13;50].

Trong quá trình phát triển của lịch sử, không quốc gia nào đứng ngoài quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa. Tuy nhiên nhiều quốc gia mặt dù có nền văn hóa bản địa nhưng sau đó bị đồng hóa, bởi cơ tầng của họ không đủ mạnh, bị biến đổi hoàn toàn. Tuy nhiên trong các trường hợp còn lại, nhiều quốc gia tiếp biến văn hóa ngoại lai trên cơ sở văn hóa bản địa. Nhưng không phải chỉ có biến đổi mà còn bị đồng hóa, các yếu tố đồng hóa thường là nghiên về văn minh hơn, hoặc yếu tố văn minh bản địa không đủ tiến bộ để đối trọng lại với yếu tố ngoại lại. Thông thường, việc tiếp nhận chữ viết ở nhiều quốc gia, như Nhật Bản dùng chữ Hán làm chữ viết cũng một phần vì họ chưa đạt đến trình độ văn minh, chưa có chữ viết. Vì vậy, những giá trị bị biến đổi nhưng không bị đồng hóa hay tiếp nhận hoàn toàn thường là giá trị văn hóa tinh thần, trong đó có tôn giáo. Nhưng điều cần khẳng định, ở Nhật Bản, cơ tầng văn hóa, tín ngưỡng dân tộc (Kami) vẫn tồn tại sau quá trình tiếp biến văn minh Trung Hoa, những tín ngưỡng đó một được bổ sung, một mặt bản địa hóa các tôn giáo từ bên ngoài, như trường hợp Thần – Phật kết hợp từ thế kỉ VIII trở đi ở Nhật Bản.

Tiếp biến văn hóa tạo dựa trên cơ sở cơ tầng văn hóa bản địa đã tạo ra một nền văn hóa mới, nền văn hóa mới đó trở thành văn hóa bản địa, và sau đó, trong quá trình phát triển và tiếp biến, nó lại bị biến đổi và tạo nên văn hóa mới, nhưng cũng dựa trên nền tẳng bản địa, nhưng tính bản địa đã bị biến đổi ở lần thứ nhất. Đó có thể xem là quá trình tái cấu trúc văn hóa.

Tuy nhiên trở lại vấn đề tôn giáo tư tưởng Nhật Bản. Hai nhà nghiên cứu tiêu biểu về tư tưởng tôn giáo nước này là Masao và Fumihiko lại có hai quan điểm khác nhau về tính bản địa (cổ tầng) trong tôn giáo. “Sueki Fumihiko đã tái cấu trúc khái niệm cổ tầng và thiết định đây là thứ được hình thành và bồi tụ trong suốt quá trình lịch sử, chứ không phải là yếu tố bản sắc bất biến” [10;7]. Mặc dù là hai quan điểm trái ngược nhau, nhưng nếu dùng cả hai thì chúng ta có một cái nhìn đúng đắn hơn về cổ tầng hay cơ sở văn hóa Nhật Bản, trong đó có tôn giáo. Bởi thời nguyên thủy tín ngưỡng ở Nhật Bản là một bản sắc riêng của quốc gia này do cư dân sáng tạo dựa trên tác động của điều kiện tự nhiên và cơ sở kinh tế nông nghiệp, tuy nhiên đến thế kỉ VI, cùng với tiếp biến văn minh Trung Hoa những giá trị đó bị biến đổi. Cho nên cổ tầng theo Fumihiko goi, theo phân tích về cơ sở lý luận ở các mục trên phải chính là thứ văn hóa bản địa mang bản sắc dân tộc được hình thành độc lập và riêng biệt, nhưng bị biến đổi trong suốt quá trình phát triển, thông qua tiếp biến văn hóa.

  • Phân kì lịch sử tôn giáo Nhật Bản thời cổ đại

Phân kì lịch sử tôn giáo là công việc cần làm trước tiên để có cái nhìn khái quát và đầy đủ nhất về đặc điểm tôn giáo – tư tưởng từng giai đoạn.

Trước hết về cơ sở phần kì, việc chia các giai đoạn cho lịch sử tôn giáo Nhật Bản cũng như việc phân kì lịch sử Nhật Bản là hết sức phức tạp, bởi không có một sự chuyển biến rõ nét nào tức thời, mà luôn luôn xảy ra trong thời kì dài, và các đặc điểm cũ cũng tồn tại song song với các đặc điểm mới. Nhưng có thể lấy đặc điểm, đặc trưng tôn giáo từng thời kì, mối quan hệ giữa các tôn giáo, và vai trò của từng tôn giáo trong những giai đoạn nhất định để phân kì.

Thường có hai quan điểm về thời gian bắt đầu của lịch sử tôn giáo Nhật Bản, tuy có điểm chung là đều cho rằng ngay từ văn hóa Jomon đã xuất hiện cơ sở tôn giáo nguyên thủy hay hình thức tín ngưỡng. Nhưng đều đáng tranh cãi là văn hóa Jomon xuất hiện khi nào, những di chỉ khảo cổ được tìm thấy gần đây có niên đại hơn 8000 năm trước, trong đó có các tượng thờ, và mộ táng, những khu chứa lương thực, đã cho thấy lúc bấy giờ có đời sống cộng đồng và xuất hiện tín ngưỡng đa thần, và hơn hết là các nghi lễ mai táng. Một quan điểm cho rằng phải từ 2500 – 250 trước công nguyên, tức là trung kì Jomon thì các đặc điểm văn hóa kể trên mới thật sự rõ nét. Hiện nay vẫn chưa có những cơ sở chính xác để xác định cụ thể niên đại. Nhưng ở đây khẳng định rằng từ khi văn hóa Jomon xuất hiện các tín ngưỡng đã bắt đầu hình thành, và đó là cơ sở đầu tiên của Thần đạo bản địa.

Vấn đề tiếp theo về mốc thế kỉ XVII, điều này dễ giải thích hơn cả. Vì từ thời gian đó trở đi Nhật Bản đã bắt đầu tiếp thu mạnh mẽ văn hóa phương Tây, đặc biệt là Thiên Chúa giáo, cho nên đánh dấu một thời kì phát triển mới so với các yếu tố tôn giáo phương Đông giai đoạn trước đó. Tuy nhiên chỉ sau một thế kỉ tức cuối thế kỉ XVII Thiên chúa giáo bị chính quyền đàn áp, và vai trò cần một tư tưởng cứng rắn duy trì các quan hệ xã hội và hệ thống chính trị thời chiến quốc trở đi đã đưa vai trò của Nho giáo lên cao, và bấy giờ, sự hòa hợp Thân – Phật bị thay thế bởi sựu hòa quyện Thần – Nho. Mãi đến thế kỉ XIX Thiên chúa giáo mới thật sự có ảnh hưởng khi các tư tưởng và phương thức sản xuất của châu Âu tràn vào, và cuộc Duy Tân Minh Trị diễn ra. Cho nên việc tập trung vào mối quan hệ Thần – Phật và quá trình hoàn thiện tín ngưỡng thờ thần ở Nhật Bản chỉ ở từ nguyên thủy đến thế kỉ XVII. Trong đó thời kì tôn giáo thật sự bắt đầu chính là từ thế kỉ VI, bởi trước đó Thần đạo không phải là một tôn giáo mà là những tín ngưỡng, nhưng nó cũng là một thời kì quan trọng, xem là cơ sở nền tảng cho sự phát triển và bản sắc tôn giáo riêng biệt ở Nhật Bản. Tóm lại từ thế kỉ VI đến thế kỉ XVII thường được gọi là thời kì tiếp xúc và biến đổi văn minh, tỏng đó có tư tưởng và tôn giáo Trung Hoa. Tuy nhiên trong thời kì này còn có những giai đoạn nhỏ hơn, từ thế kỉ VI đến XII là giai đoạn biến đổi căn bản và yếu tố ngoại lai chèn ép yếu tố bản địa nhưng không bị đồng hóa, từ thế kỉ VIII đến cuối thế kỉ XI là sự chuyển biến sang thời kì xây dựng giá trị bản sắc riêng dựa trên yếu tố bản địa và ngoại lai từ thế kỉ XII đến XVII. Ở đây đề tài chỉ giới hạn đến giai đoạn đầu thời kì thứ 2 của tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản, đó là từ thế kỉ VI – XII. Do đó có thể nói gọn lại, đề tài chọn mốc từ nguyên thủy – văn hóa Jomon đến XII đề phân tích quá trình phát triển được xem là nền tảng của mọi tư tưởng – tôn giáo sau này, vì đây là thời kì mang yếu tố quyết định nhất.

Việc phân kì lịch sử tôn giáo Nhật Bản nhìn chung chỉ mang tính tương đối nhất định, trong giới hạn tìm hiểu từ nguyên thủy đến thế kỉ XII được chia ra cụ thể là:

Thời kì thứ nhất từ văn hóa Jomon đến thế kỉ III trước công nguyên: Là giai đoạn hình thành tín ngưỡng đa thần – Kami.

Thời kì thứ hai từ thế kỉ III trước công nguyên đến thế kỉ VI: Xuất hiện tục thờ thủy tổ, bên cạnh thờ các yếu tố tự nhiên như trước kia, từ đây một bộ phận của Kami ra đời, được gọi là con đường của các vị thần  – Shinto nguyên thủy.

Thời kì thứ ba từ thế kỉ VI đến thế kỉ XII: Quá trình tiếp xúc văn minh Trung Hoa làm xuất hiện những tôn giáo ngoại lai, các tôn giáo đó một mặt bổ sung cho tín ngưỡng bản địa, một mặt bị bản địa hóa. Và đồng thời là giai đoạn Phật giáo chiếm vị trí cao nhất, Thần đạo gần như hòa lẫn vào với các hình thức kết hợp khác nhau, Nho giáo, và Đạo giáo chỉ ảnh hưởng trong một bộ phận nhỏ giới cầm quyền và hòa vào đời sống xã hội. Phật giáo bắt đầu bám rễ vào đời sống xã hội và chính trị Nhật Bản, bằng cách tiếp thu các  nghi lễ, cách thức tu hành từ tín ngưỡng thờ thần (Shinto nguyên thủy) và thông qua bốn mối quan hệ Phật – Thần, đã tạo điều kiện để từ thế kỉ XII đến thế kỉ XVII Phật giáo trở thành tôn giáo độc tôn hoàn toàn.

Đó là những giai đoạn chính của lịch sử tôn giáo Nhật Bản từ nguyên thủy đến trước khi Thiên Chúa giáo du nhấp. Trong hai thời kì đầu, được xem là nền tảng, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ tín ngưỡng, được xem là yếu tố nội sinh của tôn giáo Nhật Bản. Thời kì thứ ba trở về sau thấy được vai trò của yếu tố ngoại sinh là các tôn giáo và nền văn minh bên ngoài đối với những cơ tầng bản địa được hình thành trước đó.

Tuy nhiên nhiều quan điểm chỉ cho rằng lịch sử tôn giáo Nhật Bản chỉ bắt đầu từ cổ đại (thế kỉ VI trở đi), khi mà có sự tiếp biến văn hóa bên ngoài, và bị biến đổi, thời kì trước đó chỉ là một hình thức tín ngưỡng đa thần. Cụ thể Seuki Fumihiko cho rằng: “Thứ đã tạo ra dòng chảy xuyên suốt lịch sử tôn giáo Nhật Bản là quan hệ giữa Thần đạo và Phật giáo (…) dù có cho rằng Nhật Bản vốn có tín ngưỡng thờ thần thì hình thái có thể thấy được của tín ngưỡng này qua các thời kì lịch sử xuất hiện từ sau khi Phật giáo được truyền vào Nhật Bản và việc đặt vấn đề cho thời kì trước đó là rất khó”[10;24]. Quan điểm của Seuki Fumihiko có lẽ bắt nguồn từ thuyết cổ tầng của ông đưa ra, khi cho rằng tôn giáo Nhật Bản chỉ bắt đầu hình thành từ khi có các yếu tố bên ngoài tác động, hoàn toàn không chấp nhận có một thời kì bản địa mang tính tôn giáo trước đó. Tuy nhiên dựa trên cơ sở phân tích các vấn đề về bản địa văn hóa, tiếp biến văn hóa, và quá trình tái cấu trúc văn hóa, chúng ta có thể khẳng định rằng, thời kì trước thế kỉ VI là một trong những thời kì quan trọng trong việc định hình nên tôn giáo Nhật Bản giai đoạn sau, đó là nền tảng đủ mạnh để không bị các tôn giáo khác nuốt chửng, mà ngược lại vừa tiếp thu vừa biến đổi trong mối quan hệ hai chiều với yếu tố ngoại lai, để tạo ra một tôn giáo – tư tưởng riêng biệt của ngườ Nhật hiện nay, mà tiêu biểu chính là những biểu hiện của Thần đạo Nhật Bản.

Tóm lại trên đây là những lập luận đã cho thấy được lịch sử tôn giáo Nhật Bản trước thế kỉ XII gồm hai giai đoạn lớn: định hình và biến đổi ban đầu (thời kì biến đổi cơ sở), trong đó với cơ sở lý luận từ các mục 1.1.1 đến 1.1.5 đã giúp chúng ta chia ra làm 3 thời kì cụ thể.

  • Những cơ sở hình thành và phát triển tín ngưỡng và tôn giáo Nhật Bản.

Chủ yếu đi vào phân tích những cơ sở nội tại để ra đời các tín ngưỡng bản địa tức là thời kì từ nguyên thủy đến thế kỉ VI, và những tác động bên ngoài (từ thế kỉ III trước công nguyên đến thế kỉ VI) làm cho những tín ngưỡng đó biến đổi thành tôn giáo, đồng thời là sự xâm nhập của các tôn giáo ngoại lai. Phần này không trình bày về lịch sử hình thành và phát triển tôn giáo Nhật Bản, đó là nội dung của chương tiếp theo trong tiểu luận này.

  • Cơ sở nội tại và sự hình thành tín ngưỡng thờ thần bản địa.

Tư tưởng và tôn giáo Nhật Bản được hình thành dựa trên những tín ngưỡng đa thần nhất định vào thời kì nguyên thủy.

Như những cơ sở lập luận bên trên, tín ngưỡng nguyên thủy chỉ được hình thành vào thời kì mà người tinh khôn xuất hiện, điều này cũng tương tự như ở Nhật Bản. Và những nguyên nhân nội sinh nào hình thành, cụ thể được phân tích dưới đây:

Trước hết, về điều kiện tự nhiên. Nhật Bản là một quốc gia với tập hợp của 3000 đảo lớn nhỏ, trong đó có 4 đảo lớn là Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và địa hình bị chia cắt, cho nên tính không thống nhất về địa lý là điều thấy rõ ràng đầu tiên nhất. Mặt dù đồng bằng chiếm tỉ lệ khoảng 15%, chủ yếu là núi và cao nguyên, nhưng tại đây thời kì nguyên thủy, sau khi các thị tộc ra đời thì kinh tế nông nghiệp và chăn nuôi vẫn là chủ yếu, bên cạnh kinh tế tự nhiên. Đồng thời sự đa dạng về khí hậu cũng tạo nên tính đa dạng về kinh tế. Chính những điều kiện trên đã tác động đến sự hình thành những tín ngưỡng bản địa đầu tiên, và mang tính đa dạng không thống nhất. Như vậy cơ sở của tôn giáo Nhật Bản là những tín ngưỡng nguyên thủy và tín ngưỡng đó cũng là một quá trình hình thành tương đối phức tạp.

Những di chỉ khảo cổ thời đại Jomon, tức là thời kì đồ gốm đầu tiên đã cho ta những cơ sở khẳng định rằng nền kinh tế Nhật Bản nguyên thủy là nền nông nghiệp, nhưng lại rất phong phú, điều này tùy thuộc vào tính tự nhiên của từng địa phương. Bên cạnh nghề trồng lúa và cây ăn quả, người Nhật từ xa xưa đã phát triển nghề đánh cá và chăn nuôi gia súc, bởi một phần diện tích đất đồng bằng là tương đối ít, lại bị chia cắt bởi nhiều cao nguyên và biển, cho nên trong nông nghiệp lại có sự đa dạng kể trên. Đến thời đại Yayoi, kĩ thuật trồng lúa nước từ Triều Tiên được du nhập vào Nhật Bản từ thế kỉ III trước công nguyên, công việc trị thủy ngày càng quan trọng đã làm xuất hiện nhiều bộ lạc khác nhau ở Nhật Bản. Với nền kinh tế nông nghiệp phong phú, và sự xuất hiện của nhiều bộ lạc trên các đảo và quần đảo nhất định đã làm nảy sinh ra rất nhiều tín ngưỡng thờ thần khác nhau, “Mỗi thị tộc là một đơn vị đoàn kết tôn giáo quanh một vị thần”[2;69]. Mỗi bộ lạc luôn luôn tìm cho mình một vị thần Tổ, từ đó mà chúng ta thấy tính đa thần ở Nhật Bản nguyên thủy không đơn thuần là đa thần trong một bộ lạc mà là sự đa dạng từ nhiều tiểu quốc trên một quần đảo Nhật Bản. Điều này cũng được ghi lại trong hai bộ Kí kỉ – bộ sử cổ nhất của Nhật Bản được biên soạn vào thế kỉ VI. Mặc dù là bộ sự mang tính chính trị và thần thánh hóa của gia tộc Thiên hoàng nhưng nó đã chỉ ra có ít nhất hơn 180 vị thần phục tùng thần Mặt Trời, nhìn khách quan điều trên chính là khẳng định quyền lực của họ Thiên hoàng và vị thần thủy tổ của họ đối với các vị thần của các bộ tộc khác. Và ngay sau thống nhất chúng ta vẫn thấy “những hào tộc làm chủ địa phương đã nhận mình là con cháu của những thiên thần ấy”[6;31], mỗi tộc có thể thờ thần sông, núi, mặt trăng và mặt trời,…. Đó là điều chứng minh cho việc đã từng có tình trạng đa dạng và không thống nhất trong tính ngưỡng thờ thần tại hơn 100 tiểu quốc ở Nhật Bản nguyên thủy, điều mà Tống thư cũng đã ghi chép. Như vậy về mức độ và đặc điểm tín ngưỡng thờ thần bấy giờ có những điểm quan trọng cần khẳng định như sau: Thứ nhất tín ngưỡng thờ thần bắt nguồn từ chính cơ sở kinh tế, và yếu tố địa lý làm đa dạng tín ngưỡng; Thứ hai, mỗi bộ lạc có một vị thần thủy tổ riêng, và các vị thần không thống nhất, xuất phát từ nguyên nhân đa dạng trong kinh tế nông nghiệp và sự chia cắt địa lý.

Thứ hai, xét về loại hình tín ngưỡng nguyên thủy, thì xem xét trường hợp được ghi chép cụ thể là nước Oải trong Tống thư. Nhưng trước hết chúng ta cần hiểu như thế nào là Thần đạo (Shinto). Thực chất trong tín ngưỡng thờ thần của người Nhật Bản, Thần đạo không phải là tên gọi của những tín ngưỡng ấy. Trở lại với những lập luận về tôn giáo ở phần trước, thời kì nguyên thủy là thời kì hình thành nên các tôn giáo nguyên thủy, hai đúng hơn chỉ mang tín chất của những tín ngưỡng đa thần, do có chịu tác động và đời sống người Nhật nguyên thủy hầu như gắn liền với nông nghiệp, do đó hầu như những hiện tượng tự nhiên khiên họ kinh sợ hoặc không thể giải thích đều được nhân cách hóa trở thành thần thánh. Các hình thức đó là totem giáo, sau đó phát triển thêm một số nghi lễ thờ phụng và có những người đứng đầu tổ chức các nghi lễ đó,  thì Saman giáo bắt đầu hình thành (tiêu biểu là câu chuyện về nữ vương Himiko thế kỉ III được sử Trung Quốc ghi chép). Những tín ngưỡng đó được người Nhật gọi là Kami,  các Kami không chỉ bao gồm những hiện tượng nói trên mà có thể là những vị thần được con người sáng tạo thông qua các vật dụng hàng ngày như gương, giáo,…Có thể nói “là những linh thể hiện diện khắp nơi trong vũ trụ”[6;32]. Còn Thần đạo, thuật ngữ này chỉ xuất hiện từ thế kỉ VI để phân biệt với các tôn giáo khác từ bên ngoài vào Nhật Bản, nhưng phải từ thế kỉ XII Shinto mới được dùng như một tên gọi của tôn giáo, khi phong trào phân lí ra khỏi Phật giáo mạnh mẽ, và hầu như trong giai đoạn trước đó Thần đạo hòa lẫn vào Phật giáo. Và Thần đạo được người Nhật hiểu là một đạo trong Kami, tức là một con đường mà ở đó chỉ có các thần linh được xem là thủy tổ của từng bộ lạc, được giải thích qua các câu chuyện thần thoại, tức là một bộ phận của Kami. Thần đạo thực chất là một đạo để chỉ sự thờ phụng trời đất và thủy tổ – sau này Thiên hoàng được cho là người kế tục các tổ trên. Một trong những quan điểm hiện đại về khái niệm của Thần đạo được Heyeshensan đề cập: “Thần đạo là đạo của thần . Thần đạo là nguyên tắc sống của tổ tiên dân tộc Nhật Bản từ trước đến nay. Dân tộc Nhật Bản lấy việc tôn thờ, ca ngợi, thể hiện, và phát huy đức ngự thần của Hoàng Tổ Thiên Chiếu Đại Ngự Thần làm nguyên tắc sống, làm lí tưởng của quốc gia”[1;453]. Rõ ràng Thần đạo thời nguyên thủy vừa là một tín ngưỡng đa thần vừa là một quan điểm luân lí, mà thông qua các nghi lễ của nó, giúp truyền đạt đến cộng đồng một lối sống đạo đức nhất định. “Đó là một loại hành vi tinh thần được sản sinh ra trên cơ sở cúng bái thần linh truyền thống của dân tộc Nhật Bản, là một loại hiện tượng tinh thần và hiện tượng xã hội phổ biến”[1;454]. Đó là cách hiểu chính xác nhất đối với Thần đạo trước thế kỉ III trước công nguyên.

Nhưng vẫn còn những tranh cãi xung quanh thời gian hình thành Thần đạo. Nếu như cho rằng nó chỉ là một bộ phận của Kami thì liệu có phải đã xuất hiện cùng với các tín ngưỡng đa thần ban đầu. Trong cách sách nghiên cứu về tôn giáo trước thế kỉ XXI hầu hết đều cho rằng phải từ thế kỉ III trước công nguyên, nghĩa là thời kì nữ vương Himiko trị vì thì mới xuất hiện Shinto. Thực chất khái niệm đó hoàn toàn không sai, nhưng chỉ là đang xét trên một phương diện nhỏ hẹp trong vương quốc Oải, Thần đạo ở thế kỉ III trước công nguyên thực chất là một bộ phận của Thần đạo nói chung, tức là một nhánh thờ Nữ thần Mặt trời của tộc người Oải đang trị vì cả đất nước hàng trăm tiểu quốc thời gian này. Bản chất của Thần đạo như đề trên, là một bộ phận của tín ngưỡng đa thần nguyên thủy, và cũng đã xuất hiện cùng lúc với các tín ngưỡng trên, Nhưng mốc thời gian cụ thể thì hoàn toàn khó xác định được, người ta chỉ ước lượng rằng vào thời đại văn hóa Jomon từ 8000 năm trước. Ngoài đặc điểm về đồ gốm có hình dây thừng, thì cần chú ý đến các văn đề sau để thấy liệu Thần đạo đã ra đời từ đây hay chưa, và kết hợp với cơ sở về khái niệm và bản chất Thần đạo được đề cập ở trên. Thứ nhất văn hóa Jomon được xác định là đã có “cuộc sống phụ thuộc vào thiêng nhiên khiên con người phải sống tập trung theo quan hệ quyết thống thành các công xã thị tộc uji (thị) mẫu hệ”[7;20]. Thứ hai, những tộc trưởng sau khi chết “được tôn làm thần thị tộc”[1;458]. “Từ những di chỉ khảo cổ như cách mai táng hay tượng đấy nung, chúng ta có thể biết về ,một hành vi tôn giáo nào đó sau thời kì Jomon hay từ những mộ cổ có quy mô lớn có thể hiểu về tín ngưỡng đối với thế giới sau khi chết”[10;27]. Nhưng có thể khẳng định, ngoài việc thờ các hiện tượng tự nhiên, thì chính yếu tố thờ thần tổ và chôn cất người chết thể hiện được đặc trưng thứ hai là một cơ sở cúng bái thần linh, dù chưa thật sự rõ nét nhưng đã manh nha bắt đầu hình thành, phân biệt với Kami – tức thờ mọi linh thể, chính là cơ sở thờ thủy tổ của Thần đạo. Nhưng phải mãi đến thế kỉ III – II trước công nguyên với việc xuất hiện các Saman – người đứng đầu công việc thực hiện nghi lễ, cũng là người đứng đầu một bộ tộc, thì Thần đạo đã bắt đầu rõ nét là một tín ngưỡng thờ Thần tổ.

Tóm lại từ thời kì Jomon cách đây 8000 năm Thần đạo là một khái niệm tôn giáo hiện đại nhưng ở thời kì nguyên thủy được thể hiện đúng nhất có lẽ là: “thờ cúng thần linh hoặc tín ngưỡng đa thần”[10;24] và mặt dù hòa lẫn với tín ngưỡng khác nhưng đã bắt đầu thể hiện những nét riêng, mà tiêu biểu là việc cư dân các bộ lạc hình thành cho mình những thủy tổ để thờ phụng và xem đó là một biểu tượng tinh thần của họ. Về bản chất vẫn thuộc về tín ngưỡng đa thần khi xét cả trên góc độ toàn bộ Nhật Bản và trên từng bộ tộc nhỏ.

Tuy nhiên phải đến thời kì văn hóa Yayoi, khi mà các thị tộc bắt đầu liên kết với nhau để hình thành các nhà nước sơ khai (kuni) vào thế kỉ III trước công nguyên, và trong đó tiểu quốc Yamatai do nữ vương Himiko đứng đầu đã tỏ ra mạnh nhất và các bộ lạc xung quanh chịu bái phục, khi đó với vai trò là một Saman, bà đã giúp các vị thần có những mối quan hệ phụ thuộc nhất định, tức đã tôn sùng vị thần tổ của mình làm tổ thần cho các tiểu quốc khác. Câu chuyện trên chỉ là một dẫn chứng cụ thể cho quá trình dần thống nhất các vị thần trên cơ sở quá đa dạng từ thời nguyên thủy. Một trong những thị tộc có ảnh hưởng lớn nhất mà xét về nguồn gốc thì tiểu quốc của Himiko là một nhánh của nó, đó là họ Thiên hoàng, một họ tôn sùng nữ Thần Amaterasu (Nữ thần Mặt trời) làm thủy tổ của mình. Chính sức mạnh của họ ở vùng Yamato từ đầu thời kì văn hóa Kofun đã giúp tạo nên những cơ sở thần thoại phục vụ mục đích thống nhất các tiểu quốc về mặt tư tưởng, đó là cách họ giải thích nguồn gốc dân tộc Nhật Bản. Sau này những di sản trên được nhà nước Yamato biến thành những ghi chép lịch sử trong hai bộ sử kí đầu tiên, còn gọi là Ký kỉ. Họ Thiên hoàng và danh xưng Thiên hoàng không phải là một sản phẩm ảnh hưởng từ Nho giáo mà chính là một họ thật sự từ thời cổ đại ở Nhật Bản, bởi từ thế kỉ VI Thiên hoàng của Nhật Bản cũng được gọi là Thiên tử. Việc họ Thiên hoàng đã làm chủ Nhật Bản từ cuối văn hóa Kofun – thế kỉ III đã khiến cho tên gọi đó được thần thánh hóa, mà theo như hai bộ sử kí cổ nhất đã giải thích, họ là hậu duệ của nữ thần Mặt trời. Điều này góp phần hình thành nên quan niệm về nguồn gốc cho cư dân Nhật Bản.

Tóm lại, Thần đạo đã bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Kami – một dạng tín ngưỡng đa thần – totem giáo – thờ tất cả các linh thể trong tự nhiên và cuộc sống. Nhưng từ thời kì Jomon với sự xuất hiện các quan hệ huyết thống và hình thành các công xã thị tộc cho đến các nhà nước sơ khai – bao gồm tập hợp nhiều công xã nông thôn dưới một quyền chỉ huy của các saman, đã dần nảy sinh ra một phương diện mới là thờ thủy tổ. Và những cơ sở ban đầu để hình thành nên Thần đạo, chủ yếu là yếu tố địa kinh tế với nền nông nghiệp thủy lợi là chủ đạo với sự đa dạng hình thức nông nghiệp; thứ hai bắt nguồn từ yếu tố xã hội, gắn liền quá trình hình thành nhà nước và thống nhất Nhật Bản; Thứ ba, dựa trên sự hạn chế nhận thức trước các thế lực thiên nhiên; Thứ tư là yếu tố tâm lí. Từ đó cho thấy nguồn gốc hình thành Thần đạo nguyên thủy không nằm ngoài những yếu tố chung của một tôn giáo – tín ngưỡng (ở đây đồng nhất hai khái niệm trên).

Trên đây cũng chính là giai đoạn đầu tiên của tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản (từ khoảng 8000 năm trước đến thế kỉ III). Đây được xem là nền tảng cơ bản của tôn giáo – tư tưởng sau này, mặc dù còn mang đậm nét một tín ngưỡng, nhưng là giai đoạn cực kì quan trọng, bởi nó đã tạo ra những cơ sở đủ mạnh để đối chọi trước làn sóng văn minh thứ nhất sắp tràn vào Nhật Bản, cơ sở đó chính là tạo nên một ý thức chung về nguồn gốc dân tộc cho toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản, đó là một yếu tố có lẽ là quan trọng nhất đối với một dân tộc, giúp tránh được mối nguy cơ bị đồng hóa. Đây cũng là thời kì văn hóa mang tính bản địa hóa thuần túy nhất, mang đậm bản sắc dân tộc.

  • Những cơ sở ngoại lai và sự chuyển biến của tín ngưỡng Nhật Bản cổ đại.

Phần này không đi sâu vào phân tích tiến trình phát triển của tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản mà chỉ dừng lại ơ việc đưa ra những nguyên nhân bên ngoài khiến toon giáo Nhật Bản biến chuyển.

Như đã khẳng định, Thần đạo Nhật Bản là một lĩnh vực thuộc về ý thức xã hội, là sản phẩm từ xã hội, cho nên không thể tách rời khỏi lịch sử phát triển của xã hội Nhật Bản. Thế kỉ VI, Nhật Bản đứng trước một làn sóng văn minh ngoại lai tràn ngập vào đất nước, vì vậy cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến những biến đổi về tôn giáo – tư tưởng.

Chính vị trí địa lý đã phần nào quy định nên việc Nhật Bản sẽ chịu ảnh hưởng từ nền văn hóa nào. Nằm trong khu vực Đông Á, trong thời kì nguyên thủy và xa hơn Bắc Nhật Bản dính liền với Triều Tiên, và với những kiến tạo địa lý, mặc dù vị trí đó có thay đổi nhưng vẫn thông qua con đường Triều Tiên, các tư tưởng và văn minh Trung Hoa du nhập vào Nhật Bản từ rất sớm. Ngay từ thế kỉ III trước công nguyên quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Hoa được xác lập thông qua triều cống. Một liên bang các bộ lạc do vương triều Yamatai và nữ vương Himiko đứng đầu đã tỏ ra thuần phục Trung Hoa. Thông qua con đường Triều Tiên nền văn minh kim khí lục địa tràn vào Nhật Bản. Chính những di chỉ khảo cổ thời kì Kofun đã cho thấy sự phát triển vượt bậc từ văn hóa gốm sang kin khí không phải tự thân Nhật Bản đạt được mà có những yếu tố ngoại lai bên ngoài. Tuy nhiên giai đoạn từ thế kỉ III trước công nguyên đến thế kỉ VI chỉ là mối quan hệ đơn thuần về kinh tế, và chính trị, nhưng đã tạo ra những tiền đề để các văn minh khác, đặc biệt là tư tưởng và tôn giáo du nhập vào Nhật Bản.

Những tôn giáo bên ngoài du nhập vào đã tạo ra những điều kiện để tôn giáo Nhật Bản phát triểm, cụ thể là:

Thứ nhất, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo bổ sung vào hệ thống tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản, tạo ra sự đa dạng và phong phú nhất định.

Thứ hai, các tôn giáo ngoại lai, đặc biệt là Phật giáo đã bổ sung về cơ sở lý luận và góp phần hình thành nên các tổ chức thờ phụng cho tín ngưỡng thờ thần bản địa. Đó cũng là cơ sở để Thần đạo dần dần trở thành một tôn giáo.

Thứ ba, các tôn giáo ngoại lai bị bản địa hóa, chủ yếu là hòa vào các nghi lễ, cách thức tu hành, tạo ra nhiều tông phái khác nhau.

Tóm lại, tôn giáo – tư tưởng Nhât Bản trong thời đại mở cửa và tiếp thu văn minh lần thứ nhất tại quốc gia này từ thế kỉ VI, mang trong mình những đặc điểm kể trên. Nhưng quá trình phát triển suốt hơn mười thế kỉ sau đó là hoàn toàn phức tạp, bởi chính các mối quan hệ chồng chéo, đan xen giữa tôn giáo ngoại lai và bản sắc tín ngưỡng dân tộc trong một quá trình biến đổi và tái cấu trúc văn hóa – tôn giáo – tư tưởng là nguyên nhân chủ yếu. Những giai đoạn cụ thể sẽ được làm rõ ở chương tiếp theo.

 

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG – TÔN GIÁO NHẬT BẢN TỪ THẾ KỈ VI ĐẾN TRƯỚC THẾ KỈ XII

Như đã lập luận ở chương 1, mặc dù xem thời kì tín ngưỡng là một bộ phận của lịch sử tôn giáo Nhật Bản, nhưng tôn giáo thật sự bắt đầu chính là ở thời kì thế kỉ VI, không thể phủ định rằng: chính Phật giáo là tôn giáo đầu tiên ở Nhật Bản, bởi lẽ, Thần đạo không phải là khái niệm dùng để chỉ một tôn giáo nguyên thủy, mà trước đó phải gọi chính xác là thờ cúng thần linh, nó nghiên hẳn về một nghi lễ trong tín ngưỡng đa thần. Sự tiếp biến đã làm cho tư tưởng – tôn giáo Nhật Bản phát triển như thế nào sẽ làm rõ ở những nội dung dưới đây.

2.1. Sự du nhập của các tôn giáo – tư tưởng ngoại lai

Thế kỉ VI, thông qua con đường thương mại từ Triều Tiên, văn minh Trung Hoa bắt đầu du nhập, trong đó có các tôn giáo lớn của đại lục, mà cụ thể là: Phật giáo đại thừa, tư tưởng Nho giáo, và Đạo giáo. Nhưng trong đó có lẽ Phật giáo có ảnh hưởng lớn nhất. Có ba nguyên nhân để giải thích cho vấn đề trên:

Thứ nhất về nét tương đồng và dễ dàng được chấp nhận của Phật giáo khi du nhập vào các quốc gia có nét tương đồng về văn hóa, mà ở đây là văn hóa phương Đông. Nhìn vào qusa trình du nhập Phật giáo ở Việt Nam, người ta luôn luôn có thể khẳng định rằng “nghi lễ Phật giáo đơn giản. Giáo lý đề cao tư tưởng bình đẳng bác ái, từ bi, vị tha, cứu khổ, thoát khổ, có gần gũi với tính ngưỡng dân gian, phù hợp với tâm lí, tình cảm nên dễ được người Việt chấp nhận”[12;20]. Đối với Nhật Bản cũng tương tự, như ở chương 1 đã trình bàỳ, các tín ngưỡng bản địa đều mang những nét tương đồng nhất định với quan niệm và triết lý Phật giáo kể trên. Chính sự tương đồng đó khiến Phật giáo hầu hết dễ dàng được chấp nhận ở nơi mà nó không sinh ra. Nhưng ở đây chỉ là được đông đảo nhân dân đón nhận, một nguyên nhân mang tính xã hội nhiều hơn.

Nguyên nhân thứ hai là vấn đề chính trị. Để giải thích nguyên nhân này lại phải dùng những liên hệ khu vực mà đặc biệt là lịch sử tôn giáo và tư tưởng Trung Quốc. Thực chất  Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản là đại thừa, có nguồn gốc từ Trung Hoa. Điểm khác biệt lớn nhất là tính nho giáo hay tính triết lý và quan niệm nhân sinh trong Phật giáo đại thừa rất cao. Tức ở Trung Quốc từ thế kỉ II trước công nguyên cũng đã diễn ra sự hợp nhất Nho – Đạo – Phật, trong đó những tư tưởng hay quan điểm xã hội, nhân sinh quan, chính trị đã phần nào được Phật giáo tiếp thu. Tóm lại thứ Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản có những cơ sở chính trị phục vụ cho những mục đích của giới cầm quyền bấy giờ, đặc biệt là nhu cầu thống nhất và cai quản đất nước. Trong nguyên nhân thứ hai này còn có hai vấn đề liên quan cần được bàn một cách kĩ lưỡng. Đầu tiên, Phật giáo du nhập vào Nhật Bản không phải thông qua con đường buôn bán mà là truyền đạo của các vị Thiền sư từ Triều Tiên sang và việc các Thiên hoàng cử người sang học tập văn minh Trung Quốc. Nhưng hầu hết các vị sư là những người thấm đẫm tư tưởng Tống Nho, ngoài việc truyền bá Phật pháp, họ còn là những cố vấn truyền tải thông điệp về quan niệm Nho học cho các hoàng thân và triều đình Nhật Bản bấy giờ. Tiếp theo, Phật giáo không như Nho giáo, là một tôn giáo hơn là một hệ tư tưởng đạo đức và chính trị, là một tôn giáo độc thần, cho nên có thể xem là một công cụ để thông qua biến đổi với tín ngưỡng bản địa giúp nhà nước Nhật Bản thực hiện được công cuộc thống nhất về mặt tinh thần, mà ở đây chúng ta sẽ thấy nhiều vị thần từ thế kỉ VI trong hai bộ sử kí Nhật Bản – Kí kỷ đề cập được chính những vị thần – phật của Phật giáo du nhập vào.

Nguyên nhân thứ ba, để giải thích cho việc tại sao Phật giáo lại có vai trò lớn hơn các tôn giáo ngoại lai khác chính là vừa kết hợp hai nguyên nhân bên trên. Đó là ngay từ đầu Nho giáo đã bị hòa lẫn vào Phật giáo khi du nhập vào Nhật Bản, thực chất Phật giáo đại thừa mang trong bản thân nó hai vai trò, của một tôn giáo nghiêng về giải thích mối quan hệ con người với thế giới quan, và đồng thời là quan hệ con người với con người của Nho giáo. Do đó có thể nói Phật giáo ở Nhật Bản là một dạng tôn giáo và là học thuyết đạo đức và chính trị. Tiếp theo, do nó phù hợp với tín ngưỡng bản địa và được đại đa số nhân dân chấp nhận, hơn nữa là một tôn giáo độc thần du nhập vào trong thời kì thống nhất Nhật Bản, nên là một công cụ chính trị thật sự hữu hiệu: “Xét cho cùng, khi Phật giáo được truyền vào Nhật Bản nó không còn là một tôn giáo đươn giản của các tu sĩ khổ hạnh Ấn Độ. Lúc bấy giờ Phật giáo đã phát triển thành một hệ thống triết học cao siêu, với kinh điển đồ sộ, nghi lể tỉ mỉ, hệ thống tăng đoàn có đẳng cấp tu sĩ, và các hình thức nghệ thuật riêng của nó”[3;387]. Còn trường hợp của Đạo giáo hầu như nó gần giống với các tín ngưỡng Saman nên đã được hòa lẫn và được xem là một phần của tín ngưỡng bản địa, nên không chỉ ở Nhật Bản mà ở Việt Nam, nó không có vai trò cụ thể.

Dựa trên những phân tích bên trên, có thể khẳng định rằng trong suốt thế kỉ VI – XII, hầu như chỉ nổi lên mối quan hệ giữa Thần đạo – tín ngưỡng bản địa với Phật giáo, và một ít những khía cạnh tác động của Nho giáo đến lịch sử tôn giáo và tư tưởng Nhật Bản. Do đó ở phần này sẽ đi sâu vào các đặc điểm nổi bật nhất như đã nêu.

2.2. Phật giáo trong tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản cổ đại

2.2.1. Quá trình Phật giao du nhập và xác lập tính độc tôn trong tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản cổ đại.

Thế kỉ VI đến thế kỉ XII, là thời kì hình thành khuynh hướng tôn giáo hỗn hợp ở Nhật Bản với vai trò to lớn của Phật giáo đại thừa. Trước khi có Phật giáo du nhập, các vị thần trong tín ngưỡng bản địa người Nhật chủ yếu tồn tại dưới dạng thức không xác định, tức không được cụ thể hóa hay cá nhân hóa hoàn toàn, đương nhiên trường hợp các vị thần thuộc thủy tổ các bộ lạc là trường hợp khác biệt hơn.

Trong quá trình Phật giáo du nhập vào Nhật Bản, đã có hai ý kiến trái chiều nhau trong triều đình lúc bấy giờ, ủng hộ và không ủng hộ chấp nhận tôn thờ Phật giáo. Quan điểm không đồng tình xuất phát từ ý niệm,  Phật cũng được xem là thần nhưng là thần ngoại lai, đối trội lại các vị thần bản địa. Cũng trong thế kỉ VI khi mà các trận đại dịch bùng phát, người ta lại đổ lỗi cho việc Phật đã làm các vị thần nổi giận, tuy nhiên với những lợi ích của Phật giáo mang lại, Thái tử Sotoku đã chấp nhận sự du nhập của tôn giáo này và hơn hết ông chủ trương hòa hợp tín ngưỡng dân tộc và Phật giáo, mà trong điều 2 của Thập thất hiến pháp ban hành vào đầu thế kỉ VII – năm 604 đã chứng tỏ cho tư tưởng trên: “Tín kỉnh tam bảo là Phật, Pháp và Tăng. Tam bảo là chỗ quy thứ của tứ sanh, chỗ cực tôn của vạn quốc. Bất cứ đời nào, người nào hễ thấy Phật pháp hãy sinh tâm vui mừng; lấy Phật pháp đề giáo hóa nhân dân, bỏ ác làm lành. Nếu mọi người đều quy y Tam bảo thì tất cả sự cuồng tranh đều trở thành trực chánh”[11;42]. Điều lệ trên được đưa ra đã làm thay đổi tình hình Phật giáo ở Nhật Bản, từ chỗ ban đầu chỉ một bộ phận hoàng thân tiếp nhận, sau đó đã lan rộng ra toàn dân như một quy định luật pháp phải tuân thủ. Một điều cần thấy ở đây, lúc bấy giờ người đứng đầu nhà nước chính là thái tử Sotoku – có quyền nhiếp chính bên cạnh một nữ Thiên hoàng là Suikos, mặc dù đến nay người ta chưa biết vai trò và chức vị thật sự của ông có phải là Thiên hoàng. Nhưng điều chắc chắn rằng, ông là người đứng đầu triều đình, đứng đầu hệ thống tín ngưỡng thờ thần, tức là hậu duệ của nữ Thần Mặt trời. Năm 607, Thiên hoàng Suiko cũng ban hành một chỉ dụ, có nội dung: “nay Trẫn ra sắc lệnh cho toàn cả nhân dân phải tôn kính tế tựu Thần linh, không ai được trể nãy”[11;259].Việc Thiên hoàng Suiko và Thánh đức Thái Tử Sotoku chủ trương đề cao Phật giáo đã cho thấy sự hòa hợp và chấp nhận giữa Thần đạo và Phật, bởi lẽ như giải thích bên trên chủ thể đứng đầu tín ngưỡng bản địa đã chấp nhận tôn giáo ngoại lai, đó là bước ngoặt cực lớn.

Tuy nhiên không chỉ có Phật giáo, trong tư tưởng của Sotoku, ông còn dung hợp Nho giáo vào truyền thống thần linh dân tộc, với việc đưa hàng trăm thanh niên sang học tập lễ nghi và cơ chế tổ chức nhà nước và xã hội Trung Quốc. Nhưng vị trí của Nho giáo trong lịch sử tôn giáo Nhật Bản thời cổ đại này là không lớn, mãi đến thế kỉ XII và đặc biệt là XVI thì mới rõ nét dưới tác động của những biến cố chính trị – xã hội thời chiến trang liên miên. Cho nên lúc này chỉ có Phật giáo và mối quan hệ của nó với Thần đạo là chủ yếu. Nhưng giữa hai tôn giáo và tín ngưỡng này đâu là thứ được coi trọng hơn trong mối quan hệ đó. Câu trả lời là mỗi thứ giữ một vai trò nhất định. Trong những chiếu chỉ cải cách đất nước thời thái tử Sotoku, ông đã khẳng định rằng: “Xao nhãng việc tôn thờ Thiên thần và Địa thần trong triều đại ta là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Tất cả các vị thần điều phải tôn kính thần (Kami)”[3;389], trong cơ chế chính quyền thời cổ đại, việc đặt Hội đồng Thần vụ ngang với hội đồng nhà nước để nói lên hoàn toàn. Như vậy có thể thấy, chính sách dung hợp Thần – Phật của chính quyền Nhật Bản giai đoạn này có phần đề cao vai trò bản sắc dân tộc, thông quan việc xếp Phật dưới Thần thủy tổ của mình. Đó chỉ là một trong những hình thức Thần – Phật, cụ thể là Thần bảo hộ cho các vị Phật, cụ thể sẽ trình bày ở mục “những hình thức kết hợp Thần – Phật” dưới đây. Nhưng điều khẳng định được chính là, chính quyền Nhật Bản từ thế kỉ VI – VII đã có tư tưởng dung hợp các tôn giáo ngoại lai dựa trên cơ sở tín ngưỡng thờ thần bản địa, mà nổi lên là vai trò của Phật giáo.

Chính từ bước ngoặt to lớn đó, sự biến đổi các vị thần bắt đầu dưới tác động to lớn của một tôn giáo đại diện cho một văn minh ngoại lai. Điều đầu tiên mà Phật giáo mang lại là sự tự ý thức về một tín ngưỡng hay hình thức tôn giáo sơ khai của dân tộc. Chính cuộc tranh luận về số phận của Phật giáo ở Nhật ngay từ thời kì Thiên hoàng Kinmie (thời kì Asuka) đã cho ta chứng cứ rõ nhất cho lập luận bên trên. Các đại thần trong triều đình bấy giờ đã chia làm hai phe, những người theo hào tộc Soga-no-Iname cho rằng phải tiếp nhận tôn giáo này bởi, ở bên kia chính tuyền là phái theo Mononobe-no-Okoshi lại cho rằng đó là các vị thần xa lạ, thần bản địa sẽ nổi giận. Chính cách nhìn nhận của phái Mononobe-no-Sokoshi đã phản ánh rằng, trước tôn giáo bên ngoài du nhập vào, người Nhật ý thức được mình cũng có những cơ sở tín ngưỡng và tôn giáo nhất định. Mặc dù sau này Phật giáo được chấp nhận rộng rãi, nhưng trong 2 thế kỉ từ VI – VIII, hầu hết người dân Nhật đều thờ ơ, và không màn tới. Thực chất khái niệm Thần đạo chỉ bắt đầu xuất hiện vào thế kỉ VI khi mà văn minh Trung Hoa du nhập, đồng thời trước áp lực của các tôn giáo ngoại lai. Người Nhật buộc phải xây dựng một khái niệm riêng cho tín ngưỡng dân tộc (Kami) để phân biệt với tôn giáo bên ngoài. Do đó, họ đã mượn chữ Shin từ Hán tự để chỉ các thực thể thiêng liêng (Kami) ở thời kì trước và chữ to dùng xác định những tín ngưỡng đó là một đạo của người Nhật tôn thờ các vị thần mang tính biểu tượng, chứ không toàn bộ các Kami nguyên thủy. Ở đây cần phân biệt khái niệm Kami và Shinto, Shinto là con đường thần linh, và được tư tưởng mọi vật điều linh thiên của Kami nhập vào. Tóm lại, Phật giáo và các tôn giáo ngoại lai là một thế lực góp phần tạo nên ý thức về tín ngưỡng và các vị thần của người Nhật Bản.

Thứ hai các vị thần trong Thần đạo được biến đổi về chất, được cụ thể hóa bởi những vị Phật trong Phật giáo, và Phật bắt đầu bám rể khi được các tín ngưỡng ấy bản địa hóa, cụ thể là thông qua những hình thức kết hợp Thần – Phật sau đây:

2.2.2. Cách hình thức kết hợp Phập – Thần.

* Thần bảo hộ Phật – Thần bổn Phật tích

Hình thức kết hợp đầu tiên này không chỉ có ở Nhật Bản mà nó đã xuất hiện ở Ấn Độ cổ đại. Tại Ấn Độ sau thời kì Vê đa, khi mà Phật giáo trở thành tôn giáo chính, các vị thần Bà La Môn là Indra và Brahma được Phật tổ bảo vệ, và đó là cách hợp thức hóa họ vào hệ thống các thần Phật giáo. Còn ở Nhật Bản cũng đã diễn ra một trường hợp tương tự. Chính hiện tượng Thần bảo hộ Phật ngày càng tăng, đã tạo ra một chủ trương trong tôn giáo Nhật Bản giai đoạn này là Thần bổn Phật tích. Thần bổn Phật tích, được hiểu đơn giản Thần giữ vai trò chủ đạo, là bản địa, cao hơn Phật, trong khi đó Phật là ngoại lai, xếp sau và nhận sự che chở thần Thần đạo.

Chủ trương Thần bổn Phật tích được phái Bốc Bộ Thần đạo đề xướng. Quan điểm của họ là lấy Nhật Bản làm trung tâm thế giới, như cách người Trung Quốc tự gọi mình là trung tâm vậy. Với tư tưởng trên, những người thuộc các  phái này cho rằng: Các vị thần Nhật Bản là cao nhất, sau đó mới sản sinh ra những vị thần ở các quốc gia khác, trong đó có Phật trong Phật giáo. Đó là những ghi chép trong bộ Duy Nhât Thần đạo Danh pháp Yếu tập của phái Bốc Bộ Thần đạo [11;267].

Nhưng trước khi đi vào những biểu hiện cụ thể, thì cần làm rõ nguyên nhân vì sao lại có hình thức kết hợp này. Đó là một nguyên nhân xuất phát từ hai phía. Trước hết đối với một tôn giáo ngoại lai như Phật giáo, muốn tồn tại và bám sâu vào đời sống Nhật Bản, nó cần phải được sự bảo hộ của tín ngưỡng – tôn giáo bản địa, cho nên đã chấp nhận bị bản địa hóa. Đối với Thần đạo, mặt dù là một tôn giáo nguyên thủ của dân tộc nhưng nó không có vai trò to lớn trong chính trị, kể cả danh xưng và địa vị Thiên hoàng cũng không phải tự nó tạo ra. Do đó các vị thần trong Thần đạo cần phải tìm một vị trí nhất định, nhờ vào việc bảo hộ thần ngoại lai, “về phía các vị thần có thể mở rộng quyền lực dựa trên việc mượn sức mạnh của Phật giáo vốn đã liên kết chặt chẽ với quyền lực trung ương”[10;65]. Trong phần trước chúng ta đã bàn về sự du nhập và cách thức tiếp nhận Phật giáo của người Nhât, theo một hướng từ trên xuống, mang tính bắt buộc bởi hệ thống luật lệnh, mà tiêu biểu là từ Thập Thất hiến pháp đến các cải cách sau này thời cổ đại Nhật Bản. Tóm lại xu thế Thần bảo hộ Phật xuất phát từ lợi ích hai phía, tượng trưng cho việc bản địa hóa văn hóa nói chung và bản địa Phật giáo trên nền tảng Thần đạo nói chung.

Trong thời kì Nara và Heian, nhiều câu chuyện truyền thuyết được ghi trong Kí kỉ đã chứng minh cho mối quan hệ trên. Chẳng hạn, năm 752 tượng thờ thần Hachiman – hiện thân của Thiên hoàng Ojin được hoàn thành, điều đặc biệt là nó được dựng nên theo hình dạng tượng Phật. Hay vị thần nông nghiệp Inari trong lời kể vị trụ trì chùa Toji hứa sẽ bảo vệ ngôi chùa và toàn bộ thần phật trong đó. Và hiện nay hầu hết các tượng Phật cổ đại Nhật Bản đều mang dáng vóc tượng Phật, nhưng lại dưới tên gọi của các vị thần trong Thần đạo, nhiều dòng họ đã dùng các vị Phật được bảo hộ bởi Thần làm thần bảo hộ dòng họ mình, như trường hợp họ Genji lấy Usa Hachiman – Đại Bồ Tát chẳng hạn.

Chính chủ trương Thần bổn, Phật tích đã đem lại một hệ quả lớn lao cho tôn giáo Nhật Bản. Giờ đây Phật giáo với cách thức kết hợp trên đã bị biến thành một tôn giáo dân tộc, điều này là hoàn toàn có cơ sở để khẳng định. Dựa trên hai biểu hiện đã chứng minh ở trên, còn một sự kiên được ghi vào quyển 15 Nhật Bản thư kí, trong đó đề cập đến vai trò của ngôi chùa có tượng Đại Phật ở Nara do Thiên hoàng Somu lập ra ở thế kỉ VIII. Somu đã khẳng định “Nếu chùa này được hưng thạnh thì quốc gia thiên hạ được hưng thạnh, nếu chùa này bị suy nguy thì quốc gia thiên hạ cũng nghèo khổ”[11;269]. Điều này chứng minh được 2 quan điểm: Thứ nhất Phật giáo được giới cầm quyền xem trọng và gắn nó với sự tồn vong của quốc gia; Thứ hai, Phật giáo vì vậy đã trở thành một tôn giáo của người Nhật Bản, khi từng bước bị bản địa hóa, trước hết và cơ sở quan trọng nhất của một tôn giáo là hình tượng thần thánh đã bị biến đổi dưới hình dạng của một thần dân tộc.

Mặc dù vậy, không một ai trong các phái ủng hộ chủ trương Thần bổn, Phật tích thực hiện quốc gia hóa Phật giáo, tức không đồng tình việc xem Phật giáo là tôn giáo dân tộc. Chủ trương trên chỉ dừng lại ở mức độ, xem “Thần đạo là gốc, Phật giáo là ngọn”[11;269]. Tức vẫn xem Phật là một tôn giáo ngoại lai, không phải là một tôn giáo chính thống của người Nhật.

* Hình thức Phật cứu độ Thần và chủ trương Phật bổn Thần tích.

Là một chủ trương trái ngược với chủ trương Thần bổn Phật tích. Phật bổn Thần tích xem Phật giáo ở vị trí cao nhất, Thần ở địa vị phục tùng và được cứu độ, là hiện sinh của Phật. Người đề ra chủ trương này là các sư Không Hải và Trừng Huyền.

Thuyết này cho rằng Phật là vị thần cao cả có khả năng cứu độ, từ bi, hỷ xả, nhưng lại cần có những vị thần có sức mạnh ủng hộ và giúp ngài thực hiện những điều tốt đẹp cho con người. Tư tưởng này có nhiều nét tương đồng với tôn giáo Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại.

Tuy nhiên, còn một thuyết trong chủ trương này mang đậm nét riêng của người Nhật. Đó là xem Thần và Phật như một, cùng đem lại lợi ích cho con người. Trong Ngu mê phát tâm tập có chép “Tất cả các ngôi tam bảo trong mười phương thế giới, và tất cả các vị Thần kỳ lớn nhỏ trong trời đất đều hỗ trợ lẫn nhau”[11;266].

Một trong những minh chứng cho chủ trương và xu thế trên chính là hình tương nữ Thần Mặt trời Amaterasu được miêu tả trong các bộ sử từ thế kỉ VI trở đi. Trong nhiều phái Phật giáo, mà tiêu biểu là Mật giáo đã xây dựng hình tương Amatersu như là một vi Bồ Tát “với tư cách là một người có quyền uy và tỏa ánh hào quang”[10;45]. Như vậy đã quá rõ một kết luận rằng: đồng nhất Thần – Phật đã là một xu thế chủ yếu trong tôn giáo Nhật Bản cổ đại.

Tóm lại, có thể nói chủ trương Phật bổn Thần tích thực chất là chủ trương dung hợp Thần – Phật. Dung hợp Thần – Phật là một đặc điểm chủ yếu của tôn giáo Nhật Bản trong thời cổ đại từ thế kỉ VI đến XII, đồng thời trong thời kì này Phật giáo đã trở thành quốc giáo, và hầu như chính xu thế hợp nhất đó làm cho một mặt Thần đạo được kế thừa những thành tựu của Phật giáo để sau khi phong trào phân ly Thần – Phật bùng nổ từ trung thế để đủ cơ sở trở thành một tôn giáo; nhưng mặt khác, nó bị mất hẳn trong suốt hơn sáu thế kỉ này.

Bên cạnh hai chủ trường Thần bổn Phật tích và Phật bổn Thần tích, thì còn xuất hiện những xu thế khác như việc nhiều người có công với dòng tộc được tôn sùng trở thành các vị Thần dân tộc, điều này tương tự như tục thờ Thần Thành hoàng ở đình làng Việt Nam.

Như vậy, Phật giáo có vai trò về mặt luân lý và tư tưởng, vai trò xây dựng hình tượng,… cho các vị thần bản địa, nhưng nó cũng bị bản địa hóa sâu sắc. Đồng thời các vị thần bản địa không suy vong mà còn phát triển về số lượng, hình thức, chức năng. Có thể nói hệ thống thần linh bấy giở Nhật Bản gồm thần bản địa, thần ngoại lai, thần hỗn dung, thần bắt nguồn từ thần thánh hóa cá nhân. Bên cạnh đó, Phật giáo đã chiếm ưu thế do chính quyền có thể khai thác phục vụ mục đích chính trị, làm lu mờ Thần đạo, nhưng Thần đạo không mất đi mà chỉ là hòa lẫn, tiếp thu các tiến bộ Phật giáo, đặc biệt là tư tưởng giáo lý và hệ thống thờ tự.

Thứ ba, hệ thống thờ tự Thần đạo được biến đổi thông qua hệ thống thờ tự Phật giáo.

Thời kì nguyên thủy mặc dù tồn tại rất nhiều nghi thức tín ngưỡng thờ thần linh, nhưng chưa có một hệ thống thờ tự hay dùng để thực hiện các nghi lễ trên và thường được người dân Nhật Bản gọi là matsuri. Nơi tổ chức thường là các gốc cây, mỏng đá, hang núi,… những nơi cư dân nguyên thủy cho là mang tính thiêng liêng và hiện diện thần linh ở đó. Thông qua một thầy cũng, thường là chủ bộ tộc, để tiến hành hình thức nhập hồn, trong đó với vai trò xã hội mẫu quyền, đương nhiên người phụ nữ sẽ đảm nhận vai trò thực hiện nghi lễ, tiêu biểu là nữ vương Himiko. Điều khẳng định ở đây là tín ngưỡng thờ thần chưa có một hệ thống thờ tự nhất định.

Đến thế kỉ III trước công nguyên, khi nhà nước liên bang các bộ lạc Yamatai hình thành thì các Thần cung phục vụ cho nghi lễ mang tính nhà nước. Đứng đầu trong hệ thống đến thờ là thần cung Ise, bên dưới là các thần xã địa phương.

Trong thời kì ảnh hưởng của Phật giáo, và cùng với sự lớn mạnh của chủ trương hợp nhất Thần – Phật như ở trên đã trình bày, những ngôi chùa cũng trở thành nơi thờ tự thần của Thần đạo. Và đương nhiên kiến trúc Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến các thần xã Nhật Bản.

Thứ tư, Phật giáo đa giữ vai trò nhất định trong hệ thống nghi lễ và sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo Nhật Bản.

Nếu như trước khi Phật giáo du nhập, các nghi lễ về cái chết được thực hiện bởi các thầy cúng, nhưng khi mà tư tưởng dung hợp tôn giáo bắt đầu, thì Phật giáo đã giữ vai trò đó. Không chỉ thế, nó còn đứng ra tổ chức các lễ cầu nguyện, nghi lễ hoàng tộc. Ở điểm này, cần phải đi sâu vào quá trình hình thành nên nền giáo lý và văn hóa Phật giáo cổ đại, mà dưới đây sẽ làm rõ.

2.2.3. Đặc điểm văn hóa và tư tưởng Phật giáo Nhật Bản cổ đại.

Chúng ta đã bàn nhiều về sự du nhập và phát triển theo các dạng thức kết hợp khác nhau của Phật giáo với Thần đạo Nhật Bản và tính Nho giáo ngay từ khi còn ở Trung Quốc. Nhưng việc đánh giá tư tưởng hay giáo lý riêng biệt của Phật giáo Nhật Bản là một trong những điều cực kì phức tạp hơn. Nhưng ở đây chỉ xin chú trọng vào hai điểm: Thứ nhất là giáo lý, giáo luật. Thứ hai, tư tưởng của phái Mật giáo về giải thoát và sự chuyển biến từ Phật giáo Đại thừa đại lục sang Phật giáo bản địa.

Đầu tiên về giáo lý và giới luật. Sau khi chữ viết được du nhập vào Nhật Bản, các bộ kinh Phật bắt đầu được các nhà sư dịch ngay từ cuối thế kỉ VII, đã tạo nên một phong trào học thuật trong giới tu sĩ. Trong đó nổi lên vai trò cực kì to lớn của hai nhà sư Saicho và Kukai. Và “trên thực tế, nền tảng tư tưởng Phật giáo Nhật Bản hầu như đã được tạo dựng vào đầu thời kì Heian (Bình An, 794 -1185/1192) và phát triển tư tưởng đó bao gồm cả Phật giáo thời kì Kamakura (Liêm Thường, 1185/1192-1333 đều ứng dụng trên nền tảng tư tưởng này”[10;73] – tức giáo lý từ tư tưởng Nhất thừa của Saicho và giới luật từ Nhất thừa đều do Saicho đề ra. Còn tư tưởng Mật giáo được đưa gần gũi với tín ngưỡng bản địa thông qua nghi lễ giải thoát thuộc về vai trò của Kukai.

Quá trình hình thành hai tư tưởng trên của Saicho là một quá trình tranh luận sôi nổi giữa các tôn phái trong Phật giáo Nhật Bản. Từ thế kỉ VI tông phái Nam độ là tông phái hình thành sớm nhất và được chính quyền trung ương trọng dụng, đề nó làm tông chủ của cả Phật giáo quốc gia. Tuy nhiên sau thế kỉ VII thì xuất hiện Thiên Thai tông của Saicho và Chân Ngôn tông của Kukai. Khác với Nam Độ tông, hai tôn phái còn lại ẩn mình tại các vùng núi để tu hành.

Trong khi phái Nam Độ tông chủ trương giữ các giáo lý của Phật giáo đại thừa Trung Hoa, như trong Pháp tướng kinh cho rằng trong giới tu hành phải có 3 mức độ giác ngộ, ứng với ba đẳng cấp tu sĩ là Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát; cùng tương tự quy định Tam bảo gồm Phật, pháp, tăng. Đối lập lại tư tưởng đó của phái Nam Tông, Saicho cho rằng mọi người không phân biệt, đều có thể thành Phật qua tu luyện Phật pháp. Quan điểm đó gọi là Nhất thừa, sau này được phát triển và có một nhánh gọi tên là Tất hữu Phật tính thời kì Kamakura trở đi. Tức Saicho cho rằng mọi người, mà đa số là tín đồ tại gia đều có thể quy y cửa Phật, mang nét gì đó tương đồng với tâm thế tôn sùng Phật giáo ở Việt Nam, nhưng nhìn sâu xa hơn đó là hệ quả của hợp dung tôn giáo trên nền tảng tín ngưỡng và đời sống tin thần dân tộc. Tức theo tư tưởng của Nhất thừa, Phật giáo mới dễ dàng xâm nhập vào đời sống nhân dân, chứ không bị bó hẹp ở chùa chiền và giáo đường nhà nước.

Để hợp thức hóa và vận hành được quan điểm Nhất thừa, Saicho còn đưa ra giới luật qua thuyết Đại thừa giới. Dựa trên Phạm Võng kinh từ Trung Quốc, ông đề ra Phạm Võng giới – Đại thừa giới. Đối tượng của thuyết giới luật này là nhắm vào những người tu tại gia, và những tín đồ ngoài hệ thống chùa chiền. Thuyết này làm lu mờ đi ranh giới giữa những người được xem là xuất gia và tại gia, thể hiện tính phổ quát và phổ biến rộng rãi Phật giáo vào đời sống.

Trên thực tế mãi sau thế kỉ IX thì những tư tưởng Nhất thừa và Đại thừa giới mới được nhà nước công nhận, nhưng từ khi mới ra đời đã lôi kéo rất nhiều tông phái đi theo. Bởi lẽ nó gần gũi và biến Phật giáo dễ dàng thâm nhập và ăn sâu vào đời sống nhân dân hơn là chỉ gói gọn trong phạm vi Nhà nước. Nhờ đóng góp trên mà Phật giáo đã dễ dàng được bản địa hóa. Đó cũng là một cách lý giải vì sao, trong thời kì này hầu như Phật giáo và Thần đạo hòa làm một.

Sự hòa quyện đó còn thể hiện qua Mật tông giáo của Kukai, với quan điểm đưa những nghi lễ Phật giáo vào đời sống và nghi lễ tín ngưỡng dân tộc. Để làm rõ vấn đề này chúng ta cần có những hiểu biết thật sâu rộng về Phật giáo và quan niệm giải thoát, luân hồi của tôn giáo này. Theo Phật giáo con người sống trong thế giới hiện tại chỉ là tạm bợ, phải trải qua nhiều kiếp luân hồi, mới có thể giác ngộ Phật pháp thông qua tu hành mới có thể được giải thoát khổi bể khổ của cuộc sống.

Tuy nhiên dựa trên Đại Nhật kinh, Kim cương kinh và thuyết nhị nguyên từ Âm Dương Đạo và sự tương đồng giữa quan điểm Nho giáo với tín ngưỡng bản địa, đề ra quan điểm Tức Thân thành Phật. Cụ thể Kukai cho rằng thế giới được cấu thành từ hai bộ phận Thai tạng giới đại diện cho vũ trụ bất động – lý tính và Kim cương giới đại diện cho trí. Quan niệm thế giới trên cũng bắt nguồn và ảnh hưởng từ thuyết Nhị Nguyên trong Âm Dương đạo. Ở đây cần làm rõ thêm một mối quan hệ giữa Âm Dương đạo – Đạo giáo với Mật giáo của Kukai, trong những năm tháng đối đầu với Nam tông độ của triều đình, Kukai đã lui về vùng núi Koyasan (Cao Dã Sơn), nơi mà đã tồn tại các quan điểm ngũ hàng âm dương, chiêm tinh của Âm dương đạo kết hợp với nhân sinh quan, vũ trụ quan và thuyết vô vi lý (đề cao sự hòa hợp con người với thiên nhiên) của Đạo giáo hòa lẫn vào các tín ngưỡng bản địa. Âm dương đạo và Đạo giáo nhìn chung đều có một xuất phát điểm giống với các tín ngưỡng ban đầu của các quốc gia, trong đó có Nhật Bản, nên từ khi du nhập nó đã hòa lẫn bởi người ta không thể phân biệt được điểm khác biệt rõ nét của 3 loại hình tư tưởng trên. Trở lại vấn đề, việc Mật giáo từ lâu được tiếp xúc với các đạo trên tại vùng núi Ca Dã Sơn, đã làm nảy sinh xu hướng biến Phật giáo thành một tôn giáo gần gũi với người dân như quan điểm của Saicho. Nhưng điểm khác biệt ở đây là Mật giáo còn có vai trò ở mức độ nhà nước. Đó là khi trong thời Nhiếp chính quan và kể cả trước đó, nó được đảm nhiệm thực hiện các nghi lễ thế tục như cầu bình an, mẹ tròn con vuôn cho giới hoàng thân và quý tộc. Tức thân thành Phật đã bổ sung cho tư tưởng về phạm vi mà Phật giáo sẽ ảnh hưởng ở Nhật Bản gồm trong đời sống nhân dân và đời sống chính trị.

Những giải thích phụ thêm bên trên là nhầm làm rõ tính phức tạp của sự hỗn dung tư tưởng và tôn giáo ở Nhật Bản thời bấy giờ, ngoài cái chính là quan hệ Thân – Phật, còn có Nho, Đạo, Âm Dương và lối sống hằng ngày.

Trở lại vấn đề về Tức thân thành Phật của Kukai. Sau khi xây dựng được quan điểm vè hai thế giới gồm Thai tạng và Kim cương như đã nêu, ông còn sử dụng bản đồ Mandala để chỉ vị trí và vai trò của Thần và Phật, đồng thời là quan điểm giải thoát. Theo Kukai, con người có thể hoàn toàn có thể giải thoát ngay tại thế giới hiện thực mà không thông qua luân hồi, và Phật giáo vì vậy đã giữ vai trò tổ chức các nghi lễ siêu thoát trong các tang lễ để thành Phật. Điều đó khẳng định rằng “Ý tưởng về một nền Phật giáo tang lễ, trong đó thực hiện việc hóa Phật cho người chết bởi nghi lễ của người sống cũng phát triển theo hướng bản địa hóa việc thành Phật theo tư tưởng Tức thân thành Phật”[10;80].

Trên đó chính là những đặc điểm nổi bậc nhất trong giáo lý, tư tưởng của Phật giáo Nhật Bản. Mặc dù du nhập Phật giáo đại thừa từ Trung Hoa, nhưng với một nền tảng tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức người Nhật, với việc được các tư tưởng – tôn giáo ngoại lai bổ sung để hoàn chỉnh hơn. Chính những giá trị bản địa đó đã dẫn đến một xu hướng là biến Phật giáo dần trở thành một tôn giáo của dân tộc, mang trong mình những giá trị phù hợp với tín ngưỡng quốc gia – Thần đạo, mà biểu hiện rõ nét chính là quan điểm giáo lý Nhất thừa, giới luật Đại thừa và Mật giáo mang đậm Âm dương đạo với thuyết nhị nguyên của hai nhà sư Saicho và Kukai. Những giáo lý được xây dựng từ thế kỉ VIII đều có chung một điểm đồng nhất là biến Phật giáo từ chỗ chỉ thuộc một bộ phận hoàn thân trở thành tôn giáo dân tộc với tính phổ biến trong nhân dân và nhà nước. Đó cũng là những tác động to lớn đến việc lý giải vì sau Phật giáo lại phải bắt buộc bản địa hóa, và xuất hiện các hình thức liên kết Thần – Phật như các mục trên đã trình bày.

Tóm lại trong nội dung về Phật giáo cổ đại, hiểu cách đơn giản nhất là theo logic vấn đề đã được trình bày trên đây. Bởi lẽ nghiên cứu tôn giáo không phải là một điều đơn giản, và còn đặt trong một bối cảnh Nhật Bản với hỗn hợp từ bản địa đến tôn giáo ngoại lai đan xen với nhau, chồng chéo và khó phân biệt đến như vậy. Điều mà chúng ta có thể thấy rõ nét sự phân biệt rạch ròi giữa các tôn giáo – tín ngưỡng – tư tưởng bấy giờ ở quốc gia này là mỗi một chủ thể chỉ đảm đương một vai trò nhất định trong nghi lễ: Phật giáo phụ trách các nghi lễ về cái chết, do tác động của Mật giáo nên mới hình thành vai trò này. Đối với các nghi lễ thế tục như cầu sinh nở, học vấn,… thì là do Âm dương đạo đảm nhiệm. Nghi lễ về tổ (Thần thủy tổ) thì là thuộc về Thần đạo,…

Tóm lại trên đây là những khía cạnh khái quát nhất về Phật giáo trong đời sống tôn giáo Nhật Bản từ thế kỉ VI đến thế kỉ XII.

2.3. Nho giáo trong tư tưởng – tôn giáo Nhật Bản cổ đại.

Như đã nói ở các phần trước trong suốt chiều dài lịch phát triển của tôn giáo Nhật Bản, đặc biệt là thời cổ đại, Nho giáo không thể hiện nhiều vai trò của nó, nhưng lại là một thứ trọng yếu bên cạnh Phật giáo, vai trò của nó là nằm ở mối quan hệ với chính quyền và dung hợp tôn giáo.

Vấn đề đầu tiên cần xác định là Nho giáo đã bắt đầu du nhập vào khoảng thời gian nào. Khi giải thích nguồn gốc tộc người ở Nhật Bản, với việc cho rằng từ thế kỉ IV khi bắt đầu công cuộc thống nhất đất nước, và các mối quan hệ với các nước láng giềng được mở rộng, những cư dân đại lục dần di cư sang. Chủ yếu những người đến với Nhật Bản có nguồn gốc từ Triều Tiên và Trung Hoa, mang nặng nền văn minh tiên tiến hơn, trong đó có tôn giáo và tư tưởng. Không chỉ có các nhà sư mà đông đảo những người Nho học đã vào Nhật Bản, truyền bá tư tưởng của mình. Nhưng mạnh mẽ nhất phải vào thế kỉ thứ VI.

Nguyên nhân vì sao, Nho giáo lại dễ dàng được tiếp nhận ngay khi vừa được du nhập vào, mà chủ yếu là tầng lớp thống trị, thì cần dựa vào nhưng tương đồng của nó với tính cách và tư tưởng người Nhật thông qua các mặt về quan điểm phân tầng xã hội và vấn đề xã hội quân chủ.

Trước hết người Nhật luôn tồn tại sâu sắc quan điểm trọng về dòng tộc và từ đó nảy sinh trọng về giai cấp. Đây không phải là sản phẩm ảnh hưởng từ tư tưởng tam cương, ngũ thường của Nho giáo mà đã xuất phát từ rất lâu trong lịch sử dân tộc. Dựa vào mối quan hệ huyết thống và nguồn gốc dòng tộc mà từ đó xã hội Nhật Bản cũng đã chia ra làm các giai tầng khác nhau, trong đó cao nhất là dòng họ Thiên hoàng do Thiên hoàng đứng đầu. Do mối quan hệ huyết thống đã làm xuất hiện việc quy định cha truyền con nối trong các dòng tộc, mỗi dòng tộc chỉ đảm nhiệm một vai trò nhất định, như võ sĩ, người thờ cúng thần linh,…thì những người kế tục vẫn đảm đương công việc đó. Từ đây có thể thấy Thiên hoàng là ngôi không thể thay đổi. Cho nên có thể thấy xã hội Nhật Bản đã từ lâu có những phân tầng rạch ròi như vậy. Đó là điểm tương đồng lớn nhất để cho Nho giáo có thể du nhập vào dễ dàng, khi tư tưởng này cũng đề cao các mối quan hệ xã hội theo những tôn ti trật tự nhất định. Đặc biệt nguyên nhân chính trị và củng cố quyền lực cho Thiên hoàng là một trong những lý giải vì sao giai cấp thống trị tiếp thu nhanh chóng tư tưởng Nho giáo.

Đặc biệt, Nho giáo được chấp nhận còn có một nguyên nhân khác, chính là việc nó mang trong mình hầu như toàn bộ nền văn minh Trung Hoa, trong đó quan trọng nhất là chữ viết và văn thơ, cho nên từ thời kì Heian các Thiên Hoàng đã chủ trương biến Nho giáo thành công cụ đào tạo quan lại.  Trong khi đó, giới học sĩ Nhật Bản, đã chủ động tiếp thu các nguyên tắc Nho giáo để sáng tác thơ văn. Tóm lại, ở một khía cạnh khác, tư tưởng Nho giáo là một công cụ để hình thành nền giáo dục, và biên soạn các bộ sử nhằm phục vụ giai cấp thống trị và lý giải nguồn gốc cho giới cầm quyền. Điển hình cho điều này là việc Nhật Bản đưa học sinh sang học tập Nho học ở Trung Hoa, mở trường Nho học như Văn Chương viện. Đồng thời ở thời kì Nara, giới quý tộc không xem trọng tư tưởng Nho học mà ngược lại họ chỉ xem văn chương của Nho học là một thú vui cao quý.

Tuy nhiên, mặt dù nhìn qua có vẻ như Nho giáo có những nét tương đồng với tư tưởng xã hội và chính trị Nhật Bản, nhưng nó lại hoàn toàn không phải như vậy

Một trong những vấn đề cần được giải thích hơn chính là việc tại sao Nho giáo không được đông đảo chấp nhận và không phổ biến như Phật giáo trong thời kì cổ đại này. Để lý giải có mấy nguyên nhân sau:

Thứ nhất cũng bắt nguồn từ tính đề cao dòng tộc và huyết thống, mặc dù nhìn tổng thể là giống nhau, nhung trên thực tế đối với quan điểm quốc gia và vua là khác nhau giữa hai tư tưởng Nho giáo và Thần đạo. Nho giáo cho rằng vua là người có đức, tài, ai có đủ những yếu tố đó cũng trở thành vua được cả, cho nên có thể thấy trong suốt lịch sử Trung Hoa và nhiều nước ảnh hưởng Nho giáo đã biết bao lần xảy ra việc phế truất vua. Đối với người Nhật Thiên hoàng là ngôi do trời định, “Thiên hoàng là người kế tục sự nghiệp của tiên đế, là con cháu dòng họ Thiên Chiếu Thái thần, vì thế Thiên hoàng là địa vị tuyệt đối bất khả xâm phạm”[11;319]. Có thể thấy, nhiều lần trong lịch sử Nhật Bản và cho đến nay, dù các dòng họ như Tkogawa, Sogun, Minamoto tiếp quyền, tạo ra các thể chế nhiếp quan hay Mạc phủ nhưng Thiên hoàng vẫn tồn tại, đó là nguyên tắc tư tưởng về quốc gia không thể phá vỡ của người Nhật.

Thứ hai, một lý giải có phần so sánh. Nếu như cổ đại Nho giáo không nổi bật, nhưng ở trung thế thì hoàn toàn khác. Điều này xuất phát từ những tình hình lịch sử ở các giai đoạn cụ thể. Cồ đại là thời kì tương đối ổn định chính trị, và vì thế mà nhu cầu dùng như tư tưởng cứng rắn Nho giáo là không phổ biến, trong khi trung thế với nhiều cuộc chiến tranh giànhquyền lực, khiến giới cầm quyền phải đẩy mạnh quyền uy và bảo vệ quyền lợi của mình, mà không tư tưởng nào có thể thể hiện được vai trò đó như Nho giáo.

Tóm lại đó là những lý do chính khiến Nho giáo được chấp nhận nhưng ở mức độ không phổ biến thời cổ đại.

Tiếp theo, chúng ta xem xét liệu Nho giáo từ thế kỉ VI đến thế kỉ XII phát triển như thế nào. Với những phần tích ở mục Phật giáo và nguyên nhân khiên Nho giáo không thể chiếm địa vị độc tôn đã tạo ra một hình thức phát triern cho hệ tư tưởng chính trị – đạo đức này trong suốt thế kỉ VI đến thế kỉ XII là tiếp tục được kết hợp với Phật giáo như là Thần đạo.

* Hình thức kết hợp giữa Nho giáo và Phật giáo.

Sau khi trong suốt một thời kì dài của nguyên thủy, mà cụ thể là giai đoạn từ thế kỉ III trước công nguyên đến trước thế kỉ VI, người Nhật chỉ chú trọng và chính quyền chủ trương duy trì tính giai cấp và huyết thống gia tộc. Nhưng kể từ khi Nho giáo du nhập với những tương đồng với chủ trương trên, nhưng Nho giáo ở mức độ cao hơn là có một hệ tư tưởng, nhân sinh quan và vũ trụ quan hoàn chỉnh, do đó mà giới cầm quyền trong các chính sách của mình đã đề cao áp dụng triệt để Nho giáo là vậy. Thông qua việc nghiên cứu các bản hiến pháp và cải cách thời kì cổ đại, như Thập thất Hiến pháp và Cải cách Takai trong các thế kỉ VI – VIII sẽ thấy được vai trò của Nho giáo bấy giờ. Nhưng hơn hết nó còn thể hiện sự kết hợp và bổ sung lẫn nhau giữa Nho giáo và Phật giáo.

Như ở mục Phật giáo đã khẳng định, các tư tưởng tôn giáo này được nhà nước vận dụng trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là dùng giáo lý Phật giáo để ban hành nhiều chính sách trị nước. Và một khía cạnh có thể thấy, tư tưởng chính trị lại áp dụng giáo lý Nho giáo. Cụ thể trong Thập thất hiến pháp thể hiện rõ mối quan hệ trên. Như trong điều 1: “Các quan phải biết tôn trọng hòa khí và thấu hiểu Đạo lí, nhất là phục tùng Quân (vua) và Phụ (cha)”[7;51], chẳng phải dựa trên quan điểm nhân sinh của Nho giáo để lập nên điều lệ trên. Còn ảnh hưởng của Phật giáo có thể tiểu biểu nhất là điều 2 “Phải kính trong Tam bảo”[7;51]. Ngoài hai điều trên thì nếu đọc Thập thất hiến pháp chúng ta điều nhận ra có sự hòa lẫn Phật – Nho trong tư tưởng Nhật Bản bấy giờ. Mà mối quan hệ đó chính là ở chỗ xác định cụ thể vị trí hai tư tưởng – tôn giáo trên đối với quan điểm của người Nhật. Cụ thể là quan niệm “Phật giáo là nội điển, Nho giáo là ngoại điển. Phật giáo là tôn giáo chi phối thế giới tâm linh bên trong, Nho giáo là nền đạo học quy định phương thức sinh hoạt bên ngoài. Vì thế nội và ngoại là nhất thể”[11;325]. Người đề xướng tư tưởng hợp nhất này là đa số nhà sư được tiếp xúc với Nho giáo trong quá trình học tập ở Trung Quốc. Tuy nhiên, sự tương khắc, phân biệt của Nho – Phật là đều khiến chủ trương trên không được nhân dân chấp nhận rộng rãi. Bởi Phật giáo đứng trên lập trường xuất thế, không chủ trương đề cao các quan hệ thế tục như Nho giáo. Cho nên không thể hoàn toàn hợp nhất tất cả các quan điểm Nho – Phật, vì vậy mà từ thế kỉ VIII các Thiên hoàng nhận ra điều trên đã chủ trương lấy ngũ thường của Nho giáo bổ sung và khẳng định cho Lễ trong bản sắc người Nhật để làm phương pháp trị nước, tức là chỉ dùng Nho giáo cho việc đề cao thân phận của mình, và phân tầng xã hội. Còn tất cả các vấn đề khác điều sử dụng giáo lý Phật giáo.

Mặc dù Nho – Phật hợp nhất không phải là một xu thế chính ở thời kì cổ đại, nhưng là tiền đề để chu trương này phát triển mạnh mẽ ở thời trung thế.

2.4. Âm dương đạo, Đạo giáo và sự phân chia vai trò các tôn giáo – tín ngưỡng cổ đại trong đời sống tôn giáo Nhật Bản.

Bên cạnh sự du nhập của Nho giáo và Phật giáo, Âm Dương đạo và Đạo giáo cũng được truyền bá vào Nhật Bản từ thế kỉ VI. Trên thực tế thuyết Âm dương và Đạo giáo được gần giống với tín ngưỡng thờ thần của người Nhật giai đoạn trước đó. Tuy nhiên hai thuyết này có sự phát triển cao hơn về mặt lý luận, dẫu sao nó cũng là những thuyết hơn là tín ngưỡng dân gian. Vì vậy, khi nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản giai đoạn cổ đại này, người ta thường xem Thần Đạo, Đạo giáo, thuyết Âm Dương là cơ sở gắn kết và dung hợp các tôn giáo với nhau, đó không riêng gì trường hợp của Nhật Bản mà là hầu hết các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam.

Nói về thuyết Âm Dương, là một lý thuyết nghiên cứu về thế giới quan, với sự vận động của vũ trụ. Xem hai yếu tố cơ bản của mọi sự vật là âm và dương, chính hai mặt đối lập đó nảy sinh ra sự phát triển của mọi sự vật trên thế giới này, và nó còn giúp giải thích cả quá trình hình thành và suy vong. Tóm lại bản chất của âm dương đạo là đi giải thích về vũ trụ theo cách nghĩ của người châu Á, gắn cuộc sống với nông nghiệp là chủ yếu. “Đó là nguyên lý về cái một(Cái Hỗn mang/Thái cực) sinh ra Hai (Lưỡng nghi), Hai sinh ra Ba (Tam tài), sinh ra Bốn (Tứ tượng), sinh ra năm (Ngũ hành), sinh ra Tám (Bát quái), và sinh ra vạn vật (gồm tự nhiên và con người)”[4;50]. Như vậy, quan điểm một thực thể sinh ra mọi vật hoàn toàn tương đồng với thuyết Kami của Thần đạo với sự khởi nguồn từ một vị thần, sau đó sinh ra thế giới.

Âm dương đạo ở Nhật Bản thường được phát triển ở các vùng núi, nơi dễ dàng quan sát các hiện tượng chiêm tinh, nghiên cứu y học do đó mà nó không chỉ mang tính tương đồng về tư tưởng với tín ngưỡng người dân Nhật Bản mà còn gần gũi với đời sống của họ.

Đối với Đạo giáo cũng tương tự như vậy. Chính ba tư tương về thế giới quan, nhân sinh quan và vô vi của mình cũng đã thể hiện những nét tương đồng với Kami hay Thần đạo Nhật Bản. Về thế giới quan Đạo giáo cho rằng mọi vật đều là đạo: “Đạo vô hình, cực nhỏ, không có cái gì chứa ở trong nó, nhưng Đạo vừa cũng cực lớn, bao trùm tất cả, không có cái gì ở ngoài đạo”[4;352]. Như vậy thế giới quan Đạo giáo và Kami cũng tương đồng nhau khi cho rằng tất cả các linh thể đều thiêng liêng. Thứ hai, tư tưởng vô vi của Đạo giáo – tức là tư tưởng thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Con người không được làm điều gì trái với tự nhiên, và chủ trương hòa hợp với thiên nhiên. Đó cũng là một nét giống nhau thứ hai giữa Đạo giáo và Thần đạo Nhật Bản.

Vì vậy việc khẳng định trong cổ đại tôn giáo Nhật Bản Thần – Đạo – Âm dương dường như là một thực thể tương đồng về tư tưởng vũ trụ, nhân sinh và mối quan hệ con người với thiên nhiên, đồng thời là những tư tưởng gần gũi với lối sống con người phương Đông. Do đó nó mang trong mình một đặc điểm vững chắc là tính phổ quát cao độ.

Chính tính phổ quát trên khiên ba thực thể này là một trong những cầu nối trong hiện tượng dung hợp tôn giáo ở Nhật Bản, kể cả Việt Nam hay các nước phương Đông khác.

Cho nên ba tư tưởng trên cũng hầu như hòa lẫn vào các tôn giáo – tư tưởng khác, nhưng không vì vậy mà nó bị hỗn tạp và khó phân định vai trò, đặc biệt sẽ thấy rõ vị thế từng tư tưởng – tôn giáo một trong các nghi lễ của đời sống Nhật Bản. Cụ thể là:

Thứ nhất những nghi lễ về cái chết do Phật giáo đảm nhận, với các nghi lễ như cầu siêu, giải thoát người chết khỏi thế giới. Trong đó Mật giáo thì thực hiện nghi lễ Tức thân thành Phật cho người chết với quan điểm mọi người sau khi chết đều có thể trở thành Phật qua giác ngộ và tu luyện, chứ không cần luân hồi qua nhiều kiếp.

Thứ hai, các nghi lễ thế tục trong hoàng tộc và triều đình, như cầu sinh nở, thăng quan tiến chức, học vấn, tránh tai họa,… do Phật giáo Mật tông, Nam tông độ, và Đạo giáo, Âm dương đạo đảm đương.

Thứ ba các nghi lễ liên quan đến Thiên hoàng và các vị thần trong phả hệ Kami của người Nhật do các nhà Thần đạo đảm đương.

Đó là toàn bộ sựu phát triển của các tôn giáo – tư tưởng ngoài Phật giáo và Nho giáo ở Nhật Bản cổ đại, cũng như là vai trò của từng thực thể một trong đời sống thường nhật của đât nước này từ thế kỉ VI đến thế kỉ XII.

Đến đây chúng ta hoàn toàn có những cơ sở để vẽ nên bức tranh tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản cổ đại. Sự du nhập của tôn giáo – tư tưởng ngoại lai đã bổ sung số lượng và lý luận cho đời sống tinh thần Nhật Bản. Suốt sáu thế kỉ phát triển, có thể tóm gọn lại mấy ý sau: Cổ đại tôn giáo Nhật Bản là thời kì à Phật giáo nắm giữ vai trò chủ đạo, nó là tôn giáo đứng ra hòa hợp tất cả các tôn giáo – tư tưởng khác, trong đó nổi lên sự kết hợp Thần- Phật, Phật – Nho, nhưng cơ sở để tạo ra những cơ sở liên kết đó chính là Thần đạo, Đạo giáo, và Âm dương đạo. Sự phát triển tôn giáo thời kì này là một hỗn dung nhưng không hỗn tạp và khó hiểu, bởi lý giải bên trên thực chất cho thấy một sự phát triển ở hai mức độ, phổ quát trong nhân dân và thiểu số giới cầm quyền. Nếu như Phật giáo, Nho giáo chỉ là tôn giáo được giai cấp thống trị sư dụng, thì muốn đi vào đời sống nhân dân phải cần liên kết với Đạo, Thần, Âm dương vốn đã mang tính phổ biến trong đời sống thường ngày. Ngược lại, Phật giáo, Nho giáo giúp các tư tưởng và niềm tin dân gian đi vào đời sống chính trị, được bổ sung những hệ thống xác định. Chính đều đó làm nên sự khác biệt tôn giáo Nhật Bản không chỉ ở thời kì này mà cho đến ngày nay. Mặc dù là yếu tố ngoại lai, nhưng sau gần ấy thời gian, tất cả đã trở thành tôn giáo – tư tưởng riêng biệt, mang bản sắc của người Nhật. Tôn giáo ở cổ đại, với những đặc điểm nêu trên đã trở thành cơ sở cho sự phát triển những thời kì sau, đặc biệt là được định hình rõ nét ở trung thế.

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA TƯ TƯỞNG TÔN GIÁO ĐẾN TÌNH HÌNH VĂN HÓA, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ NGUYÊN THỦY ĐẾN THẾ KỈ XII

Mặc dù chủ yếu phân tích tác động của tôn giáo – tư tưởng đến chính trị, văn hóa và xã hội Nhật Bản từ nguyên thủy đến cổ đai, nhưng ở chương này còn cho thấy ảnh hưởng ngược lại. Tức xét theo mối quan hệ hai chiều, và được lập luận trên tổng thể chứ không đi vào từng tôn giáo hay tư tưởng một.

3.1. Tác động của tôn giáo – tư tưởng đến chính trị Nhật Bản

Tác động này sẽ phân tích trên những yếu tố chính sau đây: Thứ nhất là tôn giáo là một công cụ giúp thần thánh hóa địa vị của người đứng đầu nhà nước; Thứ hai, tôn giáo – tư tưởng đặc biệt là nhất thần giúp thống nhất về mặt tư tưởng quốc gia; Thứ ba, giáo lý và quan điểm tôn giáo trở thành cơ sở để hình thành hệ thống luật lệnh; Thứ tư, biến đổi và tạo dựng tôn giáo dân tộc để khẳng định vị thế quốc gia trong mối quan hệ với quốc gia khác; Thứ năm chính trị bảo hộ tôn giáo và giúp nó phát triển nếu đáp ứng được những mục đích chính trị. Lần lượt dưới đấy sẽ làm rõ những tác động được nêu trên:

3.1.1. Tôn giáo là công cụ thần thánh hóa vị trí người đứng đầu quốc gia.

Những nguồn sử liệu cổ xưa nhất của Nhật Bản có thể chỉ là Kí kỉ gồm Nihonshoki và Kiji được biên soạn từ thế kỉ VI – VIII, ghi chép từ thời kì nguyên thủy đến cổ đại Nhật Bản, và trong quyển đầu tiên của Cổ sự kí, đã đề cập rất nhiều đến vấn đề nguồn gốc Thiên hoàng và đất nước, cư dân Nhật Bản. Mốc thời gian và mục đích biên soạn ở đây chính là vì tính chính trị của nó, phục vụ cho công cuộc thống nhất Nhật Bản những giai đoạn đầu tiên. Nhưng trước khi đi vào phân tích các bộ sử kí này, thì hãy trở về thời kì nhà nước Yamatai do nữ vương Himiko đứng đầu. Mặt dù là liên minh các bộ tộc nhưng người ta đã nhận ra Yamatai đã cố gắng để thống nhất Nhật Bản như thế nào? Sao khi thiết lập liên minh dựa trên sức mạnh quân sự, điều đầu tiên họ thực hiện là tìm cách thống nhất các vị thần vốn đã quá đa dạng bởi tính địa phương phân ly của nó, như chúng ta đã tìm hiểu ở chương thứ nhất. Chủ trương đó còn xuất hiện sớm hơn thế kỉ III trước công nguyên, chính dòng họ Thiên hoàng là những người đã đưa vị Thần hộ quốc của mình là Amaterasu làm vị thần tối cao nhất khi bắt đầu thâu tóm được những bộ lạc yếu thế hơn. Himiko đã phát triển tinh thần trên, và trên thực tế, trãi quan mấy thế kỉ, đến thế kỉ III nhà nước Yamato cũng thực thi điều tương tự. Kết quả là, toàn bộ thần linh, mà thống kê có khoảng 180 triệu đã được hệ thống hóa và phân chia các cấp bậc rõ ràng. Đó là cơ sở để giúp giải thích nguồn gốc Thiên hoàng.

Trước đây nhiều người lầm tưởng Thiên hoàng là cách gọi khác của Thiên tử do chịu tác động của Nho giáo Trung Hoa, nhưng thực chất hai khái niệm này là khác nhau về tính chất của nó. Trở lại vấn đề, tôn giáo và tín ngưỡng đã giúp thần thánh hóa ngôi vị Thiên hoàng như thế nào thì lại có hai giai đoạn nhất định: trước thế kỉ VI là giải thích theo quan điểm Thần đạo, giai đoạn sau thế kỉ VI kết hợp giữa cách giải thích cũ và tư tưởng Nho giáo để bổ sung một số quyền uy cho ngôi vị này, chính Thập thất hiến pháp và cải các Đại hóa sẽ cho thấy điều đó. Vì vậy mà Thiên hoàng khác nhưng cũng tương đồng với Thiên tử do tác động từ một thời gian dài đầy biến động của lịch sử tôn giáo. Nhưng trước khi đi phân biệt thì cần phải xem Thần đạo đã giúp thần thánh hóa Thiên hoàng như thế nào.

Nói về các bộ sử, thực chất việc ra đời của chúng cũng nằm trong tác động của tôn giáo, nhưng ở đây chỉ nói về chính trị, cho nên nhất thiết phải khái quát nội dung của chúng để có cái nhìn tổng quan hơn.

Trước hết là việc giải thích về nguồn gốc con người và đất nước. Theo Nhật Bản thư kí, và cổ sự kí, từ ban đầu đã có tồn tại thượng giới, và sau đó các vị thần lần lượt được sinh ra gồm 5 đời Kotoamatsu và 6 đười Kamiyo, và sau đó là sự xuất hiện của thần nam Izanagi và thần nữ Izanami. Hai vị thần trên đã sáng tạo ra hòn đảo Ongoro nằm giữa biển khơi, và họ đã cùng sinh sống, kết duyên tại đây. Những vị thần cũng lần lượt được sinh ra kế tiếp đó. Nhưng một thời gian Izanami chết phải xuống hoàng tuyền, vì thương vợ nên Izamagi đã đến để tìm Izanami. Nhưng sau khi nhìn trộm thì bị ruồi bọ bâu đầy mặt, ông buộc phải tẩy rửa bằng nghi ế Misogi, và từ mắt trái tạo ra thần Amaterasu, mắt phải sinh ra thần Tsukuyomi, mũi sinh ra thần Susanoo. Trong ba vị thần này, chỉ có Amatersu và Susanoo là những thần tích cực xây dựng trật tự thiên giới ssau khi cha mẹ mình đã kiến tạo nên trời đất. Nhưng người có quyền tối cao chính là thần Mặt trời. Và đến đây hệ thống thần Nhật Bản chia làm hai loại, Thần trời do Amatersu sáng lập và đứng đầu, đối lập với Thần đất nước của Sasunoo. Sasunoo gây loạn đã bị đuổi xuống trần gian, và đánh bại Yamatanoorochi để làm chủ vùng Izumo, người kế vị Sasunoo lại là con của Yamranoorochi, có tên là Ookuninishu. Và chính vị thần làm chủ hạ giới này đồng ý chấp phục tùng thần Amaterasu trên thượng giới để hợp thức việc cai trị hạ giới. Sau khi ổn định hạ giới con của Amaterasu là Amenooshihomimi, nhưng Ninigi con của Amenooshihomimi mới là người đã xuống hạ giới theo một sắc lệnh của Thần mặt trời. Ninigi có hai đứa con là thần Hoderi ở biển chuyên việc đánh bắt cá, và Hoori ở rừng chuyên săn bắn thú.  Sau đó hai anh em đã xảy ra xung đột, cuối cùng Hoori đã đánh tráo thân phận của mình với Hoderi và kết hôn với thần biển Toyotamahime. Họ sinh ra được Ugayfukiaezu, Ugayfukiaezu lại kết hôn với em gái của mẹ mình là là Tamayorihime, sinh ra một người con là Kamayamatoiwarehiko, hay còn gọi là Thiên hoàng Jimmu – vị Thiên hoàng đầu tiên của Nhật Bản.

Như vậy câu chuyện thần thoại trên mang đậm tính chính trị, ở những điểm như. Thứ nhất khẳng định Thiên hoàng là dòng gióng thuộc về vị thần cao nhất tạo ra trời đất. Thứ hai câu chuyện cuộc tranh giành và thắng lợi của Hoori là muốn thể hiện rằng “sự thống trị của Thiên hoàng là bao trùm cả xứ sở những người thợ săn và những người đánh cá”[10;35]. Ở ý nghĩa chính trị thứ hai, phản ánh được mục đích thống nhất các bộ lạc của các vị Thiên hoàng từ thời kì thế kỉ III trước công nguyên cho đến thời cổ đại. Thứ ba, sắc lệnh của nữ thần mặt trời khi ban cho con mình xuống hạ giới là một chứng minh vững chắc cho ngôi vị Thiên hoàng là bất di bất dịch, không thể xóa bỏ. Điều này được cải cách Đại hóa lý giải hết cụ thể về sắc lệnh của Amaterasu trong Nhật Bản thư kỉ và Cổ sự kí như sau: “Các vị thần tổ (tức là Thiên Thái Chiếu Thái Thần) có ban sắc lệnh cho con cháu xuống trần gian để trị vì thiên hạ mới khai quốc, dòng họ Thiên hoàng luôn ngự trị quốc gia”[11;320]. Hay có đoạn “Trời đất sinh ra vạn vật, trong vạn vật, loài người là tối linh, thiện mỹ hơn cả. Người tối thiện, tối mỹ tromg xã hội gọi là Thánh nhân, là chúa tể của nhân loại. Vì thế Thánh chúa Thiên hoàng không phải do người định mà do Thiên mạng đã phó thác cho vậy”[11;321]. Hay trong điều 3 của Thập thất hiến pháp có quy định “vùa là trời, tôi là đất. Nếu không được trời che chở thì gặp hoạn nạn, vì thế lời của vua thì tôi phải phụng, trên xướng thì dưới tùy. Tuân hành chiếu chỉ của nhà vua tức là thuận theo mệnh trời, nếu trái phạm tức là tự hại”[11;40]. Đây là biểu hiện của tác động giữa Nho, Thần đạo trong chính trị, với sự dung hợp Nho  – Thần tạo nên.

Như vậy đã quá rõ, Thần thoại trên cơ sở sự dung hòa Nho, Thần, Phật được dùng để thần thánh hóa, giải thích nguồn gốc, và quy định địa vị của Thiên hoàng như thế nào, đồng thời nó còn khẳng định mong muốn thống nhất quốc gia của người Nhật Bản. Đó là những tác động đến chính trị đầu tiên có thể thấy được.

3.1.2. Tôn giáo – tư tưởng nhất thần giúp thống nhất về mặt tư tưởng quốc gia – dân tộc.

Sự phân ly địa lý, chính trị và kể cả là không đồng nhất về thần linh ở Nhật Bản cổ đại là một cản trở lớn của quá trình thống nhất quốc gia. Cũng như trường hợp bán đảo Ả Rập trước khi Islam ra đời, ở Nhật Bản chí ít phải cần có một tôn giáo độc thần để phục vụ công cuộc thống nhất trên.

Đến thế kỉ VI, Phật giáo du nhập vào là một thời cơ lớn để thực hiện điều trên. Không phải Nho giáo mà chính là Phật giáo mới có những nét tương đồng và dễ dàng hòa hợp với Thần đạo. Phật giáo đại thừa cung cấp cơ sở để phân tầng các vị thần trên quan điểm Tam bảo. Cụ thể thì lại phải dựa vào Kí kỉ để chứng minh, mà có lẽ là mấy vấn đề sau:

Thứ nhất hình tượng các vị thần được xây dựng dựa trên hình tượng các vị phật trong Phật giáo, với Amaterasu dựa trên cơ sở Phật Như Lai, sau này là Như Lai Đại Nhật của Mật giáo với quyền uy cao nhất và có hào quan tỏa sáng trên đầu. Trong thời kì nguyên thủy, khi mà hệ thống thần linh Thần đạo chưa cụ thể như những ghi chép trong các bộ sử kí vốn ảnh hưởng rất nhiều từ Phật giáo, thì chỉ là các Thần trong toàn bộ Kami, kể cả Amaterasu cũng được gọi là Đại thần, với các tộc khác Thần mặt trời cũng không sánh ngang các thần tổ của mình. Cho nên Amaterasu với tư cách vị thần tối cao chỉ có thể là từ ảnh hưởng của tính nhất thần Phật giáo.

Thứ hai, tư tưởng và cách giải thích trong Nhật Bản thư kí và Cổ sự kí cũng bắt nguồn từ tư duy Phật giáo. Đó chính là tư tưởng Phật hộ pháp từng xuất hiện ở Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại. Hộ quốc ở đây có nghĩa là chọn ra một vị thần làm thần tối cao và đặt cho vị thần đó có quyền cao nhất, và đồng thời là bảo vệ cho địa vị Thiên hoàng, mà ở đây do tộc Thiên hoàng lớn mạnh ngay từ đầu nên đã lấy vị thần Amaterasu của họ làm hình mẫu để xây dựng tính chất trên. Với hệ thống thứ bậc trong phật của Phật giáo đại thừa, họ Thiên hoàng đã chủ đích xếp Amaterasu trên các vị thần những bộ lạc yếu hơn, đồng thời đã dùng những sự tích về các cuộc chiến, như hai con trai của Nigigi vậy, để làm cơ sở khẳng định sức mạnh của dòng dõi.

Như vậy, với việc vận dụng Phật giáo để xây dựng một hệ thống thần linh thứ bậc và thống nhất, mục đích thống nhất tư tưởng đã được các Thiên hoàng thực hiện thành công.

3.1.3. Tác động của tư tưởng tôn giáo đến hệ thống luật lệnh.

Những luật lệnh và cải cách Nhật Bản cổ đại chủ yếu được xây dựng trên giáo lý của Phật giáo và tư tưởng nhân sinh của Nho giáo. Điểm qua những điểm cơ bản về nội dung của Thập thất hiện pháp và cải cách Đại hóa sẽ thấy rõ nhận định trên.

Bản hiến pháp 17 điều do Thái tử Sotoku soạn thảo mang đậm chất tôn giáo và tư tưởng. Là một người sùng Phật pháp, nhưng ông chủ trương đề cao Thần đạo, Phật giáo và cả Nho giáo. Nội dung bản hiến pháp được hoàn thành vào năm 622 như sau:

“Điều 1: Lấy hòa làm quý, lấy thuận làm tôn. Mọi người đều có bè cách đảng phái, ít người sống cô độc một mình; tuy cso bè cánh đảng phái nhưng mọi người phải tuân theo đạo quân thần. Nếu thượng hòa hạ mục thì tất cả sự tranh chấp đều được giải quyết ổn thỏa, tất cả sự lý đều dung thông và mọi việc đều thành tựu.

Điều 2: Tín kỉnh tam bảo là Phật, Pháp và tăng. Tam bảo là ở chỗ quy thú cửa tứ sanh, chỗ cực tôn của vạn quốc. Bất cứ đời nào, bất cứ người nào hễ thấy Phật pháp hãy sinh tâm vui mừng; lấy Phật pháp đề giáo hóa nhân dân, bỏ ác làm lành. Nếu mọi người đều quy y tín kỉnh Tam bảo thì tất cả sự cuồng tranh đều trờ thành trực tranh

Điều 3: Phải triệt để tuần hành chiếu chỉ của Thiên hoàng. Vua là trời, tôi là đất. Nếu không được trời che chở thì gặp hoạn nạn, vì thế lời của vua thì tôi phải phụng, trên xướng thì dưới tùy. Tuân hành chiếu chỉ của nhà vua tức là thuận theo mệnh trời, nếu trái phạm tức là tự hại.

Điều 4: Thần dân bách tách phải lấy lễ làm gốc. Muốn trị dân thì phải dùng lễ. Trên không lễ thì dưới không tế, và dưới không lễ thì sẽ bị tội. Vì thế nếu quân thần theo lễ thị vị tha không loạn, bách tánh có lễ thì quốc gia tự an.

Điều 5: Bớt tham bớt dục, không tranh đua kiện tụng. Nếu trăm dân đua nhau kiện tụng thì mỗi ngày có hàng trăm việc; một ngày mà như thế, huống nữa là một năm? Kiện tụng không có lợi ích, nhiều lúc còn bị tổn hại. Người giàu giàu kiện tụng thì coi như đối đá xuống nước, người nghèo kiện tụng thì như nước dội lên đá. Kiên tụng  làm cho dân nghòe, không tròn phận sự cảu đạo làm tôi.

Điều 6: Khuyến thiện bỏ ác, đó là đạo của Thánh hiền. Người lành không dấu, người ác không tha. Dối trá tức là che chở cái lợi ích quốc gia, đưa nhân dân vào nơi binh kiếm. Dua nịnh tức là trước mặt người trên nói lỗi kẻ dưới, trước mặt kẻ dưới thì phỉ báng người trên. Những người như thế đối với vua Vua đã không trung, mà đối với dân cũng là bất nghĩa. Người ấy là gốc của đại loạn.

Điều 7: Mọi người phải giữ trách nhiệm không được lợi dụng quyền hành. Quan hiền từ thì tiến khen được truyền tụng, quan gian ác thì thì rối loạn lan tràn.

Điều 8: “Quần thần bách quan phải chuyên cần với nhiệm vụ. Công sự chưa xong thì trọn ngày phải cố gắng làm cho xong. Nếu đến trễ thì việc gấp không thành,, nếu về sớm thì công việc bê trễ.

Điều 9: Tín là gốc rễ của việc nghĩa. Mọi sự đều do Tín mà thành; Tấc cả các sự thiện ác thành bại cũng do tín. Quân thần tín nhiệm lẫn nhau thì vạn sự đều thành, quân thần bất tín nghi ngờ nhau thì mọi sự đều bai.

Điều 10: Phải cẩn thận dè dặt, bớt bỏ sân hận.  Mọi người phải có cá tính, cá tính thì luôn luôn cố chấp. Người khác phải thì mình trái, mình phải thì người khác trái. Mình không phải hoàn toàn là Thánh, người khác cũng chẳng phải hoàn toàn là ngu. Cả mình và người đều là phàm phu, thị phi phải trái cần được xem xét định kỹ càng. Hiền và ngu giống như vòng tròn không có đầu đuôi. Vì thế nếu sinh lòng giận hớn, tức alf do lỗi của mình. Mình phải nhẫn nhịn tức người sẽ hổ thẹn và sinh lòng hối cải.

Điều 11: Công hay tội phải phân minh, thưởng hay phạt điều phải công bằng.

Điều 12: Quân thần cách quan, vạn dân cần phải để ý rằng: nước không có hai vua, dân không có hai chủ. Vạn dân, trăm họ phải lấy vua làm chủ. Quan quân, đình thần đều là tôi của vua, có bổn phận phụng sự ciệc công, cai trị trăm họ.

Điều 13: Tất cẩ quan quân đều là những người chức chưởng, phải dùng người phái việc đúng thời hợp chỗ. Từ trên xuống dưới đều giữ hòa khí để việc công được nhanh chóng thành.

Điều 14: Quần thần, bách quan không được gang tỵ tất đó nhau.

Điều 15: Bỏ tư phụng công, đó là đạo làm tôi.

Điều 16: Dùng dân phải đúng thời, hợp tiết.

Điều 17: Hễ có đại sự, không được quyết đoán một mình, mà cần phải bàn luận với nhiều người.”[11;41-46].

Ngoài mục đích thiết lập một xã hội có tôn ti và trật tự để dễ bề cai quan, bản hiến pháp này và nhiều luật lệnh khác ở thời cổ đại thể hiện đậm chất tôn giáo và tư tưởng Phật – Nho kết hợp.

Trong khi nhân sinh quan, như tam cương, ngũ thường được sử dụng để tạo nên hẹ thống chính trị thứ bậc, thì giáo lý Phật giáo được dùng để xây dựng lối sống xã hội tốt đẹp hơn, như không tham sân si, ganh đua, đố kị…Đồng thời thông qua Nho giáo, Nhật Bản đã đề cao được tính lễ trong xã hội trước đây.

Tóm lại hệ thống luật lệnh như đã nói, được xây dựng trên nhân sinh quan Nho giáo, giáo lý Phật giáo đại thừa, và đề cao tinh thần Thần đạo. Xu hướng kết hợp và chịu tác động như trên không chỉ có ở thời cổ đại mà còn ở các thời kì sau cho đến ngày nay.

3.1.4. Tác động tôn giáo – tư tưởng với quan hệ chính trị các nước khu vực.

Nhật Bản từ thời kì nguyên thủy, đến các nhà nước đầu tiên xuất hiện đã thể hiện mối quan hệ thuần phục và triều cống trước sức mạnh của Trung Hoa và đôi lúc bành trướng sang dân tộc yếu hơn là Triều Tiên. Tuy nhiên ở thê kỉ VI trở đi, dưới tác động của tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, Nho giáo, cùng với sức mạnh quân sự của mình Nhật Bản đã dùng những tư tưởng đó để thể hiện địa vị của mình ở khu vực. Đó là vấn đề xoay quanh khái niệm Thiên hoàng, và so sánh với Thiên tử.

Ở chương trước chúng ta đã bàn về quan điểm của những người theo thuyết Thần bổn – Phật tích. Thuyết này được đa số kể cả giới cầm quyền Nhật Bản chấp nhận, điều căn bản là họ coi các vị Thần của mình là trung tâm của vũ trụ do đó mà Nhật Bản cũng là trung tâm của thế giới, các quốc gia xung quanh chỉ là man tộc hay không phát triển hơn, mặc dù thực tế thì hoàn toàn văn minh Trung Hoa là vượt trội hơn. Cách giải thích này chính là bắt nguồn từ quan điểm vũ trụ quan của Thần đạo Nhật Bản. Có thể thấy, từ một tư tưởng tín ngưỡng đã được vận dụng vào tư tưởng chính trị hết sức rõ nét.

Sau khi có ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo tư tưởng đó càng được xây dựng chặt chẽ hơn. Từ thế kỉ VI khái niệm Thiên hoàng còn được đồng nhất với khái niệm Thiên tử nhưng lại ở một mức độ cao hơn và có những tính chất khác biệt hoàn toàn. Sự khác biệt lớn nhất là tính bất di bất dịch của ngôi Thiên hoàng, mặc dù có sự tranh giành và thống trị quyền lực của các Mạc phủ nhưng ngôi vị ấy là không thể xóa bỏ được, cho đến ngày nay.

Từ quan niệm về Thiên hoàng và nguồn gốc vị thế nước Nhật trong các thần thoại Kí kỉ được các Thiên hoàng cho biên soạn là minh chứng rõ ràng nhất cho luận điểm, người Nhật ý thức mình là một dân tộc cao quý, có chủ quyền và vị thế nhất định trong khu vực bấy giờ.

3.1.5. Chính trị bảo hộ tư tưởng – tôn giáo phù hợp với mục đích chính trị.

Để các tôn giáo tư tưởng có thể ăn sâu vào chính trị thì ích nhất nó phải đáp ứng được các mục đích chính trị giới cầm quyền, nếu đạt được điều đó, đương nhiên ra nước sẽ ra sức bảo hộ và phát triển nó, hay là đào thải tùy vào nhu cầu và bối cảnh lịch sử. Cụ thể:

Phật giáo đã đóng góp cơ sở vững chắc rõ ràng để phân bậc hệ thống các vị thần Nhật Bản, kết hợp với Nho giáo, giúp giải thích nguồn gốc dân tộc Nhật Bản, nguồn gốc và địa vị của Thiên hoàng, góp phần công cuộc thống nhất đất nước, tạo dựng ý thức về dân tộc.

Nho giáo với nhân sinh quan, các khái niệm về Tam cương, Ngũ thường giúp củng cố và duy trì bộ máy luật lệnh, và hệ thống đó là cơ sở để sau này chế độ phong kiến ra đời. Biểu hiện của điều này chính là hình thành nên chính sách quốc hữu hóa điền thổ, một cơ chế ruộng đất điển hình của những xã hội phương Đông khi mà tất cả đều tập trung vào tay vua. Và từ đây lại làm nền tảng cho việc hình thành chế độ quân chủ, nhưng quân chủ ở Nhật Bản là quân chủ đa nguyê, một phần ảnh hưởng bởi phân cách địa lý, một phần vì đa dạng trong tư tường và quan niệm dòng tộc hết sức nặng nề của người Nhật Bản.

Đó là những nguyên nhân khiến các tôn giáo – tư tưởng trên được chính quyền bảo hộ và phát triển trên cơ sở bản địa hóa chúng để phù hợp và dễ dàng đi vào thực tiễn đời sống, như Phật giáo thực tiễn là công sức to lớn của Thái tử Sotoku trong thế kỉ VI – VII.

3.2. Tác động của tôn giáo – tư tưởng đến văn hóa.

Tác động của tôn giáo – tư tưởng đến văn hóa thể hiện qua các mặt về: thứ nhất sự biến đổi tư tưởng tinh thần người Nhật; Thứ hai thông qua các thành tựu văn hóa tiểu biểu như sử học; Thứ ba nhiều phái xuất hiện tạo ra sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Nhật Bản, đặc biệt trong Phật giáo, các tông phái đối đầu nhau một phần làm cho tôn giáo phát triển, một phần từ đó lựa chọn ra hướng đi phù hợp cho dân tộc. Những đặc điểm trên được thể hiện lần lượt qua các thời kì văn hóa Nhật Bản cổ đại: văn hóa Hakudo – Tempyo, sơ kì Heian,văn hóa Quốc phong, hậu kì Heian. Ddieernm chung là điều chịu tác động của tư tưởng và các tôn giáo.

3.2.1. Văn hóa thời kì Hakudo – Tempyo.

Văn hóa Hakudo tồn tại 70 năm từ cuộc cải Takai năm 645 đến khi Nhật Bản dời đô về Nara năm 710. Đây là thời kì chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các tôn giáo ngoại lai, đặc biệt là chủ trương coi Phật giáo là tôn giáo bảo hộ quốc gia.

Sau khi có được sự trọng dụng của chính quyền trung ương Phật giáo đã có bước phát triển đáng kể, nhiều ngôi chùa lớn như Sùng Phúc tự, Dược sư tự và nhiều tòa tháp mang đậm kiến trúc Phật giáo như Yakushi được xây dựng nên.

Các bộ kinh từ Trung Quốc được biên dịch và truyền bá, dạy ở hoàng tộc. Trong đời sống tinh thần của cộng đồng thì tư tưởng Phật giáo cũng ảnh hưởng sâu sắc, mà trong các chương trước đã làm rõ.

Sang thời kì Nara, xuất hiện nền văn hóa mới là Tempyo từ năm 729 – 749. Tiếp tục phát triển tư tưởng dung hợp tôn giáo, và nhà nước ngày càng bảo hộ cao độ Phật giáo. Nếu như ở thời văn hóa Hakudo, các chùa mặt dù được xây dựng như là chủ yếu ở vùng kinh đô, theo chủ trương của Thiên hoàng nhằm tạo ra những cơ sở sinh hoạt và tồn tại cho Phật giáo. Nhưng đến giai đoạn này, tư tưởng Phật giáo được ăn sâu vào giới quý tộc, nhiều quan lại và giới võ sĩ đã sùng đạo và cho lập ra rất nhiều ngôi chùa, từ đó mà hệ thống thờ tự Phật giáo trở nên phổ biến trên toàn nước Nhật. Đồng thời những nhà sư còn chủ trương nghiên cứu y học để cứu chữa cho dân nghèo như Từ Điền viện, Thí Dược viện, xây dựng đường xá như Bố Thí Ốc, từ đó mà đã lấy được lòng tin của đông đảo nhân dân. Chính ở văn hóa Tempyo này, Phật giáo đã tác động mạnh đến toàn bộ niềm tin người dân nước Nhật, và trở thành một tôn giáo phổ biến dưới sự bảo hộ của nhà nước.

Cùng với đó, sự phát triển và nghiên cứu Phật pháp thời gian này đã làm cho phong trào học thuật trong giới sư tăng trở nên sôi nỏi, và đương nhiên đã có nhiều ý kiến xây dựng cũng như là tranh cãi xoay quan vấn đề lựa chọn thứ Phật pháp nào. Do đó mà lúc bấy giờ xuất hiện đến 6 tông phái: nam độ tông là tông chính được nhà nước trọng dụng; thứ hai là Tam luận; Thứ ba là thành thực; Thứ tư là Pháp tướng; Thứ năm là Câu xá; Thứ sáu là Luật tông. Mặc dù có những bất đồng xung quanh vấn đề luật giới và Nhất thừa hay là Tam thừa trong Phật giáo Đại thừa nhưng các tông phái này đều tập trung chỉnh lý hệ thống tu viện và chống chế Tăng già. Đó không chỉ là chủ trương của các tông phái mà còn là nhà nước. Việc xây dựng nhiều chùa trong thời gian này là để tạo ra một sự phát triển quy mô số lượng đáp ứng cho nhu cầu học Phật của người dân Nhật Bản và hoàng tộc. Thứ hai, những tồn tại ở thời kì Nara cần được giải quyết triệt để là các tăng già lo các nghi lễ cúng tế địa phương chưa nằm trong bất kì cơ sở, hệ thống và giáo lý Phật giáo. Sau khi các tông ra đời đã tập hợp họ, nhờ đó mà hệ thống Phật giáo được chấn chỉnh. Tóm lại tác động của Phật giáo ở giai đoạn này là ở tư tưởng thực hành của nó, việc truyền bá Phật giáo và phát triển hệ thống thờ tự cũng như là xây dựng những tổ chức phục vụ đời sống như y học, cầu đường khiên Phật giáo được sự tín nhiệm của người dân Nhật Bản, và hơn hết là một tôn giáo, một nền văn hóa, tư tưởng của dân tộc.

Về giáo dục. Giáo dục thời kì này ngoài chức năng đào tạo sư tăng ở chùa thì nền quốc học đã được tạo dựng dựa trên ảnh hưởng của Nho giáo. Chương trình giáo dục là Nho hóc, kết hợp với quan điểm nhà Phật, với mục đích là đào tạo quan lại phục vụ cho triều đình. Tại kinh thành có các trường Daigaku tương tự như đại học hiện đại, nhưng chỉ tiếp nhận con cháu quan lại, và chức sắc địa phương, người dân cũng không được tham gia thi cử. Do đó nền giáo dục này là nền giáo dục thiểu số.

Về văn học, các nhà sư là những người truyền bá chữ viết, những nhà Nho là những người đưa thể loại thơ văn Trung Hoa vào Nhật Bản. Cho nên văn học thời kì này được viết bằng chữ Hán, chủ yếu dựa trên quan niệm Nho giáo, đề cao quyền uy của Thiên hoàng và quý tộc, thiên nhiên, chứ chưa hề có bất kì hình ảnh nhân dân trong đó. Có thể kể đến một số tác phẩm như: tập thơ Kaifuso (751), Hòa ca, Vạn Diệp Tập đầu thế kỉ VIII,…

Về tác phẩm lịch sử, nổi tiếng nhất là hai bộ Cổ sử kí năm 712 và Nhật Bản thư kí năm 720, gọi là thần thoại Kí kỉ, bên cạnh đó còn có các bộ Phong thổ kí ghi lại lịch sử, địa lí và phong tục tại các địa phương. Có thể nói Kí kỉ là một bộ sử mang đậm dấu ấn của tôn giáo – chính trị, đó là đã đi giải thích nguồn gốc Thiên hoàng bằng chính Thần đạo dựa trên quan niệm Thiên tử của Nho giáo và vũ trụ quan nhất thần của Phật giáo, mà ở phần tác động chính trị chúng ta cũng đã điểm qua về thần thoại này. Và khẳng định rằng câu chuyện về các vị thần chỉ xuất hiện trên tác động tôn giáo ngoại lai chứ tuyệt đối không có ở thời kì trước đó.

Trong kiến trúc – điêu khắc. Thời kì này với sự phát triển của Phật giáo, mà đặc biệt là sự xuất hiện rất nhiều chùa chiền, đã tạo nên một nền kiến trúc Phật giáo. Các chùa, tháp chuông được xây dựng theo phong cách kiến trúc Phật giáo nhà đường, nhưng chủ yếu là sử dụng gỗ thay cho đá phiến như ở Trung Quốc, vì gỗ là thứ giàu có nhất ở Nhật Bản. Các tượng Phật được đúc với những đường nét mềm mại, uyển chuyển như tượng nhà Đường. Điểm đặc biệt là với tư tưởng Thần – Phật hợp nhất, và vai trò to lớn trong xây dựng hình tương cho các Thần Thần đạo của Phật giáo, mà các Thần bản địa cũng được đúc như các tượng Phật vậy.

Trong phong tục cưới hỏi cũng thay đổi nhất định. Nếu như nguyên thủy là tục ở rể vì theo chế độ mẫu hệ thì bấy giờ với quan niệm của Nho giáo, dần chuyển sang việc gái về nhà chồng, tức đề cao vai trò phụ quyền trong xã hội.

Nhờ Phật giáo mà hình thức mai táng bằng hỏa thiêu thay cho thổ táng như trước đây. Đồng thời việc Phật giáo có những bàn thờ Phật đã khiến xuất hiện tục thờ cúng ông bà tai gia đinh bằng cách lập bàn thờ tổ, đây cũng là một bước chuyển cực kì to lớn trong đời sống văn hóa thời kì Nara.

3.2.2. Văn hóa sơ kì Heian.

Đây là thời kì văn hóa chuyển tiếp đặc biệt quan trọng trong tạo ra một bản sắc văn hóa riêng sau quá trình tiếp biến văn hóa Trung Hoa lâu dài, nhưng cũng chịu tác động mạnh của tư tưởng và tôn giáo.

Thứ nhất vẫn tiếp tục là sự nảy nở của nhiều tông phái Phật giáo, như Thiên Đàih, Chân tông, Mật giáo,…Đặc biệt là tư tưởng của Mật giáo lại cực kì gần gũi với người dân, khi mà chủ trương không cần phải luân hồi, và đề cao cả hai hình thức tu tại gia và tại chùa. Cho nên từ một tôn giáo chỉ được giới hoàng thân học tập, giờ đây với Mật giáo, Phật giáo mới thật sự đi vào đời sống cả đất nước, mặc dù đã mang nha từ cuối thời kì Nara.

Cùng với chủ trương Thần – Phật kết hợp, cho nên người ta đã không thể phân biệt được Thần đạo trong đời sống nữa. Ngay cả các thần cũng được thờ trong chùa với tên gọi là Thần trấn thủ hay thần bảo hộ, và trong các thần xã Thần đạo, cũng thờ Phật. Cho nên có thể thấy đời sống tôn giáo bấy giờ hòa vào đời sống tín ngưỡng dân tộc cực kì sâu đậm.

Với ảnh hương mạnh mẽ của Mật giáo, kiến trúc và điêu khắc Phật giáo cũng là đề tài chủ yếu, cũng là dạng điêu khắc thần dưới hình tượng Phật, nhưng không phải chỉ là Phật trong các bộ kinh tạng, mà ở đây còn thần linh hóa những nhà sư lớn như Thần Hachiman dưới dạng sư Sokei, bức tượng này được đặt ở Đông Tự kinh với cái tên cũng bằng sự kết hợp đó Sokeihachiman. Đồng thời với điều kiện tự nhiên nhất định, mà tài nguyên lớn nhất là gỗ, nghệ thuật nhất mộc trong tạc tượng được phát triển. Và cùng từ Mật giáo, các bức đồ Mandala như ở phần Phật giáo đã đề cập, được vẽ rất nhiều trong thời kì này trên trần, tường, cửa các chùa và còn là một đề tài để ứng dụng vào phát họa nhiều hình tượng tự nhiên khác, trên quy tắc lý – trí hay Âm dương đạo.

Về giáo dục, Hán học vẫn tiếp tục được áp dụng, mặc dù nội dung và đối tượng không khác gì thời kì Nara, nhưng có mở rông hệ thống và loại hình. Đó là sự xuất hiện các trường tư thục, nhưng cũng chỉ có những người có địa vị mới đi học, còn phần đa người dân đều nghèo và cuộc sống gắn với nông nghiệp. Cho nên học tập cũng không là một vấn đề chủ yếu được quan tâm đến.

Văn hóa sơ kì Heian thực ra chỉ là sự chuyển tiếp từ một nền văn hóa hoàn toàn chịu tác động của ngoại lai sang một nền văn hóa dần chú trọng xây dựng bản sắc riêng cho mình, nhưng điều dựa trên tác động to lớn của Phật giáo và Nho giáo.

3.2.3. Văn hóa Quốc Phong và hậu kì Heian.

Văn hóa Quốc Phong tồn tại từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XII, là thời kì phát triển những giá trị dân tộc sâu sắc. Với việc lớn mạnh của chính quyền Nhật Bản và vị trí tương đối biệt lập, cho nên từ thế kỉ X Nhật Bản chủ trương hạn chế thuần phục Trung Quốc, do đó mà những ảnh hưởng từ đại lục ít dần, là cơ hội để văn hóa bản địa trổi dậy. Đồng thời chính phong trào phục hưng Thần đạo từ giai đoạn này đã tác động không nhỏ đến tình hình văn hóa, khi chủ trương tìm lại giá trị cốt lõi dân tộc. Bên cạnh đó, Phật giáo với tư tưởng Thần bổn – Phật tích và sự ra đời Mật giáo ở thời kì đầu Heian, và Nho giáo bị dung hợp với Phật giáo đã khiến cho những ảnh hưởng từ Trung Hoa giờ trở nên xa lạ hơn trước, vì hai tư tưởng – tôn giáo này đến đây được người Nhật xem là một phần của dân tộc. Vì vậy với những sự thay đổi về quan niệm, mà trong Phật giáo là sự xuất hiện nhiều tông phái chủ trương bản địa hóa và phổ quát hóa Phật giáo vào đời sống đã đem lại một sự ý thức cần có một tư tưởng và tôn giáo riêng biệt để chí ít có một sựu đối trọng về tinh thần với các nước láng giềng trong đó có Trung Hoa.

Thế kỉ X người Nhật trên cơ sở chữ Hán đã phát minh ra chữ Kana dùng ghi lại âm. Bảng chữ cái này gồm có hai loại là Hiragana dùng chủ yếu trong sác tác văn học và Katakana dùng trong các chùa chiền và giới tăng sư để đọc kinh sách.

Chính đều trên đã tạo ra một nền văn học mới, chuyển từ Hán văn sang văn học dân tộc. Mà được đánh dấu bằng hàng loạt tác phẩn tiêu biểu như  Cổ Kim hòa năm 905, Hậu tuyển hòa ca năm 951. Các thể loại tiểu thuyết và truyện kể cũng được hình thành như tác phẩm, Doãn thế, Genji,… Chủ đề vẫn là cuộc sống giới cầm quyền nhưng điều đáng nói ở đây là nó được viết dựa trên chữ Kana.

Về nghi lễ. Như đã đề cập ở nội dung về Mật tông hay Âm dương đạo, Đạo giáo ở chương trước. Chúng ta thấy nhưng tư tưởng và tông phái này có ảnh hưởng cực lớn đến một số nghi lễ hoàng tộc. Sự phát triển của Chiêm tinh học, xem bói trong các Đạo quán Đạo giáo và phái âm dương, đồng thời Mật giáo được trọng dụng trong hoàng tộc, cùng với đời sống càng giàu sang ở thời kì Heian này đã khiến cho nhiều quan lại, vua, chúa tâm niệm về việc cần có những nghi lễ tế thần, trời đất, cầu bình an, thăng quan tiến chức. Không chỉ thế các trận dịch bệnh ở thế kỉ X – XII khiến người dân cũng tìm đến những nghi lễ trên để cầu cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Cũng nói về sự phát triển các tông phái, bấy giờ do điều kiện cuộc sống người dân khó khăn nên một nhánh mới Phật giáo đã ra đời là Joudo, họ chủ trương Phật tại tâm và chỉ cần cầu nguyện đức phậy A di đà là có thể được cứu khổ. Việc xuất bản các cuốn sách như Vãng sinh yếu tập, Khánh Dư Tư Bảo Dận đã góp phần đưa qua điểm phật pháp trên đến gần với mọi người, và ở trung kì Heian này trở thành tông phái chủ yếu, có ảnh hưởng nhất.

Ảnh hưởng của Joudo có lẽ nhiều ở kiến trúc và điêu khắc, do đề cao Phật Adida nên lúc bấy giờ các chùa đều có tượng này, đường nét mềm mại và uyển chuyển hơn so với tượng Phật Trung Hoa, thể hiện phong cách riêng biệt của người Nhât, mà chất liệu chủ yếu là gỗ.

Cưới sinh cũng như giai đoạn trước, nhưng nghi lễ mai táng và chôn người chết thường ở xa khu dân cư, bắt nguồn từ tục Misouri trong Thần đạo.

Đến hậu kì Heian khi mà chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra, thì đời sống người dân càng thêm cơ cực, khi đó họ không có đủ các điều kiện để cầu nguyện tại chùa hay Thần xã mà là tự tâm, tức phần lớn theo quan niệm của phái Joudo.

Đặc biệt đây là thời kì mà các chủ trương phân lý Thần – Phật bắt đầu được bộc phát, cho nên các nghi lễ nông nghiệp của Thần đạo được các địa phương phát triển trở thành những lễ hội lớn theo các mùa.

Tóm lai văn hóa Quốc Phong là văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, nhưng chỉ cũng tập trung ở tầng lớp trên. Trong khi đến hậu kì Heian, vẫn tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa Nhật Bản nhưng đã trở thành thứ văn hóa bình dân. Có những tác động đó không chỉ dưới ảnh hưởng của bối cảnh chính trị mà còn là ở sự chuyển biến tôn giáo – tư tưởng theo hướng bản địa hóa sâu sắc.

3.3. Tác động của tôn giáo – tư tưởng đến xã hội Nhật Bản.

Tôn giáo và tư tưởng có những tác động đến xã hội Nhật Bản cổ đại thông qua hình thành các tầng lớp, và quan điểm trọng lễ của người dân đất nước này thời kì cổ đại.

Có thể nói xã hội Nhật Bản bị ảnh hưởng rất nhiều từ Thần đạo, Nho giáo và Phật giáo theo những mức độ và giai đoạn nhất định. Cụ thể là.

Trong lịch sử Thần thoại Nhật Bản nói riêng và các caau chuyện thần thoại tại các dân tộc khác đều có một khuynh hướng chính là đề cao vai trò của người đứng đầu nhà nước. Trong Cổ sự kí và Nhật Bản thư kí đã cho ta những giải thích thỏa đáng về luận điểm trên. Thần thoại cho chúng ta một cái nhìn chính xác rằng xã hội Nhật Bản vốn dĩ từ rất lâu đã có phân chia giai cấp, đứng đầu chính là Thiên hoàng. Vấn đề Thiên hoàng cũng cho thấy một khía cạnh khác trọng xã hội Nhật Bản, hầu như những người thuộc cùng một huyết thống đều có khuynh hướng hình thành những dòng tộc riêng biệt, kể cả Thiên hoàng cũng là một dòng tộc trong hàng trăm tộc Nhật Bản từ nguyên thủy. Chính yếu tố địa lý đã làm xảy ra tình trạng đa dạng trên. Và mỗi một bộ tộc dùng một vị thần Thần đạo để lý giải nguồn gốc của mình. Nhưng điều cần nói ở đây chính là người Nhật từ lâu luôn có tư tưởng coi trọng vấn đề huyết thống, từ đó mà nảy sinh quan điểm mỗi tộc chỉ đảm nhận những vai trò nhất định, và có tính cha truyền con nối, kể cả là ngôi vị Thiên hoàng. Tóm lại một trong những tư tưởng của người Nhật là trọng vấn đề giai cấp và dòng họ, và cho dù có chịu tác động của tư tưởng ngoại lai nào đi nữa thì nó cũng khó mất đi bản sắc này. Kể cả trong hiện đại, Nhật Bản là một đất nước tư bản theo mô hình kinh tế gia đình phổ biến là một ví dụ điển hình cho khẳng định trên.

Trong thời kì cổ đại, dưới ảnh hưởng Nho giáo và Phật giáo, tư tưởng về giai cấp và xã hội phân chia như thế nào dưới tác động bên ngoài trên thì cụ thể được trình bày ở bên dưới.

Sau cuộc cải cách của Sotoku với bản Thập thất hiến pháp đã vận dụng tư tưởng luân thường và nguyên tắc xã hội từ Nho giáo. Đặc biệt trong điều thứ nhất, quy định về mối quan hệ luân lý giữa cha con, vua tôi, điều này thừa hưởng từ quan niệm tam cương của Nho giáo, và một lần nữa trong cải cách Đại hòa cũng khẳng định mạnh mẽ tư tưởng trên.

Ảnh hưởng của Phật giáo cũng gần tương tự như Nho giáo. Tuy nhiên khác với Phật giáo tiểu thừa Ấn Độ và Đại thừa Trung Hoa, khi rại hai quốc gia này chủ trương là bình đẳng các đẳng cấp. Nhưng đặc điểm của Phật giáo Nhật Bản như tìm hiểu ở chương một trong mối quan hệ Phật – Nho chúng ta thấy, từ lâu nó đã ảnh hưởng mạnh mẽ nhân sinh quan của Nho giáo, tức là cũng phân biệt rạch ròi các đẳng cấp. Chính trong Nhật Liên tông – một tông phái Phật giáo thời hậu Heian từng viết trong Khai mục sao rằng: “Có 3 hạng người mà tất cả chúng sanh phải tôn kính, đó là Chúa, Sư, Thân. Chúa, Sư và Thân ở đây tức là diễn tả một cách khác đi của danh từ Quân, Sư, Phụ của Nho giáo”[11;162]. Như vậy Phật giáo Nhật Bản mang tính thế tục sâu sắc bởi tư tưởng nhân sinh quan của Nho giáo. Do đó mà Phật giáo trong Thập thất hiến pháp đã khẳng định tồn tại quan hệ vua tôi,và xã hội được chia làm các đẳng cấp nhất định. Chính quan điểm Quân, Sư, Phụ của Phật giáo đã làm cho xã hội Nhật Bản đề cao tư tưởng trung quân ái quốc cao độ, tất cả đều hi sinh cho Thiên hoàng. Nó khác với trung quân của Nho giáo, bởi trung quân trong tư tưởng Phật giáo Nhật Bản là tư tưởng phục vụ vì đạo của nhiều tín đạo các tôn giáo cổ đại Ấn Độ. Chủ thể để thờ phụng ở đây không phải là bất kì vị chúa nào, mà là Thiên hoàng, bởi đó chính là vua cũng là một người đứng đầu trong hệ thống Thần linh Thần thoại. Bởi lẽ Nho giáo chỉ dừng lại ở một tư tưởng đạo đức chính trị, nhưng khi được kết hợp với Phật giáo nó trở thành một tư tưởng tôn giáo hẳn hoi, và ,ặc khác Phật giáo đã thế tục hóa khi thừa nhận những cơ sở nhân sinh quan, đặc biệt là các nguyên tắc xã hội của Nho giáo.

Và theo nhưng lý giải trên, xã hội Nhật Bản cổ đại mặt dù không có giai cấp rõ ràng nhưng đã phân làm bốn hạng người là sĩ, nông công, thương. Mỗi người có một một bổn phận riêng biệt, và chỉ có không thể làm những việc ngoài chức năng mà gia tộc mình đảm nhận. Có thể thấy xã hội Nhật Bản bị chi phối bởi tư tưởng trung quân và huyết thống hết sức nặng nề, mà xuất phát từ những ảnh hưởng to lớn của Nho giáo và Phật giáo. Và cũng khẳng định rằng tầng lớp võ sĩ giai đoạn này chưa bắt đầu có vai trò và mãi đến thế kỉ XI mới có quyền lực, tuy nhiên cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng phân chia xã hội trên.

Tóm lại, dưới tác động của tôn giáo và tư tưởng với nền tảng trọng về huyết thống và trung quân từ sự kết hợp quan niệm nhân sinh và vũ trụ Nho – Phật đã tạo nên 4 đẳng cấp: Sĩ, nông, công thương. Mặc dù là tương tự như nhiều nước Đông Á, nhưng khác biệt lớn nhất là các đẳng cấp không thể chối bỏ và thay đổi số phận của mình bởi ràng buộc về tính truyền nối và đảm đương duy nhất từng công việc của từng gia tộc trong xã hôi, cũng như câu nói “Con vua làm vua, con sải ở chùa thì quét lá đa”.

3.4. Tác động của tôn giáo – tư tưởng đến kinh tế.

Thực chất ảnh hưởng của tôn giáo tư tưởng chỉ gián tiếp qua chính trị, bởi nếu như chính sách điền thổ được quy định trong các văn bản luật lệnh, mà các văn bản đó lại xây dựng trên quan niệm Nho giáo và Phật giáo là vậy. Cho nên ở đây chỉ là tác động thứ yếu không tọng tâm bằng chính trị và văn hóa.

Nho giáo khẳng định rằng tất cả đát trong thiên hạ điều của vua, và từ xa xưa người Nhật cũng quan niệm tương tự như vậy. Cùng với tác động của Phật giáo đã ảnh hưởng rất nhiều đến chế độ điền thổ cổ đại. Kết hợp với quan điểm tất cả dân và đất đai thuộc về Thiên hoàng từ Nho giáo và tính cứu độ của Phật giáo mà đã tạo nên sự khác biệt giữa chính sách ruộng đất Nhật Bản với Trung Quốc: Thứ nhất, đất công được ban cấp cho những người già yếu, tàn tật, gặp thiên tai; Thứ hai, sau khi chết phải trả đất cho nhà nước; Thứ ba không thừa nhận tư hữu ruộng đất. Như vậy ở điều thứ nhất, việc ban cấp ruộng đất cho người già, tật nguyền và bị thiên tai bắt nguồn từ tư tưởng cứu khổ của Phật giáo Nhật Bản.

Ở thời kì Nara, trong khi người dân gặp thiên tai, bệnh dịch, Thiên hoàng Shommu đã cho xây dựng chùa  Quốc Phần vào năm 741 để nhằm cầu phước cho dân, và cho rằng: “Thiên hạ giàu tức là trẫm giàu, thiên hạ tahnhj tức là trẫm thạnh. Sự giàu thạnh của quốc gia là nguyên nhân để chủ đạo ra ngôi Tôn thượng này”[11;68]. Như vậy tư tưởng xem vua là trên hết, mọi thứ thuộc về Thiên hoàng, và trách nhiệm của Thiên hoàng là làm cho dân giàu mạnh, cho nên đó là ảnh hưởng đến chính sách điền thổ thời bấy giờ.

Do Phật giáo là tôn giáo hộ quốc thời kì cổ đại cho nên, những nhà sư cũng được ưu ái rất nhiều, trong đó có vấn đề sở hữu ruộng đất. Đồng thời do tư tưởng đề cao tín ngường Thần đạo cho nên những thần xã cùng với chùa được ban cấp như nhau, và cụ thể:

Đối với thần xã, ruộng được ban cấp vĩnh viễn, nhưng không được mua bán, gọi là các Thần điền (ruộng đất dùng để phục vụ việc cúng thần). Trong Thần điền được đưa đến đây các nô tỳ để phục vụ công việc cày cấy, và phần đất bên ngòài cho nông dân thuê. Thần xã không phải đóng thuế và còn được thu hoa lợi từ phần đất trên.

Đối với các chùa. Ruộng đất cũng được ban vĩnh viễn, nhưng để khuyến khích phát triển Phật giáo, cho nên nhà nước cho một đặc xá là có thể mua bán, và cũng tương tự như Thần điền các Tự điền này đều có nô ty phục vụ, và cho nông dân thuê để lấy hoa lợi mà không cần đóng thuế.

Có thể thấy Thần điền và Tự điền là những trang viên độc lập, phát triển một nền nông nghiệp thu nhỏ, tự cung tự cấp, nhưng mang yếu tố là để phục vụ mục đích tôn giáo. Điều này là hoàn toàn tương tự với Champa và các thánh địa của nó, khi mà duy trì một nền nông nghiệp tôn giáo, nhưng ở Nhật Bản đó chỉ là một ân huệ trong chính sách điền thổ, chư không là một chế độ ruộng đất và kinh tế tôn giáo như lịch sử Champa đã từng trãi quan.

Tóm lại ảnh hưởng của tôn giáo – tư tưởng đến kinh tế ở hai mặt: về lý luận thì đất thuộc về Thiên hoàng là tư tưởng Nho giáo, nhưng Thiên hoàng phải tùy vào đời sống nhân dân mà ban phát để nhân dân được ấm no theo giáo lý và đặc điểm cứu độ của Phật giáo; Thứ hai, do sự ưu ái Thần đạo và Phật giáo mà đã tồn tại các Thần điền và Tự điển như các trang viên hay là một lãnh địa thu nho, giống như trường hợp giáo hội Thiên chúa giáo phương tây trung đại.

3.5. Những nét tương đồng và dị biệt về tư tưởng tôn giáo Nhật Bản và Việt Nam.

Do tính không tương đồng về mặt lịch sử nên thời kì cổ đại Nhật Bản kéo dài từ thế kỉ VI – XII trong khi Việt Nam giai đoạn đó là gồm cả trung đại. Dựa trên cơ sở tôn giáo để so sánh nên chúng ta chỉ lấy mốc thời gian chứ không đi vào so sánh theo phân kì lịch sử. Cụ thể sẽ so sánh từ nguyên thủy đến thế kỉ XII, nhưng riêng VIệt Nam chúng ta phải tính đến trước thế kỉ XV, bởi Lý – Trần có những nét tương đồng nên không thể tách rời khi so sánh.

3.5.1. Những cơ sở để so sánh.

Để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa tôn gióa – tư tưởng Việt Nam và Nhật Bản cần dựa trên những cơ sở nhất định: Thứ nhất là điều kiện tự nhiên, dân cư; Thứ hai, quá trình hình thành nhà nước; Thứ ba, đặc điểm truyền thống văn hóa; Thứ tư, các hình thức tổ chức nhà nước; Thứ năm, cách thức ứng xử với văn hóa ngoại lai. Cụ thể:

Về điều kiện tự nhiên, dân cư.

Nhật Bản có diện tích tự nhiên lớn hơn Việt Nam, 75% là đồi núi và hơn 67% là rừng và không có đồng bằng châu thổ, đất nghèo phù sa, nghèo khoáng sản, đặc biệt là kim loại. Bị chia cắt mạnh bởi yếu tố biển, gồm nhiều đảo lớn nhỏ, với 4 đảo lớn. Vị trí tương đối tách biệt so với khu vực. Khí hậu Nhật Bản gồm có 4 mùa. Trong khi Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyên khoáng sản, đồng bằng châu thổ rộng lớn nhưng chủ yếu ¾ là đồi núi, chỉ hai mùa mưa nắng là chủ yếu. Vị trí gần với nhiều trung tâm văn minh lớn. Về điều kiện tự nhiên Nhật Bản có lãnh thổ ổn định hơn. Khác biệt lớn nhất là ở Việt Nam là một bán đảo nhưng lại tiếp giáp và gắn liền về lãnh thổ với nhiều nước, Nhật Bản lại là một quần đảo, tách biệt ít chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa ngoại lai. Bên cạnh đó, Việt Nam đa dân tộc trong khi Nhật Bản hầu như là một quốc gia đơn tộc. Cho nên Việt Nam có văn hóa đa dạng hơn Nhật Bản. Đặc biệt ở Việt Nam tác động của yếu tố nước tạo nên các văn hóa sông nước, tác động của nông nghiệp lúa nước tạo nên các tín ngưỡng nông nghiệp. Nhật Bản là một quốc gia thuần chủng, nên họ có chung một bản sắc văn hóa. Sự tách biệt về địa lý khiên các ảnh hưởng từ văn minh bên ngoài không mạnh mẽ, tránh được đồng hóa bằng bạo lực như Việt Nam, nên trong thời kì VIII trờ đi đã bắt đầu biến đổi giá trị ngoại lai thành bản sắc. Tác động của khí hậu và việc phải chịu nhiều thiên tai so với tính tương đối thuận lợi ở Việt Nam, nên cư dân Nhật Bản có đặc tính cứng rắn, , tiết kiệm,…Và do sự chia cắt mà tạo nên khuynh hướng xem trọng gia tộc hơn là cộng đồng làng xã như ở Việt Nam.

Về cơ sở nhà nước đầu tiên.

Việc hình thành nhà nước đầu tiên là một cơ sở quan trọng trong hình thành nền văn hóa và văn minh dân tộc, trong việc nó là chủ thể đứng ra chi phối , định hình bản văn hóa riêng biệt, cách tiếp nhận văn hóa ngoại lai.

Ở Việt Nam nhà nước hình thành sớm khoảng thế kỉ VII trước công nguyên, trong khi nhà nước sơ khai đầu tiên ở Nhật Bản là Wa vào thế kỉ I. Tuy nhiên điều kiện lịch sử quy định sự khác biệt trong vai trò của hai nhà nước. Ở Việt Nam sau khi ra đời Văn Lang – Âu Lạc phải đối trọi với tình trạng xâm lược của Trung Hoa, và chịu 1000 năm Bắc thuộc. Trong khi ở Nhật Bản, do tính biệt lập địa lý nên sau khi nhà nước ra đời, đã phát triển theo hướng học tập văn minh Trung Hoa.

Có thể thấy sự khác biệt giữa các nhà nước đầu tiên ở hai quốc gia bị quy định bởi yếu tố địa lý và lịch sử, từ đó dẫn đến hai con đường khác nhau. Một bên phải ra sức chống lại xâm lược và đồng hóa cưỡng bức như Việt Nam, một bên là chủ động tiếp thu văn minh bên ngoài để xây dựng bản sắc dân tộc. Và điểm chung đều trên cơ sở tiếp biến.

Về đặc điểm truyền thống văn hóa, dân cư.

Do tự nhiên và lịch sử khác biệt giữa hai quốc gia nên đã tạo ra những truyền thống văn hóa khác biệt. Người Nhật hình thành tín ngưỡng thờ thần Kami từ rất sươm và sau đó họ tạo nên Shinto, và chọn đó là quốc giáo sau này. Tín ngưỡng ở Nhật Bản mặc dù thời kì nguyên thủy là không thống nhất nhưng do đặc tính đơn tộc nên nó dễ dàng hòa hợp thành một dạng thức chung nhất. Do yếu tố kinh tế ở Nhật Bản dù là nông nghiệp nhưng hình thức du mục mới là phổ biến, còn ở Việt Nam là nông nghiệp. Cho nên tín ngưỡng ở Nhật Bản phát triển từ trên xuống bởi sự nắm giữ quyền lực của các tộc trưởng. Trong khi đó với tính cộng đồng cao, những giá trị văn hóa bản địa được người dân xây dựng nên theo hướng từ dưới lên.

Đồng thời, do điều kiện tự nhiên đã quy định nên tính cách của con người Việt Nam là mềm mỏng, linh hoạt, trong khi người Nhật là cứng rắng và kỷ luật. Cho nên về đạo đức, người Việt xem trọng chữ Hiếu, còn người Nhật lại đề cao chữ Tín, trung quân ái quốc, như đã đề cập ở phần tác động. Tóm lại có thể nói cả hai đều có những tín ngưỡng của riêng mình trước khi du nhập các yếu tố ngoại lai, và nền văn hóa bản địa mạnh mẽ khiến khó có thể bị đồng hóa, ngược lại biến đổi tạo nên giá trị riêng biệt cho quốc gia. Sự khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ là sự đơn nhất tín ngưỡng, và giá trị đạo đức dân tộc tại Nhật Bản so với đa dạng ở Việt Nam.

Về cách thức tổ chức nhà nước.

Sau khi các nhà nước ra đời, chính cách thức tổ chức và chính sách của nó tác động mạnh mẽ đến văn hóa, trong đó có tôn gióa và tư tưởng.

Ở Việt Nam sau thời kì Bắc thuộc, các triều đại phong kiến đã ra sức xây dựng nhà nước tập quyền, tiêu biểu là tập quyền quan liêu ở Lý – Trần. Đối với Nhật Bản họ cũng đề cao xây dựng trung ương tập quyền nhưng là quân chủ tập quyền, mọi quyền uuy về chính trị, tôn giáo điều nằm trong tay Thiên hoàng, nhưng ở từ thời kì Nara thì các tập đoàn địa phương lại chi phối quyền lực, mà phát triển mạnh là từ thế kỉ XII trở đi. Và cả Nhật Bản hay Việt Nam điều chú trọng xây dựng cơ chế luật lệnh, ở Việt Nam thời Lý – Trần có Bộ Quốc triều thống chế, ở Nhật từ thế kỉ VI đã có Thập thất hiến pháp.

Tóm lại cách thức tổ chức nhà nước Việt Nam và Nhật Bản từ khi có nhà nước ra đời đến cuối thế kỉ XII, ở Việt Nam chúng ta tính đến thế kỉ XV có những điểm đặc trưng sau:

Thứ nhất đều xây dựng trên cơ sở Nho giáo và mô hình nhà nước Trung Hoa. Nhưng ở Nhật và Việt Nam thời Lý đều lấy tư tưởng Phật giáo làm điểm tựa cho quy định về con người tỏng xã hội.

Thứ hai, điều chú trọng xây dựng luật pháp, những chính sách được quy định đã đưa tôn giáo vào đời sống và được quản lý chặt chẽ.

Về cách ứng xử với văn hóa bên ngoài.

Do đặc điểm lịch sử, tự nhiên, tính cách con người cho nên cách ứng xử của hai dân tộc trước làng song văn minh ngoại lai là khác biệt rõ nét.

Việt Nam thường thuận lợi khi có vị trí địa lí liền kề với nhiều quốc gia, nhưng cũng là bất lợi. Đồng thời người Việt khi tiếp nhận một thứ bên ngoài, họ thường hoài nghi, sau đó buộc phải chấp nhận do nhiều yếu tố có thể là chiến tranh, và với bản sắc văn hóa đậm đà, người Việt luôn ý thức được cần biến đổi những giá trị bên ngoài thành giá trị riêng cho mình, như việc phát minh ra chữ Nôm là một ví dụ.

Nhật Bản lại khác hẳn, họ mặc dù có văn hóa riêng, nhưng trong tâm thức luôn luôn cho rằng văn minh bên ngoài là cao hơn, và việc học hỏi sẽ làm tăng thêm sự phát triển của đất nước. Do đó khi văn minh Trung Hoa vào, họ xác định cái dân tộc thiếu, đâu là cái phát triển cao hơn để học tập, và khi có một mô hình phát triển cao hơn họ có thể từ bỏ cái cũ, thể hiện tính không bảo thủ trong tư tưởng người Nhật. Điển hình là họ đã từ bỏ văn minh Trung Hoa để học hỏi phương Tây từ sau cuộc Minh Trị Duy Tân 1868. Tuy nhiên cũng như người Việt, họ có ý thức dân tộc sâu sắc, cho nên luôn biến đổi những yếu tố văn hóa bên ngoài trên cơ sở văn hóa bản địa.

Tóm lại từ những cơ sở trên có thể cho thấy, văn hóa trong đó có tôn giáo – tư tưởng Việt Nam và Nhật Bản có những nét tương đồng và khác biệt nhất định. Sự tương đồng lớn nhất là bắt nguồn từ cơ sở địa kinh tế, khi cùng  phát triển văn minh nông nghiệp, đều chịu tác động của văn hóa Trung Hoa. Nhưng cái khác biệt là rõ ràng hơn. Cụ thể sẽ được trình bày ở dưới.

3.5.2. Những điểm tương đồng và dị biệt.

Ở phần này tác giả chỉ đưa ra bảng so sánh những đặc điểm tương đồng và khác biệt về tôn giáo – tư tưởng giữa hai quốc gia, khi dựa trên cơ sở đã phân tích một các cụ thể ở chương 1, chương 2 và chương 3, đặc biệt là ở phần 3.5.1 ở trên.

Dưới đây là bảng so sánh những tương đồng và khác biệt giữa tôn giáo Nhật Bản và Việt Nam từ nguyên thủy đến thế kỉ XII, riêng ở Việt Nam tính đến trước thế kỉ XV.

 

NỘI DUNG SO SÁNH VIỆT NAM NHẬT BẢN
TƯƠNG ĐỒNG – Điều có cơ tầng văn hóa bản địa, tôn giáo – tín ngưỡng nguyên thủy hình thành chủ yếu dựa trên tác động của kinh tế nông nghiệp, thời kì nguyên thủy chưa chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố xã hội.

– Hai quốc gia đều chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, du nhập Phật giáo đại thừa, Nho giáo, Đạo giáo.

– Dựa trên cơ sở văn hóa bản địa trong đó có tín ngưỡng hay tôn giáo nguyên thủy, hai quốc gia đã thực hiện quá trình biến đổi thông qua cơ chế tiếp biến văn hóa để tạo ra những giá trị văn hóa nói chung và giá trị tôn giáo – tư tưởng nói riêng vừa mang bản sắc vừa mang yếu tố phát triển bên ngoài.

– Cả hai quốc gia đều chủ trương hợp dung tôn giáo và xuất hiện hiện tượng đồng nguyên tôn giáo, trong đó Phật giáo đều đóng vai trò chủ đạo, trong khi tín ngưỡng trở thành cầu nói trong quá trình đồng nguyên ấy.

KHÁC BIỆT – Tiếp thu cả Phật giáo đại thừa Trung Hoa và tiểu thừa từ Ấn Độ. Phật giáo Việt Nam không mang tính thế tục. – Chỉ tiếp thu Phật giáo đại thừa. Phật giáo chịu ảnh hưởng mạnh tư tưởng Nho giáo nên phát triển theo xu hướng thế tục
– Tín ngường thờ Thần đạo dần dần trở thành tôn giáo dân tộc dựa trên sự học hỏi Phật giáo. – Tín ngưỡng dân tộc hòa lẫn vào các tôn giáo khác, không trở thành một tôn giáo.

 

– Chỉ xuất hiện đồng nguyên tam giáo Phật – Nho – Đạo không hỗn dung. – Các tôn giáo kết hợp một các hỗn dung, Phật – Nho, Thần – Phật.
– Tiếp nhận tôn giáo – tư tưởng ngoại lai sớm, từ những năm 179 Tiếp nhận tôn giáo – tư tưởng ngoại lai muộn từ thế kỉ VI

 

 KẾT LUẬN

Lịch sử tôn giáo – tư tưởng Nhật bản từ nguyên thủy đến thế kỉ XII là một quá trình phát triển lâu dài, nhưng lại là thời kì tạo nên những cơ sở vững chắc để giúp định hình và phát triển một tư tưởng và tôn giáo đậm đà những nét riêng biệt của người Nhật.

Trong sự phát triển của tôn giáo tư tưởng Nhật Bản đến thế kỉ XII, chúng ta nhận thấy rõ ràng hai thời kì chính: Thời kì hình thành tín ngưỡng bản địa (Kami) từ khoảng thời kì văn hóa Jomon (có thể lấy mốc 8000 năm trước hoặc 2500 năm trước,  bởi không đủ cơ sở khảo cổ để định mức thời gian rõ ràng) đến thế kỉ III trước công nguyên. Thời kì tiếp nhận và biến đổi tư tưởng – tôn giáo ngoại lai từ thế kỉ III đến thế kỉ XII. Trong đó, đặc biệt là thời kì thứ hai được chia làm những giai đoạn nhỏ để thấy được sự chuyển biến, cụ thể. Giai đoạn từ thế kỉ III trước công nguyên đến thế kỉ VI: Xuất hiện tục thờ thủy tổ, bên cạnh thờ các yếu tố tự nhiên như trước kia, từ đây một bộ phận của Kami ra đời, được gọi là con đường của các vị thần  – Shinto nguyên thủy. Giai đoạn từ thế kỉ VI đến thế kỉ XII: Quá trình tiếp xúc văn minh Trung Hoa làm xuất hiện những tôn giáo ngoại lai, các tôn giáo đó một mặt bổ sung cho tín ngưỡng bản địa, một mặt bị bản địa hóa. Và đồng thời là giai đoạn Phật giáo chiếm vị trí cao nhất, Thần đạo gần như hòa lẫn vào với các hình thức kết hợp khác nhau, Nho giáo, và Đạo giáo chỉ ảnh hưởng trong một bộ phận nhỏ giới cầm quyền và hòa vào đời sống xã hội. Phật giáo bắt đầu bám rễ vào đời sống xã hội và chính trị Nhật Bản, bằng cách tiếp thu các  nghi lễ, cách thức tu hành từ tín ngưỡng thờ thần (Shinto nguyên thủy) và thông qua bốn mối quan hệ Phật – Thần, đã tạo điều kiện để từ thế kỉ XII đến thế kỉ XVII Phật giáo trở thành tôn giáo độc tôn hoàn toàn. Đó là toàn bộ lịch sử phát triển và đặc điểm tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản từng thời kì, giai đoạn nhất định xuyên suốt từ nguyên thủy đến trước thế kỉ XII.

Chính những yếu tố tôn giáo – tư tưởng đã làm thay đổi bộ mặt đất nước Nhật Bản, mà thông qua tác động của nó đến tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Nhà nước quân chủ tập quyền được xây dựng cùng với việc phát triển cơ chế luật lệnh thông qua tư tưởng Nho giáo và Phật giáo thế tục là một đặc điểm về chính trị cần được nhắc đến dưới tác động này. Nền giáo dục Nho học, kiến trúc, điêu khắc Phật giáo, từ chỗ tiếp thu Hán tự sang biến đổi thành chữ Kana,… là những nét chính mà tôn giáo – tư tưởng đã đóng góp cho nền văn hóa Nhật Bản bấy giờ. Việc phân tầng xã hội theo 4 tầng lớp: sĩ, nông, công thương, với quan điểm quân chủ bất di bất dịch của ngôi vị Thiên hoàng là sản phẩm từ Nho giáo, Phật giáo thế tục và Thần đạo, đồng thời dưới những tác động của các tôn giáo trên đã tạo nên một xã hội đề cao nền đạo đức tín hơn là hiếu. Cũng chính tác động của việc ưu ái Thần đạo và Phật giáo, mà cơ chế Tự điền và Thần điền vượt ra khỏi khuôn khổ quy định trong chế độ điền thổ Nho giáo mà Nhật Bản áp dụng. Đó chính là toàn bộ những tác động chúng ta có thể thấy được.

Do những khác biệt về tự nhiên, dân cư, cơ chế nhà nước và cách ứng xử với văn hóa ngoại lai mà chúng ta nhận thấy mặt dù là những quốc gia Đông Á, cùng chịu những ảnh hưởng nhất định của địa kinh tế, địa văn hóa nhưng không phải là tương đồng hoàn toàn giữa Việt Nam và Nhật Bản, cho nên đồng văn, đồng chủng là điều không thể trở thành thự tế.

Thông qua phân tích sự phát triển, đặc điểm, những tác động của tôn giáo – tư tưởng Nhật Bản từ nguyên thủy đến thế kỉ XII và so sánh với Việt Nam giúp rút ra được một khẳng định rằng: Tôn giáo tư tưởng Nhật Bản mặc dù qua những biến đổi và tác động nhưng đã chọn ra được bản sắc riêng cho mình. Đồng thời tôn giáo – tư tưởng là một trong những nội dung quan trọng, có tác động trực tiếp không chỉ đến lịch sử quốc gia này nói chung, với thời kì nguyên thủy đến thế kỉ XII nói riêng, mà thông qua đó còn khẳng định rằng, lĩnh vực đó còn là một phần không thể thiếu khi nghiên cứu lịch sử bất kì quốc gia nào đi chăng nữa.


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hoàng Tâm Xuyên, Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1999.
  2. Hoàng Thanh Đạm, Đọc sách “Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản”, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 1 năm 2002.
  3. Hoàng Thị Nhớ, Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản, Nhà xuát bản Khoa học xã hội, năm 2002.
  4. Huỳnh Công Bá, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 2009.
  5. Jonh Bowker, Từ điển tôn giáo thế giới giản yếu, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, năm 2015
  6. Nguyễn Kim Lai, Thần đạo Nhật Bản và tín ngưỡng dân gian Việt Nam – những nét tương đồng và khác biệt, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 8 năm 2005.
  7. Nguyễn Quốc Hùng, Lịch sử Nhật Bản, Nhà xuất bản Thế giới năm 2007.
  8. Nguyễn Văn Tiệp, Nhân học đại cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013.
  9. Phạm Đức Dương, Văn hóa Đông Nam Á, Nhà xuất bản giáo dục, năm 2001.
  10. Seuki Fumihiko, Lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Nhà xuất bản thế giới, năm 2011.
  11. Thích Thiên Ân, Lịch sử tư tưởng Nhật Bản, Nhà xuất bản Đông Phương, năm 1965.
  12. Trần Đăng Sinh, Giáo trình tôn giáo học, Nhà xuất bản đại học Sư phạm, năm 2014.
  13. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998.

Hết

Chú thích:

[1] Bài viết trích từ bản thảo nghiên cứu lịch sử tư tưởng phương Đông của tác giả Nguyễn Huỳnh Đăng Khoa năm 2016.

[2] Đọc thêm tác phẩm Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản

[3] Một thể chế nhà nước tôn giáo điển hình ở các quốc gia Đông Nam Á Ấn Độ hóa thời kì cổ – trung đại.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s