Dân chủ – Xã hội là gì?

Mai Thái Lĩnh

dan chu xa hoi

Những người thành lập đảng Dân chủ xã hội Nga đầu tiên tại St. Petersburg. Lenin ngồi giữa, bên phải ông là Iulii Martov (ảnh từ trang www.sscnet.ucla.edu)

Hình thành từ những thập niên 60 và 70 của thế kỷ 19, phong trào xã hội chủ nghĩa dần dần tách thành hai trào lưu lớn: dân chủ – xã hội (Social Democracy, social-démocratie) và cộng sản (Communism, communisme). Sự cạnh tranh, thậm chí đối lập, giữa hai trào lưu đó là một nét nổi bật của thế kỷ 20. Do hoàn cảnh lịch sử, việc truyền bá chủ nghĩa xã hội vào nước ta hầu như chỉ thông qua con đường của những người cộng sản, sự hiểu biết của giới trí thức về trào lưu dân chủ – xã hội có thể nói là vô cùng ít ỏi. Bài viết này nhằm mục đích góp phần bổ sung cho sự thiếu sót đó.

Vào thời kỳ đầu của phong trào được mệnh danh là “chủ nghĩa xã hội” (Socialism, socialisme), nhất là trong giai đoạn hình thành các tổ chức chính trị đầu tiên của giai cấp công nhân, danh xưng “dân chủ – xã hội” được dùng để chỉ những người xã hội chủ nghĩa nói chung, nhằm phân biệt họ với những người thuộc phái vô chính phủ (anarchism, anarchisme). 

Như chúng ta đã biết, Quốc tế I (First International, Première Internationale) [1] được thành lập vào ngày 28.9.1864, và đại hội đầu tiên diễn ra tại Geneva (Genève, Thuỵ Sĩ) vào năm 1866. Tố chức quốc tế này hoạt động cho đến năm 1872 thì bị tê liệt và bốn năm sau (1876) phải tự tuyên bố giải tán vì sự chia rẽ giữa hai phe: phe theo Marx và phe vô chính phủ theo Bakunin. 

Gần như đồng thời với Quốc tế I, thậm chí trước cả Quốc tế I, một số tổ chức chính trị của công nhân cũng lần lượt ra đời ở các nước châu Âu, nhất là tại Đức. Năm 1863, Ferdinand Lassalle (1825-1864) – người được coi là kiến trúc sư của phong trào công nhân Đức, đã sáng lập Tổng Hội Công nhân Đức (Allgemeiner Deutscher Arbeiterverein, General German Workers’ Union, Association générale allemande de travailleurs; viết tắt là ADAV). Tờ báo chính thức của ADAV lấy tên là Người Dân chủ – Xã hội (Der Social-Demokrat, The Social Democrat), xuất bản định kỳ ở Berlin mỗi tuần ba kỳ, kể từ cuối năm 1864 cho đến năm 1871. Trên tạp chí này có đăng một số văn bản quan trọng của Quốc tế I như bản dịch tiếng Đức của «Tuyên ngôn thành lập Hiệp hội Công nhân Quốc tế” – do chính tay Marx viết (được đăng trên số 2 và số 3 – ngày 21 và 30.12.1864) hoặc lá thư của Quốc tế I gửi Abraham Lincoln nhân dịp ông này tái đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ (đăng trên số 3 – ngày 30.12.1864). Trong bức thư này, Karl Marx gọi Abraham Lincoln là “người con vững như sắt thép của giai cấp công nhân”. 

Song song với sự phát triển của ADAV, một số tổ chức chính trị của công nhân cũng lần lượt hình thành ở vùng Saxony (Saxe, Sachsen) và miền Nam nước Đức. Những nhóm này chịu ảnh hưởng của Marx và tranh giành ảnh hưởng với phái Lassalle. Đến năm 1869, dưới sự lãnh đạo của August Bebel và Wilhelm Liebknecht, những nhóm này đã hợp nhất thành một đảng chính trị lấy tên là Đảng Công nhân Dân chủ – Xã hội (Sozialdemokratische Arbeiterpartei, Social Democratic Workers’ Party, Parti travailliste social-démocrate, viết tắt là SDAP) [2] . Sự chia rẽ giữa phái mác-xít và phái Lassalle kéo dài mãi đến năm 1875, khi hai tổ chức chính trị này hợp nhất với nhau trên cơ sở của một cương lĩnh mang tính thoả hiệp (cương lĩnh Gotha). Tổ chức hợp nhất này có tên gọi ban đầu là Đảng Công nhân Xã hội Chủ nghĩa (Sozialistische Arbeiterpartei, Socialist Workers’ Party, Parti ouvrier socialiste ; viết tắt là SAP). Năm 1890, đảng này đổi tên thành Đảng Dân chủ – Xã hội Đức (Sozialdemokratische Partei Deutschlands, Social Democratic Party of Germany, Parti social-démocrate d’Allemagne ; viết tắt là SPD) và giữ tên đó đến tận ngày nay. Năm 1875, tức là thời điểm hợp nhất giữa hai phái mác-xít và Lassalle, vẫn được coi là thời điểm thành lập đảng. 

Như vậy, danh xưng “dân chủ – xã hội” đồng nghĩa với danh xưng “xã hội chủ nghĩa”, được dùng để chỉ những người xã hội chủ nghĩa nói chung, chưa có sự phân biệt giữa dân chủ – xã hội và cộng sản như về sau này. 

Sự chia rẽ trong lòng Quốc tế II 

Karl Marx mất vào năm 1883. Sáu năm sau (1889), theo sáng kiến của các nhà xã hội chủ nghĩa và các nhà hoạt động công đoàn ở nhiều nước, Quốc tế II (Second International, Deuxième Internationale) được thành lập với sự kết hợp của các đảng xã hội chủ nghĩa và một số tổ chức công đoàn trên thế giới – chủ yếu là tại châu Âu [3] . Phái vô chính phủ bộc lộ sự bất đồng ý kiến ngay từ đầu, nhưng sau đại hội London (thủ đô Anh) năm 1896, bị loại bỏ hoàn toàn ra khỏi tổ chức quốc tế này. 

Về mặt tổ chức, Quốc tế II không phải là một tổ chức mang tính tập trung cao độ như Quốc tế I mà là một liên minh lỏng lẻo giữa các đảng chính trị và các tổ chức công đoàn ở nhiều quốc gia. Mãi đến 11 năm sau khi thành lập, tại Đại hội Paris (9.1900), một cơ quan chấp hành mới được hình thành lấy tên là Văn phòng Xã hội Chủ nghĩa Quốc tế [4] (International Socialist Bureau, Bureau Socialiste International), bao gồm đại biểu của các đảng xã hội chủ nghĩa ở tất cả các nước, với một bộ phận thường trực đóng tại Brussels (Bruxelles, thủ đô Bỉ). Trong thực tế, đây là một cơ quan liên lạc, phối hợp chứ không phải là một cơ quan chấp hành có uy quyền như Tổng Hội đồng (General Council, Conseil générale) của Quốc tế I. 

Về mặt lý thuyết, Quốc tế II chịu sự chi phối mạnh mẽ của chủ nghĩa Marx, mặc dù ảnh hưởng của nhiều trường phái tư tưởng phi-mácxít (như phái Lassalle, phái Fabian…) vẫn còn tồn tại trong lòng các đảng thành viên. Chưa đầy 10 năm sau khi thành lập, sau khi Engels mất, một vài cuộc tranh luận đã nổ ra trong lòng đảng SPD – chính đảng lớn nhất và quan trọng nhất của Quốc tế II. Đặc biệt gây sôi nổi là các luận điểm của Eduard Bernstein, một trong những lãnh tụ có uy tín của đảng vào lúc ấy, được mệnh danh là chủ nghĩa xét lại (revisionism, revisionisme). 

Như trên đã nói, đảng SPD là sự kết hợp mang tính thoả hiệp của hai phái: phái mác-xít và phái Lassalle. Sau khi thành lập không bao lâu thì đảng bị đàn áp bởi đạo luật chống những người xã hội chủ nghĩa do Thủ tướng Bismarck ban hành vào năm 1878. Sau khi đạo luật này bị bãi bỏ (1890), đảng SPD đã họp Đại hội tại Erfurt vào năm 1891 và sửa đổi lại cương lĩnh. So sánh cương lĩnh Erfurt năm 1891 với cương lĩnh Gotha năm 1875, chúng ta thấy rõ sự thắng thế của chủ nghĩa Marx so với tư tưởng của Lassalle. Điều này bắt nguồn từ sự đàn áp của chính quyền Bismarck trong hơn một thập niên trước đó, làm củng cố xu hướng cách mạng trong đảng. Trong hoàn cảnh đó, việc Bernstein đề xuất các luận điểm xét lại đã vấp phải những phản ứng không thuận lợi. Tại Đại hội Hanover (Hanovre, trong tiếng Đức là Hannover) họp vào tháng 10 năm 1899, các đại biểu đã dành ra 3 ngày rưỡi để thảo luận và sau cùng đi đến một nghị quyết bác bỏ các luận điểm của Bernstein. Karl Kautsky, nhà lý luận chính thống của đảng SPD lúc ấy, lên án Bernstein đã bỏ rơi các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội khoa học. Rosa Luxemburg, người tiêu biểu cho cánh tả của đảng SPD, người chủ trương cách mạng triệt để, còn dành hẳn một cuốn sách “Cải cách xã hội hay cách mạng?” để đấu tranh chống lại xu hướng xét lại. Mặc dù vậy, qua thực tế hoạt động, ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại ngày càng lớn mạnh trong lòng đảng SPD, hình thành nên phái hữu (phái cải cách) và đồng thời làm phát sinh phái tả (phái cách mạng) trong lòng đảng này nói riêng và trong toàn bộ phong trào xã hội chủ nghĩa nói chung. 

Mặc dù “cải cách” hay “cách mạng” mới là mâu thuẫn chủ yếu, sâu xa của Quốc tế II, cuộc xung đột lại bùng nổ qua một chủ đề khác. Đó là thái độ, lập trường của các nhà xã hội chủ nghĩa đối với chủ nghĩa quân phiệt và chiến tranh. 

Trước cuộc Chiến tranh Thế giới lần I, lập trường chung của Quốc tế II là ngăn ngừa một cuộc chiến tranh nổ ra trên toàn châu Âu. Tại Đại hội Stuttgart (1907), chiến tranh và chủ nghĩa quân phiệt đã trở thành chủ đề chính. Sau nhiều cuộc tranh cãi gay gắt, đa số đại biểu đã bác bỏ chủ trương tiến hành tổng đình công và nổi dậy do Gustave Hervé (đại biểu Pháp) đề xuất. Nghị quyết cuối cùng của Đại hội có thể tóm tắt trong hai điểm chính: (1) cần thiết phải ngăn ngừa chiến tranh bằng mọi cách và (2) trong trường hợp chiến tranh nổ ra, lợi dụng cuộc khủng hoảng tạo ra bởi chiến tranh để “đẩy nhanh sự sụp đổ của nền thống trị tư bản chủ nghĩa.” Điểm thứ hai chính là điều khoản sửa đổi bổ sung do cánh tả của Quốc tế (Lenin, Rosa Luxemburg, Clara Zetkin…) đề nghị. 

Nhưng thực tế diễn ra cho thấy “chủ nghĩa quốc tế vô sản” chỉ là sản phẩm của tư duy, không phù hợp với hiện thực. Hiện thực của thế kỷ XX cho thấy “quốc gia-dân tộc” chứ không phải “giai cấp” mới là nhân tố làm nền tảng cho các thực thể chính trị – xã hội, và hoà bình chỉ có thể thiết lập giữa các quốc gia chứ không phải giữa giai cấp vô sản các nước. 

Khi cuộc chiến tranh bắt đầu, trong hầu hết các quốc gia tham chiến, đặc biệt là hai nước Đức và Pháp, những người xã hội chủ nghĩa đã đứng về phía chính phủ, nghĩa là ủng hộ chiến tranh. Ngày 3.8.1914, khi biểu quyết , dtkin…mmoingân sách chiến tranh tại Quốc hội Đức (Reichstag), chỉ có một thiểu số (14/78) trong đảng đoàn của SPD giữ lập trường chống chiến tranh theo đúng nghị quyết của Quốc tế. Khi chiến tranh thật sự nổ ra, tuyệt đại đa số đại biểu SPD ngả sang lập trường ủng hộ chiến tranh, thậm chí đến đầu tháng 12 năm 1914, Karl Liebknecht trở thành đại biểu SPD duy nhất chống lại ngân sách chiến tranh. Karl Kautsky, Rosa Luxemburg và Franz Mehring phản đối chiến trạnh, nhưng lại không phải là đại biểu Quốc hội. Ngay cả Eduard Bernstein lúc đầu cũng đứng về phía ủng hộ chiến tranh, mãi về sau mới thay đổi ý kiến. Tại Pháp, đảng Xã hội Pháp (SFIO) [5] lúc đầu vẫn chủ trương hoà bình. Họ hy vọng đảng Đức sẽ tìm mọi cách ngăn ngừa cuộc chiến và cũng tin rằng chính phủ “tư sản” Pháp sẽ cố gắng tránh cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 1914, giữa lúc chiến tranh sắp bắt đầu, lãnh tụ Jean Jaurès của SFIO, một người tích cực chống chiến tranh, bị một phần tử cực hữu ám sát. Và khi chiến tranh thực sự bùng nổ, SFIO ủng hộ ngân sách chiến tranh và đồng ý tham gia vào chính phủ. Tình hình diễn ra tương tự tại nhiều nước khác (như Áo, Hung, Tiệp, Bỉ, Anh…). 

Tình hình đó làm cho Quốc tế bị rạn nứt, chia làm ba phái: phái hữu giữ lập trường yêu nước, đứng về phía quốc gia của mình để ủng hộ chiến tranh; phái trung dung bao gồm những người chống chiến tranh, tìm kiếm hoà bình (pacifism, pacifisme) và phái tả đứng trên lập trường quốc tế, chẳng những chống chiến tranh mà còn muốn biến chiến tranh thành cơ hội để tiến hành cách mạng. Trong thời kỳ đầu, phái ủng hộ chiến tranh chiếm đa số. Ngay cả một số người thuộc phái trung dung (như Kautsky chẳng hạn) tuy chống chiến tranh nhưng trong thời gian đầu cũng chưa muốn tách khỏi khối đa số. Trung thành với nghị quyết Stuttgart chỉ còn có phái tả, trong đó đáng kể nhất là nhóm “Quốc tế” (International Group) của Karl Liebknecht [6] và Rosa Luxemburg ở Đức và Lenin ở Nga. 

Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của trào lưu cộng sản 

Mặc dù cuộc Chiến tranh Thế giới là cơ hội làm bùng phát mâu thuẫn giữa các phe phái trong lòng Quốc tế II, nhưng chính mâu thuẫn giữa hai con đường cải cách và cách mạng mới thật sự làm tan vỡ tổ chức Quốc tế này. Địa bàn làm phát sinh mâu thuẫn lại không phải là Tây Âu, nơi Marx và Engels trông chờ cuộc cách mạng vô sản nổ ra, mà là nước Nga – nơi mà giai cấp vô sản yếu ớt bị chìm lỉm giữa một môi trường nông thôn rộng lớn và lạc hậu. 

Trong những năm cuối của triều đại Romanov, phần lớn các đảng chính trị có ảnh hưởng ở Nga đều xưng danh là đảng xã hội chủ nghĩa. Những người không chọn con đường xã hội chủ nghĩa là những người thuộc phái tự do (liberals). 

Giới tư sản và các trí thức theo chủ nghĩa tự do (liberalism, libéralisme) lúc đầu tập hợp trong một tổ chức có tên là Liên hiệp Giải phóng (Soyuz Osvobozhdeniya, Union of Liberation) – được thành lập vào tháng 1 năm 1904. Về sau, tổ chức này và một số trí thức khác có liên hệ với các hội đồng địa phương (zemstvos) đã hợp nhất với nhau để thành lập Đảng Dân chủ – Lập hiến (gọi tắt là K.D. hoặc Kadet[7] vào tháng 10 năm 1905. Đây là một tổ chức chính trị chủ trương một sự thay đổi cấp tiến ở Nga theo hướng tiến đến một chế độ quân chủ lập hiến tương tự như nước Anh. Kadet chiếm đa số tại Quốc hội (Duma) đầu tiên sau cuộc bầu cử năm 1906, nhưng trong những Duma tiếp theo, sức mạnh của đảng này bị suy giảm dần. Tính chất bảo thủ, chuyên chế của chế độ Sa hoàng, những khó khăn gây ra bởi cuộc Chiến tranh Thế giới I, và sự gia tăng của bầu khí cách mạng trong quần chúng cũng như tâm trạng lo âu của thời chiến đã làm cho quần chúng ngả dần sang các đảng cách mạng. Mặc dù vậy, sau Cách mạng Tháng hai năm 1917, Kadet vẫn là một trong những đảng nằm trong hàng ngũ cách mạng. Bốn thành viên trong nội các đầu tiên của Chính phủ Cách mạng Lâm thời là đảng viên Kadet. Mãi đến khi những người Bolshevik nắm được chính quyền, họ mới tuyên bố rằng Kadet là một tổ chức bất hợp pháp vào cuối năm 1917, và kể từ đó các hoạt động của đảng này chấm dứt trong nội địa nước Nga. 

Trong số các đảng tự xưng danh là xã hội chủ nghĩa, đảng có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong quần chúng là Đảng Xã hội – Cách mạng. Điều này có nguyên nhân từ ảnh hưởng của một trào lưu tư tưởng trong thế kỷ 19, được gọi là chủ nghĩa dân tuý (populism, populisme). Những người dân tuý (Narodniks, populists, populistes) cho rằng chủ nghĩa Marx không thể áp dụng được ở nước Nga nông dân, nơi mà giai cấp vô sản (giai cấp công nhân công nghiệp) hầu như không tồn tại. Aleksandr Herzen (1812-1870), nhà tư tưởng tiêu biểu cho chủ nghĩa dân tuý ở Nga, coi các công xã ở nông thôn là mầm mống của xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai và lập luận rằng nước Nga có thể bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để xây dựng một cộng đồng hợp tác dựa trên truyền thống làng xã. 

Trong thập niên 1870, hoạt động của phái dân tuý rộ lên, mà trung tâm là giới sinh viên đại học. Trong những năm 1873 và 1874, hàng trăm sinh viên – bao gồm cả nữ sinh viên, đã “đến với nhân dân” [8] bằng cách xâm nhập vùng quê, mặc quần áo nông dân, lao động cùng nông dân để tìm cách thức tỉnh nông dân bằng những bài diễn thuyết. Nhưng một mặt họ gặp phải sự thờ ơ của nông dân, mặt khác họ bị cảnh sát đàn áp. Một số nhà cách mạng trẻ bị kết án tù, và hàng trăm người bị đày đến những vùng đất xa xôi, thậm chí đến tận Siberia. Năm 1876, một đảng mới được thành lập lấy tên là Đất đai và và Tự do(Zemlia I Volia, Land and Freedom, Terre et Liberté). Một số thành viên của đảng này chủ trương ám sát các quan chức cao cấp để trả thù cho đồng đội bị ngược đãi và coi khủng bố là phương pháp để gây áp lực với chính quyền, buộc họ ban hành các quyền tự do theo kiểu phương Tây. Kinh nghiệm cũng cho họ thấy trong khi nông dân sống phân tán và thờ ơ với cách mạng thì công nhân ở các đô thị công nghiệp hoá trở thành đối tượng có nhiều hứa hẹn hơn. Một số nhóm khác không tán thành phương pháp ám sát, và tiếp tục tin vào nông dân hơn là công nhân, đồng thời cũng tỏ ra thờ ơ với cuộc đấu tranh để giành các quyền tự do chính trị. Năm 1879, đảng bị chia rẽ. Cánh có xu hướng chính trị và theo chủ nghĩa khủng bố lấy tên là Ý chí của Nhân dân (Narodnaïa Volia, People’s Will, Volonté du Peuple). Sau một vài dự án thất bại, cuối cùng họ cũng thành công trong việc ám sát Nga hoàng Alexander II vào ngày 1.3 năm 1881 (tức ngày 13.3 tính theo Lịch Mới). Các thủ lĩnh của nhóm bị bắt, và có 5 người trong số đó bị treo cổ. Cánh thứ hai có tên là Sự Tái phân phối Đen (Chorny Peredel, Black Repartition) tiếp tục hoạt động trong nông dân cho đến khi chuyển dần sự chú ý sang giai cấp vô sản thành thị trong thập niên 1880. 

Đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa dân tuý được tái sinh qua Đảng Xã hội – Cách mạng (Sotsialisty RevolyutsionerySocialist Revolutionary Party, gọi tắt là SR) – được thành lập vào năm 1901. Kế thừa chủ nghĩa dân tuý về mặt tư tưởng, đảng này đề ra chủ trương xã hội hoá ruộng đất và thành lập một chính quyền liên bang. Vào năm 1917, đảng này là nhóm xã hội chủ nghĩa đông nhất và có ảnh hưởng nhất ở Nga. Một số đảng viên SR nắm chức vụ cao trong Chính phủ Lâm thời sau Cách mạng Tháng Hai như Aleksandr Kerensky, Viktor Chernov, và trong cuộc bầu cử vào Quốc hội Lập hiến vào tháng 11 năm 1917, đảng này chiếm đến 410 ghế trong khi Đảng Bolshevik chỉ chiếm có 175 ghế. Mặc dù vậy, đảng này không đề ra được một đường lối có tính thuyết phục, lại bị chia rẽ nội bộ, và trong đảng vẫn luôn tồn tại một xu hướng muốn áp dụng các phương pháp khủng bố. Nhóm ly khai của đảng này, thường được gọi là những người Xã hội – Cách mạng cánh Tả (Left Socialist Revolutionaries) đã cộng tác với Đảng Bolshevik trong cuộc Cách mạng Tháng Mười và sau đó tham gia chính quyền xô-viết cho đến khi bị trục xuất bởi Đại hội Các Xô-viết lần thứ năm (tháng 7 năm 1918). Sau khi phe Bolshevik chiến thắng trong cuộc Nội Chiến, Đảng Bolshevik đã xoá bỏ hoàn toàn đảng Xã hội – Cách mạng. 

Đóng vai trò lịch sử quan trọng nhất ở Nga là những người xã hội chủ nghĩa mác-xít. Những người này tin rằng giai cấp công nhân là lực lượng chủ yếu của cách mạng. Họ thành lập nên Đảng Công nhân Dân chủ – Xã hội Nga [9] 

Đảng Công nhân Dân chủ – Xã hội Nga được thành lập chính thức vào năm 1898 tại thành phố Minsk (nay là thủ đô của Belarus [10] ) trên cơ sở hợp nhất nhiều tổ chức chính trị mác-xít đã có trước đó. Nhưng đại hội thành lập này gần như không có kết quả bởi vì không bao lâu sau khi thành lập, phần lớn các nhà lãnh đạo của đảng đều bị bắt. Mặt khác, tại đại hội thành lập, hàng loạt vấn đề (như cương lĩnh, điều lệ…) chưa được giải quyết. Đại hội lần thứ hai (tháng 7 – tháng 8 năm 1903) đã diễn ra tại hải ngoại [11] . Chính tại Đại hội này, bắt đầu có sự chia rẽ giữa hai quan điểm khác nhau. Cánh cấp tiến, đứng đầu là Lenin, chủ trương xây dựng một đảng hành động bao gồm những nhà cách mạng chuyên nghiệp, sử dụng mọi phương tiện để xây dựng cho bằng được một xã hội cộng sản. Ngược lại, những đối thủ của Lenin lại chủ trương kết nạp tất cả những ai tuyên bố tán thành những mục tiêu của đảng, không kể có trực tiếp tham gia hoạt động hay không. Mặc dù đại hội tán thành phương án thứ hai (do Martov đề xướng), nhưng khi biểu quyết một số vấn đề khác – như bầu ban biên tập báo Tia lửa (Iskra) hay bầu ban lãnh đạo, phe Lenin lại chiếm đa số, do phái Bund [12] bất ngờ rời bỏ đại hội. Từ đó phái theo Lenin được gọi làBolshevik (trong tiếng Nga có nghĩa là “đa số”) trong khi phe đối lập được gọi là Menshevik (trong tiếng Nga có nghĩa là “thiểu số”). Cách gọi tên được giữ mãi về sau, mặc dù trong thực tế, không phải lúc nào phe Bolshevik cũng là phe đa số trong phong trào cách mạng Nga. 

Kể từ sau khi cuộc Cách mạng năm 1905 thất bại, sự chia rẽ giữa hai phái càng ngày càng sâu sắc. Cả Menshevik lẫn Bolshevik đều đồng ý về sự cần thiết của một cuộc cách mạng, nhưng lại không đồng ý về phương pháp đấu tranh cách mạng. Khi Quốc hội (Duma) được thành lập như một sự nhượng bộ của Sa hoàng trước sức ép của quần chúng, những người Bolshevik chỉ coi đây là một diễn đàn để tuyên truyền trong khi phái Menshevik lại chủ trương cộng tác với các nhà chính trị “tư sản” trong quốc hội để hợp pháp hoá các quyền dân sự và sử dụng các quyền đó trong việc tổ chức công nhân, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn kế tiếp. Cuối cùng, vào năm 1912, Lenin đã quyết định triệu tập đại hội riêng của phái Bolshevik tại Prague (Tiệp Khắc). Kể từ đó, hai phái trở thành gần như hai đảng riêng biệt, có ban chấp hành và cơ quan ngôn luận riêng và tìm cách tranh giành ảnh hưởng trong giai cấp công nhân cũng như trong chính trường Nga nói chung. Điều đáng lưu ý là cả hai đảng đều giành lấy danh xưng cũ (Đảng Công nhân Dân chủ – Xã hội Nga). Đảng Bolshevik được gọi là Đảng Công nhân Dân chủ -Xã hội Bolshevik Nga (Russian Social Democratic (b) Worker’s Party) [13] . 

Cuộc Cách mạng Tháng Hai [14] năm 1917 nổ ra là kết quả của sự phối hợp giữa các lực lượng cánh tả với những phần tử tiến bộ trong giai cấp tư sản, tức là những người thuộc phái tự do (liberals). Khi Lenin, với sự giúp đỡ của chính phủ Đức, bí mật trở về Nga bằng con đường Thuỵ Điển – Phần Lan vào tháng 4 năm 1917, cả bốn đảng đều có mặt trên chính trường: đảng Kadet, đảng Xã hội – Cách mạng, đảng Menshevik và đảng Bolshevik. Trong khi chờ đợi bầu cử Quốc hội Lập hiến, quyền hành tạm thời được giao cho Chính phủ Lâm thời. Nhưng điều phức tạp là ở chỗ Chính phủ Lâm thời không nắm được trọn vẹn quyền lực, bởi vì trong cuộc Cách mạng Tháng Hai, ở Petrograd và một số thành phố lớn, công nhân và binh lính đã học tập kinh nghiệm của năm 1905 để bầu ra các xô-viết (Soviets, trong tiếng Nga có nghĩa là “hội đồng”). Trong số các xô-viết thì Xô-viết Petrograd có quyền lực mạnh hơn hết. Nhưng Xô-viết Petrograd lúc đó lại chịu ảnh hưởng của đảng Xã hội – Cách mạng và đảng Menshevik, do đó họ đã chấp thuận việc hình thành Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Như vậy là tồn tại hai quyền lực song song (dual power), và quyền lực thứ nhất (Chính phủ Lâm thời) sở dĩ tồn tại được là nhờ sự ủng hộ của quyền lực thứ hai (các xô-viết). 

Sự mâu thuẫn giữa Lenin và phái Menshevik tập trung vào hai vấn đề chính: (1) có tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa hay không? và (2) có tiếp tục chiến tranh hay không? 

Về vấn đề thứ nhất, tất cả các phái dân chủ – xã hội đều đồng ý với nhau về cuộc cách mạng hai giai đoạn (two-stage revolution), như đã được George Plekhanov trình bày trong tác phẩm“Chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chính trị” (Socialism and Political Struggle) xuất bản vào năm 1883 và một số tác phẩm khác. Theo Plekhanov, nước Nga bị lôi cuốn vào một sự phát triển tư bản chủ nghĩa; sự phát triển này làm thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội cũ và tạo điều kiện cho việc lật đổ chế độ chuyên chế của Nga hoàng và thiết lập một chế độ dân chủ tư sản (bourgeois-democratic regime). Do đó, những người mác-xít phải tổ chức giai cấp công nhân công nghiệp còn non trẻ để đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế. Sau khi lật đổ được chế độ Sa hoàng, sự phát triển hơn nữa của chủ nghĩa tư bản sẽ làm cho số lượng công nhân tăng lên gấp bội và khi đó, dưới sự lãnh đạo của một đảng dân chủ – xã hội, giai cấp công nhân sẽ tự giải phóng mình bằng một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn phát sinh kể từ khi Lenin cho rằng ở nước Nga, nơi mà giai cấp tư sản còn yếu đuối, cuộc cách mạng có thể phối hợp cả hai giai đoạn “tư sản” và “vô sản” bằng cách lôi kéo giai cấp nông dân thành đồng minh của giai cấp công nhân. Ông còn tiến tới gần quan điểm của Leon Trotsky về một cuộc “cách mạng không ngừng” khi cho rằng cuộc cách mạng sắp nổ ra ở Nga, “khâu yếu nhất” của chủ nghĩa đế quốc trên thế giới, và cách mạng Nga sẽ châm ngòi cho một cuộc cách mạng toàn cầu. 

Như vậy, lập trường của Plekhanov và của phái Menshevik là chưa vội tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trong khi Lenin lại nôn nóng tiến hành ngay cuộc cách mạng thứ hai. Đó là lý do Lenin đánh giá tất cả các đảng “chần chừ’ không chịu làm cách mạng xã hội chủ nghĩa là “cơ hội”, là “thoả hiệp với giai cấp tư sản”, là “phản bội lợi ích của giai cấp công nhân” và tìm cách loại bỏ họ ra khỏi chính trường. 

Vấn đề thứ hai gây mâu thuẫn là lập trường đối với cuộc chiến tranh. Vào lúc nổ ra cuộc chiến tranh, tất cả các đại biểu dân chủ -xã hội tại Duma – kể cả Bolshevik và Menshevik, đều phản đối chiến tranh bằng cách bỏ phòng họp đi ra, không tham gia biểu quyết. Riêng Plekhanov, lúc đó sang sống lưu vong, lại ủng hộ chiến tranh, vì ông cho rằng chiến thắng của phe Đức sẽ là một thảm hoạ đối với nước Nga. Trong quá trình chiến tranh tiếp diễn, phái Menshevik chuyển sang lập trường ủng hộ chiến tranh như phái đa số trong Quốc tế II. Chỉ có Lenin là trước sau như một trung thành với lập trường chống chiến tranh vì ông cho đây là cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, không đáng được ủng hộ. 

Tình hình càng trở nên phức tạp sau cuộc Cách mạng Tháng Hai năm 1917, vì lúc này chế độ Sa hoàng sụp đổ, chính quyền mới là chính quyền “cách mạng”. Phần lớn các đảng cách mạng – kể cả những người Bolshevik đang hoạt động trong nước, đều ủng hộ Chính phủ Lâm thời tiếp tục cuộc chiến tranh. Chỉ riêng có Lenin là kiên trì lập trường của mình, vì ông muốn lợi dụng chiêu bài “hoà bình” để lật đổ Chính phủ Lâm thời, đồng thời qua chiêu bài “hoà bình” kêu gọi phe xã hội chủ nghĩa trên thế giới – nhất là ở Đức, lật đổ các chính quyền “tư sản” để làm cách mạng thế giới. 

Diễn biến của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã chứng minh sự khôn khéo và các thủ đoạn chính trị tài tình của Lenin. Ông đã biết lợi dụng những nhu cấu bức thiết của nhân dân Nga (ruộng đất cho người nông dân, hoà bình bằng bất cứ giá nào, bánh mì cho người dân đang đói khổ…) để khích động quần chúng chống lại Chính phủ Lâm thời. Từ một đảng thiểu số kể cả trong các xô-viết, đảng Bolshevik dần dần mở rộng ảnh hưởng và biến khẩu hiệu “tất cả quyền lực về tay các xô-viết” thành một khẩu hiệu lật đổ. Khi Chính phủ Lâm thời chuyển sang áp dụng các biện pháp cứng rắn để đối phó với tình hình biến động, đảng Bolshevik rút vào hoạt động bí mật và thông qua các xô-viết để tiến hành cuộc “cách mạng lần thứ hai”, lật đổ chính cái chính phủ “cách mạng” mà họ mới vừa lập ra trước đó hơn nửa năm. 

Như chúng ta đã biết, bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười [15] , đảng Bolshevik đã tước quyền của Chính phủ Lâm thời và chuyển giao quyền lực cho Hội đồng Dân uỷ (Council of People’s Commissars, Conseil des Commissaires du Peuple) – một tổ chức hoàn toàn do phái Bolshevik kiểm soát. Tháng 3 năm 1918, đảng Dân chủ – Xã hội (Bolshevik) Nga được đổi tên thành Đảng cộng sản (Bolshevik) Nga. Kể từ tháng 7 năm 1918, tất cả các đảng phái khác đều bị cấm hoạt động. Chuyên chính vô sản được thành lập ở nước Nga. 

Nhưng Cách mạng Tháng Mười nổ ra thành công là phúc hay hoạ cho nước Nga? Chúng ta hãy nghe nhận định của George Plekhanov, người thường được coi là “người thầy của chủ nghĩa Marx ở Nga”. Là một người sống lưu vong lâu năm, ngay khi nghe tin cuộc Cách mạng Tháng Hai thành công, Plekhanov đã tìm cách trở về tổ quốc. Khi được biết phe Bolshevik chủ trương tiến hành cuộc cách mạng “giai đoạn hai”, ông tìm mọi cách để ngăn cản, nhưng không thành công. Vào ngày 28.10.1917, nghĩa là chỉ hơn một tuần trước ngày nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Mười, Plekhanov gửi một lá thư ngỏ cho các công nhân ở thủ đô Petrograd, trong đó có đoạn : 

“Lý do khiến cho những biến cố trong những ngày qua làm tôi đau lòng không phải bởi vì tôi không muốn thấy lý tưởng của giai cấp công nhân giành được chiến thắng, mà ngược lại, chính bởi vì, bằng tất cả sinh mạng của mình, tôi mong muốn sự chiến thắng của giai cấp công nhân. Những thành phần có ý thức nhất trong giai cấp công nhân của chúng ta phải tự hỏi: giai cấp vô sản của chúng ta đã sẵn sàng để công bố một nền chuyên chính hay chưa? Bất cứ người nào đã có một sự hiểu biết ít nhiều về những điều kiện kinh tế cần thiết để thiết lập nền chuyên chính vô sản đều không ngần ngại trả lời “không” cho câu hỏi này. 

Không, giai cấp công nhân của chúng ta còn xa mới nắm được quyền lực chính trị với lợi thế thuộc về nó nói riêng và về cả đất nước nói chung. Gán ghép một quyền lực như thế cho nó có nghĩa là đẩy nó đến một thảm hoạ lịch sử to lớn (a great historical calamity), một thảm hoạ sẽ là bi kịch lớn nhất (the greatest tragedy) cho toàn thể nước Nga. 

Người ta nói rằng công nhân Nga sẽ bắt đầu và công nhân Đức sẽ kết thúc. Điều chắc chắn là xét về phương diện kinh tế, nước Đức phát triển hơn nhiều so với nước Nga. Cuộc cách mạng xã hội ở Đức gần hơn là cuộc cách mạng ở Nga. Nhưng ngay cả đối với những người Đức, cuộc cách mạng vẫn chưa được đặt ra trong chương trình nghị sự. 

Điều đó có nghĩa là người Đức sẽ không hoàn thành cái mà người Nga đã bắt đầu, và cả người Pháp, người Anh hay người Mỹ cũng vậy. Bằng cách nắm chính quyền vào lúc này, giai cấp vô sản Nga sẽ không hoàn thành một cuộc cách mạng xã hội. Nó chỉ đem lại cuộc nội chiến, cuộc nội chiến đó cuối cùng sẽ đem lại một bước thoái bộ so với những vị trí đã đạt được vào tháng Hai hay tháng Ba năm nay”. [16] 

Ngày nay, sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tại nước Nga cũng như tại Đông Âu, đọc lại lời cảnh báo này, chúng ta thấy Plekhanov quả thật là sáng suốt! Đáng tiếc là người đã từng tự nhận là học trò của ông giờ đây đã trở nên cao ngạo, bởi tham vọng ngất trời và lòng cuồng tín vào những giáo điều của Marx! Tiếng nói của Plekhanov trở nên lạc lõng giữa một đám đông đang say sưa “làm lịch sử” với lòng tin ngây thơ rằng mình đang làm những người lính tiên phong cho cả nhân loại. Tệ hơn nữa, những chỉ trích của ông đối với chính quyền cách mạng lại bị hiểu lầm. Dưới con mắt của một vài Cận vệ Đỏ quá nhiệt tình, “người thầy của chủ nghĩa Marx ở Nga” được đánh giá là “kẻ thù của nhân dân”. Bị xúc phạm, ông rời bỏ Tổ quốc và sau đó ít lâu, qua đời vì bệnh lao ở Phần Lan. 

Cũng cần nói thêm là Plekhanov vốn là một người mác-xít chính thống. Không giống như Hjalmar Branting ở Thuỵ Điển, ông sớm bác bỏ chủ nghĩa xét lại của Bernstein. Là một người “cách mạng”, ông tin vào con đường cách mạng vô sản. Sự khác biệt giữa ông và Lenin là ở chỗ do sống lâu năm ở phương Tây, ông nhìn thấy rõ tình hình phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa và không có chút ảo tưởng nào về một cuộc cách mạng vô sản sắp nổ ra. 

Cách mạng ở Đức và sự thất bại của những người cộng sản Đức 

Đúng như lời tiên đoán của Plekhanov, sau khi cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra, nước Nga rơi vào nội chiến. Mặc dù vậy, Lenin vẫn còn hy vọng vào việc cách mạng sẽ nổ ra ở Đức. Trong thực tế tình hình của nước Đức lại phù hợp với những nhận định của Plekhanov hơn là những nhận định của Lenin. 

Cũng tương tự như cuộc Cách mạng Nga năm 1917, cuộc Cách mạng Đức năm 1918 diễn ra trong bối cảnh nước Đức đang phải gánh chịu những hậu quả tai hại của cuộc Chiến tranh Thế giới I. Mặc dù giành được chiến thắng đối với quân Nga trên mặt trận phía đông, quân Đức bị cầm chân trên mặt trận phía Tây, không thể chiếm đóng được nước Pháp như đã dự tính. Tháng 4 năm 1918, Tướng Erich Ludendorff[17] quyết định mở một cuộc tấn công lớn, với hy vọng cứu vãn tình hình cho đế chế Đức, mặc dù vẫn còn khoảng 1 triệu quân kẹt lại ở phía đông để buộc chính quyền cách mạng của Lenin thi hành hiệp ước Brest-Litovsk. Cuộc tấn công của Ludendorff đã chọc thủng được phòng tuyến phía Tây nhưng hậu quả của những năm chiến tranh tiêu hao đã khiến cho quân Đức không còn đủ dự trữ để phát huy triệt để thắng lợi đã đạt được. Với sự hỗ trợ của 1 triệu quân Hoa Kỳ còn đang sung sức, quân Đồng minh đã phản công một cách có hiệu quả. Ngày 8.8, quân Đức chịu một thất bại nghiêm trọng ở miền bắc nước Pháp. Hoàng đế William II (Guillaume II, tên tiếng Đức là Wilhelm II) nhượng bộ các lực lượng dân chủ bằng cách thành lập một chính phủ có xu hướng tự do hơn, đứng đầu là Hoàng thân Max von Baden, trong đó có hai thành viên là đảng viên SPD. Chính phủ mới bắt đầu các cuộc thương lượng để tìm hoà bình, nhưng trước khi các cuộc thương thuyết bắt đầu, cách mạng đã nổ ra bằng cuộc binh biến trong hải quân Đức, sau đó lan rộng ra toàn bộ quân đội và cả trong giai cấp công nhân. 

Từ ngày 29.10 đến ngày 3.11.1918, 40 ngàn thuỷ thủ và lính hải quân ở cảng Kiel đã chiếm cảng để chống lại lệnh của bộ chỉ huy định đưa lực lượng hải quân ra giao chiến với Hải quân Hoàng gia Anh, vì họ cho rằng cuộc tấn công trong tình thế tuyệt vọng này là một “hành động tự sát”. Khoảng ngày 8.11, công nhân và binh sĩ đã thành lập các “hội đồng” (Räte) kiểm soát được phần lớn các thành phố ở Đức, tạo điều kiện để thành lập một nước Cộng hoà Hội đồng (Räterepublik, Council Republic) theo kiểu chính quyền xô-viết ở Nga vào năm 1917. Hoàng đế buộc phải thoái vị vào ngày 9.11.1918, chạy trốn sang Hà Lan, chấm dứt nền quân chủ của nước Đức mặc dù vào lúc này hậu thuẫn của hoàng gia vẫn còn rất mạnh, đặc biệt là trong các giai cấp thượng lưu và trung lưu. Lo sợ trước viễn cảnh của một cuộc cách mạng vô sản, Baden đã đề nghị Friedrich Ebert, lãnh đạo của phái đa số đảng SPD, đứng ra thành lập chính phủ. 

Từ trước chiến tranh, đảng SPD đã trở thành một đảng mạnh, giành được thắng lợi ngày càng lớn trong các cuộc bầu cử. Năm 1912, đảng đã giành được 34,8% số phiếu bầu với 110 trên tổng số 397 ghế trong Quốc hội (Reichstag). Nhưng trong quá trình diễn biến của cuộc chiến tranh, đảng ngày càng bị chia rẽ. Do lập trường chống chiến tranh, một nhóm đối lập đã dần dần hình thành trong lòng đảng SPD; điều này được phản ánh qua sự kiện số đại biểu SPD biểu quyết chống ngân sách chiến tranh ngày càng tăng lên. Đầu năm 1916, nhóm của Rosa Luxemburg và Karl Liebknecht quyết định phát hành một tờ báo bí mật lấy tên là Spartacus (theo tên của người nô lệ nổi loạn dưới thời đế quốc La Mã); từ đó nhóm này được gọi là nhóm Spartacus (Spartacists hay Spartacus Group). Tháng 4 năm 1917, nghĩa là sau khi Cuộc Cách mạng Tháng Hai nổ ra ở Nga, nhóm đối lập chống chiến tranh tách khỏi SPD để thành lập Đảng Dân chủ – Xã hội Độc lập (Unabhängige Sozialdemokratische Partei Deutschlands; Independent Social Democratic Party, viết tắt là USPD). Tham gia đảng này có cả những người theo xu hướng cải cách như Karl Kautsky, Eduard Bernstein lẫn những người theo xu hướng cách mạng như nhóm Spartacus. Nhóm Spartacus gia nhập vào đảng này nhưng vẫn giữ tư thế như một bộ phận độc lập trong lòng đảng mới. 

Như vậy trong thực tế Đảng SPD bị chia làm ba phái: cánh hữu do Friedrich Ebert lãnh đạo, cánh trung dung của Kautsky và Bernstein và cánh tả của Rosa Luxemburg và Karl Liebknecht. Do cánh hữu chiếm đa số nên phái này còn được gọi là Những người Dân chủ – Xã hội Đa số (Majority Socialists) hoặc Đảng SPD Đa số (MSPD), để phân biệt với Những người Xã hội chủ nghĩa Độc lập (Independent Socialists) hay Đảng SPD Độc lập (USPD). 

Khi đảm nhận vai trò tổ chức chính quyền mới, Ebert phải đối diện với một tình trạng bấp bênh, những nguy hiểm đe doạ ngày càng tăng trên toàn lãnh thổ. Bốn năm rưỡi chiến tranh đã đem lại tâm lý bất mãn trong nhân dân, làm giảm uy tín của đế chế cũng như của hoàng tộc. Thiếu hụt lương thực và nhiên liệu đã khiến cho dân chúng dễ bị tổn thương bởi nạn dịch cúm đang hoành hành châu Âu. Ngày 8.11, Vua Louis III ở Bavaria [18] phải thoái vị và Đảng USPD tuyên bố thành lập nền cộng hoà “hội đồng” ở Munich. Các cảng biển dọc Biển Bắc và Biển Baltic rơi vào tay các Hội đồng của Thuỷ thủ, Binh sĩ và Công nhân – theo gương cuộc nổi dậy của hải quân ở Kiel. 

Đối với các nhà sử học, nền cộng hoà được công bố vào buổi chiều ngày thứ bảy 9.11.1918, thật sự là một nền “cộng hoà ngẫu nhiên”. Bởi vì khi Friedrich Ebert chấp nhận quyền thủ tướng của đế chế từ tay Max von Baden, ông có dự định chuyển hoá chế độ quân chủ thành một một nền quân chủ lập hiến. Thế nhưng đúng vào lúc Ebert nhận chức Thủ tướng Đức tại toà nhà Quốc hội vào ngày 9.11. thì cách đó khoảng một dặm Anh, trong một cuộc mít-tinh tập hợp những người ủng hộ nhóm Spartacus phía trước Cung điện Hoàng gia, Karl Liebknecht lại tuyên bố thành lập một nước Cộng hoà Hội đồng (Räterepublik). Được trang bị trong đầu một kịch bản mang nặng tính ý thức hệ, Liebknecht nuôi tham vọng trở thành Lenin của nước Đức. Khi một đám đông cuồng nộ tập hợp trước toà nhà Quốc hội, Ebert lại vừa rời khỏi nơi đây, chỉ còn lại người phụ tá là Philipp Scheidemann. Để đề phòng phe đảng của Liebknecht chớp thời cơ, Scheidemann trong khi phát biểu trước đám đông đã sử dụng câu “Nước Cộng hoà Đức muôn năm!”. Khi nghe được tin này, Ebert nổi giận bởi vì điều này nằm ngoài dự tính của ông. Nhưng lời tuyên bố ấy không thể rút lại được, Ebert đành phải bỏ kế hoạch thành lập chế độ quân chủ lập hiến. 

Ngày 10.11, một cuộc họp liên tịch của Hội đồng Công nhân và Binh sĩ thành phố Berlin đã quyết định công nhận một Hội đồng Uỷ viên Nhân dân (tức chính phủ lâm thời) bao gồm ba uỷ viên của SPD (trong đó có Ebert và Sheidemann) và ba uỷ viên của USPD. Đó là kết quả của sự thương lượng giữa Ebert và ban lãnh đạo của USPD. Về phía USPD, mặc dù lập trường của họ không cấp tiến như nhóm Spartacus, họ vẫn giữ quan điểm về một nước “Cộng hoà Hội đồng” (Räterepublik). USPD hy vọng rằng trong những tuần lễ tiếp theo, công nhân và binh lính sẽ bầu ra vô số các “hội đồng” trên khắp đất nước; các hội đồng này sẽ đảm nhiệm việc thành lập một nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa “chân chính”. Trong khi đó, Ebert vẫn hy vọng cuộc bầu cử quốc hội lập hiến trong tương lai sẽ dẫn đến việc thành lập một nước cộng hoà dân chủ ôn hoà. 

Mặt khác, trong một cuộc điện đàm với với Wilhelm Groener, đại diện của quân đội Đức vào đêm 9.11, Ebert đã thoả thuận với Groener về những điều khoản để ngừng bắn. Groener đồng ý ký quyết định đình chiến để tạo điều kiện quân đội có thể trở về tham gia ổn định tình hình. Một lãnh đạo dân sự – Matthias Erzberger thuộc Đảng Trung Tâm (Centre Party), đã ký hiệp ước đình chiến, có hiệu lực kể từ ngày 11.11.1918. 

Về phía nhóm Spartacus, các hoạt động để chuẩn bị cho hành động cách mạng ngày càng gia tăng. Khoảng 11.11, nhóm Spartacus công khai thành lập Liên đoàn Spartacus [19] và mở các cuộc thương lượng với USPD và Ban Đại diện Công nhân Cách mạng (Revolutionäre Obleute, The Revolutionary Shop Stewards) – một tổ chức công đoàn ly khai hình thành từ đầu năm 1918. 

Lập trường của SPD và của nhóm Spartacus khác nhau về căn bản. Mục tiêu của Ebert, Scheidemann và các nhà lãnh đạo SPD khác là tái lập trật tự và luật pháp càng nhanh càng tốt. Họ tìm cách thiết lập một Quốc hội Lập hiến. Trong khi đó, nhóm Spartacus lại coi các “Hội đồng” của công nhân và binh sĩ mới là nền tảng đích thực của một nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa của công nhân. Họ tố cáo các lãnh tụ của SPD là “những đặc vụ giấu mặt của giai cấp tư sản” bởi vì những người này ủng hộ cho việc thành lập quốc hội. Rosa Luxemburg gọi quốc hội là một “sự chệch hướng hèn nhát” (cowardly detour) và là “một cái vỏ rỗng” (an empty shell). Các phần tử cực tả trong nhóm Spartacus còn gọi SPD là “những phần tử phản cách mạng”. Khẩu hiệu của nhóm Spartacus là “Huỷ bỏ quốc hội và chuyển giao toàn bộ quyền lực cho các hội đồng công nhân và binh sĩ!” Về phía các lãnh tụ của phái cải cách, họ tố cáo những người thuộc phái Spartacus là “những kẻ khủng bố”, “phản dân chủ”… [20] 

Đại hội Toàn quốc của các Hội đồng Công nhân và Binh sĩ (họp từ ngày 16 đến 20.12.1918) đã ủng hộ mạnh mẽ việc thành lập Quốc hội và quyết định tổ chức bầu cử vào ngày 19.1. Kế hoạch của Ebert đã có được hậu thuẫn vững chắc. 

Trong những ngày cuối tháng 12, tình hình ngày càng căng thẳng. Phía USPD rút khỏi chính phủ lâm thời vì không đạt được mục tiêu thành lập nước Cộng hoà Hội đồng. SPD thay thế các ghế bỏ trống bằng các đảng viên của họ, trong số đó có Gustav Noske, người sau này đảm nhiệm chức Uỷ viên phụ trách Quốc phòng và đóng vai trò tích cực trong việc đàn áp cuộc nổi dậy của những người cộng sản. Trong khi đó, được sự cổ vũ của Đảng Bolshevik Nga, Liên đoàn Spartacus quyết định chuyển từ một tổ chức lỏng lẻo thành một đảng cộng sản tập trung chỉ huy. Trước hết nhóm Spartacus ra tối hậu thư cho USPD, yêu cầu đảng này tổ chức một đại hội bất thường để thảo luận về tình hình mới. Bị bác bỏ, nhóm Spartacus triệu tập hội nghị riêng vào 29.12 để thành lập Đảng Cộng sản Đức (KPD) [21] . Xu hướng cực tả tràn ngập đại hội. Mặc dù có sự khuyến cáo của Rosa Luxemburg, đại hội đã biểu quyết tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến với 62 phiếu thuận, 23 phiếu chống. Phát biểu tại đại hội, Otto Ruehle nói : “Chúng ta phải kích thích liên tục những chính sách sinh động của đường phố… nhiệm vụ của chúng ta là cố gắng phá vỡ (Quốc hội).” Mặt khác, tại Đại hội cũng vang lên những ý kiến chống đối các công đoàn chính thức. Nhiều đảng viên của đảng cộng sản mới thành lập đã không biết rằng quần chúng công nhân ngày càng đến với các công đoàn. Số đoàn viên công đoàn tăng lên nhanh chóng: trước cuộc Cách mạng tháng 11, chỉ có 1,5 triệu đoàn viên công đoàn, cuối tháng 12 năm 1918, số đoàn viên công đoàn tăng lên đến 2,2 triệu. [22] 

Cuộc nổi dậy của phái Spartacus diễn ra trong bối cảnh đó. Lo ngại cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến (dự định tổ chức vào ngày 19.1) sẽ giúp Ebert ổn định được tình hình, Liebknecht quyết định nổi dậy vào ngày 6.1.1919. Nhóm Spartacus (nay trở thành Đảng cộng sản Đức) đã khởi động những cuộc biểu tình lớn ở Berlin, nhanh chóng nắm lấy các vị trí then chốt và các trung tâm liên lạc. 

Nhưng những biến cố của “Tuần lễ Spartacus” đã chứng minh rằng nước Đức chưa đủ chín muồi cho một cuộc cách mạng vô sản như những người lãnh đạo phái tả hằng tin tưởng. Đúng như Luxemburg đã lo sợ, sự ủng hộ đối với chủ nghĩa cộng sản chưa thật sự hiện hữu trong lòng công nhân Đức; thay vào đó, phần lớn công nhân còn trung thành với phái Độc lập (USPD) hay với cái nhìn ôn hoà hơn và dân chủ hơn của phái Đa số (SPD). Hơn thế nữa, Quân đội Đức đã phục hồi được dũng khí của họ và quyết định ngăn ngừa một bước chuyển hơn nữa về phía tả. Vào tháng 12 năm 1918, quân đội đã bắt đầu huấn luyện một cách bí mật những đơn vị nhỏ được gọi là Đội quân Tự do (Freikorps, Free Corps). Đội quân tình nguyện này trong những năm kế tiếp đã đi lang thang khắp đất nước, tìm kiếm các phần tử cách mạng để đàn áp. Cuộc nổi dậy Spartacus bị hạn chế ở Berlin, bị dập tắt trong vòng một tuần lễ bởi khoảng 3.000 thành viên của Freikorps. Khi Liebknecht và Luxemburg bị bắt vào ngày 15 tháng 1, cả hai bị bắn không xét xử theo quyết định của các sĩ quan Freikorps. Mặc dù các hoạt động cách mạng rải rác còn tiếp tục ở các nơi khác trên nước Đức trong những tháng kế tiếp, sự thất bại ở Berlin đã đánh dấu sự sụp đổ của nó một cách rõ ràng. Nền cộng hoà “xô-viết” ở Bavaria được thành lập vào ngày 4.4.1919 cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi; các đơn vị Freikorps đã đánh đổ nó vào khoảng cuối tháng. 

Cuộc bầu cử vào ngày 19.1.1919 – cuộc bầu cử đầu tiên ở Đức trong đó phụ nữ được hưởng quyền bầu cử – đã đem lại một chiến thắng vang dội cho quan niệm dân chủ của Ebert. Ba phần tư cử tri đã bỏ phiếu ủng hộ cho các đảng chủ trương chuyển nước Đức sang một chế độ dân chủ. [23] Cuộc bầu cử này cũng xác nhận sự tín nhiệm của cử tri đối với phái đa số của đảng SPD: SPD đạt 37,9 % trong khi USPD đạt 7,4 % số phiếu. Sau những tháng rối loạn, nước Đức trở thành một nước cộng hoà dân chủ. Quốc hội lập hiến bắt đầu các cuộc bàn cãi vào ngày 6.2.1919, chọn chỗ họp là Weimar, một thành phố nhỏ được coi là ít bị ảnh hưởng của xu hướng chính trị cấp tiến hơn là Berlin. Ebert, lãnh tụ phái đa số của SPD, được bầu làm Tổng thống nước Cộng hoà. 

Quốc hội Weimar đã dự thảo một bản Hiến pháp (chính thức ban hành ngày 11.8.1919), theo đó, nước Đức là một nước cộng hoà liên bang bao gồm 19 bang. [24] Hiến pháp Weimar quy định một Tổng thống do nhân dân bầu ra, người này được giao quyền lực đáng kể về chính sách ngoại giao và lực lượng vũ trang. Điều 48 đem lại cho Tổng thống quyền ban hành sắc lệnh trong trường hợp khẩn cấp nhằm bảo vệ nền cộng hoà trước các cuộc khủng hoảng gây ra bởi các kẻ thù từ phía tả cũng như phía hữu. Tổng thống có quyền bổ nhiệm thủ tướng, nhưng chính phủ do thủ tướng thành lập phải được sự tin cậy của Hạ viện (Reichstag), được bầu ra bởi đầu phiếu phổ thông thông qua một hệ thống đại diện căn cứ theo tỷ lệ. Trong trường hợp chính phủ không được quốc hội tín nhiệm, tổng thống có thể yêu cầu người khác thành lập chính phủ hoặc tiến hành bầu cử lại quốc hội. Quốc hội còn có một Thượng viện (Reichsrat) bao gồm các đại biểu được chỉ định bởi chính quyền các bang (Länder) trong liên bang, nhưng quyền lực trong thực tế tập trung ở Hạ viện, do đó khi nói đến Quốc hội, người ta thường nghĩ đến Hạ viện (Reichstag[25] . 

Như vậy là ở nước Đức, cuộc cách mạng “giai đoạn một” (theo cách gọi của Plekhanov) đã nổ ra, nhưng cuộc cách mạng “giai đoạn hai” (tức là cách mạng vô sản) đã thất bại. Dự đoán của Marx – và sau đó của Lenin- về một cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới đã không được chứng thực. 

Nền Cộng hoà Weimar và lý do sụp đổ của nó

Trong thực tế, nền Cộng hoà Weimar chính là kết quả của một sự nhượng bộ của giai cấp quý tộc – địa chủ (junker) đối với những đòi hỏi của quần chúng. Do thất bại về quân sự, trước sức ép của phong trào chống chiến tranh và nguy cơ của một cuộc “cách mạng” kiểu bolshevik, họ buộc phải nhường chính quyền lại cho một đảng cánh tả có xu hướng ôn hoà (SPD). Sự tồn tại của chế độ dân chủ có được là nhờ sự liên kết giữa SPD với các đảng thuộc phái giữa (trung dung) – đại diện cho các tầng lớp trung lưu trong xã hội như : Đảng Trung tâm, Đảng Dân chủ và ở một mức độ lỏng lẻo hơn, với Đảng Nhân dân. 

Nhưng Đảng Dân chủ – Xã hội Đức (SPD) – thành phần nòng cốt của nền Cộng hoà Weimar, đã bị tổn thương trầm trọng, do sự chia rẽ trong phong trào công nhân. Trong cuộc bầu cử quốc hội lần đầu tiên (tháng 6 năm 1920), đảng SPD bị mất rất nhiều phiếu vì một số công nhân chạy sang phía cực tả. Số phiếu bầu cho SPD chỉ còn 21,7 %. Từ sau thất bại này cho đến năm 1928, đảng SPD không tham gia chính phủ hoặc chỉ tham gia với tư cách thành viên của một chính phủ liên minh do đảng khác lãnh đạo. Mãi đến tháng 5 năm 1928, đảng SPD mới giành lại được vị trí hàng đầu. Trong cuộc bầu cử này, số ghế của SPD trong Quốc hội tăng từ 135 lên 153, số phiếu bầu lên đến 9,1 triệu phiếu; đảng Nhân dân (DVP) chiếm vị trí thứ hai với 86 ghế. Hermann Müller được cử làm Thủ tướng, cùng với Đảng Nhân dân và một số đảng trung dung khác thành lập một chính phủ liên minh. Chính phủ này đã giải quyết được một số việc, nhất là điều đình với Đồng minh để giảm bớt gánh nặng bồi thường chiến tranh và tiến hành Kế hoạch Young, nhận các khoản cho vay từ Hoa Kỳ để phát triển kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 đã tác động mạnh mẽ vào nước Đức, giữa đảng SPD (đại diện cho lao động) và đảng Nhân dân (đại diện cho giới chủ) bất đồng ý kiến với nhau về chính sách trợ cấp thất nghiệp, liên minh bị tan rã, Müller phải từ chức vào ngày 27.3.1930. Kể từ đó cho đến khi nền cộng hoà sụp đổ, Đảng SPD không còn tham gia chính phủ nào nữa. 

Mặc dù cho đến giờ phút cuối, đảng SPD vẫn một lòng bảo vệ chế độ dân chủ và nền cộng hoà nhưng từ cuối thập niên 1920 – đầu thập niên 1930, đảng này ngày càng tỏ ra thiếu kiên quyết, phản ứng kém nhậy bén trước những tình huống phức tạp. Ngày 20.7.1932, vừa lên nắm quyền, để lấy lòng đảng Nazi, Papen (Thủ tướng Liên bang) đã dùng vũ lực giải thế chính phủ hợp hiến của Otto Braun (Thủ tướng của bang Phổ, Prussia). Phản ứng của SPD trong việc này rất yếu ớt, mặc dù Otto Braun là một lãnh tụ có uy tín của SPD trong khi bang Phổ là một căn cứ địa lâu năm của SPD và là pháo đài chống phát-xít cuối cùng ở Đức. Phản ứng này thể hiện sự bạc nhược của SPD, có tác dụng khuyến khích các phần tử cực hữu (nhất là Hitler và phe đảng) sử dụng các biện pháp táo bạo hơn nữa trong việc khai tử nền cộng hoà. Khủng hoảng về lãnh đạo cũng là một nhược điểm của SPD. Sau khi Ebert mất vào năm 1925, SPD định đưa Otto Braun ra ứng cử chức Tổng thống nhưng không thành công. Kể từ đó SPD không có ứng cử viên nào cho chức vụ tổng thống. 

William L. Shirer, tác giả của tác phẩm nổi tiếng “Sự trỗi dậy và suy vong của Đệ tam Đế chế” (The Rise and Fall of The Third Reich), đã nhận xét rằng nước Đức thời đó thiếu một giai cấp trung lưu mạnh về chính trị, vốn là xương sống của các nền dân chủ ở Pháp, Anh và Hoa Kỳ. [1] Nhược điểm đó thể hiện rất rõ qua tình hình của các đảng thuộc phái giữa, đại diện cho các tầng lớp trung lưu. 

Đảng Trung Tâm (Zentrumspartei, Centre Party) là một đảng chính trị hoạt động từ thập niên 1870 – dưới thời của Thủ tướng Bismarck. Vì là đại diện của Công giáo La mã, ảnh hưởng của đảng chủ yếu tập trung ở miền nam và miền tây nước Đức và không bao giờ đạt được đa số phiếu ở Quốc hội. Sau chiến tranh, Đảng Trung Tâm tham gia liên minh thành lập nền cộng hoà Weimar, và cho đến năm 1928 thường xuyên tham gia các chính phủ liên minh. Đã có 5 nhân vật chính trị thuộc đảng này được cử làm Thủ tướng Đức. Mặc dù giữ đường lối chính trị ôn hoà, đảng Trung Tâm bao gồm cả những thành phần tự do lẫn những thành phần bảo thủ và đã tỏ ra không kiên định trong việc giữ vững các nguyên tắc của chế độ dân chủ. Heinrich Brüning, người thứ tư nhận chức Thủ tướng (28.3.1930-30.5.1932) lại cũng chính là người đầu tiên sử dụng điều 48 của Hiến pháp Weimar để cai trị bằng sắc lệnh khẩn cấp của Tổng thống, không thông qua Quốc hội. Người thứ năm được cử làm Thủ tướng là Franz von Papen, một phần tử thuộc cánh cực hữu của đảng, vốn là cựu sĩ quan trong quân đội. Do Papen bị đánh giá là kẻ phản bội Brüning nên ngay khi được cử làm Thủ tướng, ông ta đã bị khai trừ ra khỏi đảng. 

Khác với lập trường dũng cảm đối đầu với chế độ độc đoán dưới thời Bismarck, dưới chế độ cộng hoà Weimar, đảng Trung Tâm lại hành xử theo một lập trường cơ hội, đôi khi vô nguyên tắc. Ngày 30.8.1932, đảng Trung Tâm đã thoả hiệp với đảng Nazi để đưa Goering vào chức vụ Chủ tịch Quốc hội. Vào tháng 3 năm 1933, khiếp nhược trước sự khủng bố của đảng Nazi, các đại biểu đảng này đã bỏ phiếu thuận cho đạo luật “trao quyền” (Enabling Act), tạo điều kiện cho Adolf Hitler thiết lập quyền lực độc tài. 

Đảng Dân chủ Đức (Deutsche Demokratische Partei, German Democratic Party, DDP) là một đảng của giai cấp trung lưu do Friedrich Naumann và nhà xã hội học Max Weber thành lập vào năm 1919. Là hậu thân của đảng Tiến bộ (Progressive Party) thời kỳ trước chiến tranh, đảng này có xu hướng tự do khuynh tả (left-liberal). Tuy nhiên đảng này lại không được sự hậu thuẫn rộng rãi của cử tri, do đó chỉ tham gia vào các chính phủ liên minh chứ không thể đứng ra thành lập chính phủ. Hugo Preuss, một nhà lý luận chính trị thuộc Đảng Dân chủ, là tác giả chính của bản hiến pháp Weimar. Một nhân vật nổi tiếng khác thuộc Đảng Dân chủ là Walther Rathenau, tham gia vào chính phủ liên minh của Wirth vào tháng 5 năm 1921 với chức vụ bộ trưởng tái thiết, và đến cuối tháng 1 năm 1922, trở thành bộ trưởng ngoại giao. Mặc dù thành công trong lĩnh vực ngoại giao, ông bị các phần tử cực hữu trong nước ghét cay ghét đắng vì cho là”thân cộng”, là có nguồn gốc Do Thái. Tháng 6 năm 1922, ông bị các phần tử cuồng tín cực hữu ám sát trên đường đến cơ quan. 

Một đảng có vai trò đáng chú ý khác là Đảng Nhân dân Đức (Deutschnationale Volkspartei, German People’s Party, DVP) của Gustav Stresemann. Đảng này có nguồn gốc từ Đảng Quốc gia – Tự do (National Liberal Party) thời Bismarck và có xu hướng tự do khuynh hữu (right-liberal). Có thể coi đảng này là một đảng cánh hữu ôn hoà, có hậu thuẫn trong giới hữu sản và giới trí thức. 

Stresemann xuất thân là một người bảo hoàng. Sau khi chiến tranh thế giới I chấm dứt, ông thành lập Đảng Nhân dân với mục đích chống lại nền cộng hoà. Đầu năm 1920, khi cuộc đảo chính Kapp nổ ra, ông giữ thái độ chờ thời (wait-and-see). Tuy nhiên, sau khi một số chính trị gia bị các phần tử cực hữu ám sát, ông cho rằng cần phải điều hành chế độ Cộng hoà một cách có hiệu quả để chống lại các chế độ tả hay hữu dựa trên bạo lực. Chính do suy nghĩ đó mà tháng 8 năm 1923, giữa khi nước Đức rơi vào hỗn loạn về kinh tế và chính trị, Stresemann đã chấp nhận đề nghị của Tổng thống Ebert, đứng ra thành lập một chính phủ mới để giải quyết cuộc khủng hoảng. Chính phủ của Stresemann được gọi là chính phủ “liên minh lớn” bao gồm Đảng SPD, Đảng Trung Tâm, Đảng Dân chủ Đức (DDP) và Đảng Nhân dân Đức (DVP). Mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn (từ tháng 8 cho đến tháng 11 năm 1923) chính phủ Stresemann đã đề ra các biện pháp có hiệu quả về đối nội và đối ngoại, giúp cho nền Cộng hoà Weimar hưởng được một sự yên tĩnh tương đối kéo dài cho đến cuối thập niên 1920. Do sự chống đối của cả phía tả lẫn phía hữu, Stresemann phải từ chức, nhưng ông vẫn giữ chức bộ trưởng ngoại giao cho đến khi ông mất vào năm 1929. Mặc dù những đóng góp của Stresemann đã khiến cho ông nổi tiếng ở nước ngoài [2] , ở trong nước ông vẫn bị các thành phần cực hữu công kích, coi ông như một thành phần phản bội, chấp nhận một cách mặc nhiên hoà ước Versailles – mà họ coi là một nỗi ô nhục của dân tộc Đức. 

Trường hợp của Stresemann và đảng Nhân dân cho thấy những người cánh hữu có xu hướng tự do, ủng hộ chế độ dân chủ dễ bị rơi vào thế cô lập. Điều này phù hợp với nhận xét của Schirer khi ông nêu ra một nhược điểm khác của nước Đức thời đó là sự thiếu vắng của một đảng bảo thủ chân chính (a truly consevative party). [3] 

Xét về kết cấu chính trị-xã hội của nước Đức vào đầu thế kỷ 20, giai cấp địa chủ quý tộc (junker) là giai cấp có ảnh hưởng chính trị quyết định. Chính giới quý tộc Đức đã xây dựng và trang bị cho quân đội Đức (Reichswehr) trở thành lực lượng chủ yếu trong công cuộc thống nhất nước Đức. Ảnh hưởng của họ chi phối nền chính trị của nước Đức suốt thời kỳ của Đế chế Đức (German Empire), và vẫn còn rất mạnh trong suốt thời kỳ của nền Cộng hoà Weimar. Đối với họ, điều đáng quan tâm trước tiên là bảo vệ tài sản, bảo vệ quyền lợi của gia đình, dòng họ; do đó họ thích một chế độ chuyên chế theo kiểu Bismarck hơn là chế độ dân chủ. 

Về phía cánh hữu, đảng chính trị quan trọng nhất ở Đức lúc đó là Đảng Quốc gia Đức (DNVP). [4] Đảng này thể hiện xu hướng ái quốc cực đoan (chauvinism), có thái độ thù địch với nền cộng hoà và chống lại việc các nước Đồng minh đòi bồi thường chiến tranh. Đảng này chủ trương tái lập nền quân chủ, xây dựng một nước Đức thống nhất và tự do kinh doanh. Lãnh tụ của Đảng Quốc gia, Alfred Hugenberg, là chủ nhân của một hệ thống báo chí và phim ảnh lớn. Tình hình cuối thập niên 1920 – đầu thập niên 1930 cho thấy chính đảng này chịu trách nhiệm rất lớn trong việc cộng tác với đảng Nazi của Hitler, tạo cơ hội cho Hitler lên cầm quyền. 

Như vậy là ngoại trừ phái tả ôn hoà và phái giữa, phần lớn phái hữu và phái cực tả đều muốn lật đổ nền cộng hoà Weimar. Phái hữu muốn lật đổ nền cộng hoà để trở lại với một chế độ chuyên chế theo kiểu Bismarck, phái cực tả thì muốn làm “cách mạng vô sản” để thiết lập chế độ toàn trị theo kiểu bolshevik Nga. Riêng phái cực hữu (Hitler) thì nuôi mộng làm một cuộc “cách mạng” theo kiểu mới để thiết lập một “chế độ toàn trị” của cánh hữu, lấy “chủng tộc Đức” – một chủng tộc được coi là “ưu việt”, làm nhân vật trung tâm. 

Những mưu toan lật đổ nền cộng hoà đã diễn ra ngay trong giai đoạn đầu của nền Cộng hoà Weimar (1920 – 1923), nghĩa là giai đoạn nước Đức chưa ổn định về kinh tế và chính trị. Nước Đức chưa kịp hoàn hồn sau cuộc nổi dậy của phái Spartacus thì những phần tử cực hữu đã toan lật đổ chính phủ dân cử. Tháng 3 năm 1920, với sự tiếp tay của Tướng Erich Ludendorff, hai lữ đoàn Ehrhardt và Baltikum của lực lượng Freikorps xâm nhập vào Berlin với ý định đưa Wolfgang Kapp [5] lên làm Thủ tướng. Do không có sự ủng hộ của quân đội, chính phủ Ebert phải bỏ trốn đến Stuttgart. Âm mưu này (thường được gọi làcuộc đảo chính Kapp, Kapp Putsch) bất thành vì công nhân dưới sự lãnh đạo của SPD và KPD đã tổ chức tổng đình công ở Berlin để chống lại và các công chức dân sự cũng từ chối không hợp tác với Kapp. 

Về phía cánh tả, dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, đảng Cộng sản Đức (KPD) vẫn chưa từ bỏ ý định “làm cách mạng vô sản” để lật đổ nền cộng hoà. Tháng 3 năm 1921, KPD phát động một cuộc “tấn công” để hỗ trợ cho các thợ mỏ ở miền trung nước Đức (thường được gọi là “Hành động Tháng Ba”, March Action). Cuộc “tấn công” này dựa trên một lý thuyết của những người cộng sản Đức lúc đó cho rằng bộ phận tiền phong (tức KPD) có thể dùng hành động của mình để “kích thích” giai cấp vô sản đang thụ động chuyển sang hành động cách mạng. Trong thực tế, cuộc “nổi dậy” này chỉ hạn chế trong một phạm vi hẹp ở bang Saxony và được hỗ trợ bằng một cuộc đình công chiếm cảng ở Hamburg, do đó đã bị đè bẹp một cách dễ dàng. 

Nhưng tình hình trở nên đặc biệt nguy hiểm là vào năm 1923. Vào thời điểm này, nước Đức rơi vào khủng hoảng cả về kinh tế và chính trị. Đầu năm 1923, quân Pháp và Bỉ lấy cớ Đức không bồi thường chiến tranh đúng kỳ hạn, kéo vào chiếm đóng vùng công nghiệp Ruhr. Chính phủ Đức phản ứng bằng cách kêu gọi nhân dân vùng này ngừng các hoạt động sản xuất công nghiệp. Mặt khác, do chính sách in tiền bừa bãi, nạn lạm phát tăng với tốc độ ngoài sức tưởng tượng: 1 USD năm 1914 tương đương 4 Mark, đến đầu năm 1923 ăn 18.000 Mark và đến tháng 11 năm 1923 ăn 4.200 tỷ Mark (4,2 trillions Mark). Người dân muốn mua hàng hoá thông dụng, phải dùng xe cút-kít để chở tiền. Nước Đức rơi vào hỗn loạn: đình công tự phát, bạo lực trên đường phố, tin đồn về âm mưu “đảo chính” của phái cực hữu và “cách mạng” của phái cực tả làm người dân hoang mang cực độ. Khoảng cuối năm 1922, đã có gần 400 vụ ám sát chính trị xảy ra, phần lớn đều có thể truy nguyên từ cánh hữu. Các nạn nhân bao gồm cả các nhà chính trị xuất sắc như Matthias Erzberger, người ký hiệp ước đình chiến năm 1918 và Walther Rathenau, bộ trưởng ngoại giao. 

Nhận định rằng tình thế cách mạng đã “chín muồi”, Quốc tế cộng sản đã chỉ đạo đảng KPD tiến hành nổi dậy vào tháng 10 năm 1923. Nhưng dự định lôi kéo chính phủ của những người dân chủ – xã hội cánh tả ở hai bang Saxony (Sachsen) và Thuringia (Thüringen) chống lại chính quyền liên bang không thành công, phần do quân đội bao vây, phần khác do phe dân chủ – xã hội phản đối kế hoạch tổng đình công. Riêng cuộc nổi dậy ở Hamburg vẫn tiến hành vì không kịp thông báo lệnh đình hoãn. Ngày 23.10, 1.300 đảng viên KPD chiếm giữ 17 trạm cảnh sát ở Hamburg và dựng rào cản ở các quận có đông công nhân. Ngày hôm sau, họ thông báo lệnh tổng đình công, nhưng không nhận được sự hưởng ứng. Sau ba ngày, cảnh sát đã dẹp tan cuộc nổi loạn. 

Cũng chính trong thời điểm này, một cuộc đảo chính bất thành đã làm mọi người chú ý đến một nhân vật chính trị cực hữu mới xuất hiện trên trường chính trị của Đức; đó là Adolf Hitler

Là một hạ sĩ quan trong quân đội Đức, sau khi giải ngũ vì bị thương trong chiến tranh, vào năm 1919 Hitler gia nhập vào một đảng chính trị nhỏ ở Bavaria (Bayern) có tên là Đảng Công nhân Đức (Geman Worker’s Party). Nhờ nghị lực và tài hùng biện, không bao lâu ông ta giành được ảnh hưởng trong đảng, loại trừ được các thủ lãnh cũ để trở thành lãnh đạo đảng. Hitler đổi tên đảng thành Đảng Quốc -Xã Đức[6] (NSDAP) hay còn gọi là đảng Nazi (Nazi Party). Tháng 11 năm 1923, Adolf Hitler đã tổ chức đảo chính ở Munich (thường được gọi là cuộc đảo chính “Nhà hàng Bia”, Beer Hall Putsch [7] ) với ý định sử dụng Bavaria như một căn cứ để tiến về Berlin. Cuộc đảo chính thất bại, Hitler bị đưa ra toà nhưng chỉ bị kết án nhẹ (5 năm) và sau khi ngồi tù 13 tháng thì được thả ra. Điều đáng nói là Hitler đã lôi kéo được Tướng Ludendorff cùng tham gia, và sau phiên toà này, ông ta trở nên nổi tiếng. Trong thời gian ngồi tù, Hitler nghiền ngẫm lại kinh nghiệm đấu tranh chính trị của mình và quyết định nắm chính quyền bằng con đường hợp pháp, như ông ta đã trình bày trong cuốn tự truyện “Mein Kampf”(Cuộc đấu tranh của tôi, xuất bản năm 1925). 

Mặc dù vào năm 1923, đảng Nazi chỉ mới là một đảng nhỏ với ảnh hưởng không đáng kể, nhưng những diễn biến sau đó cho thấy chính nó mới là nguy cơ thật sự cho nền Cộng hoà Weimar. Từ giữa thập niên 1920, từ căn cứ địa ở bang Bavaria (Bayern), các nhóm Nazi bung ra ở các vùng khác của nước Đức. Năm 1927, Nazi tổ chức Đại hội đầu tiên của đảng ở Nuremberg. Khoảng 1928, số đảng viên vượt quá 100.000; tuy nhiên đảng Nazi chỉ thu được 2,6 % số phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng Năm. 

Chính là nhờ vào sự cộng tác với đảng Quốc gia (DNVP) mà đảng Nazi được chú ý nhiều hơn vào năm 1929. Hai đảng này cộng tác với nhau để khởi động một cuộc trưng cầu ý dân nhằm chống lại Kế hoạch Young về những vấn đề bồi thường chiến tranh. Lãnh tụ của Đảng Quốc gia, Alfred Hugenberg, muốn lợi dụng tài hùng biện có sức mê hoặc của Hiler như một phương tiện có ích để thu hút phiếu bầu. Nhưng những phương tiện truyền thông của Hugenberg đã giúp cho Hitler quảng cáo hình ảnh của ông ta, tuyên truyền rộng rãi cho đảng Nazi và quan trọng hơn nữa, thu phục được những người ủng hộ giàu có. 

Thời cơ đến với đảng Nazi khi nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc Đại suy thoái (Great Depression), bắt đầu bằng sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Wall Street (Hoa Kỳ) vào tháng 10 năm 1929. Nền kinh tế Đức vốn lệ thuộc vào các khoản cho vay ngắn hạn từ phía Hoa Kỳ, do đó bị tổn thương nặng nề bởi khủng hoảng kinh tế. Nạn thất nghiệp tăng nhanh, từ 8,5 % vào năm 1929 lên đến 21,9 % vào năm 1931 và đạt đỉnh điểm 29,9% vào năm 1932. Các chính sách kinh tế khắc khổ thực hiện bởi nhà chính trị Heinrich Brüning thuộc Đảng Trung Tâm (Thủ tướng Đức từ tháng 3.1930 đến cuối tháng 5.1932) càng làm cho tình hình thêm trầm trọng. Mặc dù vào năm 1932, Tổng thống Hoa Kỳ Herbert Hoover tuyên bố “đình hoãn bồi thường chiến tranh” (reparations moratorium) đối với nước Đức nhưng cuộc Đại suy thoái càng trầm trọng thêm, và bất mãn xã hội tăng cao đến mức nước Đức dường như đứng trên bờ vực của nội chiến. 

Chính trong những thời điểm tuyệt vọng nhất, cử tri lại sẵn sàng cho những giải pháp cực đoan, và đảng Nazi đã khéo lợi dụng tình hình đó. Chính sách tuyên truyền khôn khéo của Joseph Goebbels đã lôi cuốn được nhiều người dân thất nghiệp, các trại chủ, các công nhân cổ trắng, các thành viên của giai cấp trung lưu đã bị thiệt hại bởi cuộc Đại suy thoái hoặc đã mất địa vị xã hội kể từ sau khi Chiến tranh Thế giới chấm dứt, và những người trẻ đang hăm hở hiến thân cho những lý tưởng quốc gia. Cũng giống như các đảng cánh hữu khác, Đảng Nazi đổ lỗi cho Hiệp ước Versailles và các khoản bồi thường chiến tranh đã gây ra khủng hoảng cho đất nước. Tuyên truyền của đảng Nazi tấn công vào hệ thống chính trị Weimar, “các tội phạm Tháng Mười Một”, những người mác-xít, những người theo chủ nghĩa quốc tế (internationalists) và những người Do Thái. Bên cạnh việc hứa hẹn một giải pháp cho cuộc khủng hoảng kinh tế, đảng Nazi đem lại cho người dân Đức một tình cảm tự hào dân tộc và lời hứa khôi phục lại trật tự.

Kết quả bầu cử trong những năm đầu thập kỷ 1930 cho thấy ảnh hưởng của phía cực tả (cộng sản) và phía cực hữu (phát-xít) tăng một cách đáng kinh ngạc. Số ghế của Đảng Cộng sản (KPD) trong Quốc hội tăng gần gấp đôi, từ 54 năm 1928 đến 100 vào tháng 11 năm 1932. Thành công của Đảng Nazi (NSDAP) còn lớn hơn nữa. Bắt đầu với 12 ghế vào năm 1928, đảng Nazi tăng số ghế của họ lên gần chục lần, đến 107 ghế vào năm 1930. Họ tăng số ghế lên gấp đôi (230) vào năm 1932; thành tích này làm cho Nazi trở thành đảng lớn nhất ở Quốc hội Đức, vượt xa đảng SPD (133 ghế). Những thắng lợi của Nazi gây thiệt hại cho các đảng cánh hữu và trung dung khác. 

Điều tai hại là quân đội Đức kể từ sau chiến tranh thế giới I đã dần dần từ bỏ truyền thống “phi chính trị”, ngày càng can thiệp sâu vào lĩnh vực chính trị. Năm 1925, sau khi Tổng thống Ebert (lãnh tụ của SPD) qua đời, Thống tướng (Field Marshall) Hindenburg được bầu vào chức vụ Tổng thống. Nhưng vào cuối thập niên 1920 – đầu thập niên 1930, nhân vật tiêu biểu cho quân đội và là biểu tượng của sự đoàn kết quốc gia này ngày càng trở thành một nhân vật bù nhìn để cho các nhà chính trị gốc quân sự đứng đàng sau thao túng. Chính từ âm mưu câu kết của một số nhân vật chính trị gốc từ quân đội như Franz von Papen, Kurt von Schleicher… mà Hitler nắm được chức vụ Thủ tướng vào ngày 30.1.1933. 

Hitler và Đảng Quốc-Xã thực hiện cuộc “cách mạng” của họ chỉ trong vài tháng, sử dụng phối hợp cả phương pháp hợp pháp, thuyết phục lẫn khủng bố. Do chỗ chính phủ liên minh do Hitler đứng đầu không có được đa số tại Quốc hội, Hindenburg giải tán Quốc hội và tổ chức bầu cử lại vào ngày 5.3.1933. Một tuần trước ngày bầu cử, Toà nhà Quốc hội (Reichstag) bị đốt cháy. Đảng Nazi đổ tội cho phe Cộng sản và vào ngày 8.2, Tổng thống dựa vào điều 48 trong Hiến pháp để ký sắc lệnh cho phép Hitler được quyền đàn áp phe đối lập. Được cho phép bởi sắc lệnh đó, lực lượng Xung kích (SA) bắt giam hay đe doạ những người dân chủ – xã hội và cộng sản. 

Cuộc bầu cử ngày 5.3.1933 là cuộc bầu cử tự do cuối cùng ở Đức tính cho đến cuối cuộc Chiến tranh Thế giới II. Mặc dù các đảng đối lập bị sách nhiễu nặng nề, đảng Nazi chỉ đạt được 43,9 % số phiếu. Tuy nhiên, cộng với 8% của Đảng Quốc gia (DNVP), liên minh giữa hai đảng đã giành được đa số ở Quốc hội. Với sự giúp đỡ của các đồng minh chính trị, Hitler đã trình Quốc hội một dự thảo luật gọi là Luật “Trao quyền” (Enabling Act) cho phép ông ta cai trị không cần đến Quốc hội trong vòng 4 năm. Vào ngày 23.3, dự thảo luật này đã được thông qua với sự hỗ trợ của Đảng Trung Tâm và các đảng khác. Toàn bộ các đại biểu Cộng sản và một số đại biểu Dân chủ – Xã hội không được biểu quyết. Do đó đạo luật này được thông qua với 441 phiếu thuận, chỉ có 84 phiếu chống (tất cả đều của đảng SPD). 

Hitler đã sử dụng Đạo luật Trao quyền để áp đặt tất cả các thiết chế và tổ chức chính trị dưới sự kiểm soát của đảng Nazi. Sau Đảng cộng sản (KPD), đến lượt Đảng Dân chủ – Xã hội bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, và sau đó đến lượt tất cả các đảng khác. Riêng Đảng Quốc gia (thành viên của chính phủ liên minh cầm quyền) thì có vinh dự “tự nguyện giải tán” khi lực lượng SA chiếm đóng trụ sở của họ vào ngày 29.6. Ngày 14.7.1933, một đạo luật mới được ban hành, nói rõ : “Đảng Công nhân Quốc gia – Xã hội là đảng chính trị duy nhất ở Đức.” Đế chế Thứ ba (Third Reich) trở thành nền “chuyên chính tư sản” như một đối trọng của nền “chuyên chính vô sản” được thiết lập ở Nga trước đó 16 năm. Chế độ “toàn trị – cộng sản” có thêm một hình mẫu là chế độ “toàn trị – phát xít” để làm đối tượng so sánh, đối chiếu. 

Như vậy là tất cả những nhân vật chính trị của cánh hữu đều nuôi ảo tưởng rằng họ có thể thuần hoá được Hitler, lợi dụng được đảng Nazi để tái lập một chế độ chuyên chế của cánh hữu. Nhưng phái hữu không có được một nhân vật nào có thể sánh ngang với Hitler về thủ đoạn tàn nhẫn và khả năng thiên phú trong việc nắm quyền lực. Do đó, thay vì lợi dụng được Hitler để đánh phá cánh tả, xoá bỏ nền dân chủ, thiết lập quyền lực chuyên chế của cánh hữu truyền thống, các nhân vật chính trị của cánh hữu đã lót đường cho Hitler lên nắm chính quyền. Còn phải đợi đổ thêm nhiều máu và nước mắt nữa để cho cánh hữu của nước Đức hiểu được những giá trị của nền dân chủ và học hỏi các “đảng bảo thủ chân chính” ở các nước phương Tây khác. 

Điều đáng ngạc nhiên nhất là chính sách mù quáng của Quốc tế III và những người cộng sản Đức. Kể từ Đại hội lần 6 (tháng 8 năm 1928), Quốc tế Cộng sản đánh giá rằng thế giới đang bước vào giai đoạn thứ ba – nghĩa là giai đoạn của chiến tranh và cách mạng. [8] Phái Stalin cho rằng “mối nguy hiểm chính” bây giờ bắt nguồn từ phía cánh tả, vì vậy các đảng cộng sản phải cắt đứt liên hệ với các công đoàn chính thức và tái lập các “công đoàn đỏ”. Những người dân chủ – xã hội trên toàn thế giới bị tố cáo là bọn “phát-xít xã hội” (social fascists) – kẻ thù chính của những người cộng sản. Theo lời Stalin: “Chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa dân chủ – xã hội không phải là đối lập nhau, mà là anh em sinh đôi.” Ở Đức, KPD phát hành một tập sách nhỏ nhan đề: “Chủ nghĩa phát-xít – xã hội là gì?”, trong đó viết rằng công nhân phải tập trung vào “cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít dưới hình thức nguy hiểm nhất hiện nay, nghĩa là dưới hình thức dân chủ – xã hội.” Vào năm 1928, Ernst Thälmann - nhà lý luận hàng đầu của đảng KPD, phát biểu rằng với việc chính phủ dân chủ – xã hội của Mueller trúng cử, chủ nghĩa phát-xít đã chiến thắng! [9] 

Dựa trên quan niệm của Leon Trotsky, một số nhà nghiên cứu mác-xít ngày nay (như Rob Sewell, Pierre Broué) cho rằng sự chia rẽ giữa đảng KPD và SPD đã gây ra một sự suy yếu trong phong trào công nhân, khiến cho giai cấp công nhân không thể sử dụng được tổng đình công như một sức mạnh để kiềm chế Hitler và đảng Nazi. Nhưng làm thế nào có thể có được sự đoàn kết giữa những người cộng sản và những người dân chủ – xã hội khi mà một bên quyết làm cách mạng để lật đổ chế độ “dân chủ tư sản” và “chủ nghĩa tư bản” trong khi bên kia quyết tâm thiết lập một nền dân chủ “cho mọi người”, từ chối con đường cách mạng? 

Sự phân ly giữa trào lưu dân chủ – xã hội và trào lưu cộng sản trên toàn thế giới 

Trở lại với phong trào xã hội chủ nghĩa, chúng ta thấy thành công của cách mạng vô sản ở Nga và thất bại của cách mạng vô sản ở Đức cũng dẫn đến việc phân ly hoàn toàn giữa những người cộng sản và những người dân chủ – xã hội. Tháng 3 năm 1919, nghĩa là giữa lúc nước Nga chưa thoát ra khỏi cuộc Nội chiến, Quốc tế III (tức Quốc tế Cộng sản, Comintern[10] được thành lập. Mục đích của Lenin khi thành lập tổ chức này là nhằm để tạo ra thế hỗ trợ cho nước Nga xô-viết hiện đang ở thế cô lập, vì Cách mạng Nga nổ ra trong khi cách mạng ở những nước Âu – Mỹ tiên tiến hơn lại không nổ ra như lý thuyết của Marx đã dự kiến. Lenin cũng có ý định thành lập một tổ chức Quốc tế thay cho Quốc tế II – hầu như đã tê liệt kể từ khi Chiến tranh Thế giới bùng nổ. Tại Đại hội lần thứ 2 của Quốc tế III họp vào tháng 7-8 năm 1920, Lenin đưa ra 21 điều kiện để gia nhập Quốc tế Cộng sản, trong đó có điều 16 quy định rằng tất cả các đảng cộng sản mới phải xây dựng cương lĩnh phù hợp với “những điều kiện đặc thù của đất nước mình” và “những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản”. Tuy nhiên, chính Quốc tế Cộng sản và ban chấp hành của Quốc tế mới có quyền quyết định cái gì là “những điều kiện đặc thù”. 

Việc thành lập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) vào tháng 3 năm 1919 mở đường cho sự hình thành của trào lưu cộng sản, đồng thời chính thức làm phân ly phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đặc biệt là ở Đức. Xu hướng của đảng Dân chủ – xã hội Độc lập (USPD) ngày càng ngả sang phía tả. Sau Đại hội lần 2 của Quốc tế III (tháng 7.1920) việc hợp nhất giữa USPD và Đảng cộng sản Đức (KPD) được đẩy mạnh. Tại Đại hội Halle của USPD (tháng 10.1920), đa số đã biểu quyết chấp thuận 21 điều kiện của Lenin và gia nhập Quốc tế Cộng sản. Một số đại biểu trước đây vì lập trường chống chiến tranh đã tách khỏi đảng SPD để gia nhập USPD, đến nay do không chấp nhận chuyên chính vô sản lại rời bỏ USPD để trở lại với đảng cũ (như trường hợp của Kautsky hay Bernstein chẳng hạn). Từ ba đảng, phong trào xã hội chủ nghĩa ở Đức phân cực thành hai đảng: SPD và KPD. 

Tình hình cũng diễn ra tương tự ở nhiều nước khác. Nhìn chung, các đảng cộng sản được thành lập do một thiểu số tách ra từ các đảng xã hội chủ nghĩa đã có sẵn, trừ vài trường hợp ngoại lệ như Na Uy và Pháp. Ở Pháp, tại Đại hội 18 của đảng Xã hội (SFIO) họp tại thành phố Tours vào năm 1920, đa số đại biểu đã biểu quyết gia nhập Quốc tế III và thành lập Đảng Cộng sản Pháp [11] . Phe cộng sản chiếm được bộ máy đảng và cả cơ quan ngôn luận là tờ l’Humanité ( Nhân Đạo), nhưng phần lớn các đảng viên là đại biểu Quốc hội hoặc nghị viên ở địa phương vẫn ở lại với Đảng Xã hội. Mặc dù gặp khó khăn sau Đại hội Tours, Đảng Xã hội dẩn dần phục hồi được sức mạnh, chiếm lại được thế thượng phong và về sau trở thành đảng cánh tả lớn nhất ở Pháp. Trong khi đó, Đảng Cộng sản mặc dù có ảnh hưởng lớn trong phong trào công đoàn và ở một vài thời điểm trở thành một đảng mạnh, nhưng nhìn chung vẫn là một đảng thiểu số trong phong trào cánh tả Pháp. Là một trong hai đảng cộng sản lớn nhất ở các nước phương Tây, Đảng Cộng sản Pháp tỏ ra kém linh hoạt và thiếu tự chủ hơn so với Đảng Cộng sản Ý, do bị lệ thuộc ngay từ đầu vào Đảng Cộng sản Liên Xô và chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa Stalin. 

Về mặt lý thuyết, lập luận chung của Lenin và các lãnh tụ Quốc tế III đều cho rằng quyền lợi của chế độ Xô-viết hoàn toàn phù hợp với quyền lợi của tất cả các đảng cộng sản thành viên. Nhưng trong thực tế, một quá trình chuyên chế hoá đã diễn ra vào năm 1921, sau khi một số nhà cách mạng cánh tả theo lập trường của Rosa Luxemburg (như Anton Pannehoek, Herman Gorter…) bị loại bỏ. Cho đến năm 1928, Quốc tế III hoàn toàn nằm trong vòng kiểm soát của Đảng Cộng sản Liên Xô. Nguyên tắc “tập trung dân chủ” (democratic centralism) áp dụng vào Quốc tế III trong thực tế đã biến tổ chức này thành một siêu – đảng (super-party) với cách tổ chức giống với Đảng Cộng sản Liên Xô. Vào tháng 5 năm 1943, Quốc tế III bị giải tán như một nghĩa cử của Liên Xô để bảo đảm lòng tin của các nước đồng minh trong cuộc Chiến tranh Thế giới II. Trong 24 năm tồn tại của nó, những bước ngoặt chủ yếu của Quốc tế III được quy định bởi cuộc đấu tranh để tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô hay những vấn đề đối ngoại của chính quyền Xô-viết. Không có một quốc gia xã hội chủ nghĩa hay nửa – xã hội chủ nghĩa nào được thiết lập, trừ Nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ – một sự kiện chẳng liên quan gì đến Quốc tế III. 

Sau khi chiến tranh chấm dứt, Quốc tế III được tái lập với tên gọi là Văn Phòng Thông tin Cộng sản Quốc tế (Cominform) [12] . Ba năm sau cái chết của Stalin (1953), Khrushev tiến hành công cuộc giải trừ ý thức hệ Stalin. Để thể hiện sự hoà giải đối với Nam Tư, Liên Xô đã giải tán tổ chức này vào ngày 17.4.1956. [13] 

Sự thất bại của Quốc tế III là hậu quả của một tổ chức đặt nền tảng trên những nguyên tắc “giai cấp toàn cầu”, “đảng chính trị toàn cầu” và “cách mạng toàn thế giới” (Weltklasse, Weltpatei, Weltrevolution). Điều đó chứng tỏ các khái niệm sinh ra từ ý thức hệ không thể thay thế cho các thực thể sinh ra từ cuộc sống. 

Trong khi đó, mặc dù Quốc tế II bị tan rã do cuộc Chiến tranh thế giới I, nhiều nỗ lực đã được tiến hành để lập lại tổ chức này và đã đạt được thành công. 

Năm 1920, Quốc tế II được tổ chức lại. Thế nhưng, một số đảng xã hội chủ nghĩa ở châu Âu không tham gia và quyết định thành lập Liên hiệp Công nhân Quốc tế của các đảng Xã hội chủ nghĩa (International Working Union of Socialist Parties, IWUSP), thường được gọi là Quốc tế Hai rưỡi (“Second and a half International” hay “Two-and-a-half International”), chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa mác-xít Áo (Austromarxism). Tháng 5 năm 1923, Quốc tế II và Quốc tế Hai rưỡi (IWUSP) hợp nhất thành Quốc tế Lao động và Xã hội (Labour and Socialist International). Tổ chức xã hội chủ nghĩa này nhằm chống lại Quốc tế III đang chịu sự thống trị của Liên Xô, nhưng lại không đạt được tầm vóc của Quốc tế II. Những cuộc chiến tranh xâm lược của Adolf Hitler đã tàn phá hầu hết các nền tảng của nó ở châu Âu. Trong thực tế, tổ chức này đã chấm dứt hoạt động kể từ 1940. 

Sau khi Chiến tranh Thế giới II chấm dứt, các nỗ lực để tái lập Quốc tế II lại được tiến hành từng bước mà đỉnh cao là Đại hội đầu tiên sau chiến tranh được triệu tập tại Frankfurt (Đức) vào tháng 7 năm 1951. Tại Đại hội này, Quốc tế II được hồi sinh với tên gọi là Quốc tế Xã hội (hay Quốc tế Xã hội chủ nghĩa, Socialist International, Internationale socialiste). Lúc đầu nó chỉ tập hợp các đảng dân chủ – xã hội trên các địa bàn truyền thống; nhưng cùng với quá trình phi thực dân hoá và nhất là sau sự sụp đổ của trào lưu cộng sản, ảnh hưởng của Quốc tế Xã hội ngày càng lan rộng. Ngày nay, nó bao gồm hơn 90 thành viên chính thức, không kể các thành viên tư vấn và quan sát viên. 

Ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về sự ra đời và bước đầu phát triển của trào lưu dân chủ – xã hội, chúng ta có thể đặt câu hỏi: sự khác biệt căn bản giữa hai trào lưu dân chủ – xã hội và cộng sản là ở chỗ nào ? 

Như đã nói ở trên, danh xưng « dân chủ – xã hội » đựợc dùng ở Đức từ thập niên 1860. Thế nhưng, theo Karl Marx, danh xưng này đã được dùng lần đầu tiên ngay từ sau cuộc cách mạng 1848 ở Pháp. Đầu năm 1849, một đảng đối lập ra đời do sự kết hợp giữa phái Núi Mới (của Alexandre Ledru-Rollin) với những người xã hội chủ nghĩa, lấy tên là Đảng Dân chủ – Xã hội (Parti social-démocrate). Karl Marx coi đây là «liên minh giữa những người tiểu tư sản và công nhân». 

Nhận xét của ông về sự kết hợp này rất đáng cho chúng ta lưu ý. Trong tác phẩm «Ngày 18 tháng Sương mù», ông viết như sau : 

«Những yêu sách của giai cấp vô sản bị cắt mất cái mũi nhọn cách mạng của chúng và mang một màu sắc dân chủ, còn những yêu sách dân chủ của giai cấp tiểu tư sản thì mất đi cái hình thức thuần tuý chính trị của chúng và mang màu sắc xã hội chủ nghĩa. Đảng dân chủ – xã hội đã xuất hiện như vậy đó» [14] 

Đánh giá nói trên của Marx cho thấy đối với ông, dân chủ là yêu sách của giai cấp tiểu tư sản, còn xã hội (xã hội chủ nghĩa) mới đích thực là yêu sách của giai cấp vô sản. Nói cách khác, dân chủ chỉ là mục tiêu tạm thời, thứ yếu mà phong trào xã hội chủ nghĩa phải tạm chấp nhận để củng cố sức mạnh, bởi vì dân chủ làm hao mòn tính chất cách mạng; còn xã hội chủ nghĩa mới là mục tiêu chính của phong trào công nhân. 

Sự thành lập của Đảng Dân chủ – Xã hội Đức (SPD) một lần nữa lặp lại sự thoả hiệp đã từng diễn ra ở Pháp vào năm 1849. Trước khi tiến hành đại hội hợp nhất tại Gotha, lo sợ trước ảnh hưởng của phái Lassalle, Karl Marx đã viết một bản «nhận xét ngoài lề» để phê phán bản dự thảo cương lĩnh. Bản nhận xét này được chuyển cho một số lãnh tụ của phái Eisenach (trong đó có cả Bebel và Liebknecht) ngay trước khi tiến hành đại hội. Về sau (năm 1891), Engels đã công bố bản nhận xét này với tên gọi là «Phê phán cương lĩnh Gotha». Trong bản nhận xét này, Marx đã vạch ra những sự khác biệt căn bản giữa quan niệm của ông với quan niệm của Lassalle. Đặc biệt, ông nhấn mạnh rằng bản cương lĩnh «không đả động gì đến vấn đề chuyên chính vô sản, cũng chẳng nói gì đến chế độ nhà nước tương lai trong xã hội cộng sản chủ nghĩa»[15] . 

Như vậy, trào lưu dân chủ – xã hội có liên quan mật thiết với chủ nghĩa Marx, được gợi hứng từ chủ nghĩa Marx một cách trực tiếp (như đảng SPD ở Đức), hoặc gián tiếp (như đảng Lao động Anh, đảng SAP ở Thuỵ Điển). Nhưng dần dần, trong quá trình phát triển, các đảng dân-chủ xã-hội đã loại bỏ quan niệm chuyên chính vô sản để đi đến chấp nhận đấu tranh trong khuôn khổ của chế độ dân chủ đa nguyên. Sự phân ly, tách rời giữa trào lưu dân chủ – xã hội và trào lưu cộng sản bắt đầu từ đó. 

Trong hai yêu cầu dân chủ và xã hội chủ nghĩa, những người dân chủ -xã hội đã đặt ưu tiên cho yêu cầu dân chủ, trong khi đối với những người cộng sản, xã hội chủ nghĩa mới là yêu cầu ưu tiên. Những người cộng sản coi dân chủ chỉ là yêu cầu phụ thuộc, tạm thời; mục đích chính của họ là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Khi cần thiết, họ có thể hy sinh mục tiêu dân chủ cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đó là lý do khiến cho họ trở thành chuyên chế, độc đoán, nhất là sau khi nắm được chính quyền. Ngược lại, đối với những người dân chủ -xã hội, dân chủ trở thành mục tiêu hàng đầu; do đó, trong khuôn khổ chế độ dân chủ đa nguyên, họ chỉ được phép làm những gì nhân dân tán đồng (thông qua hình thức bầu cử, trưng cầu ý kiến…). Tình hình đó khiến cho các đảng dân chủ – xã hội dần dần phải bỏ bớt những nội dung của chủ nghĩa Marx nếu xét thấy không phù hợp với lợi ích của quốc gia – dân tộc, hoặc không khả thi, hoặc không có hiệu quả thực tế. 

Thế kỷ 20 là thế kỷ của sự phổ biến chủ nghĩa Marx, đồng thời cũng là thế kỷ chứng kiến sự tàn tạ của chủ nghĩa Marx. Những người cộng sản do chỗ áp dụng chuyên chính vô sản (mà họ gọi một cách nguỵ biện là “dân chủ vô sản”), bác bỏ chế độ dân chủ đa nguyên (mà họ cho là “dân chủ tư sản”), đã tạo dựng nên một thứ “lâu đài trên cát”. Hệ thống kinh tế-xã hội mà họ dựng nên đã từng làm mê hoặc nhiều dân tộc nhược tiểu, đôi khi còn làm loá mắt cả những “đối thủ tư sản”, cuối cùng đã sụp đổ. Ngược lại, những người dân chủ – xã hội chấp nhận dân chủ, từ chỗ bác bỏ chuyên chính vô sản đã dần dần từ bỏ hoặc sửa đổi các nội dung khác của chủ nghĩa Marx để rồi cuối cùng, trở thành các đảng “phi mác-xít”, chỉ còn giữ lại hình ảnh Marx như một nhân vật lịch sử đáng kính, có công sáng lập phong trào. 

Hiện nay, sau sự sụp đổ của hệ thống “cộng sản” quốc tế, trên thế giới chỉ còn lại bốn quốc gia còn theo con đường cộng sản. Trong số đó, Trung Quốc và Việt Nam lại đổi hướng bằng cách chuyển qua kinh tế thị trường. Quan sát sự diễn biến ở hai quốc gia này, chúng ta thấy họ từng bước áp dụng những biện pháp giống hệt như những biện pháp mà các đảng dân chủ – xã hội đã từng áp dụng trước đây hơn nửa thế kỷ. Chính vì thế, có sự ngộ nhận cho rằng các đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam đang dần dần lột xác để trở thành các đảng dân chủ -xã hội. Một số nhà “cải cách” trong hai đảng này cũng đang vô tình hay cố ý tạo ra sự ngộ nhận ấy. Nhưng như trên đã nói, sự khác biệt căn bản giữa một đảng dân chủ -xã hội và một đảng cộng sản là ở chỗ: đảng đó có coi dân chủ là mục tiêu ưu tiên hàng đầu hay không? Bao lâu đảng cộng sản còn giữ độc quyền chính trị, không chấp nhận nền dân chủ đa nguyên, coi những ai đấu tranh cho dân chủ là kẻ thù thì cho dù đảng ấy có đổi tên là “đảng Lao động”, “đảng Nhân dân”, thậm chí “đảng Dân chủ – Xã hội” v.v. và v.v., đảng ấy vẫn chưa lột xác và trong thực chất vẫn là “đảng Cộng sản”. 

Lenin đã từng coi “chuyên chính vô sản” là viên đá thử vàng để xác định ai là người mác-xít chân chính nhất. Ngày nay, chúng ta cũng phải dùng “dân chủ” như viên đá thử vàng để xác định ai là người dân chủ – xã hội thật và ai là người cộng sản đội lốt dân chủ – xã hội. 

Đà Lạt, 5.11.2006 

Tài liệu tham khảo 

[1]William L. Shirer, The Rise and Fall of The Third Reich, Simon and Schuster, New York, 1960, p. 186. 
[2]Stresemann được tặng Giải Nobel về Hoà bình năm 1926 cùng với ngoại trưởng Pháp Aristide Briand.
[3]William L. Shirer, sđd, tr. 186. 
[4]Tên chính thức là Đảng Quốc gia – Nhân dân Đức (Deutschnationale Volkspartei, German National People’s Party, viết tắt là DNVP). 
[5]Kapp là người đã cùng với đô đốc Alfred von Tirpitz sáng lập Đảng Tổ Quốc Đức (Deutsche Vaterlandspartei, Fatherland Partyvào năm 1917, với xu hướng bảo hoàng. 
[6]Tên gọi chính thức là Đảng Công nhân Quốc Gia – Xã hội chủ nghĩa Đức (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, National Socialist German Workers’ Party), viết tắt là NSDAP. 
[7]Gọi là cuộc đảo chính “Nhà hàng Bia” (Bierkeller Putsch, Beer Hall Putsch) vì nó bắt đầu tại một nhà hàng bia ở Munich vào đêm 8.11.1923.
[8]Theo lập luận này, “giai đoạn thứ nhất” là giai đoạn cách mạng sau chiến tranh thế giới I, “giai đoạn hai” là giai đoạn của ổn định tương đối, “giai đoạn ba” là giai đoạn của chiến tranh và cách mạng.
[9]Rob Sewell, sđd
[10](Kommunisticheskiy Internatsional, Communist International; Internationale communiste). Còn được gọi là Comintern (Komintern), viết tắt từ tên tiếng Nga.
[11]Đảng cộng sản Pháp lúc đầu lấy tên là Section Française de l’Internationale Communiste (Phân bộ Pháp của Quốc tế cộng sản, The French Section of the Communist International), viết tắt là SFIC, về sau đổi thành Parti communiste français (Đảng cộng sản Pháp , French Communist Party, viết tắt là PCF).
[12]Còn được dịch là Cục Thông tin Quốc tế (Communist Information Bureau, gọi tắt là Cominform, Kominform).
[13]Ngày 5.11.1995, 29 đảng cộng sản đã tái lập Quốc tế III tại Sofia, nhưng sự tồn tại của nó vẫn chưa được chứng minh bằng thực tế.
[14]Ngày mười tám tháng Sương mù, Mác-Ăng ghen, Tuyển tập, tập II, sđd, trang 427.
[15]Phê phán cương lĩnh Gotha, Mác-Ăng ghen, Tuyển tập, tập IV, sđd, trang 491.

nguồn :www.talawas.org

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s